1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào việt nam (nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống madrid)

103 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ chuyên nghành Quản lý KH&CN vai trò của thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu của học viên Lê Toàn Thắng đã đề cập đến vai trò của thông

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh

Hà Nội, 2016

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Đối tượng khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Kết cấu của Luận văn 11

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LIÊN KẾT THÔNG TIN KH&CN TRONG QUẢN LÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ 12

1.1 Tổng quan về quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế 12

1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu quốc tế 12

1.1.2 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu quốc tế 13

1.1.3 Khái niệm quản lý nhãn hiệu quốc tế 15

1.2 Tổng quan về thông tin KH&CN và liên kết thông tin KH&CN 17

1.2.1 Khái niệm thông tin khoa học và công nghệ 17

1.2.2 Khái niệm liên kết thông tin khoa học và công nghệ 18

1.3 Mối quan hệ liên kết thông tin KH&CN với quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế 20

1.3.1 Thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động xác lập quyền đối với nhãn hiệu quốc tế 20

1.3.2 Thông tin khoa học và công nghệ với việc thực thi quyền đối với nhãn hiệu quốc tế 27

1.3.3 Thông tin khoa học và công nghệ với việc quản lý nhãn hiệu quốc tế 29

* Kết luận Chương 1 34

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT THÔNG TIN KH&CN

TRONG QUẢN LÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ THEO HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ MADRID 35

2.1 Khái quát về thực trạng quản lý và bảo hộ NHQT theo hệ thống đăng ký Madrid. 35

2.1.1 Khái quát về thực trạng xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống Madrid 35

2.1.2 Khái quát thực trạng khai thác quyền SHCN đối với nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống Madrid 39

2.1.3 Khái quát thực trạng thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống Madrid 44

2.1.4 Khái quát thực trạng quản lý NHQT đăng ký theo hệ thống Madrid 46

2.2 Thực trạng liên kết thông tin KH&CN trong xác lập quyền đối với nhãn hiệu quốc tế theo hệ thống Madrid 48

2.2.1 Liên kết thông tin KH&CN trong xác định ngày ưu tiên 48

2.2.2 Liên kết thông tin KH&CN trong thẩm định đơn 49

2.2.3 Thông tin khoa học và công nghệ trong việc xác định khả năng bảo hộ,

từ chối đối với nhãn hiệu Madrid 51

2.3 Thực trạng liên kết thông tin KH&CN trong khai thác quyền SHCN đối với NHQT theo hệ thống Madrid 54

2.4 Thực trạng liên kết thông tin KH&CN trong thực thi quyền SHCN đối với NHQT theo hệ thống Madrid 57

2.5 Thực trạng liên kết thông tin KH&CN trong việc giám định và giải quyết khiếu nại xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu quốc tế 60

2.6 Một số bất cập trong hoạt động liên kết thông tin khoa học và công nghệ 60

*Tiểu kết Chương 2 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT THÔNG TIN KH&CN TRONG BẢO HỘ VÀ QUẢN LÝ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ (NHÃN HIỆU MADRID) 67

Trang 5

3.1 Giải pháp xây dựng nguồn thông tin khoa học và công nghệ về nhãn hiệu

quốc tế (Nhãn hiệu Madrid) 68

3.1.1 Mô hình khai thác thông tin khoa học và công nghệ đối với nhãn hiệu quốc tế 68

3.1.2 Mô hình kết nối thông tin khoa học và công nghệ của Cục SHTT với WIPO về nhãn hiệu quốc tế 72

3.1.3 Xây dựng nguồn thông tin khoa học và công nghệ quốc gia về nhãn hiệu 73

3.1.4 Xây dựng nguồn thông tin khoa học và công nghệ đối với nhãn hiệu quốc tế do địa phương quản lý 75

3.2 Phát huy năng lực khai thác thông tin khoa học và công nghệ đối với nhãn hiệu quốc tế (nhãn hiệu Madrid) 78

3.2.1 Xây dựng mô hình khai thác thông tin khoa học và công nghệ đối với nhãn hiệu quốc tế 78

3.2.2 Xây dựng mô hình liên kết thông tin khoa học và công nghệ với WIPO trong việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam 82

3.2.3 Phát huy hiệu quả khai thác thông tin khoa học và công nghệ đối với nhãn hiệu quốc tế 84

3.2.4 Kết nối nguồn thông tin KH&CN qua cổng kết nối để hỗ trợ các doanh nghiệp 88

3.3 Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, khai thác các nguồn thông tin khoa học và công nghệ trong xác lập và thực thi quyền đối với nhãn hiệu quốc tê (Madrid) 91

3.3.1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 91

3.3.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định thông tin KH&CN về SHTT 94

* Kết luận Chương 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSDL: Cở sở dữ liệu

DNTN: Doanh nghiệp tư nhân

GCNĐKNHQT: Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Quốc tế KH&CN: Khoa học và công nghệ

SHCN: Sở hữu công nghiệp

SHTT: Sở hữu trí tuệ

WIPO: Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

NHQT: Nhãn hiệu Quốc tế

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Thống kê số đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia và nhãn hiệu quốc tế từ

2008-2013 39

Bảng 2 Thống kê số lượng Giấy chứng nhận được cấp và đơn đăng ký nhãn hiệu Quốc tế đã được bảo hộ từ 2008-2013 39

Bảng 3 Thống kê hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng từ 2008-2013 41

Bảng 4 Khiếu nại về việc cấp Văn bằng bảo hộ từ 2008-2013 41

Bảng 5 Khiếu nại về việc vi phạm quyền SHCN từ 2008-2013 43

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện tại chúng ta đang ở thế kỉ XXI, đây là thế kỷ của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại tiếp tục phát triển với những bước tiến vô cùng nhanh chóng, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng to lớn trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Vì vậy, đối với những nước kém phát triển phải nhanh chóng nâng cao năng lực khoa học và trình độ công nghệ, nắm bắt và làm chủ các tri thức mới để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đi vào nền kinh tế tri thức mới này

Cùng với việc phát triển đầu tư và thương mại ở Việt Nam, việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu quốc tế có một vai trò quan trọng, đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư đặc biệt của nhà nước, mọi doanh nghiệp Vấn đề thông tin KH&CN, đặc biệt là thông tin sở hữu công nghiệp với việc tìm kiếm và quản lý các văn bằng sáng chế đang có xu hướng tăng dần lên Bởi vậy thông tin KH&CN cho việc quản lý

và bảo hộ nhãn hiệu là vấn đề bức thiết cần giải quyết

Với mong muốn nâng cao năng lực tìm kiếm thông tin và năng lực vận hành của cả hệ thống nhằm chủ động đáp ứng nhanh chóng, chính xác các nhu cầu thông tin của mọi giới có nhu cầu dùng tin, đồng thời góp phần hạn chế những thiếu sót, những lỗi đáng tiếc hay hạn chế những tranh chấp đối với nhãn hiệu quốc tế cần khai thác vai trò của thông tin KH&CN trong giai đoạn thẩm định đơn và thực thi quyền đối với nhãn hiệu quốc tế (nhãn hiệu Madrid) Do vậy, tôi chọn đề tài “Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống Madrid” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học và công nghệ chuyên ngành Quản lý KH&CN

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Sau gần 20 năm đất nước đổi mới, nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm cho hai khía cạnh thế và lực của đất nước

Trang 9

phát triển mạnh Cùng với quá trình phát triển của đất nước, nền khoa học và công nghệ nước ta đã có những bước tiến tích cực, lực lượng cán bộ KH&CN

đã trưởng thành và có nhiều cố gắng và đóng góp với cơ chế mới, có khả năng tiếp thu, làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trên một số ngành và lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, đứng trước bối cảnh toàn cầu hoá và hôị nhập kinh tế quốc tế, nền KH&CN nước ta còn có khoảng cách khá xa so với các nước phát triển, chưa tạo ra được những năng lực khoa học và công nghệ cần thiết

để thực sự trở thành nền tảng và động lực cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đai hoá đất nước

Cục Sở hữu trí tuệ là một trong những cơ quan hàng đầu trong lĩnh vực đăng ký sở hữu công nghiệp của Bộ Khoa học và công nghệ, thực hiện các chức năng thống nhất quản lý nhà nước và bảo đảm các hoạt động sự nghiệp chuyên nghành về sở hữu trí tuệ Hệ thống pháp lý về sở hữu trí tuệ đang ngày càng được tiếp tục hoàn thiện Công tác tổ chức thi hành các quy dịnh pháp luật và thực hiện các thủ tục hành chính về sở hữu công nghiệp có nhiều cải tiến theo hướng thuận tiện và đơn giản hoá

Ở các nước trên thế giới hiện nay, việc ban hành các Công ước và Hiệp ước liên quan đến SHCN đã thể hiện qua: Công ước Paris về bảo hộ SHCN

1883, tiếp đến là Hiệp ước Hợp tác về sáng chế - PCT, Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hoá, Thỏa ước Madrid và Nghị định thư về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, gần đây nhất là Hiệp định về các Khía cạnh đến Thương mại của Quyền

Sở hữu Trí tuệ (Hiệp định TRIPS) chứa các điều khoản về chuẩn mực liên quan đến sự sẵn sàng, phạm vi, việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, mua bán và duy trì và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các thủ tục liên quan và các thoả thuận chuyển tiếp và thể chế Các Hội thảo khoa học có liên quan đến thông tin KH&CN trong lĩnh vực SHCN, có thể kể đến Hội thảo về “Thông tin sáng chế và hiệp ước hợp tác bằng sáng chế (PCT)” do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, Cục Sở hữư trí tuệ Việt Nam, Đại học Bách khoa Hà Nội phối hợp tổ chức năm 2003

Ngày 02 tháng 02 năm 2007, tại Hà Nội, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã tổ chức Hội

Trang 10

thảo lần thứ nhất Dự án “Ứng dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam” Lần đầu tiên, thư viện điện tử về sở hữu công nghiệp (IPLib) đã được giới thiệu và sử dụng Thư viện điện tử IPLib này là nguồn thông tin pháp lý đầy

đủ nhất và là nguồn thông tin KH&CN có giá trị về tình trạng bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam

Năm 2009 Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản và đã tổ chức Hội thảo Phát triển và ứng dụng thông tin

sở hữu trí tuệ tại Việt Nam trong khuôn khổ Dự án hợp tác kỹ thuật Việt Nam – Nhật Bản Dự án này đã được chính phủ Nhật Bản tài trợ và đã được triển khai tại Cục sở hữu trí tuệ từ đầu năm 2005 và kết thúc vào năm 2009 Dự án

đã đưa vào ứng dụng Hệ thống thông tin Sở hữu trí tuệ bao gồm hệ thống máy tính cùng các phần mềm ứng dụng như Hệ thống tra cứu thông tin dùng cho việc thẩm định đơn sở hữu công nghiệp Hệ thống thư viện điện tử để cung cấp thông tin sở hữu công nghiệp đã công bố cho công chúng

Luận văn Thạc sĩ chuyên nghành Quản lý KH&CN vai trò của thông tin KH&CN đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội của học viên Nguyễn Thị Hương đã đề cập đến vai trò của thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn TP Hà Nội Luận văn này đã phân tích các tác động tích cực và chưa tích cực của thông tin KH&CN đến đối tuợng khảo sát là bảo hộ và thực thi quyền đối với các đối tượng nói chung của quyền SHCN Luận văn cũng đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thông tin KH&CN đối với quyền SHCN nói chung

Luận văn Thạc sĩ chuyên nghành Quản lý KH&CN vai trò của thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu của học viên Lê Toàn Thắng đã đề cập đến vai trò của thông tin KH&CN đối với việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu Luận văn này đã phân tích các tác động tích cực

và chưa tích cực trong việc bảo hộ và thực thi quyền đối với nhãn hiệu nói chung Luận văn cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thông tin KH&CN đối với việc xác lập và thực thi quyền đối với nhãn hiệu nói chung Do đối tượng khảo sát của luận văn này khá rộng nên các giải pháp

Trang 11

mà Luận văn đề ra chưa có tác động chuyên sâu đối với từng đối tượng có tính đặc thù riêng của quyền SHCN

Tại Cục sở hữu trí tuệ đã có một số nghiên cứu về vai trò của thông tin nhãn hiệu trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo; thông tin sở hữu công nghiệp đối với hoạt động nghiên cứu - triển khai hoặc có một số bài viết trên các tạp chí về thông tin sở hữu trí tuệ nhưng mới chỉ đề cập đến việc khai thác nguồn dữ liệu để phục vụ cho việc tra cứu thông tin là các mẫu hướng dẫn đơn giản phục vụ cho người nộp đơn yêu cầu đăng ký mà chưa có nghiên cứu nào đến vai trò hay việc ứng dụng thông tin KH&CN cũng như sự liên kết thông tin khoa học và công nghệ của Cục SHTT với WIPO trong giai đoạn thẩm định cũng như trong việc thực thi và bảo hộ quyền đối nhãn hiệu Quốc tế đăng ký bảo hộ vào Việt Nam (nhãn hiệu Madrid) Và cho đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến sự liên kết của thông tin KH&CN đối với việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu Quốc tế vào Việt Nam để từ đó đổi mới hay hiện đại hóa quy trình tra cứu cũng như liên kết thông tin KH&CN phục vụ cho đời sống được thuận tiện và hòa nhập với công nghệ của thế giới

3 Mục tiêu nghiên cứu

Chứng minh liên kết thông tin KH&CN giữa Việt Nam với các nước tham gia hệ thống Madrid có thể quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam

Trang 12

- Khảo sát 20 doanh nghiệp (lớn, vừa và nhỏ) thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trên địa bàn thành phố hà Nội (phỏng vấn 30 người);

6 Câu hỏi nghiên cứu

Liên kết thông tin KH&CN giữa Việt Nam với các nước tham gia hệ thống Madrid như thế nào để có thể quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm liên kết thông tin khoa học và công nghệ giữa Việt Nam với các nước tham gia hệ thống Madrid để quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

+ Ngoài việc nghiên cứu các tài liệu sẵn có từ nguồn các văn bản Pháp luật liên quan đến đề tài như Luật Sở hữu trí tuệ 2005, các nghị định, thông tư, tạp chí và báo cáo chuyên ngành để thu thập thông tin về cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu; đề tài đã phân tích, tổng hợp các thông tin qua một số tài liệu: sách tham khảo, tạp chí ngoài ngành, số liệu thống kê, thông tin đại chúng: báo chí, bản tin của các cơ quan thông tấn, bài viết trên các trang Web để phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu từ thực tiễn cuộc sống

+ Thu thập, thống kê số liệu sẵn có: sử dụng các loại số liệu sẵn có, tồn tại trong lĩnh vực đăng ký GCNNH của Cục sở hữu trí tuệ, số liệu về các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa (thông tin định lượng)

- Phương pháp thực nghiệm:

+ Thu thập các thông tin định hình thông qua các phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý, nghiên cứu khoa học, hoạch định chính sách: tham khảo ý kiến của chuyên gia nhãn hiệu về một số giải pháp đưa ra nhằm đóng góp thông tin KH&CN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng và phát triển nhãn hiệu Quốc tế (Madrid)

Trang 13

+ Thu thập các thông tin định lượng qua khảo sát 20 các doanh nghiệp (lớn, vừa và nhỏ) trên địa bàn thành phố Hà Nội

+ Phân tích số liệu: sắp xếp, tổ chức những số liệu này để có thể thấy được diễn biến của tập hợp số liệu nhằm đánh giá thực trạng và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu Việc khó khăn của quá trình là xây dựng quá trình tìm kiếm thông tin bảo hộ nhãn hiệu Quốc tế cũng như sự vi phạm quyền sở hữu công nghiệp

- Phương pháp logic - lịch sử: Thu thập thông tin về các chuỗi sự việc trong quá khứ, sắp xếp các sự việc theo diễn biến, quan hệ nhân quả giữa các

sự việc để nhận biết được logic của quá trình phát triển sự việc

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Khái quát chung về liên kết thông tin KH&CN trong quản lý

và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế

Chương 2: Thực trạng liên kết thông tin KH&CN trong quản lý và bảo

hộ nhãn hiệu quốc tế theo hệ thống đăng ký Madrid

Chương 3: Xây dựng mối liên kết thông tin KH&CN đối với nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam và Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả liên kết và khai thác liên kết thông KH&CN

Trang 14

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LIÊN KẾT THÔNG TIN KH&CN TRONG QUẢN LÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan về quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế

1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu quốc tế

Nhãn hiệu là một thuật ngữ được dùng rất phổ biến trong việc đăng ký

về hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không phải bất kỳ người nào cũng hiểu rõ về thuật ngữ này Để quảng bá tới mọi người, nhãn hiệu được có những khái niệm sau:

Khái niệm Nhãn hiệu là: dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau

Như vậy, bất kỳ dấu hiệu nào đáp ứng đầy đủ điều kiện phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều được coi là nhãn hiệu Tính mở

và tính khái quát của quy định cho phép các dấu hiệu mới có thể được cấp văn bằng bảo hộ Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển không ngừng của KH&CN, với sự xuất hiện ngày càng phong phú của các dạng dấu hiệu

Khái niệm Nhãn hiệu quốc tế là dựa trên dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp khác nhau thông qua một nhãn hiệu đã được đăng ký ở nước sở tại (nước sở tại là nước đầu tiên mà đơn đăng ký nhãn hiệu đăng ký và đơn đó được gọi là đơn cơ sở) và đăng ký ra quốc tế (nước ngoài) thông qua hệ thống đăng ký quốc tế (hệ thống Madrid)

Việc thực hiện đăng ký nhãn hiệu quốc tế được thực hiện qua hệ thống Madrid và hoạt động dưới hai hiệp ước là Thỏa ước và Nghị định thư

Hệ thống Madrid là một hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu do Văn phòng Quốc tế thuộc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) có cơ sở đặt tại Geneva

- Thụy Sỹ - quản lý và hoạt động dưới hai hiệp ước: Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế nhãn hiệu có hiệu lực từ năm 1891 Nghị định thư Madrid liên quan đến thỏa ước Marid được thông qua năm 1989 có hiệu lực từ 01-12-1995 và hoạt động từ 01-04-1996

Trang 15

Nhãn hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các

cở sở sản xuất kinh doanh khác nhau Như phần khái niệm đã nêu: nhãn hiệu

có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc là sự kết hợp cả yếu tố từ ngữ và hình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Ví dụ: trong ngành sản xuất, xuất

khẩu ô tô có các nhãn hiệu “H” – Honda - Nhật bản, “H” – Hyudai- Hàn

Quốc, “BMW”- Đức, “Toyota”-Nhật bản, dịch vụ lưu chú nhà hàng, khách sạn có các nhãn hiệu Quê Hương, Kinh Đô … Nhãn hiệu mang lại tác dụng to lớn đối với cả doanh nghiệp và khách hàng của doanh nghiệp Sự cần thiết của nhãn hiệu thể hiện rõ trong bối cảnh hội nhập kinh tế

1.1.2 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu quốc tế

Hiện nay, Luật SHTT của Việt Nam không có điều khoản cụ thể nào về khái niệm bảo hộ nhãn hiệu quốc tế mà khái niệm bảo hộ nhãn hiệu quốc tế được quy định trong phần giải thích từ ngữ Bảo hộ nhãn hiệu quốc tế có thể hiểu như sau:

Bảo hộ nhãn hiệu quốc tế ở Việt Nam giống như nhãn hiệu đã được đăng ký tại Việt Nam là việc Nhà nước, thông qua hệ thống luật pháp và các

cơ quan có thẩm quyền, xác lập quyền sở hữu đối tượng, sở hữu công nghiệp cho tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp đã sáng tạo ra hoặc nắm giữ hay sở hữu đối tượng nhãn hiệu quốc tế và bảo vệ quyền của chủ sở hữu chống lại mọi sự xâm phạm của các đối tượng khác

Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật không định nghĩa thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT, bảo hộ quyền SHCN Luật SHTT của Việt Nam còn dùng cả hai thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT (Protection of Intellctual Property Rights) và bảo vệ quyền SHTT (Protection of Intellectual Property Rights), cả hai thuật ngữ này khi chuyển sang tiếng Anh đều giống hệt nhau mà không có

sự phân biệt Thực chất thuật ngữ bảo vệ quyền SHTT là thực thi quyền SHTT (Enforcement of Intellectual Property Rights) Do đó, có thể quan niệm nội hàm của thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT bào gồm cả việc bảo vệ (thực thi) quyền SHTT Trong Luận văn này, tác giả không dùng thuật ngữ bảo vệ quyền SHTT mà thay vào đó là sử dụng thuật ngữ thực thi quyền SHTT

Trang 16

Tại điều 10, Luật SHTT chỉ quy định nội dung quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm:

1 Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ

3 Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

về sở hữu trí tuệ

4 Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, Bằng bảo hộ giống cây trồng

5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ

6 Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu trí tuệ

7 Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ

8 Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ

9 Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ

Hơn nữa, theo Lê Văn Kiều (Lê Văn Kiều, Bài giảng thực thi quyền SHTT, Đại học KHXH&NV, Hà Nội 2006) thì việc bảo hộ quyền SHTT bao gồm:

- Ban hành các quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ;

- Xác lập quyền sở hữu trí tuệ;

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ văn bằng đang được bảo hộ;

- Thực thi quyền SHTT là thực hiện các biện pháp theo quy dịnh của pháp luật nhằm bảo vệ các quyền của chủ SHTT và ngăn chặn, xử lý người khác sử dụng các đối tượng SHTT được bảo hộ Thực thi quyền SHTT đối với các đối tượng SHTT là biện pháp tác động bằng pháp luật thông qua việc

áp dụng biện pháp dân sự, hình sự, hành chính và kiểm soát biên giới, đối với sản phẩm, hàng hoá nhằm chống lại các hành vi xâm phạm

Như vậy, ta cũng có thể hiểu bảo hộ nhãn hiệu quốc tế là một phần trong việc bảo hộ quyền SHTT, thực thi quyền SHCN

Trang 17

1.1.3 Khái niệm quản lý nhãn hiệu quốc tế

Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường cùng với sự hội nhập của nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã nhận thấy Việt Nam là môi trường tiềm năng để kinh doanh cũng chính vì lẽ đó mà nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã tranh thủ đăng kí nhãn hiệu hàng hoá vào Việt Nam, điều đó cũng có nghĩa là nhiều nhãn hiệu cũng sẽ tăng mạnh trong tương lai Việc quản lý các nhãn hiệu này hoạt động ra sao, cạnh tranh như thế nào cũng là một trong những vấn đề cần quan tâm và nổi cộm nhất Do

đó, việc quản lý nhãn hiệu quốc tế được hiểu như sau:

Quản lý nhãn hiệu quốc tế được dựa trên phương pháp quản lý các đơn

từ việc đăng ký nhãn hiệu từ nước ngoài thông qua WIPO khi đăng ký vào Việt Nam, qua việc tiếp nhận từ một đơn vị thuộc Cục SHTT (NOIP) và thẩm định đơn Việc thẩm định đơn được các thẩm định viên nhãn hiệu là các cán

bộ tại Cục SHTT có chuyên môn để thẩm định khả năng bảo hộ của nhãn hiệu dựa trên các thông tin về đơn nhãn hiệu quốc tế khi đăng ký như: tên chủ hiện tại của đơn, địa chỉ hiện tại của chủ đơn, nhóm danh mục sản phẩm dịch vụ của đơn, các phần danh mục sản phẩm của đơn khi chuyển nhượng hay chuyển giao cho chủ sở hữu khác (phần chuyển nhượng hay chuyển giao này

có thể là một phần hay toàn phần danh mục sản phẩm hàng hoá), thời hạn bảo

hộ của đơn, nhãn hiệu của đơn …các thông tin khác liên quan đến đơn quốc

tế Kết quả thẩm định được lưu trong hệ thống quản lý thông tin KH&CN của NOIP, đăng tải kết quả trên công bố A của Cục SHTT, đồng thời kết quả đó cũng được gửi thông tin lên chương trình tra cứu như IPLib, IPsea và các chương trình tra cứu khác giành cho các thẩm định viên có quyền sử dụng, cùng thời điểm đó Cục trả lại kết quả thẩm định tới nơi gửi đơn đăng ký quốc

tế tới WIPO thông qua hệ thống thông tin khoa học của Cục SHTT hay chuyển kết quả thông tin bằng các phương thức đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không, đường truyền Internet

Việc quản lý nhãn hiệu quốc tế khi đăng ký vào Việt Nam theo chủ thể quản lý có thể chia thành các đối tượng quan trọng sau:

Trang 18

Chương trình tra cứu Madrid trong hệ thống NOIP là một chương trình hữu ích và mạnh mẽ cho các thẩm định viên của Cục (nhưng chuyên viên được phép và có mã sử dụng) trong việc tìm kiếm sự bảo hộ đối với nhãn hiệu quốc

tế của doanh nghiệp, tổ chức ở nước ngoài, là công cụ hữu ích cho việc quản lý đơn nhãn hiệu quốc tế Bên cạnh đó, việc quản lý đơn cũng thường xuyên phải cập nhật các thông tin khoa học và công nghệ về đơn đăng ký nhãn hiệu quốc

tế trên chương trình tra cứu ROMARIN của hệ thống Internet ở WIPO

Song song với chương trình tra cứu trên, Cục còn có các chương trình dùng để quản lý, tra cứu thông tin khác mà có thể giúp cho các doanh nghiệp, các tổ chức, các đơn vị, các bộ phận khác có thể tra cứu và quản lý các thông tin như là:

+ EZ: Công cụ tìm kiếm, tra cứu thông tin nhãn hiệu đăng ký quốc gia + IP-Sea: Công cụ tìm kiếm, tra cứu thông tin nhãn hiệu đăng ký quốc gia + IP-Lib: Công cụ tìm kiếm, tra cứu thông tin nhãn hiệu đăng ký quốc gia (đây là thư viện số về SHCN của Cục SHTT) tại địa chỉ website http://

Hiện tại NOIP chưa có một hệ thống công nghệ thông tin chuyên dùng cho việc kiểm tra và quản lý các ứng dụng thông tin Madrid, chưa xây dựng được một thống thông tin liên lạc điện tử với WIPO và chưa có một hướng dẫn để kiểm tra các ứng dụng Madrid

Tóm lại, việc quản lý nhãn hiệu quốc tế khi đăng kí vào Việt Nam được liên kết bởi hệ thống thông tin khoa học và công nghệ giữa NOIP và WIPO thông qua chương trình tra cứu Romarin của hệ thống Internet Bên cạnh đó, với những công cụ và các chương trình tra cứu rất hữu ích cho cả cơ quan

Trang 19

thực thi cũng như các cơ quan liên ngành và cả các thẩm định viên, người quản trị đơn.

1.2 Tổng quan về thông tin KH&CN và liên kết thông tin KH&CN

1.2.1 Khái niệm thông tin khoa học và công nghệ

Khái niệm theo Nghị định 159/2004/ND-CP về hoạt động thông tin

KH&CN đã nêu: “Thông tin KH&CN” là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học

xã hội nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”

“Hoạt động thông tin KH&CN” là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu nhập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin KH&CN; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin KH&CN”

“Tài liệu” là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản,

âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến

“Tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN” là đơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật”

Như vậy, thông tin KH&CN là toàn bộ các tư liệu dạng văn bản, hình ảnh, ngôn ngữ phản ánh kết quả nghên cứu khoa học, phát triển công nghệ Thông tin KH&CN bao gồm các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, các cơ cấu, máy móc, các chất đã được sáng tạo ra trong quá trình phất triển kinh tế, xã hội Thông tin KH&CN cho biết rõ bản chất, nguồn gốc, nguyên tắc vận hành, hoạt

Trang 20

động của máy móc, thiết bị công nghệ hoặc quy trình phát triển và lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu – phát triển công nghệ Nếu ai

có được các thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đó sẽ chiếm đuợc lợi thế hơn hẳn so với người khác khi không có thông tin đầy đủ

Thông tin KH&CN bao gồm các tư liệu liên quan đến các chủ đề sau:

- Thông tin SHCN;

- Thông tin từ sách, báo, tạp chí chuyên nghành, mạng internet;

- Tài liệu thiết kế, quy trình, phương án công nghệ, hồ sơ kỹ thuật;

- Tài liệu chuyên môn dung cho mục đích huấn luyện, đào tạo kỹ năng công nghệ;

- Các tài liệu khác: luận văn, đề tài, đề án …

- Kỷ yếu hội nghị, hội thảo;

- Giáo trình, cẩm nang chuyên ngành;

- Cataloge giới thiệu các máy móc, thiết bị công nghệ;

Trong phạm vi của Luận văn này, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu đến thông tin KH&CN về SHCN, trong đó đối tượng SHCN là nhãn hiệu

Theo điều 31.1 chương 6, Nghị dịnh số 103/2006/ND-CP ngày 22/09/2006: “Hệ thống thông tin SHCN bao gồm tập hợp các thông tin liên quan đến tất cả các đối tượng SHCN được bảo hộ tại Việt Nam, các thông tin chọn lọc theo mục đích hoặc theo chủ đề về các đối tượng SHCN của nước ngoài, được phân loại, sắp xếp phù hợp và thuận tiện cho việc tìm kiếm (tra cứu), phân phối và sử dụng”

1.2.2 Khái niệm liên kết thông tin khoa học và công nghệ

Ngày nay, thông tin khoa học và công nghệ được coi là chìa khoá của mọi hoạt động tìm kiếm và sáng tạo, là yếu tố cần thiết của các năng lực đổi mới, cạnh tranh và phát triển của mỗi cá nhân, tập thể và của toàn xã hội Do

đó, việc liên kết thông tin khoa học và công nghệ ngày được coi trọng và đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung và KH&CN nói riêng của bất cứ quốc gia nào trên thế giới

Trang 21

Để nhận thức rõ vai trò của liên kết thông tin KH&CN với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung, và đối với sự nghiệp phát triển của KH&CN nói riêng thì mọi người cần hiểu về liên kết thông tin KH&CN:

Khái niệm liên kết thông tin khoa học và công nghệ là sự kết nối các thông tin về khoa học và công nghệ, các dữ liệu của cơ sở này với cớ sở khác, vùng này với vùng khác, đất nước này với đất nước khác thông qua việc cập nhật thông tin bằng việc trao đổi, truyền tải bằng thư viết vận chuyển bằng đường bộ, đường thủy, đường hàng không hay bằng công nghệ thư điện tử thông qua hệ thống Internet

Thực hiện các nhiệm vụ liên kết giữa cơ quan Cục Sở hữu trí tuệ và hệ thống quản lý nhãn hiệu quốc tế WIPO có vai trò hết sức quan trọng trong việc củng cố và thúc đẩy hoạt động liên kết, làm cho hoạt động liên kết của Cục và WIPO thực sự góp phần nâng cao năng lực tra cứu thông tin và công tác quản lý đơn nhãn hiệu quốc tế phục vụ thực tiễn ngày càng nâng cao

Một cơ cấu tổ chức chỉ được sinh ra dựa trên chức năng, nhiệm vụ đã được xác định Khi cơ cấu tổ chức phù hợp và trực tiếp phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ thì tổ chức mới phát huy được tác dụng và nhiệm

vụ mới được thực hiện một cách tốt nhất Cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động KH&CN của một đơn vị có thể gồm một số tổ chức cụ thể nhưng phải là một

hệ thống thống nhất, một nhất thể, phục vụ cho mục tiêu chung Khi liên kết thông tin được xem như một chức năng, nhiệm vụ mới, gắn kết thường xuyên Cục SHTT và WIPO thì việc hình thành một tổ chức thích hợp, nằm trong cơ cấu tổ chức KH&CN chung của Cục SHTT và WIPO, nhằm phối hợp và điều hành hoạt động liên kết là một tất yếu Nghiên cứu về tính hiệu quả của tổ chức quản lý hoạt động liên kết thông tin KH&VN của Cục SHTT và WIPO cho thấy, việc thực hiện chức năng liên kết trong đào tạo, nghiên cứu và thực hiện dịch vụ KH&CN của Cục SHTT và WIPO là do hệ thống thông tin của Cục và bộ phận quản lý nhãn hiệu quốc tế là những bộ phận chịu trách nhiệm lãnh đạo và quản lý trực tiếp hoạt động này

Nhiệm vụ liên kết thông tin KH&CN là nhiệm vụ cập nhật các thông tin khoa học kịp thời, giúp cho công việc thẩm định đơn của các thẩm định

Trang 22

viên được chính xác khi có thông tin rõ ràng Hơn nữa, việc cập nhật thông tin cũng giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài có thể biết được việc đăng ký nhãn hiệu của mình có được chấp nhận hay không được chấp nhận khi mà doanh nghiệp đó muốn kinh doanh các mặt hàng của mình vào nước đó

1.3 Mối quan hệ liên kết thông tin KH&CN với quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế

Thông tin KH&CN với quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế có vai trò rất quan trọng Trong mỗi hệ thống, tổ chức, để cho các việc quản lý và bảo

hộ có hiệu quả thì không thể thiếu được là phải thiết lập hay xây dựng lên hệ thống quản lý thông tin tối ưu dễ hiểu, dễ sử dụng cho người dùng Để sử dụng những thông tin liên kết KH&CN với các thông tin về nhãn hiệu quốc tế khi đăng ký vào Việt Nam thì người cần tìm kiếm thông tin cũng như các thẩm định viên cần hiểu như sau:

Mối quan hệ giữa thông tin KH&CN với quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế là sự liên kết các thông tin khoa học và công nghệ về đơn nhãn hiệu quốc tế khi đăng ký nhãn hiệu đó vào Việt Nam trong đó thể hiện các thông tin như tên nhãn hiệu (hình của nhãn hiệu nếu có), chủ đơn, địa chỉ của chủ đơn, đơn vị đại diện, phần chuyển giao các danh mục sản phẩm, nhóm danh mục sản phẩm hàng hóa được bảo hộ hay từ chối và các văn bằng pháp lý khác nhằm giúp cho các đơn vị quản lý biết được các thông tin cần thiết và đầy đủ nhất và bảo hộ nhãn hiệu đó có quyền pháp lý về SHTT khi nhãn hiệu

đó được đăng ký vào Việt Nam

1.3.1 Thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động xác lập quyền đối với nhãn hiệu quốc tế

Sau khi việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu quốc tế một cách đầy đủ,

hồ sơ đăng ký và giấy tờ cần thiết này nhằm để xác lập quyền tại nước sở tại, Cục SHTT tại nước sở tại tiến hành thẩm định đơn Sau khi việc thẩm định kết thúc và có kết quả là đuợc cấp, lúc này đơn được coi là nhãn hiệu, thì nguời chủ đơn có thể mở rộng phạm vi kinh doanh khi nộp đơn vào các nước khác trên thế giới dưới hai hình thức:

Trang 23

Sơ đồ nộp đơn nhãn hiệu quốc tế

Hình thức thứ nhất là khi nộp vào nước thứ hai thông qua văn phòng quốc tế với điều kiện là nước sở tại và nước dự dịnh nộp đơn đều cùng tham gia Hệ thống Madrid Agreement (theo Nghị định thư - 1891 ) hoặc theo Madrid Protocol (theo thoả ước - 1989)

Quá trình thẩm định đơn gồm hai giai đoạn: thẩm định hình thức và thẩm định nội dung

Hình thức thứ hai là nộp thẳng vào nước thứ hai thông qua văn phòng đại diện được nhà nước cấp phép tại nước đó

Xét về việc trình tự xét nghiệm đơn:

- Đối với giai đoạn thẩm định hình thức:

Giai đoạn này được thực hiện tại nước sở tại hoặc tại văn phòng quốc tế

- Đối với giai đoạn thẩm dịnh nội dung:

Mặc dù đơn đã được cấp bằng tại nước sở tại và trở thành nhãn hiệu ở nước sở tại nhưng khi nộp vào nước thứ hai thì coi như là nộp lần đầu tiên và được coi là đơn đăng ký nhãn hiệu như lần đầu nộp ở nước sở tại và lại xét nghiệm về mặt nội dung Đây là giai đoạn quan trọng nhất đối với việc xác

Trang 24

lập quyền Mục đích của việc thẩm định nội dung đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ là để xác định đối tượng nêu trong đơn có đáp ứng các tiêu chuẩn bảo

hộ mà luật pháp quy định hay không Thẩm định nội dung bao gồm những công việc sau:

Trước hết thẩm định viên tra cứu tìm tài liệu từ nguồn thông tin tối thiểu; Sau đó thẩm định viên tự đánh giá khả năng phân biệt của dấu hiệu với các tài liệu đối chứng tìm được;

Và cuối cùng thẩm định viên ra kết luận về khả năng bảo hộ của dấu hiệu, xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu

Để công việc thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu quốc tế có một kết quả tốt từ việc nhận đơn, thẩm định đơn và cuối cùng ra kết luận thì người thẩm định viên ngoài những kiến thức được đào tạo thì họ cần có những công cụ hữu ích để giúp đỡ cho công việc chuyên môn đó là:

a) Nguồn thông tin KH&CN cần tra cứu

Theo quy định trong Luật SHTT, các nguồn thông tin có thể cung cấp các tư liệu để làm căn cứ và lý do từ chối cấp Văn bằng bảo hộ cho một đơn đăng ký nhãn hiệu tương đối đa dạng Để thẩm định nội dung, các thẩm định viên nhãn hiệu cần tiến hành tra cứu các nguồn thông tin sau đây:

- Các đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp tại Cục SHTT có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn và các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam mà Cục SHTT đã được WIPO thông báo với ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn cho sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự;

- Các nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ hoặc thừa nhận bảo hộ đang còn hiệu lực tại Việt Nam (kể cả các nhãn hiệu nổi tiếng) dùng cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan;

- Các nhãn hiệu được đăng ký đã chấm dứt hiệu lực trong thời chưa quá 5 năm, trừ trường hợp nhãn hiệu bị dứt hiệu lực vì lý do không sử dụng theo quy định tại Điều 95.1.d Luật SHTT, dùng cho sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự;

- Các chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam;

- Chỉ dẫn nguồn gốc địa lý hàng hóa, dịch vụ; tên địa lý, các loại dấu

Trang 25

chất lượng, dấu kiểm tra; quốc kỳ, quốc huy của các quốc gia; cờ, tên, biểu

tượng của các cơ quan, tổ chức của Việt Nam và thế giới; tên và hình ảnh lãnh

tụ, anh hùng dân tộc, tên và hình ảnh danh nhân Việt Nam và nước ngoài mà

Cục SHTT sưu tầm, lưu giữ hoặc có trong các từ điển thông dụng hoặc được

biết đến rộng rãi trên mạng thông tin toàn cầu;

- Ngoài ra, khi cần thiết, thẩm định viên cần tra cứu các nguồn thông

tin tham khảo ngoài nguồn thông tin trên đây như kiểu dáng công nghiệp đang

được bảo hộ, các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày ưu tiên sớm

hơn, tên thương mại

Để làm được điều này, các thẩm định viên tại Cục SHTT cần đến các

chương trình sau:

Chương trình IPAS

Chương trình này là chương trình quản trị đơn SHCN để hỗ trợ thẩm

định viên quản lý, tra cứu tình trạng Đơn và Văn bằng Đây là chương trình

quản lý duy nhất thống nhất dữ liệu về SHCN tại Việt Nam Chương trình này

cho phép người quản lý cũng như thẩm định viên theo dõi tình trạng đơn

SHCN từ lúc tiếp nhận cho đến khi cấp Văn bằng Đồng thời theo dõi cả tình

trạng các thông tin liên quan đến đơn đó như: Sửa đổi, chuyển nhượng, gia

hạn, khiếu nại, công văn bổ sung

Màn hình chính

Màn hình chi tiết

Trang 26

Màn hình chi tiết

Chương trình IPSea

Đây là chương trình tra cứu dành cho các thẩm định viên tại Cục SHTT

Màn hình chính để tra cứu dữ liệu

Trang 27

Màn hình hiển thị kết quả lệnh tra cứu

b) Tiếp theo là tra cứu xác định nhãn hiệu, và tìm các nhãn hiệu đối chứng Mục đích và yêu cầu của việc tra cứu xác định đối chứng là tìm kiếm tất cả thông tin từ nguồn thông tin tối thiểu liên quan đến dấu hiệu yêu cầu bảo hộ để đánh giá, so sánh và kết luận về tính phân biệt của dấu hiệu nêu trong đơn

Đối với các dấu hiệu chữ bằng tiếng Việt, là các chữ đơn âm, cần tra cứu riêng rẽ từng từ, từng cụm, không cần phải cắt, tách từ

Đối với các chữ có nghĩa trong tiếng Việt, cần tra cứu để tìm ra cả những đối chứng có nghĩa tương tự trong chữ tiếng Anh, chữ tiếng Pháp, chữ Hán-Việt, chữ tiếng Hán, chữ tiếng Nga để thực hiện việc đánh giá về tính tương tự theo nghĩa (Sự cần thiết thực hiện tra cứu này do trước đây đã quy định bốn ngôn ngữ trên là các ngôn ngữ thông dụng cần được xem xét, trong thực tế bảo hộ nhãn hiệu ngoài tiếng Việt và chấp thuận bảo hộ các nhãn hiệu chi gồm từ tiếng Nga, từ tiếng Hán) Quy trình trên cũng cần được tiến hành trong trường hợp yếu tố chữ gồm những từ có nghĩa tương đương trong tiếng Anh, tiếng Pháp, từ Hán-Việt, tiếng Hán, tiếng Nga Trường hợp từ Hán-Việt

sẽ chỉ lưu ý là từ tương đối thông dụng hoặc là trường hợp đặc biệt;

Trang 28

Đối với yếu tố chữ là các từ tự đặt, không có nghĩa trong ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp: đối chứng là các từ trùng về ký tự với tiền

tố, hậu tố hoặc các ký tự dung ở giữa

Đối với dấu hiệu dạng hình vẽ, hình ảnh hoặc dấu hiệu có chứa yếu tố hình, cần tra cứu theo phân loại hình căn cứ vào Bảng phân loại các yếu tố hình của các nhãn hiệu (Thoả ước Vienna)

Đối với dấu hiệu chữ có nghĩa cụ thể hoặc dấu hiệu hình chỉ một đối tượng

cụ thể, cần tra cứu đối với đối chứng là hình hoặc chữ có ý nghĩa tương ứng

c) Cuối cùng là đánh giá khả năng bảo hộ của nhãn hiệu

Việc đánh giá khả năng bảo hộ của dấu hiệu được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành Cụ thể quy định tại Điều 72, 73 Luật SHTT, điểm 39.2 Thông tư và được chi tiết hoá như sau:

Những yếu tố sau đây bị từ chối bảo hộ kể cả trong trường hợp kết hợp với các yếu tố khác:

Dấu hiệu không nhìn thấy được: như dấu hiệu âm thanh, mùi, vị…; Dấu hiệu trái với trật tự xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng,

an ninh quốc gia (Điều 8.1 Luật SHTT và Điều 39.2.b.iii của Thông tư);

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với biểu tượng, lá cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

Dấu hiệu trùng hoặc tuơng tự gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

Dấu hiệu trung hoặc tương tụ gây nhầm lẫn với dấu hiệu chứng nhận, dấu bảo hành, dấu kiểm tra;

Trang 29

Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của sản phẩm, dịch vụ;

Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết và dễ ghi nhớ

1.3.2 Thông tin khoa học và công nghệ với việc thực thi quyền đối với nhãn hiệu quốc tế

Tình trạng xâm phạm đối với nhãn hiệu có những dấu hiệu phức tạp đã gây một số thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến sự nỗ lực đầu

tư sáng tạo của các tổ chức, cá nhân, cũng như đến trật tự thị trường và cả tâm

lý của người tiêu dùng trong xã hội

Sự xâm phạm xảy ra đối hầu hết các loại sản phẩm, dịch vụ, hàng hoá

và gây ra phổ biến dưới dạng sao chép nhãn hiệu, thực hiện hành vi sao chép làm các nhãn hiệu trùng hay tương tự có mức độ gây nhầm lẫn cao với nhãn hiệu đang có hiệu lực bảo hộ

Hàng giả, hàng nhái, hàng có chứa yếu tố vi phạm liên quan đến hầu hết các chủng loại sản phẩm, từ các sản phẩm tiêu dùng thông thường đến các mặt hàng điện tử cao cấp, từ thuốc chữa bệnh cho đến các phương tiện sản xuất, từ các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, du lịch cho đến hoạt động giáo dục, đào tạo…Gần đây, ngoài những hình thức xâm phạm truyền thống nêu trên đã xuất hiện các dạng xâm phạm mới và phức tạp hơn như âm thanh, nhạc chuông, hình ảnh động

Việc xâm phạm này xảy ra cả ở khu sản xuất, chế biến và khu vực lưu thông, xuất nhập khẩu; trong đó phổ biến nhất là ở khâu lưu thông và nhập khẩu, liên quan đến nhiều thành phần kinh tế: tư nhân, nhà nước và liên doanh, thậm chí có cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư toàn bộ của nước ngoài

Số lượng sử lý các vụ việc xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu do các

cơ quan có thẩm quyền đang có dấu hiệu tăng Hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng xâm phạm quyền về nhãn hiệu ngày càng tinh vi, khó nhận biết

Trang 30

Nhiều mặt hàng bị lâm vào tình trạng thật giả lẫn lộn rất khó phân biệt và nhận biết Công nghệ in ấn, sao chép hiện đại đã có mặt và được sử dụng tại Việt Nam Một số lượng lớn hàng giả, hàng vi phạm về nhãn hiệu từ các nước láng giềng được nhập khẩu vào Việt Nam theo nhiều đường khác nhau

Hàng hoá xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đã xuất hiện với các chủng loại sản phẩm có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng cho người tiêu dùng và cho xã hội Việc nhái các nhãn hiệu đã xảy ra cả với những sản phẩm

có công dụng hoặc chức năng đặc biệt như thuốc chữa bệnh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, thép xây dựng, xi măng, giống cây trồng

Thiệt hại do sự xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hó có xu hướng ngày càng gia tăng Nhiều doanh nghiệp khẳng định rằng hàng giả sản phẩm của họ chiếm phần lớn thị phần, làm cho bản thân doanh nghiệp đó không phát triển được

Việc sao chép nhãn hiệu là không khó để có thể nhận biết hành vi, nhưng thuật ngữ “tương tự tới mức gây nhầm lẫn” thì pháp luật chưa quy định

cụ thể, đo đó mỗi cơ quan có trách nhiệm thực thi quyền đối với nhãn hiệu lại

có những cách hiểu khác nhau Trong trường hợp này, vai trò của thông tin KH&CN là vô cùng cần thiết và quan trọng

Căn cứ xác định mức độ vi phạm, xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu dựa vào các nguồn thông tin sau:

+ Thông tin về Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu: tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ, yếu tố loại trừ

+ Thông tin về Đơn nhãn hiệu có liên quan;

+ Thông tin về doanh số hàng hóa đã được bán, quảng cáo, phát triển thị trường trong trường hợp liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng;

+ Thông tin về Pháp luật liên quan;

+ Thông tin liên quan trên hệ thống truyền thông đại chúng: truyền hình, báo, đài, Internet

Các dữ liệu tra cứu và tiêu trí đánh giá mức độ trùng hay tương tự gây nhầm lẫn cũng giống như tiêu chí xem xét khi thẩm định đơn trong mục 1.3.1

Trang 31

1.3.3 Thông tin khoa học và công nghệ với việc quản lý nhãn hiệu quốc tế

Tầm quan trọng của việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu càng được đề cao càng bảo đảm và tăng cường tính cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ

Trong việc kinh doanh hiệu quả tại thị trường trong nước hàng hóa nội địa cũng phải cạnh tranh với nhiều hàng hóa cùng loại do người trong nước sản xuất cũng như từ nhiều nước khác nhau dễ dàng nhập khẩu vào nước ta Người chủ nhãn hiệu cũng phải nhận rõ rằng đó là để tăng cường tính cạnh tranh của sản phẩm, do đó họ cần phải: Cải tiến kỹ thuật, sáng tạo hoặc áp dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng hoặc giảm giá thành của sản phẩm.Tạo ra các mẫu mới của hàng hóa để thu hút, lôi cuốn người tiêu dùng

Tuy nhiên, tất cả các thành tựu trên chứa trong một sản phẩm khi giới thiệu với công chúng thì luôn được thực dưới một nhãn hiệu cụ thể của nhà sản xuất Đây là dấu hiệu đầu tiên và dễ dàng nhất để họ có thể phân biệt được sản phẩm của nhà sản xuất này với các nhà sản xuất khác để đưa ra quyết định lựa chọn Do đó, bảo hộ nhãn hiệu luôn là một việc hết sức quan trọng và cấp thiết đối với nhà sản suất nhằm tạo lập và tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa

Như vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu mang tính lãnh thổ, thường giới hạn trong một số quốc gia, một nhóm nước hoặc một khu vực chấp nhận sự bảo

hộ đó Sự bảo hộ trong những không gian cụ thể như vậy trong thực tế đã là rất hữu hiệu và đã mang lại những lợi ích cho chủ nhãn hiệu và công chúng trong nhiều năm tồn tại của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu Tuy nhiên, do sự hòa nhập của nền kinh tế, hàng hóa dễ lưu thông từ quốc gia này sang quốc gia khác, thậm chí đến cả những quốc gia rất xa về địa lý so với nước xuất xứ, việc bảo đảm khả năng cạnh tranh của hang hoá tại mọi thị trường ngoài nước

để chống lại việc làm hàng giả, hàng nhái hay cạnh tranh không lành mạnh là điều vô cùng quan trọng Việc bảo hộ nhãn hiệu không chỉ thực hiện tại nước xuất xứ mà còn bảo hộ đến những vùng lãnh thổ mà mình sẽ xuất khẩu hàng hoá tới bằng cách xác lập quyền của nhãn hiệu tại các vùng lãnh thổ đó

Trang 32

Thực tiễn của việc bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam trong những năm gần đây càng cho thấy tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu nhất là trong xu thế hiện nay Ví dụ như một số mặt hàng:

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tạo sản phẩm, hàng hoá và phát triển được những nhãn hiệu được thừa nhận rộng rãi trong nước và cả ở nước ngoài như: nhãn hiệu nuớc nắm Phú Quốc, “BITIS” cho sản phẩm là giầy dép và đồ

đi chân, “VINATABA” cho sản phẩm là thuốc lá…Các nhãn hiệu này đã được bảo hộ và phát triển mạnh ở Việt Nam nhưng chủ nhân của các nhãn hiệu này lại không kịp thời bảo hộ các nhãn hiệu đó ở nước ngoài, nhất là các nước có vị trí địa lý gần Việt Nam Hậu quả là các nhãn hiệu đó đã bị đánh cắp bởi chính các đối thủ cạnh tranh hoặc chính những ngưòi dân bản xứ, là những người trước kia là nhà phân phối các sản phẩm đó đứng ra đăng ký chiếm đoạt quyền đối với nhãn hiệu đó tại nước ngoài Thiệt hại là việc xuất khẩu hàng hoá mang nhãn hiệu trên bị giữ lại tại cửa khẩu, vùng biên giới, thị phần bị mất, thậm chí hàng thật xuất khẩu sang các thị trường trên lại bị tạm giữ hoặc bị tịch thu Tuy nhiên, một số chủ sở hữu nhãn hiệu trên đã tiến hành kiện tụng và sau một quá trình pháp lý đã đòi lại được nhãn hiệu của mình, nhưng một số nhãn hiệu khác cũng đang rơi vào tình trạng kiện cáo khá phức tạp và tốn kém

Ngược lại, một số sản phẩm của các hàng uy tín của nước ngoài, sau một thời gian lưu thông đã chiếm được uy tín trên thị trường Việt Nam, nhưng một điều là chủ sở hữu của các sản phẩm dó không kịp thời bảo hộ các nhãn hiệu đó tại Việt Nam Mặc dù, đây là những hàng hoá lớn hoặc những hàng sản xuất ở các quốc gia láng giềng với Việt Nam Sự chậm chễ đó đã làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, đó là việc các hãng khác tranh thủ chiếm đoạt để đăng ký các nhãn hiệu đó làm của mình, những kẻ trục lợi thì tranh thủ làm giả, làm hàng nhái các nhãn hiệu đó để lừa dối người tiêu dung nhằm thu lợi bất chính mà khi đó cơ quan thực thi pháp luật lại không có cơ

sở để xử lý Tuy nhiên, luật pháp Việt Nam cũng có các điều khoản để giúp người chủ sở hữu đích thực của nhãn hiệu nôi tiếng hoặc nhãn hiệu được sử

Trang 33

dụng rộng rãi đòi lại được nhãn hiệu của mình, nhưng những quá trình pháp

lý đó thường kéo dài thời gian và không khỏi mang lại những thiệt hại nhất định cho họ về lợi nhuận cũng như uy tín của nhãn hiệu

Tất cả những thực tiến trên càng khẳng định tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu trong phạm vi một quốc gia và trên bình diện quốc tế trong thời đại kinh tế “thông thoáng” hiện nay

Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải quan tâm đến các nhãn hiệu đang được thịnh hành và được nhiều người biết đến trên thị trường thông qua sự liên kết thông tin KH&CN để tránh sự làm hàng nhái các nhãn hiệu nổi tiếng hay các nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi trên thị trường Theo công ước Paris năm 1983 về bảo hộ quyền SHCN đề cập đến nhãn hiệu nổi tiếng tại điều 6 Bis bằng việc quy định nghĩa vụ bắt buộc các quốc gia thành viên thực hiện trong việc từ chối hay huỷ bỏ hiệu lực mọi sự bắt chước sao chép, một bản dịch có thể gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu nổi tiếng và cũng quy định khoảng thời gian cho chủ nhãn hiệu yêu cầu các cơ quan chức năng có thẩm quyền huỷ bỏ sự đăng ký nhãn hiệu đối với việc vi phạm

Cục SHTT đã áp dụng các nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để giải quyết thành công một số vụ việc diển hình: 1) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của Nhật Bản khi xin đăng ký nhãn hiệu “TOYOTA” cho sản phẩm máy công cụ (nhóm 07) vì nhãn hiệu này trùng với nhãn hiệu nổi tiếng “TOYOTA” của Công ty TOYOTA (Nhật Bản) mặc dù nhãn hiệu đăng kí này không trùng sản phẩm 2) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của Indonexia khi xin đăng ký nhãn hiệu “VINATABA” cho sản phẩm là quần áo, dày dép thuộc (nhóm 25) vì nhãn hiệu này trùng với nhãn hiệu nổi tiếng “VINATABA” của Công ty thuốc lá Việt Nam, mặc dù khác sản phẩm 3) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của Australia nộp đơn đăng ký các nhãn hiệu “Mc Donald”, “KFC”, “PIZZAHUT” cho nhóm dịch vụ cung cấp thức ăn nhanh (nhóm43) vì nhãn hiệu này trùng với các nhãn hiệu nổi tiếng của Hoa Kỳ.`

Trang 34

Việc áp dụng quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đã rất có hiệu quả trong việc bảo hộ nhãn hiệu mà được nhiều khách hàng biết đến và yêu thích

ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều khó khăn và chưa đồng nhất trong việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và trên thế giới Đó là các thủ tục cụ thể công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, việc thống nhất các tiêu chí công nhận nhãn hiệu nổi tiếng và việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu Nguyên nhân chính của việc tồn tại nhiều khó khăn này chính là sự thiếu thông tin KH&CN cần thiết để dịch ra chính xác các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng vì trong đó có vẫn còn có các tiêu chí mang tính chất định tính

do luật cũng như nghị hướng dẫn thi hành lại chưa quy dịnh cụ thể các bước

để nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng Theo quy định trong Nghị dịnh 06/CP tại Điều 8 khoản 3: “Quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng phát sinh trên cơ sở quyết định công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” vẫn đang được áp dụng Như vậy, trong trường hợp thẩm định nhãn hiệu có liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng thì tuỳ theo trình độ nhận thức cùng với các thông tin mà một thẩm định viên tại Cục SHTT đưa ra kết luận thẩm định khác nhau

- Xét trường hợp trong ví dụ nhãn hiệu “SUPER MAN”

Ngày 13/02/1993, công ty DC COMICS, New York, USA nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu “SUPER MAN & Hình” tại Việt Nam và đã được cấp GCNĐKNH số 9119 ngày 14/09/1993 cho các sản phẩm hàng hoá thuộc nhóm 09, 16, 25, 28 bao gồm phim nhựa, mũ nón, ấn phẩm, quần áo, băng đĩa, đồ chơi, trò chơi Các nhãn “SUPER MAN” và “SUPER MAN &Hình” của DC COMICS cũng đã được đăng ký, sử dụng rộng rãi và liên tục ở trên

150 quốc gia từ những năm 1930 Tuy nhiên, cả hai nhãn hiệu này của DC COMICS chưa được sử dụng tại Việt Nam

Ngày 13/05/1996, Công ty TNHH xây dựng Việt Địa, Tp Hồ Chí Minh nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu “SUPER MAN” và đã được cấp GCNĐKNH

Trang 35

số 24089 ngày 03/04/1997 cho các dịch vụ thuộc nhóm 42 bao gồm mua bán, đại lý ký gửi, bán buôn, bán lẻ phụ tùng cơ khí các loại phục vụ ngành công nghiệp nhẹ (kìm, búa, mỏ lết…)

Ngày 31/08/1998, DC COMICS đã thông qua đại diện SHCN của Việt Nam nộp đơn yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực GCNĐKNH số 24089 của Việt Địa Trong công văn trả lời Cục SHTT về đơn yêu cầu trên, Việt Địa đã đưa ra hai ý kiến: 1) DC COMICS chưa chứng minh được các nhãn của họ phải được coi là nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 2) Dịch vụ trong Nhóm 42 của Việt Địa hoàn toàn khác biệt và không liên quan gì đến các sản phẩm thuộc nhóm 09, 16, 25,

28 của DC COMICS và do đó sản phẩm của Việt Địa được bảo hộ là hợp lý và không vi phạm đến phạm vi bảo hộ của GCNĐKNH số 9119 của DC COMICS

Ngày 11/10/2002, sau khi thay đổi đại diện SHCN nêu trên theo yêu cầu của DC COMICS bởi một công ty đại diện khác là Lê & Lê, công ty này

đã nộp đơn mới yêu cầu Cục SHTT huỷ bỏ hiệu lực GCNĐKNH số 24089 Trong đơn yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực, Lê & Lê đã trình bày quan điểm của mình đối với một lạot vấn đề còn đang gây nhiều tranh cãi về nhãn hiệu nổi tiếng là: các tiêu chí, điều kiện, tiêu chuẩn và phạm vi bảo hộ của các nhãn hiệu nổi tiếng đối với các sản phẩm, dịch vụ không cạnh tranh Đây chính là các vấn

đề mang tính quyết định của vụ tranh chấp này Lê & Lê đã cho rằng với các lập luận của mình về nhãn hiệu nổi tiếng và chứng cứ đã đệ trình, các nhãn hiệu của DC COMICS phải được coi là nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam Theo các quy định của pháp luật về nhãn hiệu có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn của Việt Địa, Lê &Lê đã nêu ra hai cơ sở pháp lý để hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu số 24089 của Việt Địa, đó là: Nhãn hiệu này tương tự gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu nổi tiếng “SUPERMAN” và “SUPERMAN & hình” của DC COMICS và là dấu hiệu làm hiểu sai lệch về xuất xứ của hàng hoá

Ngày 08/07/2004, Cục SHTT đã ra quyết định huỷ bỏ hiệu lực GCNĐKNH số 24089 với việc chấp nhận các lập luận của Lê & Lê về những vấn đề nêu trên trong vụ tranh chấp kéo dài 6 năm giữa DC COMICS và Việt Địa ở Việt Nam

Trang 36

Như vậy, với cùng một nhãn hiệu yêu cầu thẩm định, nếu thông tin KH&CN không đầy đủ, bên làm nhái sản phẩm đã thuyết phục được Cục SHTT đưa ra quyết định có lợi cho mình để làm nhái theo nhãn hiệu nổi tiếng

và ngược lại, khi có đầy đủ thông tin KH&CN thì chứng minh được các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng

* Kết luận Chương 1

Trong Chương 1 này, Luận văn đã đề cập đến cơ sở lý luận, trong đó nhấn mạnh các khái niệm về nhãn hiệu Madrid, thông tin KH&CN và mối quan hệ liên kết giữa thông tin KH&CN với nhãn hiệu quốc tế…

Ở chương này tác giả cũng đề cập đến việc liên kết thông tin KH&CN và đấy cũng chính là cơ sở căn bản cho các hoạt động về SHCN Trong quá trình tìm hiểu, tạo dựng, đăng ký, bảo vệ nhãn hiệu và các hoạt động quản lý liên quan đến việc thực thi quyền, xác lập quyền, cho đến khi nhận hồ sơ để xem xét, thẩm định, cấp văn bằng bảo hộ và gia hạn quyền bảo hộ nhãn hiệu, thực thi quyền SHCN, tất cả các khâu trên đều cần đến thông tin chi tiết và cụ thể của từng nhãn hiệu Do đó, yêu cầu trước tiên trong việc thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu ở các khâu nói trên luôn phải thực hiện là tra cứu thông tin về nhãn hiệu trong tất

cả các nguồn thông tin KH&CN mà chúng ta có thể để mục đích chính là tra cứu, tìm kiếm và cung cấp hết các đối tượng chính và liên quan cần thiết để phân tích, đánh giá và cuối cùng là ra quyết định chính xác khi thực hiện các thao tác nghiệp vụ chuyên môn có liên quan đẩy đủ nhất

Vậy thực trạng khai thác thông tin KH&CN và xây dựng mối liên kết thông tin KH&CN giữa Cục SHTT với WIPO đối với việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế ra sao? Chương 2 của luận văn xin phân tích cụ thể

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT THÔNG TIN KH&CN

TRONG QUẢN LÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU QUỐC TẾ THEO

HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ MADRID 2.1 Khái quát về thực trạng quản lý và bảo hộ NHQT theo hệ thống đăng ký Madrid.

2.1.1 Khái quát về thực trạng xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống Madrid

Hiện nay, nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường, một nền kinh

tế đầy thử thách và mang tính cạnh tranh rất mãnh liệt Do đó, nhãn hiệu của doanh nghiệp có thể gặp phải những vướng mắc về pháp luật và nguy cơ bị rủi ro rơi vào vòng pháp lý Trên thực tế có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi

ro như nhãn hiệu đó có thể bị đối thủ cạnh tranh đánh cắp rồi đem đi đăng ký trước hoặc đối thủ cạnh tranh đã nhái hay bắt trước nhãn hiệu đến mức tương

tự có thể gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của công ty hay doanh nghiệp nào đó rồi đem đi đăng ký trước với cơ quan chức năng… và kết quả là chính chủ nhãn hiệu của doanh nghiệp - chủ sở hữu thực sự của nhãn hiệu lại phải gặp các vụ kiện do xâm phạm quyền SHCN liên quan đến nhãn hiệu của chính mình…

Do nền kinh tế hội nhập đang phát triển vài năm trở lại đây cho nên Cục

sở hữu trí tuệ Việt Nam nhận rất nhiều đơn đăng ký nhãn hiệu quốc tế theo hệ thống Madrid nộp tại Văn phòng quốc tế của tổ chức SHTT thế giới (WIPO) và một phần nhãn hiệu quốc tế nộp trực tiếp vào quốc gia thông qua các Văn phòng đại diện SHTT ở Việt Nam Số lượng đơn đăng ký được ghi nhận ngày càng tăng tính theo hàng năm, đạt mức trung bình khoảng từ 20% đến khoảng 25% Tổng kết từ 01/01/2008 đến 31/12/2013, tổng số đơn có khoảng 72170 đơn nhãn hiệu đăng ký quốc tế chỉ định hoặc mở rộng lãnh thổ vào Việt Nam Theo các thông số trên thì ta nhận thấy rằng số luợng nhãn hiệu quốc tế vào Việt Nam là vô cùng lớn nhưng không phải hầu hết các nhãn hiệu đăng ký trên khi vào Việt Nam là hoàn toàn được sử dụng Mặc dù hiện tại vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê hay điều tra nào về thực trạng sử dụng nhãn hiệu đã đăng

Trang 38

ký nhưng ta có thể nhận thấy được rằng lượng đơn đăng ký trong thực tế chỉ có khoảng 60% số lượng nhãn hiệu đã đăng ký là đang được sử dụng, phần còn lại

là bị từ chối hay phải yêu cầu sửa đổi để có thể phù hợp khi sử dụng Nguyên nhân là do một lượng lớn nhãn hiệu đã đăng ký lại hay gia hạn bảo hộ mà nhãn hiệu đó chưa được nhìn thấy trên thị trường có thể được lý giải như sau: Thứ nhất là một số chủ thể muốn đăng ký nhãn hiệu với mục đích là giữ chỗ để sau này đầu tư sản xuất kinh doanh, mục đích là hạn chế hay ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh khác, để giữ vị trí cho một dự án đầu tư nào đó mà khả năng kinh doanh mặt hàng đó có thể phát triển mạnh, thu hút nhiều khách hàng và kiếm lợi nhuận cao Thứ hai là cơ sở sản xuất kinh doanh hay doanh nghiệp đó không còn tồn tại trên thực tế hoặc đã thu hẹp thị trường sản xuất, kinh doanh lại Thứ ba là chủ sở hữu đã bị phá sản…

Việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế khi vào Việt Nam do không có thông tin khoa học đầy đủ, kịp thời và chính xác, việc cập nhật thông tin còn chậm chễ do đó dẫn đến việc đăng ký có những khó khăn nhất định:

Việc đăng ký nhãn hiệu là do nhu cầu muốn khẳng định doanh nghiệp

là chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đăng ký mà đã mất nhiều tiền bạc, thời gian

và công sức để tạo dựng nên “nhãn hiệu” của riêng mình Tuy nhiên, sau một thời gian đăng ký nguời nộp đơn nhận được quyết định từ chối bảo hộ của Cục SHTT và nêu rõ nhãn hiệu bị từ chối do xung đột với nhãn hiệu của người nộp đơn trước đó Giả sử doanh nghiệp này không biết thông tin về nhãn hiệu đối chứng trên thì đây là điều thực sự gây bất ngờ cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp này phải lên kế hoạch là liệu có nên tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đang có hay thay đổi nhãn hiệu khác, trong khi đó thị trường người tiêu dùng đã quen với nhãn hiệu đang có của mình

Bên cạnh đó, đa số các nhãn hiệu đối chứng chỉ có trong cơ sở dữ liệu nhãn hiệu quốc gia mà có thể chưa được sử dụng trong thương mại Trong khi

đó việc sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký đối với chủ sở hữu đã cũng được quy định đầy đủ trong Luật SHTT năm 2005 của Việt Nam Điểm 95.1.d quy định nếu chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người khác được chủ sở hữu cho phép sử dụng

Trang 39

nhãn hiệu mà không sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký trong thời hạn 05 năm liên tục thì nhãn hiệu đã đăng ký đó có thể bị chấm dứt hiệu hiệu lực bởi đơn yêu cầu của bên thứ ba (Điểm 95.1.d Luật SHTT năm 2005) Để xác định được hiệu lực văn bằng của chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng có sử dụng nhãn hiệu đối chứng hay không thì trước hết cần phải hiểu khái niệm “sử dụng” trong Luật SHTT Theo điểm 124.5 của Luật này thì việc sử dụng nhãn hiệu là chủ

sở hữu hoặc người được sử dụng hợp pháp thực hiện các hành vi như: gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động hoạt động kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, dự chữ hàng để bán mang nhãn hiệu được bảo hộ; nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ Để chứng minh chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng không sử dụng nhãn hiệu trong 05 năm liên tục thì các doanh nghiệp có sự cạnh tranh cần thuê một công ty chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ điều tra thị trường để xác định chủ sở hữu nhãn hiệu không thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam bất kỳ hành vi nào thuộc khái niệm “sử dụng” đã nêu trên Nếu kết quả điều tra cho thấy không

có nhãn hiệu đối chứng nào như đã yêu cầu điều tra được xác định là hiện đang sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng đã ngừng sử dụng trong 05 năm liên tục thì nộp bị hồ sơ yêu cầu Cục SHTT chấm dứt hiệu lực của nhãn hiệu đối chứng Theo điểm 21.2.b Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày 14/02/2007, hồ sơ bao gồm:

- Tờ khai yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, theo mẫu;

- Chứng từ nộp phí, lệ phí theo quy định;

Trên cơ sở có đầy đủ hồ sơ, Cục SHTT sẽ xem xét và ra văn bản thông

Trang 40

báo cho chủ sở hữu nhãn hiệu có đối chứng về yêu cầu chấm dứt hiệu lực và đồng thời ấn định thời hạn là 02 tháng kể từ ngày thông báo để chủ sở hữu nhãn hiệu đang đăng ký nhãn hiệu đàm phán với chủ sở hữu nhãn hiệu có đối chứng phản đối việc cấp văn bằng cho nhãn hiệu đang đăng ký trên Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào chứng cứ do các bên cung cấp mà Cục SHTT sẽ ra quyết định chấm dứt hiệu lực hoặc quyết định chấm dứt hiệu lực Nếu không đồng ý với quyết định của Cục, một trong các bên có quyền thực hiện việc khiếu nại đối với người ra quyết định đó hoặc tiến hành khởi kiện vụ án hành chính Ví

dụ một số nhãn hiệu quốc tế đã đăng ký thành công khi đăng ký vào Việt Nam theo hệ thống Madrid:

- Nhãn hiệu: “EUROMA” số 213760 đăng ký vào Việt Năm 2013

Chủ sở hữu: Koninklijke Euroma B.V

Địa chỉ: Kloosterweg 3 NL-8191 JA Wapenveld Netherlands

Nhóm đăng ký sản phẩm, dịch vụ: 30 - Spices and spice mixtures

- Nhãn hiệu: “BAYGARD” số 603233 đăng ký vào Việt Nam 2010 Chủ sở hữu: Bayer Aktiengesellschaft

Địa chỉ: Kaiser-Wilhelm-Allee 51373 Leverkusen Germany

Nhóm đăng ký sản phẩm dịch vụ: 01 - Chemical products for use in industry, namely auxiliaries for text

Thực trạng việc nhãn hiệu đã đăng ký nhưng chưa bao giờ được sử dụng hoặc đã được sử dụng nhưng hết thời hạn của văn bằng và nay quay trở lại tình trạng không sử dụng trong nhiều năm đã thực sự trở thành một trong những rào cản đối với tự do thương mại và dịch vụ Nếu Luật chưa có hành động cụ thể để chấm dứt hiệu lực của những nhãn hiệu đó thì chúng vẫn còn hiệu lực trong nhãn hiệu Đăng bạ Quốc gia và tiếp tục căn trở quyền cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài khi muốn kinh doanh tại thị trường Việt Nam

Theo số liệu của Cục SHTT, tổng số đơn yêu cầu cần đăng ký nhãn hiệu quốc tế nộp cho Cục SHTT thông qua văn phòng quốc tế WIPO như sau:

Ngày đăng: 06/10/2016, 00:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cục SHTT (2007), Báo cáo Dự án “Ứng dụng thông tin SHTT tại Việt Nam” tháng 01 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng thông tin SHTT tại Việt Nam
Tác giả: Cục SHTT
Năm: 2007
4. Cục SHTT, JPO (2008), Tài liệu “Hội thảo về quyền SHTT trong các trường Đại học và các doanh nghiệp vừa và nhỏ” do cơ quan sáng chế Nhật Bản (JPO), Cục SHTT thực hiện ngày 19/11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về quyền SHTT trong các trường Đại học và các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Cục SHTT, JPO
Năm: 2008
5. Cục SHTT, USPTO (2010), Tài liệu “Chương trình đào tạo về thẩm định nhãn hiệu” do cơ quan sang chế nhãn hiệu Mỹ (USPTO), Cục SHTT (23- 24/09/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình đào tạo về thẩm định nhãn hiệu
Tác giả: Cục SHTT, USPTO
Năm: 2010
15. Website http://www.dost.hochiminhcity.gov.vn 16. Website http:/ /www.noip.gov.vn Link
1. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam: Nghị định số 159/2004/ND-CP ngày 31/08/2004 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin KH&CN Khác
6. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam: Nghị định số 159/2004/ND-Cp ngày 31/08/2004 của Chính phủ quy trình về hoạt động thông tin KH&CN Khác
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam: Luật Khoa học và Công nghệ 2005, sửa đỏi 2009 Khác
8. Phạm Phi Anh (2004), Chính sách thông tin SHCN tại Việt Nam, Cục SHTT Khác
9. Nguyễn Thanh Hồng (2003), Thực thi quyền sở hữu công nghiệp, Cục SHCN Khác
10. Nguyễn Thị Hương (2009), Vai trò của thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ SHCN, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN Khác
11. Trần Việt Hùng (2006), Chuyên đề: Tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu trong nền kinh tế thị trường và trong kỉ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế Khác
12. Nguyễn Văn Khanh (2003), Thông tin khoa học và công nghệ: hiện trạng và trọng tâm phát triển, theo Website Khác
13. Lê Toàn Thắng (2010), Vai trò của thông tin KH&CN tong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN Khác
14. Michael Blakeney (2006), Intellectual Property, Queen Mary Intellectual Property Research Institute, University of London Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức thứ nhất là khi nộp vào nước thứ hai thông qua văn phòng  quốc tế với điều kiện là nước sở tại và nước dự dịnh nộp đơn đều cùng tham  gia  Hệ  thống  Madrid  Agreement  (theo  Nghị  định  thư  -  1891  )  hoặc  theo  Madrid  Protocol (theo thoả  - Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào việt nam (nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống madrid)
Hình th ức thứ nhất là khi nộp vào nước thứ hai thông qua văn phòng quốc tế với điều kiện là nước sở tại và nước dự dịnh nộp đơn đều cùng tham gia Hệ thống Madrid Agreement (theo Nghị định thư - 1891 ) hoặc theo Madrid Protocol (theo thoả (Trang 23)
Bảng 2. Thống kê số lƣợng Giấy chứng nhận đƣợc cấp và đơn - Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào việt nam (nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống madrid)
Bảng 2. Thống kê số lƣợng Giấy chứng nhận đƣợc cấp và đơn (Trang 41)
Bảng 4. Khiếu nại về việc cấp Văn bằng bảo hộ từ 2008-2013 - Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào việt nam (nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống madrid)
Bảng 4. Khiếu nại về việc cấp Văn bằng bảo hộ từ 2008-2013 (Trang 43)
Bảng 5. Khiếu nại về việc vi phạm quyền SHCN từ 2008-2013 - Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào việt nam (nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống madrid)
Bảng 5. Khiếu nại về việc vi phạm quyền SHCN từ 2008-2013 (Trang 45)
Hình nhãn hiệu Incombank - Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào việt nam (nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống madrid)
Hình nh ãn hiệu Incombank (Trang 58)
Hình chính - Liên kết thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế vào việt nam (nghiên cứu trường hợp nhãn hiệu đăng ký theo hệ thống madrid)
Hình ch ính (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w