1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ hợp tác việt nam – liên xô trong lĩnh vực đào tạo (1950 1991) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ

112 427 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 846,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về chủ đề quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo, năm 2008, Trung tâm đã thực hiện một cuộc triển lãm với quy mô tương đối lớn, tại đó trưng bày, giới thiệu hàng trăm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2016

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

NGUYỄN THỊ HOÀI

QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM – LIÊN XÔ TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO (1950-1991) QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ ĐANG BẢO QUẢN TẠI

TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lưu trữ học

Mã số: 60 32 03 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Xuân Chúc

Hà Nội-2016

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: THÀNH PHẦN VÀ ĐẶC ĐIỂM KHỐI TÀI LIỆU VỀ

QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM – LIÊN XÔ TRONG LĨNH VỰC

ĐÀO TẠO (1950-1991) ĐANG BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM

LƯU TRỮ QUỐC GIA III

16

1.1 Khái quát khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô

(1950-1991) đang bảo quản tại TTLTQGIII

16

1.2 Thành phần, đặc điểm khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam

– Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) tại Trung tâm Lưu trữ

quốc gia III

18

1.2.1 Sơ lược lịch sử hoạt động của các cơ quan hình thành tài liệu

về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo

(1950-1991)

18

1.2.2 Khối lượng, thành phần và đặc điểm khối tài liệu về quan hệ

hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

30

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ KHỐI TÀI LIỆU VỀ

QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM – LIÊN XÔ TRONG LĨNH VỰC

ĐÀO TẠO (1950-1991) ĐANG BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM

LƯU TRỮ QUỐC GIA III

38

2.1 Nội dung quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực

đào tạo (1950-1991)

38

2.1.1 Thời kì kháng chiến chống Pháp từ năm 1950 đến năm 1954 38

2.1.2 Thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất

đất nước từ năm 1955 đến năm 1964

41

2.1.3 Thời kì cả nước kháng chiến chống Mỹ từ năm 1965 đến năm

1975

50

2.1.4 Thời kì từ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm

1976 đến khi kết thúc quan hệ ngoại giao Việt Nam – Liên Xô năm

1991

57

2.2 Giá trị của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô 64

Trang 4

trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

2.2.1 Là cơ sở để nghiên cứu lịch sử hợp tác ngoại giao Việt Nam –

Liên Xô, góp phần củng cố tình hữu nghị và phát triển quan hệ hợp

tác Việt Nam – Liên bang Nga ngày nay

64

2.2.2 Góp phần nghiên cứu lịch sử ngành giáo dục và đào tạo Việt

Nam, trọng tâm là giáo dục đại học

67

2.2.3 Giúp các nhà lãnh đạo, quản lý đúc rút bài học kinh nghiệm, đề

ra các chủ trương, biện pháp đúng đắn trong công tác quản lý LHS

71

2.2.4 Là một trong những nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu về giới

trí thức Việt Nam

74

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ KHAI

THÁC, SỬ DỤNG KHỐI TÀI LIỆU VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC

VIỆT NAM – LIÊN XÔ TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO

(1950-1991) VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP

79

3.1 Tình hình tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng tài liệu 79

3.1.1 Tình hình tổ chức khoa học tài liệu 79

3.1.2 Tình hình khai thác, sử dụng tài liệu 84

3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác tổ chức khoa

học và khai thác, sử dụng tài liệu về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong

lĩnh vực đào tạo

91

3.2 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm tổ chức khoa học và khai thác,

sử dụng hiệu quả tài liệu về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh

vực đào tạo (1950-1991)

93

3.2.1 Giải pháp về thu thập, bổ sung và sưu tầm tài liệu từ các cơ quan,

tổ chức và cá nhân để đảm bảo sự hoàn chỉnh của thành phần tài liệu

93

3.2.2 Giải mật tài liệu lưu trữ và tạo điều kiện cho phép khai thác, sử

phù hợp với quy định của Nhà nước

94

3.3.3 Hoàn thiện công tác tổ chức khoa học tài liệu 95

3.3.4 Tăng cường các hình thức công bố, tổ chức khai thác, sử dụng

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CHXHCN - Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CNXH - Chủ nghĩa xã hội

DCCH – Dân chủ cộng hòa ĐSQ- Đại sứ quán

KHKT – Khoa học kỹ thuật LHS – Lưu học sinh

NCS – Nghiên cứu sinh

SV – Sinh viên THCN – Trung học chuyên nghiệp TTLTQGIII – Trung tâm Lưu trữ quốc gia III TTS – Thực tập sinh

TTSKH – Thực tập sinh khoa học UBKHNN - Ủy ban Kế hoạch Nhà nước UBKhHNN - Ủy ban Khoa học Nhà nước

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, hợp tác quốc tế luôn giữ một vai trò quan trọng và không một nước nào có thể tồn tại, phát triển một cách bình thường nếu không có quan hệ với thế giới bên ngoài Lịch sử ngoại giao của Việt Nam chúng ta đã cho thấy, quan hệ Việt Nam – Liên Xô đã có ảnh hưởng to lớn tới tiến trình cách mạng Việt Nam và góp phần tích cực vào sự phát triển của mỗi quốc gia Từ sau khi nước Việt Nam DCCH thành lập, năm 1950, Liên Xô là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt và phát triển quan hệ hợp tác lâu dài Việt -

Xô trước đây và Việt – Nga ngày nay Mối quan hệ tốt đẹp này được biểu hiện sinh động và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của hai nước, trong đó giáo dục đào tạo là hướng hợp tác trọng tâm và đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp trong lịch sử quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia

Hiện nay, Liên bang Nga đang là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện của Việt

Nam trên mọi lĩnh vực Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược

toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga hồi tháng 7/2012 nêu rõ, hai bên đều

khẳng định quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện Việt – Nga là tài sản quý giá của hai nước và cần tiếp tục phát triển để đáp ứng lợi ích lâu dài của hai dân tộc Trong chiến lược ngoại giao Việt – Nga, giáo dục và đào tạo luôn được xác định

là một trong những nội dung hợp tác quan trọng, đưa quan hệ song phương trong lĩnh vực này lên tầm chiến lược

Về quan hệ hợp tác đào tạo giữa hai nước, trải qua gần 65 năm thiết lập quan

hệ ngoại giao, Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay đã đào tạo, bồi dưỡng

và nâng cao nghiệp vụ cho hàng chục ngàn công dân Việt Nam ở mọi trình độ từ nghiên cứu sinh, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề với đa dạng lĩnh vực và ngành nghề đào tạo Có thể nhận định, giai đoạn phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả tốt đẹp nhất trong quan hệ hợp tác đào tạo Việt – Nga là từ đầu năm

1950 khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao cho đến khi Liên Xô tan rã vào năm

1991, quan hệ ngoại giao hai nước chuyển sang một bước ngoặt mới Thời gian này, Liên Xô đã có công lao to lớn trong việc đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán

Trang 7

công dân Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô đã trở thành các cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo các Bộ, ban ngành; các nhà khoa học, sư phạm và các nhà hoạt động văn hóa – xã hội nổi tiếng của Việt Nam Ngược lại, Việt Nam cũng giúp Liên Xô đào tạo nhiều cán bộ trong một số chuyên ngành của lĩnh vực khoa học

xã hội và nhân văn như ngôn ngữ, lịch sử, văn học Việt Nam…Quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) đã đem lại rất nhiều kết quả tốt đẹp cho cả hai phía và đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam

Năm 2015, kỉ niệm tròn 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Liên bang Nga Đây là dịp thích hợp để chúng ta xem xét, đánh giá lại một cách tổng thể mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô (nay là Việt Nam – Liên bang Nga) đã qua, trong

đó, việc làm rõ và giới thiệu sâu sắc hơn mối quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực đào tạo giai đoạn 1950-1991 qua tài liệu lưu trữ ở TTLTQGIII là thực sự cần thiết và có ý nghĩa đối với hai quốc gia, góp phần củng cố và tiếp tục đẩy mạnh quan

hệ ngoại giao Việt – Nga trong thời gian tới Qua đây, nhiều bài học lịch sử sẽ được rút ra và chắc chắn sẽ giúp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện nói chung và hợp tác đào tạo nói riêng giữa Việt Nam và Liên bang Nga những năm tiếp theo xứng tầm với

bề dày của quan hệ lịch sử giữa hai nước

Hiện nay, TTLTQGIII đang bảo quản một khối lượng rất lớn tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức trung ương và cá nhân, gia đình, dòng họ tiêu biểu của nước Việt Nam DCCH và CHXHCN Việt Nam từ năm 1945 đến nay Qua khảo sát và tìm hiểu ban đầu, chúng tôi được biết, hiện Trung tâm có khoảng 20 phông lưu trữ cơ quan, tổ chức có thành phần tài liệu về quan hệ hợp tác giáo dục đào tạo Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950-1991 và mức độ nhiều ít khác nhau Rất nhiều tài liệu trong số đó có nội dung thông tin quan trọng và có giá trị sử dụng cao đối với việc nghiên cứu lịch sử hợp tác đào tạo giữa hai nước Đó là những văn bản hợp tác song phương có giá trị pháp lý quốc tế gồm hiệp ước, hiệp định, nghị định thư, kế hoạch, thỏa thuận hợp tác được kí kết giữa hai Nhà nước; tài liệu về hoạt động chuyên gia (chủ yếu là chuyên gia Liên

Xô giúp Việt Nam) ở hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề; các số liệu, báo cáo về kết quả đào tạo công dân Việt Nam tại Liên Xô ở mọi trình độ; các bức ảnh quý về lễ đón tiếp, hội đàm giữa lãnh đạo hai nước…

Trang 8

Nhận thức rõ việc tăng cường phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quốc gia có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn hết sức sâu sắc, trong những năm qua, TTLTQGIII đã thực hiện nhiều hình thức phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ nhằm mục đích đưa tài liệu lưu trữ đến gần hơn với công chúng, phục vụ hiệu quả hơn nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ trong đời sống xã hội Về chủ đề quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo, năm 2008, Trung tâm đã thực hiện một cuộc triển lãm với quy mô tương đối lớn, tại đó trưng bày, giới thiệu hàng trăm tài liệu lưu trữ và tư liệu tiêu biểu được chọn lọc từ các cơ quan lưu trữ của hai nước

và tài liệu sưu tầm từ các cá nhân đã từng học tập, công tác tại Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay So với khối lượng tài liệu hiện đang được bảo quản tại TTLTQGIII về vấn đề hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô, những tài liệu của Trung tâm được trưng bày tại Triển lãm khá ít (khoảng vài chục văn bản), tự thân nó không thể phản ánh một cách đầy đủ nội dung chủ đề triển lãm Hơn nữa, Triển lãm mới chỉ công bố, giới thiệu được nội dung những tài liệu tiêu biểu và chỉ dẫn địa chỉ lưu trữ là các cơ quan (kho) lưu trữ của hai nước, trong đó có TTLTQGIII, hoàn toàn chưa giới thiệu chi tiết địa chỉ lưu trữ đến từng phông, từng hồ sơ và trang tài liệu để người đọc

có thể tiếp cận tài liệu một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất Rõ ràng, công tác phát huy giá trị của khối tài liệu lưu trữ về quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô đang bảo quản tại TTLTQGIII đến với công chúng chưa thực sự tương xứng với nguồn tài liệu khá phong phú, đa dạng về nội dung thông tin và khối lượng tương đối nhiều tại Trung tâm hiện nay

Quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga dù đã có lịch sử lâu dài và đang được xác định là trọng tâm trong chiến lược ngoại giao của Việt Nam, tuy nhiên, hiện vẫn còn một bộ phận không nhỏ công chúng chưa có điều kiện và cơ sở để hiểu hết được mối quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp giữa hai dân tộc trong quá khứ, hoặc chưa thể nhìn nhận và đánh giá được một cách toàn diện và khách quan về các hoạt động hợp tác đào tạo giữa hai phía trong thời gian qua Như đã nêu trên, mặc dù hai Nhà nước Việt – Nga đã phối hợp tổ chức Triển lãm “Quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga trong lĩnh vực đào tạo qua tài liệu lưu trữ” tại Việt Nam và gặt hái được nhiều thành công, để lại ấn tượng tốt đẹp trong một số đối tượng công chúng Tuy nhiên, Triển lãm không thể giúp người xem, người nghiên cứu có cái nhìn nhận và đánh giá trọn vẹn, đầy đủ về quan hệ hợp tác đào tạo giữa hai nước trong quá khứ

Trang 9

Chúng tôi thiết nghĩ, ngoài Triển lãm nói trên, rất cần có thêm nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu sâu rộng và chi tiết hơn nữa, nhiều sản phẩm của hoạt động phát huy giá trị tài liệu lưu trữ liên quan đến chủ đề quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga nói chung và quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô nói riêng trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) để đông đảo các đối tượng công chúng có thể tiếp cận được với nguồn tài liệu lưu trữ liên quan đến nội dung này

Xuất phát từ nhận thức và thực tế trên, dưới góc độ nghiên cứu lưu trữ học,

chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại TTLTQGIII”

làm đề tài luận văn cao học Đề tài nghiên cứu này nếu thực hiện tốt sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với bản thân chúng tôi trong việc nâng cao ý thức, trách nhiệm nghề nghiệp gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan TTLTQGIII – nơi bản thân đang công tác Đồng thời, qua đây tác giả cũng mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành và của cơ quan là đẩy mạnh phát huy giá trị của tài

liệu lưu trữ với tư cách là “di sản văn hóa đặc biệt của dân tộc”, góp phần đắc lực

vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài được thực hiện với hai mục tiêu chính sau:

- Giới thiệu nội dung và giá trị tiềm năng của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) đang bảo quản tại TTLTQGIII;

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa giá trị nghiên cứu và sử dụng khối tài liệu trên, đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu:

- Khối lượng, đặc điểm, thành phần nội dung và giá trị của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950- 1991 đang bảo quản tại Trung tâm;

Trang 10

- Công tác tổ chức khoa học và tổ chức khai thác, sử dụng khối tài liệu về hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950-1991 tại Trung tâm trong thời gian qua;

+ Phạm vi nghiên cứu:

- Về phạm vi thời gian: Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu tài liệu lưu trữ về quan

hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo từ năm 1950-1991 Sở dĩ chúng tôi lấy mốc bắt đầu là từ năm 1950 là vì, ngày 14/01/1950, Chính phủ Việt Nam ra Tuyên bố về việc sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới vào ngày, ngay sau đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô có Nghị quyết về việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 30/01/1950 Chúng tôi lấy năm 1991 là mốc kết thúc vì năm này, Liên Xô tan rã, 15 nước cộng hòa thành viên của Liên Xô trở thành các quốc gia độc lập Riêng Liên bang Nga trở thành nước kế thừa Liên Xô tiếp nối quan hệ ngoại giao với Việt Nam

và quan hệ hợp tác giữa hai nước chuyển sang một bước ngoặt mới

- Về phạm vi không gian: Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ của mình, chúng tôi chỉ khảo sát, nghiên cứu và giới thiệu khối tài liệu lưu trữ về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo đang được bảo quản và phục vụ khai thác, sử dụng tại TTLTQGIII

- Về phạm vi đối tượng nghiên cứu:

Hiện nay, loại hình tài liệu lưu trữ đang được bảo quản và phát huy giá trị tại TTLTQGIII rất đa dạng, hình thành từ hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc khu vực thẩm quyền của Trung tâm, gồm tài liệu hành chính, tài liệu KHKT, tài liệu nghe nhìn và tài liệu có xuất xứ cá nhân; trong đó tài liệu hành chính chiếm khoảng 70% khối lượng tài liệu Trung tâm thu thập được, với thành phần nội dung vô cùng phong phú, đa dạng Về vấn đề nghiên cứu quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo giai đoạn 1950-1991, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu và khai thác loại hình tài liệu hành chính chữ viết (tài liệu giấy) đang bảo quản tại Trung tâm

Như đã giới thiệu, TTLTQGIII hiện đang bảo quản và phục vụ khai thác tài liệu của 20 phông lưu trữ cơ quan, tổ chức, trong đó có thành phần tài liệu về quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô thuộc giai đoạn 1950-1991 và mức độ nhiều ít

Trang 11

tượng nghiên cứu của chúng tôi sẽ chỉ tập trung giới thiệu các phông lưu trữ có nhiều nhất khối lượng tài liệu về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo và thành phần nội dung tài liệu tương đối hoàn chỉnh để nghiên cứu vấn đề; đồng thời phản ánh đúng chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hình thành phông như các phông Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBKhHNN, Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đang bảo quản tại Trung tâm Đối với các phông còn lại, thành phần tài liệu về vấn đề nghiên cứu tương đối ít, nội dung thông tin không đầy đủ để phản ánh vấn đề,

vì vậy, chúng tôi chỉ giới thiệu khái quát, chủ yếu là thông tin đến các đối tượng nghiên cứu về tên các phông lưu trữ, chức năng chính của đơn vị hình thành phông và

số lượng hồ sơ về nội dung hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo ở giai đoạn này thuộc các phông đó

- Về phạm vi nội dung vấn đề nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát toàn bộ mục lục

hồ sơ tài liệu đang được quản lý tại Phòng Đọc - TTLTQGIII cũng như tiếp cận trực tiếp tài liệu lưu trữ ban đầu (khoảng 120 hồ sơ), chúng tôi nhận thấy rằng, nội dung hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô trong lĩnh vực giáo dục đào tạo rất phong phú về trình độ đào tạo và lĩnh vực, ngành nghề đào tạo, dàn trải trong khoảng 20 phông lưu trữ cơ quan, tổ chức và khối tài liệu các công trình XDCB Trình độ đào tạo phong phú, từ trung học chuyên nghiệp (học nghề), cao đẳng, ĐH đến NCS, TTSKH và trình độ cao nhất là đào tạo chuyên gia Ngành nghề và lĩnh vực hợp tác đào tạo giữa hai nước rất đa dạng, gồm hầu hết các ngành KHKT và khoa học xã hội nhân văn; trong lĩnh vực kinh tế ở tất cả các ngành giao thông, xây dựng, công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp; trong lĩnh vực văn hóa xã hội có các ngành văn hóa thông tin, nghệ thuật, thể thao, y tế…Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu được đầy đủ, chi tiết toàn bộ nội dung hợp tác đào tạo giữa hai nước gồm tất cả các trình độ và lĩnh vực đào tạo kể trên Do đó, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu và làm sáng tỏ quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950-1991

về đào tạo các trình độ từ cử nhân trở lên ở tất cả các ngành nghề và lĩnh vực

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, chúng tôi sẽ thực hiện một

số nhiệm vụ sau đây:

- Khái quát loại hình, khối lượng và thành phần nội dung nguồn tài liệu lưu trữ

về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Liên Xô đang bảo quản tại TTLTQGIII;

Trang 12

- Giới thiệu tóm tắt quá trình hình thành và phát triển, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức hình thành tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo; khái quát khối lượng và giới thiệu, phân tích một số đặc điểm chính của khối tài liệu này, có gắn với việc xem xét, phê phán tính xác thực của tài liệu;

- Phân tích, làm rõ nội dung quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo thông qua tài liệu lưu trữ và đánh giá giá trị của khối tài liệu này đối với công tác nghiên cứu được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của đề tài;

- Nhận xét tình hình tổ chức khoa học và phát huy giá trị khối tài liệu trên tại TTLTQGIII trong thời gian qua;

- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp đối với công tác tổ chức khoa học tài liệu

và phát huy giá trị khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô tại Trung tâm trong thời gian tới

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ luôn được xác định là một trong những nhiệm

vụ và mục đích chính của công tác lưu trữ, nhằm đưa tài liệu lưu trữ đến gần với công chúng với tư cách là một nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá và có ý nghĩa to lớn đối với công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử cũng như đối với đời sống

xã hội nói chung

Về chủ đề quan hệ hợp tác ngoại giao Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga nghiên cứu dưới góc độ lưu trữ, cho đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu được chia thành các nhóm sau đây:

- Các công trình nghiên cứu khoa học, có đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc

gia Hà Nội với tên gọi “Các nguồn tài liệu lưu trữ về quan hệ Việt Nam – Liên Xô

(1950-1991)” của tác giả Đào Xuân Chúc năm 2011 Trong đề tài của mình, tác giả

tập trung khảo sát, giới thiệu các nguồn tài liệu đang bảo quản tại Việt Nam, là TTLTQGIII, Kho Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Viện Phim Việt Nam, khối tài liệu cá nhân…về mối quan hệ hợp tác ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Liên

Xô giai đoạn 1950-1991 Trong mỗi cơ quan lưu trữ nói trên, tác giả đã giới thiệu một cách khái quát về loại hình, số lượng và thành phần nội dung của khối tài liệu lưu trữ

Trang 13

khả năng khai thác, sử dụng chúng vào mục đích nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Liên Xô giai đoạn này

- Các bài tham luận tại Hội thảo khoa học “Quan hệ Việt – Nga: Quá khứ và

hiện tại” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà

Nội tổ chức ngày 02/11/2007, gồm: “Quan hệ Việt – Nga: Lưu trữ và khai thác các

nguồn tài liệu” của tác giả Nguyễn Thị Hiệp; “Mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô thông qua tài liệu lưu trữ tại Kho Lưu trữu Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam”

của tác giả Nguyễn Văn Lanh; “Quan hệ Việt – Nga qua tài liệu lưu trữ” của tác giả Nguyễn Lệ Nhung và “Quan hệ Việt Nam – Liên Xô qua tài liệu lưu trữ bảo quản tại

TTLTQGIII” của tác giả Nguyễn Minh Sơn

- Trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, số 1, 2010 có bài viết “Các nguồn

tài liệu lưu trữ về quan hệ Việt Nam – Liên Xô (1950-1991)” của tác giả Đào Xuân

Chúc đã giới thiệu một cách tóm tắt và khái quát các nguồn tài liệu lưu trữ đang bảo quản trong các Lưu trữ của Việt Nam về quan hệ Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950-1991, chính là nội dung của công trình nghiên cứu khoa học cùng tên của tác giả đã nêu trên

- Ngoài các công trình nghiên cứu và bài viết của các tác giả cụ thể nói trên về quan hệ hợp tác ngoại giao Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga, còn phải kể đến các hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ theo chuyên đề trong quan hệ hợp tác

ngoại giao Việt - Nga đang được lưu trữ tại hai quốc gia Đó là Triển lãm “Lịch sử

hợp tác KHKT Việt Nam – Liên Xô trong những năm 1950-1990” do Cục Văn thư và

Lưu trữ Nhà nước Việt Nam phối hợp với Cục Lưu trữ Liên bang Nga tổ chức năm

2005 nhân kỉ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Liên Xô (30/01/1950-30/01/2005) Triển lãm trưng bày gần 400 tài liệu bằng văn bản, phim, ảnh, ghi âm, ấn phẩm, bài báo và các hiện vật phản ánh sinh động lịch sử hoạt động hợp tác kinh tế và KHKT giữa Việt Nam và Liên Xô, Liên bang Nga trong hơn nửa thế kỷ qua Ðây là những tài liệu được tuyển chọn từ các kho lưu trữ của Việt Nam và Liên bang Nga hoặc từ các sưu tập lưu trữ

Trực tiếp về quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga, năm

2009, nhân kỉ niệm 59 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước 30/01/2009), Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước Việt Nam phối hợp với Cục Lưu trữ

(30/01/1950-Liên bang Nga tổ chức Triển lãm với chủ đề “Hợp tác Việt Nam và (30/01/1950-Liên bang Nga

Trang 14

trong lĩnh vực đào tạo” Gần 300 tài liệu, hình ảnh, hiện vật được chọn lọc từ các

Lưu trữ của Việt Nam, Liên bang Nga và của các cá nhân đã từng học tập, công tác tại Liên bang Xô viết trước đây và Liên bang Nga ngày nay Trên cơ sở các tài liệu và hiện vật được trưng bày tại Triển lãm, TTLTQGIII đã biên soạn thành cuốn sách

“Hợp tác Việt Nam và Liên bang Nga trong lĩnh vực đào tạo qua triển lãm tài liệu lưu trữ” được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2011 Cuốn

sách giới thiệu đến bạn đọc các văn bản ngoại giao kí kết hợp tác đào tạo công dân hai nước, hoạt động chuyên gia của nhiều ngành nghề, lĩnh vực

Như vậy, các công trình nghiên cứu, bài viết và ấn phẩm nêu trên đã hướng tới việc giới thiệu tài liệu lưu trữ về quan hệ hợp tác ngoại giao Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga nói chung cũng như đã đi sâu làm rõ một số lĩnh vực hợp tác giữa hai nước, trong đó có lĩnh vực đào tạo – vấn đề nghiên cứu của tác giả trong đề tài này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và ấn phẩm kể trên mới chỉ công bố và giới thiệu một cách khái quát và điển hình các nguồn tài liệu lưu trữ về quan hệ hợp tác trong lĩnh vực đào tạo xuyên suốt lịch sử ngoại giao hai nước đến ngày nay Đi sâu giới thiệu và làm rõ nội dung quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô trong giai đoạn 1950-1991 thể hiện qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại TTLTQGIII, cho đến nay, chưa có một tài liệu nào đề cập tới

6 Các nguồn tƣ liệu tham khảo

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng một số nguồn tư liệu tham khảo chính sau đây:

- Hồ sơ, tài liệu lưu trữ về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) đang bảo quản tại TTLTQGIII, Hà Nội là nguồn tư liệu chính;

- Các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết của các tác giả trên các báo, tạp chí, kỷ yếu hội nghị khoa học, hội thảo chuyên đề liên quan đến quan hệ Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga, trong đó có nội dung hợp tác giữa hai nước;

- Một số xuất bản phẩm nghiên cứu lịch sử ngoại giao Việt Nam, quan hệ

ngoại giao Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga, bao gồm các cuốn sách: “Việt Nam –

Liên Xô – 30 năm quan hệ (1950-1980)” do Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcova và Nhà

xuất bản Sự thật, Hà Nội hợp tác xuất bản năm 1983;“Hợp tác Việt Nam và Liên

Trang 15

bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật; “Đối ngoại Việt Nam qua các thời kì

lịch sử (1945-2012)” của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013; "Lịch sử giáo dục Việt Nam” của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2013 và cuốn “Lịch sử ngoại giao Việt Nam 1945-2000” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm

2015…

- Khai thác tư liệu trên mạng Internet, Báo Nhân dân, Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Khoa học Xã hội Nhân văn…

7 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi sẽ vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ

- Ngoài ra, chúng tôi sẽ sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn, trao đổi và phương pháp so sánh, đối chiếu giữa tài liệu lưu trữ và các nguồn tư liệu khác trong việc đánh giá tính xác thực, độ tin cậy của tài liệu

8 Đóng góp của đề tài

Thứ nhất, luận văn giúp người đọc, người nghiên cứu nắm được khái quát nội dung và giá trị tiềm năng của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) đang bảo quản tại TTLTQGIII;

Thứ hai, luận văn có đưa ra một số đề xuất, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác tổ chức khoa học, tổ chức khai thác, sử dụng và phát huy một cách tích cực giá trị của khối tài liệu này tại TTLTQGIII trong thời gian tới;

Trang 16

Thứ ba, luận văn góp phần nâng cao nhận thức của các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu và nhân dân về giá trị của tài liệu lưu trữ nói chung và giá trị của tài liệu lưu trữ về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo nhằm góp phần củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam với Liên

Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay

9 Bố cục nội dung của luận văn

Chương 1: Thành phần và đặc điểm khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

1.1 Khái quát khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô 1991) đang bảo quản tại TTLTQGIII

(1950-1.2 Thành phần, đặc điểm khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) tại TTLTQGIII

1.2.1 Sơ lược lịch sử hoạt động của các cơ quan hình thành tài liệu về quan

hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

1.2.2 Khối lượng, thành phần và đặc điểm của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

Chương 2: Nội dung và giá trị của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

2.1 Nội dung quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô

2.1.1 Thời kì kháng chiến chống Pháp từ năm 1950 đến năm 1954

2.1.2 Thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước từ năm 1955 đến năm 1964

2.1.3 Thời kì cả nước kháng chiến chống Mỹ từ năm 1965 đến năm 1975

2.1.4 Thời kì từ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1976 đến khi kết thúc quan hệ ngoại giao Việt Nam – Liên Xô năm 1991

2.2 Giá trị của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

2.2.1 Là cơ sở để nghiên cứu lịch sử hợp tác ngoại giao Việt Nam – Liên Xô, góp phần củng cố tình hữu nghị và phát triển quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga ngày nay

Trang 17

tâm là giáo dục đại học

2.2.3 Giúp các nhà lãnh đạo, quản lý đúc rút bài học kinh nghiệm, đề ra các chủ trương, biện pháp đúng đắn trong công tác quản lý LHS

2.2.4 Là một trong những nguồn tư liệu lịch sử phục vụ nghiên cứu về giới trí thức Việt Nam

Chương 3: Tình hình tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng khối tài liệu

về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) và một số kiến nghị, giải pháp

3.1 Tình hình tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng tài liệu

3.1.1 Tình hình tổ chức khoa học tài liệu

3.1.2 Tình hình khai thác, sử dụng tài liệu

3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng tài liệu về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo

3.2 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng hiệu quả tài liệu về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo

3.2.1 Giải pháp về thu thập, bổ sung và sưu tầm tài liệu từ các cơ quan, tổ chức

và cá nhân để đảm bảo sự hoàn chỉnh của thành phần tài liệu

3.2.2 Giải mật tài liệu lưu trữ và tạo điều kiện cho phép khai thác, sử dụng phù hợp với quy định của Nhà nước

3.3.3 Hoàn thiện công tác tổ chức khoa học tài liệu

3.2.4 Tăng cường các hình thức công bố, tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu

Trang 18

CHƯƠNG 1 THÀNH PHẦN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KHỐI TÀI LIỆU VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM – LIÊN XÔ TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO (1950-1991)

ĐANG BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III

1.1 Khái quát khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô (1950-1991) đang bảo quản tại TTLTQGIII

Với vai trò là một trong bốn Trung tâm Lưu trữ quốc gia thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, hàng năm liên tục thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ từ các cơ quan,

tổ chức thuộc khu vực thẩm quyền lưu trữ, TTLTQGIII hiện nay đang bảo quản khoảng 14 km giá tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử, hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức Trung ương của bộ máy Nhà nước; các đoàn thể, cá nhân, gia đình và dòng họ tiêu biểu của nước Việt Nam DCCH và nước CHXHCN Việt Nam và các tài liệu khác được giao quản lý trên địa bàn từ tỉnh Quảng Bình trở

ra phía Bắc Với sự đa dạng về loại hình tài liệu gồm tài liệu quản lý hành chính, tài liệu nghe nhìn, tài liệu KHKT và khối tài liệu có xuất xứ cá nhân và sự phong phú về nội dung thông tin, những tài liệu này là những chứng cứ lịch sử phản ánh chân thực, khách quan và toàn diện cả quá trình thành lập, xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam suốt mấy chục năm qua, trong đó có các hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam với các nước trên thế giới trong mọi lĩnh vực

Quan hệ Việt Nam - Liên Xô là một phần của lịch sử ngoại giao của Việt Nam được phản ánh trong tất cả các loại hình tài liệu giấy và tài liệu nghe nhìn đang bảo quản tại TTLTQGIII Để có thông tin khái quát nhất và tương đối chính xác về thành phần, khối lượng và nội dung khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô tại Trung tâm, chúng tôi đã kế thừa một phần kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp

Đại học Quốc gia Hà Nội “Các nguồn tài liệu lưu trữ ở Việt Nam về quan hệ hợp tác

Việt Nam – Liên Xô (1950-1991)” của PGS.TS Đào Xuân Chúc được thực hiện từ

năm 2007-2009, kết hợp với việc rà soát toàn bộ mục lục hồ sơ các phông lưu trữ cơ quan, tổ chức và các khối tài liệu khác được tiếp tục bổ sung và thu thập mới vào Trung tâm từ năm 2010 (sau khi đề tài hoàn thành) đến thời điểm hiện tại Một số nét khái quát về khối tài liệu này như sau:

Thứ nhất, về loại hình tài liệu giấy, chúng tôi đã thống kê được khoảng 1900

Trang 19

35 phông lưu trữ cơ quan, tổ chức trung ương và một số công trình xây dựng cơ bản tiêu biểu là Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cầu Thăng Long Một số phông có khối lượng tài liệu nhiều nhất là phông Phủ Thủ tướng (488

hồ sơ), phông UBKHNN (128 hồ sơ), phông Bộ Văn hóa (87 hồ sơ) và phông UBKhHNN (76 hồ sơ); tài liệu còn lại rải rác ở các phông lưu trữ cơ quan, tổ chức Trung ương khác trong bộ máy Nhà nước, gồm các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp nhà nước Nội dung hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức của Nhà nước Việt Nam với Liên Xô (thể hiện qua các tiêu đề hồ sơ) rất phong phú và toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đó là những hồ sơ về các cuộc gặp gỡ, trao đổi, đàm phán, kí kết các văn kiện hợp tác song phương giữa hai nước; tài liệu thực hiện quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực; tài liệu về sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên

Xô trong công cuộc kháng chiến kiến quốc của Việt Nam ngay từ khi hai nước thiết lập quan hệ Qua khảo sát, chúng tôi thấy tài liệu lưu trữ chữ viết về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô tại Trung tâm hiện nay chủ yếu phản ánh quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và KHKT

Thứ hai, về loại hình tài liệu nghe nhìn, hiện nay, Trung tâm đang bảo quản

hàng chục bộ phim thời sự - tài liệu do Liên Xô quay hoặc giúp Việt Nam quay, hơn

2000 tấm ảnh trong tổng số 300.000 tấm ảnh đang được bảo quản tại Trung tâm và khoảng 60 giờ băng ghi âm, đã ghi chép và phản ánh sinh động các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân và đế quốc, về các cuộc gặp gỡ, trao đổi và làm việc giữa hai Đảng và hai Nhà nước cũng như ghi lại những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của quan hệ hợp tác giữa hai nước trong suốt chặng đường hơn

40 năm quan hệ

Có thể khẳng định, khối tài liệu về hợp tác ngoại giao Việt Nam – Liên Xô thể hiện ở tất cả loại hình tài liệu, đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III hiện nay đã phản ánh tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh mối quan hệ hợp tác hữu nghị, toàn diện và tình cảm sâu đậm giữa hai nước kể từ khi Liên Xô công nhận và đồng ý thiết lập quan hệ với Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1991 khi Liên Xô tan rã và chuyển tiếp sang quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga Nổi bật trên hết là sự giúp đỡ, ủng hộ

về mọi mặt của Liên Xô trong gần nửa thế kỉ đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam và tạo nên mối quan hệ đặc biệt thân cận giữa hai nước trong thời gian này

Trang 20

1.2 Thành phần, đặc điểm khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

1.2.1 Sơ lược lịch sử hoạt động của các cơ quan hình thành tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

Qua khảo sát toàn bộ hệ thống mục lục hồ sơ và khảo sát trực tiếp tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại TTLTQGIII liên quan đến vấn đề nghiên cứu, chúng tôi thống

kê được 12 phông lưu trữ cơ quan, tổ chức có thành phần nội dung tài liệu về quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô (1950-1991) thuộc phạm vi đối tượng và nội

dung vấn đề nghiên cứu đã được giới hạn tại Phần mở đầu của luận văn Đó là các cơ

quan, tổ chức trung ương của bộ máy hành chính Nhà nước thời kì 1950-1991 gồm Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBKhHNN, Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và THCN, Bộ Văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Nội vụ, Bộ Nông lâm, Bộ Công nghiệp và Bộ Y tế Tuy nhiên, giữa các phông lưu trữ kể trên có sự chênh lệch về khối lượng hồ sơ, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu và nội dung thông tin tài liệu được phản ánh ở nhiều mức độ khác nhau Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu các cơ quan, tổ chức có nhiều nhất khối tài liệu về quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô và thành phần nội dung tài liệu tương đối hoàn chỉnh gồm Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBKhHNN và các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục, đào tạo là Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và THCN, không xét đến mức độ nhiều ít của tài liệu trong hai phông này Với các phông nêu trên, chúng tôi sẽ giới thiệu sự hình thành của các cơ quan cũng như tập trung làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này có liên quan đến sự hình thành các tài liệu về quan hệ hợp tác đào tạo giữa hai nước trong thành phần tài liệu của mỗi phông

Riêng đối với phông lưu trữ Bộ Văn hóa, mặc dù số lượng hồ sơ tương đối nhiều (20 hồ sơ), nhưng tài liệu không liên tục để có thể phản ánh tương đối đầy đủ nội dung vấn đề; hơn nữa, thông tin tài liệu hầu hết là nội dung các văn kiện hợp tác giữa hai nước trong một số năm và hoàn toàn trùng lặp thông tin trong khối tài liệu thuộc các phông quan trọng kể trên và các tài liệu xây dựng, đề nghị phê duyệt kế hoạch đào tạo LHS của ngành văn hóa tại các nước, do vậy, tài liệu thuộc phông gần

Trang 21

các phông Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp

và Bộ Nông lâm, số lượng hồ sơ tài liệu về vấn đề nghiên cứu khá ít (mỗi phông dưới

10 hồ sơ), chính vì vậy, chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược nhất về các cơ quan, tổ chức hình thành phông, không đi sâu và chi tiết đến lịch sử hoạt động, chức năng, nhiệm

vụ cơ cấu tổ chức cụ thể của nhóm cơ quan này trong luận văn

* Phủ Thủ tướng

Ngày 28/8/1945, Chính phủ Lâm thời Việt Nam DCCH ra tuyên cáo trước quốc dân đồng bào và cả thế giới về việc thành lập Chính phủ của nước Việt Nam mới Phủ Thủ tướng khởi thủy là bộ máy giúp việc cho Chính phủ Lâm thời Việt Nam DCCH cũng như cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với tên gọi Văn phòng Chủ tịch Chính phủ, được thành lập ngay từ khi Chính phủ Lâm thời ra đời Là bộ máy giúp việc của Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch Chính phủ nắm tình hình tổ chức, nhân viên, hoạt động của các Bộ; điều hòa và phối hợp hoạt động các Bộ; theo dõi tổ chức và hoạt động chung của Chính phủ; liên lạc với Ban vận động Thi đua ái quốc; theo dõi

dư luận các tầng lớp dân chúng về hoạt động của chính quyền; thông tin trong và ngoài nước các hoạt động của Chính phủ; tổ chức các cuộc trưng bày; tổ chức các kì họp Hội đồng Chính phủ [144, tr.18]

Ngày 02/8/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 87/SL về việc Văn phòng Chủ tịch Chính phủ đổi tên thành Văn phòng Thủ tướng phủ Đây là bộ máy giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Hội đồng Chính phủ, Hội đồng Quốc phòng tối cao [146, tr.2 ] Đến năm 1960, Văn phòng Thủ tướng phủ được đổi tên thành Văn phòng Phủ Thủ tướng theo Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 14/7/1960 [115, tr.34] Thời kì này, Văn phòng Phủ Thủ tướng có các bộ phận giúp việc về lĩnh vực kinh tế đối ngoại (gọi tắt là VP9) và bộ phận phụ trách lĩnh vực văn xã (gọi tắt là VP15) cùng các bộ phận giúp việc khác

Đến năm 1972, để phù hợp với tình hình mới của cách mạng Việt Nam, chức

năng, nhiệm vụ cơ bản của Văn phòng Phủ Thủ tướng được quy định: “là bộ máy làm

việc của Hội đồng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc quản lý mọi mặt công tác của Chính phủ, đảm bảo cho sự chỉ đạo của Hội đồng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với toàn bộ hoạt động của các ngành, các địa phương được tập trung, thống nhất và thông suốt; đảm bảo giúp Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức có hiệu quả các Nghị quyết của Hội

Trang 22

đồng Chính phủ; đảm bảo sinh hoạt của Hội đồng Chính phủ được đều đặn” [118,

tr.8]

Ngày 18/12/1980, Quốc hội Khóa VI, Kỳ họp thứ 7 đã nhất trí thông qua Hiến pháp mới, trong đó quy định cơ cấu tổ chức mới của bộ máy lãnh đạo Nhà nước, Văn phòng Phủ Thủ tướng được đổi tên thành Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 14/7/1981, Quyết định số 161/HĐBT ngày 29/12/1981 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ về chế độ làm việc và quan hệ công tác của Hội đồng Bộ trưởng trong phiên họp Thường vụ của Hội đồng Bộ trưởng ngày 24/8/1982, Văn phòng Phủ Thủ tướng có tên là Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, là bộ máy giúp việc của Hội đồng Bộ trưởng, có nhiệm vụ phục

vụ sự quản lý tập trung thống nhất của Hội đồng Bộ trưởng; phục vụ sự chỉ đạo và điều hành công việc hàng ngày của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng [119, tr.88]

* Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

UBKHNN có tên gọi đầu tiên là Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết được thành lập theo Sắc lệnh số 78 ngày 31/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt

Nam DCCH, thực hiện nhiệm vụ “nghiên cứu một kế hoạch thiết thực để kiến thiết

quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, hành chính, văn hóa và thảo ra những đề án kiến thiết đưa lên Chính phủ” [01, tr.136] Năm 1955, Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch

kiến thiết được đổi tên thành Ủy ban Kế hoạch Quốc gia tại phiên họp ngày 08/10/1955 của Hội đồng Chính phủ Thông tư số 603/TTg ngày 14/10/1955 của Thủ

tướng Chính phủ quy định Ủy ban Kế hoạch Quốc gia thực hiện nhiệm vụ “kế hoạch

hóa công cuộc kiến thiết kinh tế và văn hóa, tổ chức và chỉ đạo công tác thống kê và

kế toán trong nước” [08, tr.25]

Năm 1961, Ủy ban Kế hoạch Quốc gia được đổi tên thành UBKHNN và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 158/CP ngày 09/10/1961 của Hội

đồng Chính phủ Theo đó, UBKHNN “là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách

nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế và văn hóa quốc dân theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho các mặt của nền kinh tế, văn hóa được phát triển theo đúng những quy luật của chủ nghĩa xã hội và nâng cao không ngừng đời sống vật chất và văn hóa của quốc dân” [02, tr.28]

Trang 23

Một số nhiệm vụ cụ thể của Ủy ban là “xây dựng kế hoạch Nhà nước hàng năm và kế

hoạch Nhà nước dài hạn phát triển nền kinh tế quốc dân về các mặt, trình Hội đồng Chính phủ phê chuẩn; nghiên cứu các vấn đề hợp tác kinh tế đối với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hợp tác KHKT với các nước, tức là các vấn đề có quan hệ đến công tác xây dựng và thực hiện các loại kế hoạch [02, tr.28-29] Thành phần tài liệu

trong phông lưu trữ UBKHNN đã phản ánh rõ nét chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban trong quá trình hoạt động UBKHNN là cơ quan xây dựng kế hoạch hàng năm và dài hạn ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước Trong lĩnh vực hợp tác đào tạo ở nước ngoài (có Liên Xô), UBKHNN tổng hợp từ kế hoạch của các Bộ, ban ngành trung ương và địa phương đề xuất, cân đối và trình Chính phủ phê duyệt Cũng như với mọi vấn đề về hợp tác kinh tế và KHKT với nước ngoài, UBKHNN được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng và thực hiện các loại kế hoạch hợp tác giữa nước

ta với các nước Những nhiệm vụ này đã lý giải vì sao phông lưu trữ UBKHNN là một trong những đơn vị hình thành nhiều nhất tài liệu về kế hoạch và kết quả hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo

Sau này, để thu gọn đầu mối quản lý theo xu hướng cải cách hành chính nhà nước, ngày 21/10/1995, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 đã ra Nghị quyết thành lập

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở hợp nhất UBKHNN và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư

* Ủy ban Khoa học Nhà nước

Năm 1954, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kì khôi phục

và phát triển kinh tế, KHKT được Đảng và Nhà nước xác định là nguồn lực và động lực vô cùng quan trọng đối với công cụộc khôi phục và phát triển kinh tế xã hội nói chung Trong hoàn cảnh đó, tại kì họp thứ 8, Quốc hội Khóa I ngày 29/4/1958 đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập UBKhHNN Ủy ban thực sự hoạt động ngay sau Nghị quyết của Quốc hội, nhưng tới ngày 04/3/1959, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 016-SL thành lập UBKhHNN có quyền hạn và trách nhiệm ngang một Bộ

Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBKhHNN được quy định tại

Nghị định số 43-CP ngày 04/04/1962 của Hội đồng Chính phủ Ủy ban “là cơ quan

của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác khoa học, kỹ thuật theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và

kế hoạch phát triển khoa học, kỹ thuật, mở rộng hợp tác với nước ngoài về mặt

Trang 24

nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, đưa nền khoa học kỹ thuật Việt Nam lên trình độ tiên tiến, nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” [65, tr.1]

Một số nhiệm vụ cụ thể của Ủy ban được quy định tại Nghị định bao gồm:

- Xây dựng chế độ đào tạo nghiên cứu sinh (gồm đào tạo trong nước và nước

ngoài) và theo dõi việc thực hiện chế độ ấy [65, tr.1-2] Theo Thông tư số

445/LHS-QL ngày 07/02/1963 của Bộ Giáo dục về việc thống nhất danh từ các loại LHS do Bộ Giáo dục quản lý, hàng năm, NCS và TTSKH đi học nước ngoài qua con đường ĐSQ

của ta hoặc qua con đường kí hiệp định trao đổi văn hóa mà trung gian là Ủy ban Liên lạc văn hóa với nước ngoài Ngoài ra, còn có con đường thương lượng trực tiếp giữa UBKhHNN với Viện Hàn lâm Khoa học nước bạn Tuy nhiên, chế độ tổ chức và chế độ đào tạo đều giống nhau, do UBKhHNN xây dựng và theo những quy chế chung của Bộ Giáo dục Cao đẳng nước bạn

- Trong phạm vi uỷ quyền của Chính phủ, UBKhHNN ký kết với các cơ quan khoa học, kỹ thuật nước ngoài các hiệp định về hợp tác KHKT và các nhiệm vụ, quyền hạn khác [65, tr.1-2] Điều này lý giải cho việc có một số hiệp định và kế hoạch hợp tác KHKT được kí kết giữa UBKhHNN Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô trong thành phần khối tài liệu về hợp tác đào tạo giữa hai nước giai đoạn 1950-1991 tại TTLTQGIII

Ngoài ra, UBKhHNN được Chính phủ giao thêm các nhiệm vụ: Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ phê chuẩn phương hướng, kế hoạch phát triển khoa học, kỹ thuật của Nhà nước; tổ chức việc điều hòa, phối hợp công tác nghiên cứu khoa học,

kỹ thuật giữa các Bộ, các ngành, các cấp nhằm thực hiện phương hướng, kế hoạch ấy; theo dõi tình hình đội ngũ cán bộ KHKT; thi hành các hiệp định mà nước ta đã ký kết với nước ngoài về mặt nghiên cứu KHKT [65, tr.1-2]

Năm 1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định tách UBKhHNN thành

2 cơ quan độc lập là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và Viện Khoa học Xã hội Ngày 27/5/1967, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 67-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước

Trách nhiệm của Ủy ban “vừa quản lý thống nhất và tập trung công tác khoa học tự

Trang 25

nhiên và kỹ thuật, vừa làm công tác của một Viện nghiên cứu khoa học (khoa học tự nhiên và kỹ thuật) của Nhà nước theo đường lối của Đảng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta một cách tốt nhất và nhanh nhất, phục vụ đắc lực cho sản xuất, chiến đấu và đời sống nhân nhân, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” [05, tr.155]

Đến năm 1990, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước được đổi tên thành UBKhHNN, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, KHKT, khoa học xã hội nhằm khuyến khích việc sáng tạo và ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kỹ thuật, đưa lại hiệu quả thiết thực cho thời kỳ phát triển mới của đất nước Quá trình hoạt động của UBKhHNN kết thúc vào năm 1992, khi Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập

* Bộ Giáo dục

Bộ Quốc gia Giáo dục (sau này là Bộ Giáo dục) là một trong 13 Bộ được thành lập ngay từ thời kỳ đầu của chính quyền dân chủ nhân dân (trong bản Tuyên cáo ngày 28/8/1945 của Chính phủ Việt Nam DCCH) Ngày 09/7/1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 119/SL về việc tổ chức Bộ Quốc gia Giáo dục [143, tr.2]

Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Giáo dục được quy định tại

Nghị định 198CP ngày 07/11/1961 của Hội đồng Chính phủ Nghị định quy định “Bộ

Giáo dục có trách nhiệm quản lý công tác giáo dục theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm và kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người lao động có giác ngộ XHCN, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ văn hóa và kỹ thuật, có sức khỏe và góp phần nâng cao không ngừng trình độ văn hóa, kỹ thuật cho cán bộ và nhân dân lao động; cùng với các Bộ có liên quan phụ trách việc đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật để thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa XHCN”

[03, tr.24]

Một số nhiệm vụ và quyền hạn chính Bộ Giáo dục:

“- Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ ban hành các chính sách, chế độ, thể lệ về giáo dục, tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ ấy;

Trang 26

- Xây dựng và trình Hội đồng Chính phủ phê chuẩn kế hoạch phát triển giáo dục trong phạm vi Bộ phụ trách; tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch ấy;

- Xây dựng và ban hành các quy chế, chế độ về chuyên môn áp dụng cho các trường phổ thông, bổ túc văn hóa, đại học, trung cấp chuyên nghiệp nói chung; chỉ đạo thực hiện các quy chế, chế độ ấy;

- Quản lý các trường đại học, trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc Bộ; theo dõi, tổng hợp tình hình chung ngành đại học và ngành trung cấp chuyên nghiệp (kể

* Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp

Bộ Đại học và THCN được thành lập năm 1965 trên cơ sở tách ra từ Bộ Giáo dục theo Quyết định số 165-NQ/TVQH ngày 11/10/1965 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội [116, tr.206] Ngày 13/12/1965, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 242-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Đại học và Trung

học chuyên nghiệp Theo đó, Bộ Đại học và THCN “là cơ quan của Hội đồng Chính

phủ có trách nhiệm quản lý công tác đào tạo cán bộ KHKT có trình độ trung học, đại học và cao hơn đại học theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục đại học và trung

Trang 27

phòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh

thực hiện thống nhất nước nhà” [04, tr.98]

Bộ Đại học và THCN có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

“- Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc tự mình ban hành theo thẩm quyền đã được quy định các chính sách, chế độ, thể lệ về giáo dục đại học (kể cả các bậc cao hơn đại học) và trung học chuyên nghiệp…

- Căn cứ vào phương hướng, chủ trương, kế hoạch của Nhà nước, hướng dẫn

các ngành, các cấp lập kế hoạch phát triển các trường đại học và trung học chuyên nghiệp;

- Tham gia với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước trong việc tổng hợp và trình Hội đồng Chính phủ phê duyệt kế hoạch phân phối học sinh và sinh viên tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và đại học (kể cả số có trình độ cao hơn đại học) ở các trường trong nước và ngoài nước về;

- Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc tự mình ban hành theo thẩm quyền đã được quy định các quy chế, thể lệ về công tác nghiên cứu khoa học trong các trường đại học và trung học chuyên nghiệp;

- Quản lý các trường, lớp đại học và trung học chuyên nghiệp trực thuộc Bộ;

- Quản lý lưu học sinh, nghiên cứu sinh và thực tập sinh Việt Nam học ở nước ngoài và LHS nước ngoài học ở Việt Nam

- Thi hành các hiệp định nước ta đã ký kết với nước ngoài về mặt giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp, thực hiện việc trao đổi kinh nghiệm về giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp với nước ngoài;

- Quản lý tổ chức, cán bộ, lao động, tiền lương, tài sản, tài vụ, vật tư trong các

cơ quan và đơn vị thuộc Bộ theo chế độ chung của Nhà nước” [04, tr.98-100]

Nghị quyết số 782-NQ-HĐNN7 ngày 16/02/1987 của Hội đồng Nhà nước về việc kiện toàn một bước các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, cử và miễn nhiệm

một số thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, trong đó quy định “thống nhất công tác

dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp” Theo đó, chức năng, nhiệm

Trang 28

vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp có sự thay đổi [120, tr.134]

Theo quy định tại Nghị định số 151-HĐBT ngày 30/9/1987 của Hội đồng Bộ

trưởng, Bộ Đại học và THCN “là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng có chức năng

quản lý thống nhất trong cả nước về sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học – kỹ thuật, cán bộ quản lý (phần được giao cho ngành), công nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc các ngành nghề; quản lý về công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật của các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của đất nước, góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Chỉ đạo xây dựng, xét duyệt, ban hành, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các danh mục ngành học, mục tiêu, chương trình, nội dung, phương thức đào tạo bồi dưỡng sau đại học, đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước;

- Trực tiếp tổ chức thực hiện phần kế hoạch được giao cho Bộ và hướng dẫn thực hiện phần kế hoạch được giao cho ngành, địa phương;

- Trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền, các chính sách, chế độ liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng (bao gồm cả tuyển sinh

và phân phối học sinh đã tốt nghiệp) cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý (phần được giao cho ngành), công nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ và các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn liên quan đến đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức của ngành;

Trang 29

- Căn cứ đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, xây dựng kế hoạch và chính sách khuyến khích các đơn vị thuộc ngành trong cả nước tiến hành hoạt động khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phục vụ nền kinh tế quốc dân và

sự nghiệp phát triển đại học và giáo dục chuyên nghiệp;

- Trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định những chính sách, kế hoạch hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực liên quan tới chức năng, nhiệm vụ của Bộ; quản lý LHS, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, học sinh học nghề của Việt Nam ở nước ngoài

và LHS, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, học sinh học học nghề người nước ngoài ở Việt Nam;

- Tổ chức và quản lý cán bộ, lao động, tiền lương, tài chính, tài sản, vật tư thiết bị phục vụ sự nghiệp đào tạo, của các đơn vị trực thuộc Bộ theo chế độ, chính sách quy định của Nhà nước;

- Thanh tra, kiểm tra các Bộ, ngành, địa phương và các trường trong cả nước

về những vấn đề thuộc chức năng quản lý thống nhất của ngành; về việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ, quy chế trong lĩnh vực đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ (kể cả tập trung, tại chức, chính quy và không chính quy)” [120, tr.251]

có trách nhiệm quản lý công tác văn hóa theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, điện ảnh, xuất bản, thư viện, câu lạc bộ, văn hóa quần chúng, bảo tồn bảo tàng và triển lãm Hoạt động đến năm 1977, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn

Trang 30

Bộ Văn hóa và Tổng cục Thông tin thành Bộ Văn hóa và Thông tin, như vậy, kết thúc thời kì hoạt động của cơ quan Bộ Văn hóa

+ Giai đoạn 1985-1990:

Tại Biên bản phiên họp ngày 24/6/1981 của Quốc hội khóa VII có ghi: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giới thiệu danh sách thành viên của Hội đồng, trong đó Bộ trưởng Bộ Văn hóa là ông Nguyễn Văn Hiếu Bốn năm sau đó, ngành Văn hóa tiếp tục được kiện toàn theo Nghị định số 88-HĐBT ngày 27/3/1985 của Hội đồng Bộ trưởng Nghị định quy định Bộ Văn hóa là cơ quan quản lý nhà nước về công tác văn hóa Đến đây, trong cơ cấu của Hội đồng Chính phủ không còn Bộ Văn hóa và Thông tin khi đã tách riêng hai lĩnh vực quản lý là văn hóa và thông tin, lĩnh vực văn hóa thuộc quyền quản lý của Bộ Văn hóa như giai đoạn trước

Ngày 31/3/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Quyết định số 244NQ/HĐNN8

về việc thành lập, đổi tên một số Bộ, Ủy ban Nhà nước và phê chuẩn việc giải thể một số Tổng cục; cụ thể thành lập Bộ Văn hóa – Thông tin – Thể thao và Du lịch trên

cơ sở hợp nhất Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục Thể thao và Tổng cục

Du lịch để thống nhất quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin, phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản, thể dục thể thao và du lịch Đến đây, cơ quan Bộ Văn hóa chấm dứt hoạt động

* Bộ Văn hóa Thông tin

Năm 1977 là thời gian bắt đầu hoạt động của cơ quan Bộ Văn hóa Thông tin sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn Bộ Văn hóa và Tổng cục Thông tin thành Bộ Văn hóa và Thông tin Sau gần chục năm hoạt động, thực hiện nhiệm vụ quản lý lĩnh vực văn hóa và thông tin, năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng đã phê duyệt

Bộ Văn hóa là cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa tại Nghị định số 88-HĐBT ngày 27/3/1985; thành lập Bộ Thông tin phụ trách lĩnh vực thông tin được tách ra từ Bộ Văn hóa Thông tin Sau đó, Bộ Văn hóa tiếp tục được đổi tên thành Bộ Văn hóa Thông tin trên cơ sở hợp nhất 04 cơ quan Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục Thể thao và Tổng cục Du lịch năm 1989 và từ năm 2007 đến nay, có tên gọi là

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

* Bộ Nội vụ (1945-1970)

Trang 31

Là một trong 13 Bộ đầu tiên được Chính phủ Lâm thời Việt Nam DCCH thành lập năm 1945, trong quá trình hoạt động của mình, Bộ Nội vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác tổ chức và dân chính nhằm phát huy tác dụng của bộ máy chính quyền nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước [127, tr.68]

* Bộ Y tế

Bộ Y tế ra đời trong khoảng tháng 9 năm 1945, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và nước Việt Nam DCCH ra đời Tại Nghị định số 153-CP ngày 05/10/1961 của Hội đồng Chính phủ, Bộ Y tế được quy định là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác y tế theo đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước; kết hợp chặt chẽ đông y với tây y trong công tác y tế, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch công tác vệ sinh, phòng bệnh, phòng dịch, chữa bệnh nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân để phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng Hai trong nhiều nhiệm vụ cụ thể của Bộ Y tế là quản lý, đào tạo cán bộ chuyên môn của ngành và thi hành các hiệp định hợp tác về y tế mà nước ta đã kí kết với nước ngoài [127, tr.226]

* Bộ Công nghiệp

Bộ Công nghiệp được thành lập năm 1955 trên cơ sở được tách ra cùng Bộ Thương nghiệp từ Bộ Công thương Nhiệm vụ chính của Bộ là nghiên cứu, xây dựng chương trình, kế hoạch sản xuất công nghiệp, kế hoạch phục hồi và phát triển công nghiệp và quản lý các xí nghiệp quốc doanh và hợp doanh; nghiên cứu, thăm dò hầm

mỏ, bảo vệ tài nguyên khoáng sản quốc gia [127, tr.118]

* Bộ Nông lâm

Trang 32

Tiền thân của Bộ Nông lâm là Bộ Canh nông, được thành lập từ năm 1945 Đến tháng 02/1955, Bộ Canh nông được đổi tên thành Bộ Nông lâm Nhiệm vụ của

Bộ là thực hiện chương trình tăng gia sản xuất ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ, đồng thời với việc xây dựng nền tảng và phát triển nền kinh tế nông nghiệp của cả nước Một trong các nhiệm vụ cụ thể của Bộ Nông lâm thời kì này là hợp tác nghiên cứu khoa học nông nghiệp và lâm nghiệp, đẩy mạnh công tác chuyên gia nông lâm nghiệp và đào tạo cán bộ trong và ngoài nước phục vụ phát triển nền kinh tế nông nghiệp nước nhà [127, tr.84-85]

1.2.2 Khối lƣợng, thành phần và đặc điểm khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991)

1.2.2.1 Khối lượng tài liệu

Với giới hạn nội dung nghiên cứu quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo các trình độ từ cử nhân trở lên (1950-1991) qua tài liệu lưu trữ chữ viết trên nền giấy đang bảo quản tại TTLTQGIII, chúng tôi đã khảo sát tài liệu và thống kê được 171/1900 hồ sơ (ĐVBQ) về quan hệ hợp tác ngoại giao Việt Nam – Liên Xô đã nêu, thuộc 12 phông lưu trữ cơ quan, tổ chức và là nguồn tư liệu trực tiếp được sử dụng để thực hiện nội dung chính của luận văn Dưới đây là bảng thống kê chi tiết số lượng hồ sơ về hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950-1991 trong từng phông lưu trữ

Stt Tên phông Thời gian tài liệu Số lƣợng hồ sơ

02 Ủy ban Kế hoạch Nhà nước 1955-1995 27

03 Ủy ban Khoa học Nhà nước 1958-1992 20

Trang 33

Về phông lưu trữ Bộ Giáo dục giai đoạn 1945-1980, trong tổng số 78.3 mét tài liệu thuộc phông, ngoài các nhóm tài liệu phổ biến như tổng hợp, tổ chức cán bộ, tài vụ kế toán, các nhóm tài liệu quản lý lĩnh vực chuyên môn giáo dục bao gồm tài liệu về xây dựng, chỉ đạo thực hiện và tổng kết công tác bổ túc văn hóa, giáo dục các bậc học từ mẫu giáo, phổ thông, THCN và đại học; nhóm tài liệu về cải cách giáo dục theo đúng chức năng, nhiệm vụ của Bộ đã được giới thiệu chi tiết ở trên Cũng như Bộ Giáo dục, thành phần nội dung của

10 mét tài liệu phông lưu trữ Bộ Đại học và THCN bao gồm các nhóm tài liệu hình thành phổ biến và các nhóm tài liệu quản lý lĩnh vực đào tạo đại học và THCN trong phạm vi cả nước

Đối với phông lưu trữ các Bộ còn lại, thành phần tài liệu gồm các nhóm tài liệu hành chính phổ biến hình thành trong hoạt động của các cơ quan như tài liệu về quy hoạch, kế hoạch, tổ chức cán bộ, tài chính kế toán, thi đua khen thưởng và các nhóm tài liệu quản lý ngành, lĩnh vực chuyên môn được giao, đó là các ngành nông lâm nghiệp, y tế, nội vụ, giao thông và bưu điện; tuy nhiên khối lượng tài liệu các phông này không nhiều, chỉ dưới 10 mét giá trong mỗi phông

Trang 34

Từ tổng thể tình hình tài liệu về hợp tác ngoại giao Việt Nam –Liên Xô thuộc 12 phông lưu trữ nêu trên, chúng tôi đi sâu khảo sát, nghiên cứu khối tài liệu quản lý hành chính nhà nước trên nền giấy về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo giai đoạn 1950-1991 đang bảo quản tại Trung tâm Thành phần nội dung khối tài liệu này bao gồm các nhóm sau cụ thể sau:

- Nhóm tài liệu văn kiện là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo Thành phần tài liệu của nhóm này là các văn bản hợp tác song phương gồm hiệp ước, hiệp định, nghị định thư, kế hoạch hợp tác văn hóa, KHKT

và hợp tác đào tạo được kí kết giữa hai nước trong suốt chặng đường hơn 40 năm quan hệ Các văn bản này tập trung hầu hết ở phông Phủ Thủ tướng, UBKHNN và rải rác ở các phông UBKhHNN, Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và THCN, Bộ Văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin và Bộ Tài chính

- Nhóm tài liệu về việc triển khai quan hệ hợp tác đào tạo sau khi đã thiết lập các cơ

sở pháp lý giữa hai Nhà nước Đó là tài liệu về xây dựng và phê duyệt chương trình, chỉ tiêu

kế hoạch đào tạo LHS Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có Liên Xô, gồm các văn bản là công văn, quyết định, tờ trình của các cơ quan và danh sách LHS đi nước ngoài Nhóm này

có nhiều nhất trong các phông UBKHNN, Phủ Thủ tướng, Bộ Giáo dục và Đại học và THCN và nội dung tài liệu tương đối hoàn chỉnh

- Nhóm tài liệu về thực hiện chương trình, kế hoạch hợp tác đào tạo với Liên Xô hàng năm và nhiều năm của các cơ quan, tổ chức Trung ương Đó là các công văn, báo cáo của ĐSQ Việt Nam tại Liên Xô, Phủ Thủ tướng và các Bộ ngành về tình hình công tác quản

lý LHS ở nước ngoài, kết quả đào tạo cán bộ tại Liên Xô thể hiện ở số lượng và chất lượng đào tạo, các buổi trao đổi, làm việc giữa các cơ quan của hai Nhà nước trong vấn đề đào tạo cán bộ; một số thư từ trao đổi của cá nhân và báo cáo tình hình, kết quả học tập của một số LHS Việt Nam tại Liên Xô Các thành phần tài liệu này có trong hầu hết 12 phông lưu trữ kể trên và mức độ nhiều ít khác nhau, tập trung chủ yếu ở các phông UBKHNN, Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBKhHNN, Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và THCN

1.2.2.3 Đặc điểm của tài liệu

+ Về vật mang tin và kỹ thuật chế tác: Tài liệu được viết tay, đánh máy và in rô-nê-ô trên nhiều vật mang tin khác nhau gồm giấy dó, giấy pơ luya, giấy có độ trắng kém Có thể khẳng định, văn bản được ban hành trong thời kì 1950-1991 về vấn

Trang 35

đề nghiên cứu khá logic và phù hợp giữa thời gian tài liệu được hình thành và vật mang tin với các kỹ thuật chế tác đặc trưng từng thời kì

+ Tình trạng vật lý tài liệu: Hiện nay, hầu như tất cả các tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo đều đã được tổ chức khoa học và được tu bổ, phục chế Nhiều tài liệu còn nguyên vẹn, có thể khai thác, sử dụng mà không gặp quá nhiều khó khăn Nhưng bên cạnh đó cũng có không ít tài liệu đã bị ăn mòn nên rất mỏng, bị mủn, bị thủng, rách, mất chữ, nhòe chữ hoặc mất một phần văn bản

+ Ngôn ngữ của tài liệu: Hầu hết tài liệu về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan Trung ương của bộ máy hành chính Nhà nước, được đánh máy và viết tay bằng ngôn ngữ tiếng Việt có dấu Bên cạnh đó, có khá nhiều tài liệu của các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đánh máy hoặc viết tay bằng tiếng nước ngoài (tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Anh), đó là một số bản dự thảo văn kiện hợp tác do phía Liên Xô lập, một vài thư từ trao đổi, góp ý của phía Liên Xô và các bản lý lịch, kế hoạch học tập, nghiên cứu của LHS Liên Xô tại Việt Nam…Nhìn chung, các tài liệu tiếng nước ngoài kể trên đã được lược dịch sang tiếng Việt Ví dụ, các hồ sơ 4309, 4327, 4364, 4415 thuộc phông

Bộ Giáo dục, hồ sơ 147, 152 thuộc phông Bộ Văn hóa (tài liệu Vụ Trao đổi văn hóa với nước ngoài), hồ sơ 3590 trong phông UBKhHNN…

+ Một số yếu tố thể thức văn bản: Trong phần này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát và nhận xét một số yếu tố thể thức có liên quan đến nguồn gốc xuất xứ của văn bản gồm tác giả, địa danh và ngày tháng năm ban hành văn bản, chữ kí của người

có thẩm quyền và con dấu của cơ quan, cùng với việc nhận xét, đối chiếu thành phần nội dung của một số tài liệu với các nguồn tư liệu khác Qua đó, chúng tôi có thể khuyến nghị đối với người đọc về tính xác thực và độ tin cậy của khối tài liệu về quan

hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô đang bảo quản tại TTLTQGIII hiện nay Cụ thể:

- Về tác giả của tài liệu: Có thể nói, đánh giá độ tin cậy của tài liệu thực chất

là xem xét độ tin cậy của tác giả văn bản Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy, đại đa số tài liệu về quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô đều xác định rõ tác giả của văn bản Phần lớn tác giả là các cơ quan của Đảng; các cơ quan, tổ chức trong bộ máy hành chính Nhà nước ở cấp trung ương; các cơ sở nghiên cứu, đào tạo công lập đóng

Trang 36

trụ sở tại TP.Hà Nội; ĐSQ Việt Nam tại Matxcova - Liên Xô và một số ít tác giả khác (cá nhân, tập thể cá nhân, các cơ quan ở địa phương)

Trong số tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu tiếp cận được, chúng tôi cũng gặp một số tài liệu không có thành phần tác giả văn bản hoặc khó nhận biết tác giả Trường hợp này thường là các tài liệu phục vụ họp, một số báo cáo tóm tắt hoặc tổng kết một vấn đề cụ thể được đánh máy, không có bất cứ thành phần thể thức nào của văn bản, tuy nhiên nội dung thông tin trong nhiều tài liệu lại rất có giá trị để nghiên cứu vấn đề Ví dụ, Báo cáo tóm tắt về tình hình hợp tác KHKT Việt – Xô [45,

tr.34-37; Đề cương Báo cáo của Bộ Giáo dục về việc tổng kết công tác trao đổi văn

hóa từ khi hòa bình lập đến năm 1963 [87, tr1-18]

- Về địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản: Hầu hết văn bản của các

cơ quan, tổ chức nêu trên ban hành thời kì 1950-1991 về vấn đề hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô đều xác định rõ địa điểm và thời gian văn bản được hình thành Địa danh văn bản thường là Hà Nội – nơi đóng trụ sở của các cơ quan, tổ chức Trung ương của Đảng và Nhà nước qua các thời kì, là Matxcova đối với các văn bản, tài liệu của ĐSQ Việt Nam tại Liên Xô và một số địa danh cụ thể khác Bên cạnh đó, có nhiều văn bản không ghi ngày, tháng, chỉ ghi năm ban hành; một số ít văn bản không ghi cả ngày, tháng, năm ban hành nên rất khó xác định chính xác về thời gian của tài liệu

- Về chữ ký của người có thẩm quyền và con dấu của cơ quan: Có thể khẳng

định rằng, chức vụ, họ tên, chữ ký của người có thẩm quyền và dấu của cơ quan ban hành văn bản được coi là những yếu tố quan trọng bậc nhất để đảm bảo tính xác thực của văn bản và độ tin cậy của thông tin tài liệu Tuy vậy, khi nghiên cứu tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam –Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo, chúng tôi thấy chủ yếu là các văn bản sao (gồm sao y bản chính, sao lục và trích sao), có chữ kí và con dấu của

cơ quan sao văn bản; văn bản là bản gốc có chữ kí trực tiếp của người có thẩm quyền cũng khá nhiều Nhóm tài liệu bản sao hầu hết là các văn kiện ngoại giao như hiệp ước, hiệp định, nghị định thư và kế hoạch hợp tác song phương được Phủ Thủ tướng, các Bộ sao y bản chính và có dấu của cơ quan sao văn bản Số lượng văn bản là bản gốc, bản chính, có đầy đủ các yếu tố thông tin về chức vụ, họ tên và chữ ký của người

có thẩm quyền ước tính khoảng gần một nửa trong tổng số văn bản có nội dung về

Trang 37

Đáng nói hơn, trong số tất cả các văn kiện ngoại giao chúng tôi tiếp cận được, chỉ duy nhất một văn bản là bản gốc, có đầy đủ chữ kí trực tiếp của người đại diện và con dấu của cơ quan hai bên, đó là Hiệp định về việc thiết lập quan hệ hợp tác trực tiếp giữa Nhạc viện TP.Hồ Chí Minh và Nhạc viện Quốc gia Novosibirisk mang tên Glinka, kí tại TP.Hồ Chí Minh ngày 01/12/1990 [110, tr.1-2]

- Về thành phần nội dung tài liệu:

Về quan hệ ngoại giao Việt Nam –Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo, có rất nhiều văn kiện hợp tác song phương là các hiệp định, hiệp ước, nghị định thư, kế hoạc hợp tác được kí kết giữa hai Nhà nước trong suốt thời gian từ năm 1950-1991 Đại đa số các văn kiện này là bản sao y bản chính, có đóng dấu chỉ các mức độ mật Theo quy định, chúng tôi không được phép tiếp cận và khai thác, sử dụng những tài liệu này do chưa được giải mật Tuy nhiên, qua xem xét tính chất và mức độ nhạy cảm của vấn

đề nghiên cứu, đồng thời xem xét nguyện vọng chính đáng của chúng tôi muốn hoàn thành đề tài nghiên cứu thực sự có chất lượng, Ban lãnh đạo TTLTQGIII đã tạo điều kiện, cho phép tôi được tiếp cận các tài liệu mật đã được công bố, giới thiệu rộng rãi với điều kiện chỉ được xem xét các đặc điểm bề ngoài của tài liệu và đối chiếu nội dung với các tài liệu đã được công bố, giới thiệu trong các nguồn tư liệu khác; cam kết không sử dụng, trích dẫn bất cứ thông tin nào trong tài liệu mật Chúng tôi đã tiến hành so sánh, đối chiếu một số văn kiện trong hồ sơ tài liệu của các phông và với các văn bản đã được công bố trên một số nguồn tư liệu khác Kết quả so sánh một số văn kiện này cho thấy, nội dung thông tin tài liệu lưu trữ và văn kiện đã được công bố hoàn toàn trùng khớp Một vài ví dụ cụ thể sau:

Ví dụ 1: Hiệp định hợp tác khoa học giữa UBKhHNN nước Việt Nam DCCH

và Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang CHCNXH Xô Viết, ký tại Matxcova ngày

26/5/1961 đã được công bố trong cuốn “Việt Nam – Liên Xô – 30 năm quan hệ

(1950-1980)” (trang 60-68) hoàn toàn trùng khớp thông tin với tờ số 13-20 của hồ sơ 7820,

phông Phủ Thủ tướng và tờ số 01-04 của hồ sơ 2963, phông UBKHNN;

Ví dụ 2: Tờ số 397-404 của cuốn “Việt Nam – Liên Xô – 30 năm quan hệ (1950-1980)” là Hiệp định hợp tác văn hóa và khoa học giữa Chính phủ nước Việt

Nam DCCH và Chính phủ Liên bang CHXHCN Xô Viết, ký tại Matxcova ngày 11/11/1974 đã được công bố hoàn toàn xác thực, phù hợp với thông tin văn kiện là tờ

số 50-57 của hồ sơ 9470, phông Phủ Thủ tướng;

Trang 38

Ví dụ 3: Chúng tôi đã đối chiếu và thấy sự phù hợp về nội dung Hiệp định hợp

tác văn hóa và KHKT giữa Chính phủ Việt Nam DCCH và Chính phủ Liên bang CHXHCN Xô viết năm 1959 đăng trên Báo Nhân dân ngày 03/02/1960 (tr.45-46) với văn kiện trong hồ sơ 2928 phông UBKhHNN đang bảo quản tại TTLTQGIII

Ngoài nhóm văn kiện ngoại giao nói trên, đối với các tài liệu còn lại về quan

hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991), chúng tôi cũng tiến hành so sánh, đối chiếu một vài số liệu thống kê trong tài liệu lưu trữ thuộc các

phông với nhau và với một số nguồn tư liệu khác Dưới đây là một số ví dụ cụ thể:

Ví dụ 1: Tờ số 06 của hồ sơ 21890 thuộc phông UBKHNN với tiêu đề là

“Công văn, báo cáo của Vụ Giáo dục đào tạo – UBKHNN, Tổng cục Dạy nghề về

đào tạo cán bộ chuyên môn và công nhân kỹ thuật gửi đi các nước XHCN năm 1984”

và tờ số 16 của hồ sơ 19430 “Báo cáo của Ban Khoa giáo Trung ương về tình hình công tác LHS ở các nước XHCN từ năm 1951-1983” thuộc phông Phủ Thủ tướng (Mục lục 3) đều là Bảng thống kê LHS đại học và trên đại học gửi đi đào tạo ở các

nước (tính đến 31/12/1982) và cùng cho một con số thống nhất là 21.351 người

Ví dụ 2: Tại Báo cáo số 1617/LHS ngày 27/8/1973 của Bộ Đại học và THCN

về tình hình công tác đào tạo ở nước ngoài (phần đại học và dưới đại học) [58, 21], chúng tôi đã tổng hợp số liệu thống kê LHS đi Liên Xô từ năm 1951-1954 và con

tr.20-số chính xác là 161 LHS Tuy nhiên, trong bài viết “Tìm hiểu sự giúp đỡ của Liên Xô

trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam (1945-1975”của tác giả Hồng

Hạnh và Hải Hà đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự năm 2000, số lượng LHS Việt Nam tại Liên Xô từ năm 1953-1954 đã là 200 người

Ví dụ 3: Tại văn bản Đề cương tổng kết công tác trao đổi văn hóa của Bộ Giáo

dục ban hành trong năm 1963, số lượng LHS Việt Nam ở các nước XHCN tính đến năm 1963 là 6.500 người [87, tr.10] Tuy nhiên, trong Công văn số 265CV-KGTW ngày 14/11/1963 của Ban Khoa Giáo – Ban Chấp hành Trung ương về tình hình công

tác LHS Việt Nam ở các nước XHCN từ năm 1951-1983, số lượng LHS Việt Nam

học tại các nước tính đến năm 1964 mới là 5.776 người [32, tr.3] Ở đây có sự chênh lệch khá lớn về số lượng LHS Việt Nam, do đó, các nhà nghiên cứu cần thiết phải xác minh tính xác thực của thông tin tài liệu trước khi sử dụng tài liệu để nghiên cứu vấn

đề…

Trang 39

Tóm lại, từ các kết quả khái quát và nhận xét các đặc điểm chính của khối tài liệu về hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo kể trên, chúng tôi thấy, về

cơ bản khối tài liệu này đảm bảo độ chân thực và chính xác tương đối cao, phản ánh

sự việc, vấn đề một cách khách quan Tuy nhiên, qua một vài trường hợp so sánh, đối chiếu có sự khác nhau về một vài số liệu thống kê giữa tài liệu thuộc các phông lưu trữ với nhau và với một số nguồn tư liệu khác nêu trên, chúng tôi khuyến nghị các nhà nghiên cứu, trước khi sử dụng tài liệu cần có sự xác minh độ tin cậy và phù hợp của số liệu giữa các tài liệu để có thể lựa chọn và sử dụng được những thông tin chính

xác, phù hợp nhất cho vấn đề nghiên cứu

Tiểu kết chương 1

Có thể khẳng định rằng sự ra đời và hoạt động hầu hết các cơ quan trong 13 cơ quan, tổ chức có thành phần tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo (1950-1991) gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam DCCH và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam Đây là những cơ quan trung ương, có vị trí và vai trò lớn trong điều hành hoạt động chung của Chính phủ và quản lý nhà nước trong từng ngành, lĩnh vực Đối với chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo trong thời gian từ năm 1950-1991, Nhà nước giao cho Bộ Giáo dục và Đại học và THCN đảm nhiệm Quá trình hoạt động của Bộ Giáo dục và Đại học và THCN đã hình thành một khối lượng tài liệu tương đối lớn, phản ánh đầy đủ các nhiệm vụ cụ thể để thực hiện chức năng quản lý lĩnh vực giáo dục đào tạo trong phạm vi cả nước, cùng với thành phần tài liệu của cơ quan Phủ Thủ tướng và UBKHNN đã thể hiện rõ nét lịch sử ngành giáo dục đào tạo Việt Nam nói riêng và vấn đề đào tạo cán bộ của Nhà nước Việt Nam nói riêng, trong đó có nội dung hợp tác đào tạo giữa Việt Nam và Liên Xô Với những đặc điểm chính của khối tài liệu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô đang bảo quản tại TTLTQGIII hiện nay, theo đánh giá của chúng tôi, đây là những tài liệu lưu trữ có tính xác thực và độ tin cậy tương đối cao, thực sự là một trong những nguồn tư liệu lịch sử có giá trị, có thể phục vụ đắc lực trong công tác nghiên cứu lịch sử cũng như các mục đích nghiên cứu khác trong đời sống xã hội

Trang 40

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ KHỐI TÀI LIỆU VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM – LIÊN XÔ TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO (1950-1991) ĐANG BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III

2.1 Nội dung quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô

Quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo bắt đầu ngay từ năm 1950, khi Liên Xô chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, kết thúc bằng sự tan rã của Nhà nước Liên bang CHXHCN Xô viết năm 1991 và chuyển tiếp sang quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga ngày nay Để làm rõ nội dung vấn đề nghiên cứu, chúng tôi phân chia chặng đường hơn 40 năm hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô thành 4 thời kì nhỏ gắn liền với hoàn cảnh lịch sử Việt Nam cũng như phù hợp với các chặng đường phát triển của ngành giáo dục đại học nước nhà Cơ sở để phân kì quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo được dựa trên một số xuất bản phẩm về lịch sử giáo dục đào tạo Việt Nam cũng như căn cứ nội dung nhiều tài liệu có tính chất tổng hợp về tình hình quản lý đào tạo LHS Việt Nam

ở nước ngoài của Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và THCN trong thành phần khối tài liệu hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô đang bảo quản tại TTLTQGIII đã tổng kết, đánh giá công tác này trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể

đã ra tuyên bố “sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng

quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới” [135, tr.121] Trên tinh thần

đó, ngày 23/01/1950, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám thay mặt Chính phủ Việt Nam gửi công hàm cho Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô, đề nghị hai nước kiến lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi đại sứ Ngày 30/01/1950, Liên Xô đáp lại công hàm, đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, khẳng định địa vị

Ngày đăng: 06/10/2016, 00:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ PHỤ LỤC - Quan hệ hợp tác việt nam – liên xô trong lĩnh vực đào tạo (1950 1991) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
BẢNG THỐNG KÊ PHỤ LỤC (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w