1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955 1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ

127 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HẢO SỰ ỦNG HỘ CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 1955-1975 QUA TÀI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢO

SỰ ỦNG HỘ CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1955-1975) QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ HIỆN ĐANG BẢO QUẢN TẠI

TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lưu trữ

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢO

SỰ ỦNG HỘ CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1955-1975) QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ HIỆN ĐANG BẢO QUẢN TẠI

TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: Lưu trữ

Mã số: 60 32 03 01

Người hướng dẫn khoa học:

PGS Nguyễn Văn Hàm

Hà Nội, 2016

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo 5

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM, THÀNH PHẦN KHỐI TÀI LIỆU VỀ SỰ ỦNG HỘ CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1955 -1975) 8

1.1 Tổng quan về TTLTQG III 8

1.1.1 Vị trí và chức năng 8

1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 8

1.1.3 Cơ cấu tổ chức 9

1.1.4 Khối lượng và thành phần cơ bản của tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại TTLTQG III 9

1.2 Khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) 11

1.2.1 Khái quát khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam hiện đang bảo quản tại TTLTQG III 11

1.2.2 Khối lượng, thành phần và nội dung tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) 12

1.2.3 Đặc điểm của tài liệu 29

Tiểu kết chương 1 34

Trang 5

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ CỦA KHỐI TÀI LIỆU VỀ SỰ ỦNG HỘ CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG

CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1955 - 1975) 36

2.1 Là nguồn sử liệu phục vụ nghiên cứu sự ủng hộ về chính trị của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975) 36

2.2 Là nguồn sử liệu phục vụ nghiên cứu sự ủng hộ về vật chất của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975) 44

2.3 Là nguồn sử liệu để phục vụ nghiên cứu về chính sách ngoại giao, chính sách kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1955 - 1975 53

2.4 Là nguồn sử liệu phục vụ nghiên cứu rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay 61

Tiểu kết chương 2 67

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÀI LIỆU 68

3.1 Tình hình tổ chức khoa học, bảo vệ an toàn và khai thác, sử dụng tài liệu 68

3.2.1 Tình hình tổ chức khoa học và bảo vệ an toàn tài liệu 68

3.2.2 Tình hình khai thác sử dụng khối tài liệu 73

3.1.3 Nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế 80

3.2 Các giải pháp tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 – 1975) 81

3.2.1 Giải pháp về sưu tầm, bổ sung đầy đủ khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) 81

3.2.2 Giải pháp về tổ chức khoa học và bảo vệ an toàn tài liệu lưu trữ 82

Trang 6

3.2.3 Giải pháp về phát huy giá trị tài liệu 84

3.3 Một số khuyến nghị đối với độc giả 90

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

DANH MỤC PHỤ LỤC 106

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam kéo dài hai thập kỷ, có quy mô rộng lớn, tính chất và cường độ vô cùng quyết liệt Việt Nam phải đương đầu với một đối phương có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự lớn hơn gấp nhiều lần, có bộ máy chiến tranh khổng lồ Đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt Nam thời kỳ này là nhân dân Việt Nam phải tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước Trải qua bao khó khăn, mất mát, 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975 chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta trong cuộc chiến 21 năm chống đế quốc Mỹ và tay sai giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Thắng lợi

to lớn ấy là kết quả của nhiều nhân tố, trong đó có sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của Chính phủ và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới Đứng trước những sự kiện trọng đại của đất nước, các nhà nghiên cứu về lịch sử, chính trị, ngoại giao, xã hội… có nhu cầu được tìm hiểu, nghiên cứu về các sự kiện trong lịch sử dân tộc Các công trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội không thể thiếu vắng nguồn

sử liệu quan trọng, có tính chân thực nhất là tài liệu lưu trữ Mọi chủ trương, chính sách và những diễn biến quan trọng trong suốt quá trình cách mạng đều được cụ thể hóa bằng các văn bản, tài liệu, hiện vật Phần lớn khối tài liệu này hiện đang được bảo quản tại TTLTQG III thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước Trong thời gian qua, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã chú trọng đẩy mạnh các hoạt động công

bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ Tuy nhiên, hiệu quả mang lại chưa cao Điều này dẫn đến tình trạng tài liệu lưu trữ không được phát huy hết giá trị vốn có, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác sử dụng của các nhà nghiên cứu đối với tài liệu lưu trữ nói chung

và khối tài liệu lưu trữ về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước của Việt Nam nói riêng Theo khảo sát của chúng tôi, các tài liệu này có ở nhiều phông lưu trữ như phông Quốc hội, phông Phủ Thủ tướng, phông UBTNCP, phông UBKHNN, phông Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục… Vậy, bài toán đặt ra cho các nhà lưu trữ là cần phải thống kê một cách đầy

Trang 8

đủ, toàn diện và hệ thống các tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam giai đoạn 1955 - 1975 tại các phông khác nhau; đồng thời, giới thiệu đến công chúng về nội dung, thành phần và đặc điểm của các tài liệu đó để phát huy giá trị của tài liệu, phục vụ rộng rãi cho người nghiên cứu

Nhằm giúp các nhà nghiên cứu có được cái nhìn tổng thể, toàn diện và hệ thống khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta giai đoạn 1955 - 1975, chúng tôi chọn vấn đề

“Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại TTLTQG III” làm đề tài luận văn cao học của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

- Giới thiệu khái quát khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 1955 - 1975 hiện đang bảo quản tại TTLTQG III

- Phân tích giá trị của những tài liệu này phục vụ cho nghiên cứu lịch sử

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ an toàn và phát huy giá trị của khối tài liệu trên trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu của đề tài, chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Giới thiệu tổng quan về TTLTQG III và khối tài liệu của Trung tâm

- Khảo sát thực tế khối tài liệu hiện đang bảo quản tại TTLTQG III phản ánh

sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

- Phân tích giá trị của khối tài liệu đối với việc nghiên cứu lịch sử

- Đánh giá, nhận xét tình hình tổ chức khoa học và phát huy giá trị khối tài liệu này trong thời gian qua

- Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy hiệu quả hơn khối tài liệu này

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam hiện đang bảo quản tại TTLTQG III; công tác tổ chức khoa học và tổ chức sử dụng khối tài liệu này

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu của luận văn là khối tài liệu về

sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu của nhân dân Việt Nam (1955 - 1975) hiện đang bảo quản tại TTLTQG III

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ năm 1996, Cục Lưu trữ Nhà nước đã phối hợp với Bảo tàng Chứng tích

Chiến tranh tổ chức trưng bày chuyên đề “Nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp bảo

vệ độc lập và thống nhất của Việt Nam 1955 - 1975” tại thành phố Hồ Chí Minh từ

30/8 đến 30/10/1996 Hơn 100 tài liệu, hình ảnh, hiện vật thể hiện tình cảm, sự ủng

hộ, giúp đỡ nhiệt tình của Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới đối với nhân dân Việt Nam đã được giới thiệu đến người xem

Đến tháng 12/1996, tác giả Nguyễn Minh Sơn, TTLTQG III đã đăng bài

“Vài nét về trưng bày chuyên đề: Nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp bảo vệ độc lập và thống nhất của Việt Nam (1955 - 1975)” giới thiệu tổng thể về cuộc Trưng

bày trên Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 4, tháng 12/1996, tr.10-12

Hoạt động trưng bày của Cục Lưu trữ Nhà nước và bài viết của ông Nguyễn Minh Sơn trên đây đã giới thiệu những tài liệu, hình ảnh về chủ đề Nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp bảo vệ độc lập và thống nhất của Việt Nam (1955 - 1975) Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một cuộc Trưng bày chuyên đề, Ban Tổ chức chỉ lựa chọn hơn 100 tài liệu giấy và tài liệu ảnh, là những tài liệu tiêu biểu trong một

số phông lưu trữ hiện đang bảo quản tại Trung tâm như phông Phủ Thủ tướng, Quốc hội, UBTNCP, Phông Bộ Ngoại giao (tài liệu ảnh) Như vậy, Trưng bày chỉ mới giới thiệu được một số tài liệu điển hình, chưa công bố được hết khối tài liệu về

sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn này hiện đang được bảo quản trong các phông lưu trữ tại TTLTQG III một cách đầy đủ nhất

Trang 10

- Các công trình khoa học nghiên cứu, đánh giá giá trị của tài liệu lưu trữ trên phương diện sử liệu học:

+ Luận văn: “Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) -

nguồn sử liệu giá trị cần được công bố, giới thiệu phục vụ nghiên cứu lịch sử” của

tác giả Đào Đức Thuận

+ Luận văn: “Phông lưu trữ Ủy ban Thống nhất Chính phủ - Nguồn sử liệu về

cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế của nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ 1955 - 1975” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Phương

+ Luận văn: “Phông lưu trữ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ - Một

nguồn sử liệu về Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)” của tác giả

Lê Tuyết Mai năm 2011

+ Khóa luận: “Phông lưu trữ Đoàn Thanh niên xung phong - Nguồn sử liệu

để nghiên cứu lực lượng thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

1952 - 1954” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Mai

+ Khóa luận: “Phông lưu trữ Uỷ ban thống nhất Chính phủ - Nguồn sử liệu

về công tác viện trợ cho miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ” của tác giảVũ Thị

Thu Hương

+ Khóa luận: “Phông lưu trữ Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh

Thái Bình - Nguồn sử liệu về lịch sử đấu tranh của nhân dân Thái Bình giai đoạn chống Pháp 1945 - 1954” của tác giả Hoàng Thị Hồng

Trong các công trình nghiên cứu khoa học trên, các tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như: phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; phương pháp sử liệu học; phương pháp thống kê, hệ thống; phương pháp phân tích; phương pháp thực tế Theo chúng tôi, các phương pháp trên đã giúp cho các tác giả nắm rõ tình hình thực tế liên quan đến nội dung nghiên cứu; đồng thời thống kê, tổng hợp, khái quát được toàn bộ các hoạt động về hoạt động tổ chức khoa học, bảo vệ và tổ chức sử dụng tài liệu các phông thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài Về nội dung, các công trình tập trung nghiên cứu giá trị sử liệu của tài liệu lưu trữ thuộc một phông lưu trữ, phục vụ việc nghiên cứu lịch

sử về một lĩnh vực, đối tượng hay một giai đoạn lịch sử nhất định nhằm hướng tới

mục tiêu cuối cùng là công bố, phát huy giá trị tài liệu

Trang 11

Qua đây ta thấy, hiện nay chưa có một đề tài nghiên cứu khoa học nào đi sâu tìm hiểu và giới thiệu một cách toàn diện, hệ thống khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1955 - 1975 đang bảo quản tại TTLTQG III Từ thực trạng trên, chúng tôi lựa chọn đề tài này nhằm mục đích giới thiệu khái quát khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) hiện đang bảo quản tại TTLTQG III và đưa ra một giải pháp nhằm bảo vệ an toàn và phát huy giá trị của khối tài liệu trên trong thời gian tới Đề tài có kế thừa một số kết quả nghiên cứu nói trên nhưng không trùng lặp

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và lý luận thực tiễn công tác lưu trữ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài bằng các phương pháp chủ yếu sau đây:

- Phương pháp tiếp cận lịch sử được vận dụng để tiếp cận, tìm hiểu các sự kiện, diễn biến quan trọng trong lịch sử dân tộc;

- Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng khi khảo sát số lượng, thành phần và tình hình tổ chức khoa học, phát huy giá trị khối tài liệu;

- Phương pháp sử liệu học được vận dụng khi xem xét, xác định giá trị, độ tin cậy của tài liệu;

- Phương pháp thống kê - tổng hợp được sử dụng khi tổng hợp thông tin có trong hồ sơ, tài liệu thành các vấn đề theo hệ thống;

- Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa nội dung của tài liệu với thực tiễn và giữa nội dung của các tài liệu cùng phản ánh về một vấn đề

- Phương pháp phân tích được vận dụng khi phân tích các vấn đề, sự kiện mà

hồ sơ, tài liệu phản ánh và phân tích giá trị của tài liệu, chất lượng của các hồ sơ

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phương pháp trao đổi, xin ý kiến của các chuyên gia công tác tại Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; các giảng viên khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng - Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn Hà Nội; các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới

Trang 12

Các phương pháp này không tiến hành độc lập mà được kết hợp linh hoạt trong quá trình thực hiện đề tài

5.2 Nguồn tài liệu tham khảo

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi đã tham khảo các

nguồn tài liệu sau:

- Nhóm tài liệu cơ sở pháp lý bao gồm hệ thống các văn bản quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn của Nhà nước quy định về công tác lưu trữ;

- Nhóm tài liệu về cơ sở lý luận, nghiệp vụ bao gồm nguồn tài liệu từ sách

giáo trình, bài giảng, từ điển liên quan như: Giáo trình "Lý luận và thực tiễn công

tác lưu trữ"; Giáo trình “Nghiệp vụ Lưu trữ cơ bản”; “Từ điển giải thích nghiệp vụ văn thư, lưu trữ Việt Nam”; Giáo trình “Lịch sử Việt Nam”

- Các công trình nghiên cứu khoa học bao gồm khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án và các bài viết trên tạp chí có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Một số website:http://www.archives.gov.vn; http://tuyensinh.ussh.edu.vn/ http://www.mod.gov.vn/; http://truongchinhtribentre.edu.vn; http://qhqt.edu.vn/qhqt/

6 Đóng góp của luận văn

Thứ nhất, luận văn giới thiệu đến công chúng toàn bộ khối tài liệu phản ánh

sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) hiện đang bảo quản tại TTLTQG III Từ đó, giúp độc giả nắm được khái quát về số lượng, thành phần, đặc điểm, nội dung cơ bản của khối tài liệu này và những giá trị sử liệu của chúng đối với việc nghiên cứu lịch sử

Thứ hai, đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức khoa học và phát huy giá trị của

khối tài liệu trong thời gian tiếp theo

Thứ ba, nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức và xã hội về giá trị của

khối tài liệu này

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm ba chương như sau:

Chương 1 Khái quát đặc điểm, thành phần khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955

- 1975)

Trang 13

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu sơ lược về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của TTLTQG III và khối tài liệu lưu trữ hiện đang bảo quản tại đây, đặc biệt là khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

Chương 2: Giá trị của khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

Chương 2 là một trong hai chương chính của luận văn Trong chương này, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá giá trị của khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

Chương 3: Các giải pháp tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

Trong chương này, chúng tôi trình bày về tình hình tổ chức khoa học, bảo vệ

và phát huy giá trị của khối tài liệu này tại TTLTQG III trong thời gian qua Trên cơ

sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm tổ chức khoa học và khai thác, sử dụng hiệu quả khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ đưa ra một vài khuyến nghị đối với độc giả khi sử dụng khối tài liệu này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Nhân đây, cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hàm, các thầy, cô giáo khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng và các

cơ quan có liên quan như: TTLTQG III, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước và các bạn, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Hảo

Trang 14

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM, THÀNH PHẦN KHỐI TÀI LIỆU VỀ SỰ ỦNG HỘ

CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1955 -1975)

1.1 Tổng quan về TTLTQG III

TTLTQG III được thành lập theo Quyết định số 118/TCCB-TC ngày 10/6/1995 của Bộ trưởng - Trưởng ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) có nhiệm vụ thu thập, bổ sung bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

1.1.1 Vị trí và chức năng

- TTLTQG III là tổ chức sự nghiệp thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước,

có chức năng sưu tầm, thu thập, chỉnh lý, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu, tư liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức trung ương và cá nhân, gia đình, dòng họ tiêu biểu của nước VNDCCH và nước CHXHCN Việt Nam trên địa bàn từ Quảng Bình trở ra theo quy định của pháp luật và quy định của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước

- TTLTQG III có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng và trụ sở làm việc đặt tại thành phố Hà Nội

1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn

TTLTQG III có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

“1 Trực tiếp quản lý tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan tổ chức và cá nhân:

- Tài liệu của các cơ quan, tổ chức trung ương và các cơ quan, tổ chức cấp liên khu, khu, đặc khu của nhà nước VNDCCH;

- Tài liệu của các cơ quan, tổ chức trung ương của nhà nước CHXHCNViệt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ra phía Bắc;

- Hồ sơ địa giới hành chính các cấp;

- Các tài liệu khác được giao quản lý

2 Thực hiện hoạt động lưu trữ

Trang 15

a) Thu thập, sưu tầm, bổ sung tài liệu lưu trữ đối với các phông, sưu tập thuộc phạm vi trực tiếp quản lý của Trung tâm;

b) Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu lưu trữ;

c) Thực hiện các biện pháp bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ; sắp xếp, vệ sinh tài liệu trong kho, khử trùng, khử axit, tu bổ phục chế, số hóa tài liệu

và các biện pháp khác;

d) Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu, công cụ thống kê, tra cứu tài liệu lưu trữ;

đ) Tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ bảo quản tại Trung tâm

3 Ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn công tác của Trung tâm

4 Quản lý người làm việc, cơ sở vật chất kỹ thuật, vật tư, tài sản và kinh phí của Trung tâm theo quy định pháp luật và phân cấp của Cục trưởng

5 Thực hiện các dịch vụ công và dịch vụ lưu trữ theo quy định của pháp luật và quy định của Cục trưởng

6 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng giao”[115]

1.1.3 Cơ cấu tổ chức

TTLTQG III hiện có 09 Phòng gồm: Phòng Thu thập và Sưu tầm tài liệu; Phòng Chỉnh lý tài liệu; Phòng Bảo quản tài liệu; Phòng Công bố và Giới thiệu tài liệu; Phòng Tin học và Công cụ tra cứu; Phòng Đọc; Phòng Tài liệu nghe nhìn; Phòng Hành chính - Tổ chức; Phòng Kế toán; Phòng Bảo vệ và Phòng cháy chữa cháy

1.1.4 Khối lượng và thành phần cơ bản của tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại TTLTQG III

Toàn bộ tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại TTLTQG III được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước Trung ương, các Bộ, ngành, các đoàn thể xã hội và các liên khu được thành lập từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, bao gồm: tài liệu hành chính; tài liệu khoa học kỹ thuật; tài liệu phim ảnh, ghi âm và tài liệu xuất xứ cá nhân

a) Tài liệu hành chính

Trang 16

Khối tài liệu này chiếm vị trí lớn nhất trong kho lưu trữ của TTLTQG III (202 phông) Đây là những tài liệu gốc, chính bản, trong đó có nhiều bản viết tay hay có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều Lãnh đạo Nhà nước khác Trong

đó, khối tài liệu quan trọng nhất là phông Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam và khối tài liệu hình thành trong hoạt động của Phủ Thủ tướng từ sau năm 1945 đến nay Ngoài ra, còn có rất nhiều phông của các Bộ, ngành cơ quan Trung ương, trong đó có nhiều cơ quan đã giải thể và nhiều cơ quan hiện đang hoạt động

b) Tài liệu khoa học kỹ thuật

Tính đến nay, TTLTQG III đang bảo quản gần 1000 mét giá tài liệu của 32 công trình lớn (thuộc 34 phông tài liệu) có ý nghĩa quốc gia như: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đường dây 500KV Bắc - Nam, Nhà máy Thủy điện Sông Đà, Nhà máy Tàu biển Phà Rừng, mỏ Apatít Lào Cai và mỏ Prít Giáp Lai, các cầu: Thăng Long, Chương Dương, Bến Thủy, Sông Gianh và nhiều công trình xây dựng cơ bản khác

c) Tài liệu nghe nhìn

Tài liệu phim điện ảnh, bao gồm gần 96 bộ phim (với gần 500 cuộn phim) thời sự phản ánh cuộc sống sinh hoạt, chiến đấu, sản xuất của nhân dân Việt Nam Tài liệu ảnh gồm gần 100.000 tấm ảnh dương bản và 52.000 tấm phim (âm bản),

258 cuộn phim điện ảnh, phim thời sự phản ánh các hoạt động của Đảng, Chính phủ

và nhân dân ta trong công cuộc xây dựng và đấu tranh bảo vệ đất nước Tài liệu ghi

âm bao gồm hơn 4000 cuộn băng với gần 3000 tiếng băng và gần 300 đĩa, băng video chủ yếu là ghi âm sự kiện và ghi âm nghệ thuật Các cuốn băng ghi âm sự kiện ghi lại những mốc lớn, những sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc

d) Tài liệu xuất xứ cá nhân

TTLTQG III bảo quản tài liệu có xuất xứ cá nhân của hơn 50 văn nghệ sĩ và một số nhà hoạt động tiêu biểu trong các lĩnh vực khoa học xã hội khác phản ánh về chân dung và cuộc đời của các cá nhân Bên cạnh đó, hiện nay ở TTLTQG III còn lưu giữ hơn 7 vạn hồ sơ cá nhân cùng một số kỷ vật của các cán bộ đi B1 trong thời

1

Tức chiến trường miền Nam

Trang 17

kỳ chiến tranh chống Mỹ Đây là những minh chứng quan trọng, không những giúp cho các cán bộ đi B và thân nhân giải quyết chế độ chính sách mà còn là những kỷ vật về một thời chiến đấu vì cách mạng của các thế hệ tiền bối

Với sự đa dạng về thành phần và phong phú về nội dung, khối tài liệu đã bao quát mọi lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội Việt Nam, từ những ngày đầu thành lập nước đến các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, tiến tới thống nhất nước và xây dựng XHCN ngày nay Đây là nguồn sử liệu phản ánh toàn diện, đầy đủ và xác thực nhất quá trình lịch sử xây dựng và đấu tranh bảo vệ đất nước trong hơn 60 năm qua

1.2 Khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

1.2.1 Khái quát khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam hiện đang bảo quản tại TTLTQG III

Hiện có khoảng 2400 hồ sơ, tài liệu đề cập đến vấn đề này trong gần 40 phông lưu trữ cơ quan, tổ chức và phông lưu trữ các công trình lớn của đất nước đang được bảo quản tại TTLTQG III Loại hình văn bản bao gồm tài liệu hành chính, tài liệu khoa học kỹ thuật, tài liệu ghi âm, ghi hình Các hồ sơ, tài liệu này chủ yếu nằm trong các phông Quốc hội, Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBTNCP, Bộ Tài chính Số tài liệu còn lại nằm rải rác trong các phông của các cơ quan, tổ chức

từ trung ương đến địa phương như phông lưu trữ các Bộ, Ủy ban hành chính các tỉnh; phông lưu trữ các công trình như: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đường dây 500KV Bắc - Nam, Nhà máy Thủy điện Sông Đà, Thủy điện Hòa Bình, Nhà máy Supe Phốt phát Lâm Thao, Công trình cầu Chương Dương, cầu Long Biên… và các Tổng công ty, công ty như: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Kim khí, Tổng công ty Thép Việt Nam Lĩnh vực ủng hộ bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa,

y tế, giáo dục, giao thông - vận tải, xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp… Trong

đó, loại hình tài liệu giấy chiếm khối lượng nhiều nhất, chứa nội dung thông tin đa dạng, toàn diện và phong phú về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Đối với loại hình tài liệu khoa học kỹ thuật, sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam thể hiện

Trang 18

trong các hồ sơ, tài liệu về việc tư vấn, thiết kế và xây dựng các công trình của Việt Nam, đặc biệt là các công trình trọng điểm quốc gia So với hai loại hình tài liệu đã nêu, tài liệu ghi âm, ghi hình tuy không phản ánh một cách đầy đủ, toàn diện sự ủng

hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam nhưng lại thể hiện được những hình ảnh sinh động nhất, chân thực nhất về nội dung này

1.2.2 Khối lượng, thành phần và nội dung tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975)

Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (Chủ biên) và các thành viên khác thuộc Viện Ngôn ngữ học - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn và xuất

bản năm 1988, ủng hộ là “tỏ thái độ đồng tình góp phần bênh vực hoặc giúp đỡ

Vd: Đồng tình và ủng hộ phong trào đấu tranh giành độc lập” [107, tr.1122]

Cũng theo từ điển này, viện trợ là sự “giúp đỡ về vật chất (thường là giữa

các nước) Vd: Viện trợ kinh tế cho một nước đang phát triển; hàng viện trợ; viện trợ khẩn cấp cho vùng bị bão lụt” [107, tr.1151]

Như vậy, ủng hộ có nội hàm rộng hơn, bao hàm viện trợ Ủng hộ được hiểu

là những hành động giúp đỡ bằng tinh thần, vật chất Trong chiến tranh, ủng hộ là tỏ thái độ đồng tình bằng lời nói hoặc bằng hành động bênh vực, giúp đỡ bằng vật chất, tinh thần nhằm chia sẻ những khó khăn nhất định

Trên cơ sở giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn là tài liệu chữ viết về

sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) trên các mặt chính trị, tinh thần và vật chất, chúng tôi thống kê được 738 hồ sơ/đơn vị bảo quản chứa tài liệu phản ánh trực tiếp

về vấn đề này Trong đó, hồ sơ, tài liệu được bảo quản trong nhiều phông khác nhau như các phông: Quốc hội, Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBTNCP và phông lưu trữ của các Bộ như: Văn hóa, Y tế, Giáo dục, Giao thông - Vận tải, Nông lâm, Công nghiệp, Thương nghiệp, Nội thương, Ngoại thương, Vật tư, Lương thực và Thực phẩm, Kế hoạch - Đầu tư, Cứu tế xã hội, Tổng cục Thống kê, Cục Dệt và Vật dụng

Nội dung tài liệu rất đa dạng, phong phú ghi lại những quan điểm, phát ngôn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta và những hành động cụ thể nhằm ủng hộ, giúp đỡ về chính trị, tinh thần và vật chất cho Chính phủ, nhân dân nước VNDCCH

Trang 19

1.2.2.1 Sự ủng hộ về chính trị, tinh thần

- Khối lượng tài liệu: Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng khối lượng hồ sơ, tài liệu phản ánh sự ủng hộ về mặt chính trị, tinh thần các nước dành cho Việt Nam trong giai đoạn này rất ít Trong tổng số 738 hồ sơ liên quan đến chủ đề nghiên cứu, chỉ có 37 hồ sơ đề cập trực tiếp đến vấn đề này và tập trung chủ yếu trong phông Quốc hội (24 hồ sơ) và phông Bộ Văn hóa (12 hồ sơ) Bên cạnh đó, có 02 tài liệu nằm trong hồ sơ 3205 thuộc phông UBTNCP Sở dĩ các hồ sơ, tài liệu tập trung hầu hết trong phông Quốc hội vì đây là cơ quan quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan

hệ xã hội và hoạt động của công dân

- Về thành phần, nội dung tài liệu: Hầu hết trong các hồ sơ là văn bản ngoại giao nằm trong phông Quốc hội như: Nghị định thư, Nghị quyết, Tuyên bố, Điện, Thư do Chính phủ, Quốc hội và nhân dân các nước gửi cho Việt Nam Nội dung văn bản thể hiện quan điểm của các nước về cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc

Mỹ tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác; đồng thời, bày tỏ sự ủng hộ, sẵn

sàng giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chính nghĩa đó

Bên cạnh những văn bản ngoại giao đặc trưng đã nêu, khối tài liệu còn bao gồm những văn bản hành chính thông thường như: Thư cảm ơn của các vị Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta gửi đến Chính phủ, Quốc hội và nhân dân các nước; Thư, Công điện, Báo cáo, Công văn, Tờ trình do các cơ quan, tổ chức, cá nhân của nước VNDCCH sản sinh ra để thực hiện, báo cáo, tổng kết về công tác ngoại giao, những hoạt động ủng hộ về chính trị, tinh thần của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến Cụ thể:

a) Nhóm tài liệu về chính sách, đường lối ngoại giao của Chính phủ

Trong các cơ quan hình thành khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam nói riêng và đối với toàn bộ các cơ quan hình thành lên khối tài liệu hiện đang bảo quản tại TTLTQG III nói chung, Quốc hội là

cơ quan có chức năng quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước Còn một số cơ quan, tổ

Trang 20

chức khác có chức năng quyết định chính sách ngoại giao như Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Ngoại giao thì tài liệu lưu trữ được bảo quản tại Cục Lưu trữ văn phòng Trung ương Đảng và Lưu trữ chuyên ngành Bộ Ngoại giao Do vậy, những hồ sơ, tài liệu phản ánh về các chính sách và hoạt động ngoại giao tại TTLTQG III chỉ có trong phông Quốc hội Qua khảo sát toàn bộ khối tài liệu phông Quốc hội giai đoạn

1955 - 1975 chúng tôi thấy có rất ít tài liệu đề cập đến vấn đề này Bên cạnh đó, thời gian tài liệu không liên tục theo từng năm, từng giai đoạn mà chỉ rải rác ở một vài năm nhất định Các văn bản, tài liệu về chính sách, hoạt động ngoại giao của Việt Nam nhằm tập hợp lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế được phản ánh dưới hình thức Báo cáo, Bài tham luận, Nghị quyết như: Báo cáo về quan hệ quốc tế được trình bày trong phiên họp thứ 49, 50 của Ban thường trực Quốc hội khóa I ngày 30/11 và 14/12/1959 [1, tr.11]; Bài tham luận về ngoại giao được trình bày trong phiên họp ngày 19/4/1961 tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa II từ ngày 11 - 20/4/1961 [3, tr.10]; Báo cáo ngày 07/6/1971 của Chính phủ nước VNDCCH về công tác ngoại giao của Chính phủ tại Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội khóa IV từ ngày 06 - 10/6/1971 [23, tr 36-55]

Ví dụ: Trong Báo cáo về ngoại giao năm 1971 của Chính phủ có nêu: Năm

1964, trước khi nhân dân ta bước và cuộc chiến đấu trực tiếp với quân đội viễn chinh Mỹ, xuất phát từ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và sự phân tích tình hình

quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố tại Hội nghị chính trị đặc biệt: “Chính

sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường đoàn kết với các nước XHCN anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản; kiên quyết đấu tranh chống chính sách xâm lược và gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ; thực hiện chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ

xã hội và chính trị khác nhau, kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc, ủng hộ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH” [23, tr.43] Theo

đó, nhiệm vụ của ngoại giao ta nói một cách tổng quát là “trên trường quốc tế ra

sức tranh thủ đồng minh, thêm bạn bớt thù, tiến công địch, phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước VNDCCH; đồng

Trang 21

thời góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH”[23, tr.37] Báo cáo cũng nêu rõ 5 đường lối đối ngoại của

Đảng và nhà nước ta như sau:

1 Ra sức tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hữu nghị với các nước XHCN anh em, trước hết là với Liên Xô, Trung Quốc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản

2 Ra sức tăng cường mặt trận nhân dân các nước Đông Dương chống Mỹ xâm lược

3 Ra sức mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước khác ở Đông Dương chống Mỹ xâm lược

4 Ra sức tăng cường đoàn kết với nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược của Mỹ

5 Lợi dụng mâu thẫu trong nội bộ địch [23, tr.36-50]

b) Nhóm tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội các nước

Sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội các nước đối với Việt Nam trong giai đoạn này được thể hiện bằng hình thức gửi văn bản ngoại giao và sự đón tiếp nhiệt tình, nồng hậu, những lời lẽ tốt đẹp trong các bài diễn văn, chào mừng đối với các đoàn đại biểu nước ta sang thăm hữu nghị

- Các văn bản ngoại giao

Để nghiên cứu về nội dung này, chúng tôi đã rà soát toàn bộ hồ sơ thuộc phông Quốc hội - là phông có số lượng hồ sơ liên quan nhiều nhất - nói riêng và toàn bộ khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam nói chung và thấy rằng từ trước năm 1965, không có bất kỳ một hồ sơ, tài liệu nào đề cập đến hoạt động ủng hộ của các nước trên thế giới bằng hình thức gửi văn bản ngoại giao Tài liệu thể hiện sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội các nước có thời gian bắt đầu từ những năm 1965 trở đi Hiện có 10 hồ sơ thuộc phông Quốc hội chứa văn bản ngoại giao của 15 nước bao gồm: An-ba-ni, Ba Lan, Bun-ga-ri, Căm-pu-chia, CHDC Đức, Hung-ga-ri, Liên Xô, Mông Cổ, Ru-ma-ni, Tiệp Khắc, CHDCND Triều Tiên, Trung Quốc, Inđônêxia, Cộng hòa Ả rập - Ai cập thống nhất, Chi Lê gửi đến để tỏ thái độ ủng hộ cuộc kháng chiến của ta Ví dụ: Nghị quyết

Trang 22

ngày 20/4/1965 của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước CHND Trung Hoa về việc ủng hộ Lời kêu gọi của Quốc hội nước VNDCCH [10, tr.182-185]; Thư ngày 09/5/1965 của Ủy ban Thường vụ đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc ủng hộ Lời kêu gọi của Quốc hội nước VNDCCH [10, tr.180-181]; Tuyên bố ngày 03/7/1968 của Chủ tịch Quốc hội Căm-pu-chia về ủng hộ hoàn toàn nhân dân thân thiết nước VNDCCH trong cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược vì độc lập của Việt Nam [18, tr.01-04]; Điện ngày 13/5/1972 của Quốc hội nước Cộng hòa Ả rập, Ai cập thống nhất gửi Quốc hội nước VNDCCH và Quốc hội các nước trên thế giới về việc lên án những hành động phản bội của Tổng thống Mỹ Ních-xơn và bày tỏ sự hoàn toàn ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam [24, tr.02-03]… Một số văn bản, tài liệu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo về việc Chính phủ và Quốc hội các nước có văn bản ủng hộ nhân dân Việt Nam như: Văn bản số 1033/QH/TH ngày 11/7/1966 của Văn phòng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông báo về việc Quốc hội Vương quốc Căm-pu-chia hưởng ứng bản Tuyên bố ngày 22/4/1966 của Quốc hội Việt Nam [15, tr.10]

Ví dụ: Tuyên bố ngày 03/7/1968 của Chủ tịch Quốc hội Căm-pu-chia về ủng

hộ hoàn toàn nhân dân thân thiết nước VNDCCH cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược vì độc lập của Việt Nam có đoạn:

“Quốc hội Căm-pu-chia long trọng tuyên bố ủng hộ cương quyết cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống sự xâm lược đầy tội ác và những hành động chiến tranh cực kỳ man rợ của bọn đế quốc Mỹ và ủng hộ mạnh mẽ hơn lập trường

4 điểm của Chính phủ nước VNDCCH và Cương lĩnh chính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm bảo vệ chính đáng nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

Mặt khác, Quốc hội Căm-pu-chia cương quyết phản đối mọi lý do mà Chính phủ Mỹ viện ra nhằm lừa bịp dư luận thế giới, hòng thực hiện mưu đồ xâm lược đen tối của chúng đối với nước VNDCCH;

Quốc hội Căm-pu-chia cùng kêu gọi nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới hãy cương quyết hành động để buộc bọn đế quốc Mỹ phải chấm

Trang 23

dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút không điều kiện quân đội Mỹ và quân đội chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, phải chấm dứt vĩnh viễn các cuộc ném bom và hành động chiến tranh khác trên toàn bộ lãnh thổ nước VNDCCH Mọi công việc của miền Nam Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết theo Cương lĩnh chính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng, không có sự can thiệp của nước ngoài Vấn đề thống nhất nước Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam hai miền giải quyết bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở dân chủ, không có sự can thiệp của nước ngoài” [18, tr.04]

Để đáp lại những tình cảm tốt đẹp trên, Quốc hội nước VNDCCH mà đại diện là đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã gửi rất nhiều thư cảm ơn đến Chính phủ và Quốc hội các nước như Thư ngày 15/8/1968 gửi đồng chí Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Căm-pu-chia cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình của đồng chí và Quốc hội, cảm ơn Quốc hội Vương quốc Căm-pu-chia đã lên tiếng kêu gọi nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam [18, tr.08-09]

Ví dụ: Trong thư ngày 27/8/1965 gửi đồng chí Chủ tịch đoàn Quốc hội nước

CHND An-ba-ni có viết “Chúng tôi rất cảm kích nhận được thư của đồng chí Chủ

tịch và Tuyên bố ngày 03/5/1965 của Chủ tịch đoàn Quốc hội… đã tỏ rõ sự ủng hộ kiên quyết đối với Lời kêu gọi ngày 10/4/1965 của Quốc hội nước VNDCCH gửi Quốc hội các nước trên thế giới Việc Chủ tịch đoàn Quốc hội nước CHND An-ba-

ni lên án đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam và có những hành động ăn cướp đối với nước VNDCCH là một sự cổ vũ lớn đối với nước VNDCCH, đồng thời cũng là một cảnh báo nghiêm khắc đối với bọn xâm lược Mỹ

Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến đồng chí và toàn thể nhân dân ba-ni… Trong giờ phút nghiêm trọng mà đất nước chúng tôi đang trải qua, sự đồng tình và ủng hộ của Quốc hội, Chính phủ và nhân dân An-ba-ni là một sự tiếp sức mạnh mẽ đối với nước chúng tôi đang tăng cường đoàn kết chống Mỹ cứu nước, kiên quyết bảo vệ miền Bắc XHCN giải phóng miền Nam tiến tới thực hiện thống nhất đất nước thân yêu của mình” [10, tr.20-21]

An-+ Tài liệu về các chuyến thăm hữu nghị

Trang 24

Để mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới nhằm tập hợp lực lượng tiến bộ ủng hộ cuộc kháng chiến của ta, giai đoạn này chúng ta đã

tổ chức nhiều đoàn công tác đến các nước bạn Qua đây, các nước đã hiểu rõ hơn về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến, từ đó có những hành động thúc đẩy quan hệ

và ủng hộ cho nhân dân Việt Nam cả về tinh thần và vật chất Tài liệu cung cấp những thông tin về vấn đề này được phản ánh trong báo cáo tổng kết về chuyến thăm của một số đoàn đại biểu Quốc hội đi thăm các nước từ năm 1955 - 1975 nằm trong phông Quốc hội Ví dụ như: Báo cáo của đoàn Đại biểu Quốc hội Việt Nam sau khi đi thăm hữu nghị các nước Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, CHDC Đức và An-ba-ni, năm 1971 [22, tr.13-24]; Báo cáo tổng kết và tin tức về diễn biến chuyến thăm của đoàn Đại biểu Quốc hội Việt Nam đi thăm các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Ru-ma-ni,

Liên Xô từ ngày 18/8 đến cuối tháng 9/1971 [22, tr.04-05] Qua các chuyến thăm

này, ngoài việc duy trì, mở rộng quan hệ ngoại giao, ta đã đạt được kết quả đáng mừng trong việc tập hợp lực lượng, tranh thủ được sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam cho cuộc kháng chiến

Ví dụ: Năm 1970, đoàn Đại biểu Quốc hội ta sau khi đi thăm hữu nghị các nước Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, CHDC Đức và An-ba-ni đã đạt được kết quả rất tốt Trong

báo cáo có nêu: “cuộc đi thăm hữu nghị lần này đã thu được kết quả tốt đẹp, đạt yêu cầu

đề ra và đã góp phần vào thắng lợi lớn của nhân dân ta trong việc tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè trên thế giới

Tại những nơi Đoàn đã đến thăm, Đoàn đều được đón tiếp rất nhiệt tình trọng thể

và thân mật, luôn luôn được coi như những người đồng chí, những người bạn chiến đấu từ tiền tuyến về

Các nước anh em mà Đoàn đã đến thăm đều tỏ sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta và khẳng định nhân dân ta nhất định thắng” [22, tr.23]

c) Nhóm tài liệu về phong trào ủng hộ của Chính phủ và nhân dân các nước Các phông lưu trữ hầu như không có hồ sơ nào đề cập trực tiếp đến nội dung này Để nghiên cứu vấn đề, chúng ta cần tìm hiểu từ một số tài liệu nằm rải rác trong các hồ sơ thuộc phông Quốc hội, phông Bộ Văn hóa, phông UBTNCP Trong

Trang 25

nhiều trường hợp, tiêu đề hồ sơ không thể hiện thông tin liên quan đến vấn đề Bên cạnh đó, tài liệu phản ánh các phong trào phản đối chiến tranh của Chính phủ và nhân dân các nước phần lớn là tài liệu trích dẫn, ghi chép lại thông tin, không phải

là văn bản như: Công văn, Báo cáo, Tờ trình do các cơ quan, tổ chức, cá nhân cụ thể ban hành Ví dụ: Thư ngày 20/3/1965 của toàn thể những người dự mít tinh thị xã Khai Thành nước CHDCND Triều Tiên về ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ [10, tr.169-172]; Thư của toàn thể Đội viên đội công tác tuyên truyền văn hóa đỏ Ulamuxi - Khu tự trị Nội Mông - Trung Quốc gửi đoàn văn công Quảng Bình bày tỏ sự ủng hộ Việt Nam chống Mỹ năm 1965 [86, tr.01-06]; Biên bản về cuộc tiếp xúc giữa phái đoàn đại diện cho Chính phủ VNDCCH và Đoàn AFSC Mỹ2 vào ngày 01/8/1974 tại Hà Nội

[50, tr.97 - 106] Trong toàn bộ khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975), tuy số lượng tài liệu đề cập đến vấn đề này rất ít nhưng qua đây chúng ta biết được rằng Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới luôn bày tỏ sự ủng hộ nhiệt tình, sâu sắc đối với nhân dân Việt Nam

Ví dụ: Vào ngày 20/3/1965, nhân dân thành phố Khai Thành nước CHDCND Triều Tiên đã tổ chức mít tinh nhằm ủng hộ, giúp đỡ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống xâm lược của đế quốc Mỹ Trong thư gửi đến Việt Nam,

nhân dân nước bạn cho biết “chúng tôi họp nhau ở đây với một lòng căm phẫn cao

độ đối với việc bọn đế quốc Mỹ đáng nguyền rủa đang liên tiếp cho máy bay xâm phạm vùng trời nước VNDCCH, ném bom bắn phá vào những vùng dân cư yên ổn chúng tôi kịch liệt nguyền rủa và lên án những hành động khiêu khích đầy tội ác của bọn đế quốc Mỹ” [10, tr.169] Những người tham gia mít tinh khẳng định cuộc

đấu tranh chống đế quốc Mỹ của ta “là cuộc đấu tranh chính nghĩa được sự đồng

tình ủng hộ của nhân dân lương thiện toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là kẻ cướp xâm lược, là một tên biến binh quốc tế hung ác nhất” [10, tr.171],“Đế quốc Mỹ ngu xuẩn hành động như thế tưởng rằng có thể đe dọa các đồng chí và đè bẹp được ý chí của nhân dân Việt Nam Nhưng chúng đã nhầm không nghi ngờ gì nữa, chúng sẽ bị đánh bại và sẽ không tránh khỏi những thất bại thảm hại, nhục nhã

2 Ủy ban phục vụ của những người bạn Mỹ

Trang 26

hơn nữa”[10, tr.170] Để thể hiện tình cảm của mình đối với nhân dân Việt Nam,

bạn nói “lòng chúng tôi tràn đầy quyết tâm làm tất cả để giúp đỡ các đồng chí”

[10, tr.171-172]

Ngoài ra, sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân các nước còn được thể hiện bằng những hành động cụ thể, thiết thực và kịp thời nhất Đáng chú ý, sự ủng hộ đó còn đến từ chính những thành viên là đại biểu trong Quốc hội Mỹ và các

tổ chức nhân đạo của Mỹ

Ví dụ: Trong tài liệu phản ánh việc nhân dân Mỹ đòi hòa bình cho Việt Nam

(dịch ra tiếng Việt) có ghi “Chúng tôi là những người Mỹ không giống với những

người Mỹ đang làm việc cho Chính phủ Mỹ tại Việt Nam Hiệp định hòa bình Paris

ký kết đã được 2 năm, nhưng hàng trăm ngàn người Việt Nam bị giết chết Một số lớn hơn nữa bị thương tật vì bom đạn Mỹ tại Việt Nam Chính phủ Hoa kỳ tiếp tục

vi phạm Hiệp định Paris, viện trợ vũ khí và tiền bạc cho chính quyền Saigon để chính quyền này đàn áp nhân dân Việt Nam Khuynh hướng hiện tại của đa số nhân dân và Quốc hội Mỹ là muốn Chính phủ Mỹ phải chấm dứt dính líu quân sự và chấm dứt can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam Chúng tôi đòi hỏi: Chính phủ Mỹ phải tôn trọng Hiệp định Paris, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết thiêng liêng của người Việt Nam; Chấm dứt mọi viện trợ về quân sự và kinh tế cho chính quyền hiếu chiến tại Saigon; Thả tất cả tù chính trị

ĐIỀU 4 HIỆP ĐỊNH PARIS: HOA KỲ CHẤM DỨT MỌI DÍNH LÍU QUÂN

SỰ VÀ CHẤM DỨT CAN THIỆP VÀO NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM” [50, tr.89]

d) Nhóm tài liệu ủng hộ về văn hóa tinh thần

Hồ sơ, tài liệu về hoạt động này chủ yếu nằm trong phông Bộ Văn hóa Thành phần tài liệu bao gồm các Hiệp định, Công văn, Kế hoạch, Báo cáo về công tác trao đổi văn hóa với nước ngoài Nội dung tài liệu phản ánh việc các đoàn ca nhạc, đoàn văn nghệ các nước sang thăm và biểu diễn văn nghệ quần chúng; hoạt động liên hoan phim do các nước tài trợ nhân dịp lễ lớn của đất nước hay khi có các đoàn đại biểu sang thăm hữu nghị nước ta; tình hình chiếu phim tuyên truyền về đất nước, con người Việt Nam để cổ động cho phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ của các nước và giúp ta chiếu phim này trên chính đất nước họ Tuy

Trang 27

không phản ánh một cách trực tiếp, rõ ràng sự ủng hộ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhưng đây chính là những hành động giúp duy trì, củng cố mối quan hệ giữa ta và các nước Đồng thời, giúp truyền bá những tư tưởng chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Việt Nam

Ví dụ: Hồ sơ 1315: Báo cáo của Ty văn hóa Hà Nam tổng kết liên hoan phim Liên Xô tại Hà Nam năm 1956

Hồ sơ 1493: Hồ sơ về đoàn quay phim vô tuyên truyền hình Đảng cộng sản Nhật Bản sang quay phim tuyên truyền về Việt Nam năm 1962

Hồ sơ 1560: Hồ sơ về việc chuyên gia CHDC nhân dân Triều Tiên sang giúp Việt Nam xây dựng vở kịch “Núi rừng hãy lên tiếng” năm 1964

Hồ sơ 1622: Tập tài liệu về việc vô tuyến truyền hình CHDC Đức mời sinh viên Việt Nam đang học ở Đức tham gia đóng phim về ủng hộ nhân dân đấu tranh chống đế quốc Mỹ năm 1966

dung rất phong phú, đa dạng

a) Nhóm tài liệu về việc thiết lập cơ sở pháp lý với các nước

Đây là nhóm tài liệu quan trọng, là nền tảng, cơ sở để Chính phủ, nhân dân các nước trên thế giới và Việt Nam thực hiện các hoạt động trao đổi hàng hóa, viện trợ và vay nợ một cách thuận lợi, có căn cứ Đồng thời, đây cũng là căn cứ để các

Trang 28

cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai và theo dõi kết quả ủng hộ của các nước một cách khoa học, tạo thuận lợi cho công tác tiếp nhận của ta

Thực chất đây là hồ sơ, tài liệu về đàm phán, ký kết Hiệp định, Nghị định thư

và một số văn bản như: Bản Thỏa thuận, Bản ghi nhớ, Quy ước, Hợp đồng… về việc trao đổi hàng hóa, mậu dịch, viện trợ và vay nợ giữa Chính phủ nước VNDCCH và các nước trên thế giới Các hồ sơ, tài liệu này hầu hết tập trung trong phông: Phủ Thủ tướng, UBKHNN và Bộ Tài chính Trong đó, phông UBKHNN là phông chứa nhiều tài liệu nhất Bên cạnh các hồ sơ hoàn chỉnh phản ánh quá trình đàm phán, ký kết các văn kiện pháp lý trong 3 phông đã nêu, trong hồ sơ về các kỳ họp của Quốc hội (05 hồ sơ) thuộc phông Quốc hội cũng chứa một số tài liệu là những Báo cáo về tình hình đi thăm các nước của các đoàn biểu Quốc hội và kết quả ký kết đàm phán về viện trợ kinh tế

Ví dụ: Hồ sơ 17580, phông UBKHNN: Hồ sơ về đàm phán, ký kết Hiệp định

về việc Chính phủ Triều Tiên viện trợ kinh tế, kỹ thuật về tiêu nước cho Việt Nam năm 1964

Hồ sơ 17745, phông UBKHNN: Hồ sơ về đàm phán, hợp tác và giúp đỡ về kinh tế với Liên Xô trong năm 1968

Hồ sơ 17767, phông UBKHNN: Hồ sơ về việc đàm phán viện trợ kỹ thuật và kinh tế cho năm 1969 với các nước XHCN của Phủ Thủ tướng, Văn phòng Tài chính thương nghiệp, UBKHNN

Thành phần tài liệu bao gồm: Hiệp định, Nghị định thư, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư, Công văn trao đổi, Biên bản, Tờ trình và một số tư liệu phản ánh toàn bộ quá trình đàm phán, ký kết các văn kiện này, Báo cáo kết quả công tác đàm phán ký kết…

Ví dụ 1: Báo cáo kết quả đàm phán giữa đoàn đại biểu Bộ Giao thông vận tải Việt Nam và đoàn đại biểu Bộ Đường sắt và Bộ Ngoại thương Trung Quốc về xây dựng đường sắt và cung cấp thiết bị vật tư cho giao thông vận tải ngày 22/4 đến

Trang 29

06/5/1965 [56, tr.03-45] thì trong năm 1965 Trung Quốc sẽ viện trợ cho Việt Nam cải tạo xây dựng đường sắt và cung cấp thiết bị vật tư cho giao thông vận tải

Về xây dựng và cải tạo đường sắt: Trung Quốc giúp ta cải tạo các tuyến

đường sắt đoạn Hữu Nghị Quan - Kép3 từ đường khổ kép 1m sang đường khổ rộng 1,435m với độ dài 100km hình thành trước năm 1965, sau khi hoàn thành đoạn

đường Hữu Nghị Quan - Kép thì xây dựng đường sắt Kép - Thái Nguyên dài 60km

dự kiến hoàn thành vào tháng 6 năm 1966; đoạn Đồng Mỏ - Bản Thí4 dài 24km với

độ dốc hạn chế 9-17% có gần 2km đường hầm thích hợp với thời chiến Sau khi hoàn thành các tuyến đường trên, Trung Quốc sẽ tiếp tục viện trợ giúp ta cải tạo nốt đoạn đường sắt nối liền Kép - Đồng Mỏ và Bản Thí - Hữu Nghị Quan Ngoài ra, Trung Quốc còn đảm nhận thêm việc cứu chữa những hỏng hóc trên tuyến đường sắt Hà Nội - Hữu Nghị Quan và Hà Nội - Hà Khẩu Cách thức viện trợ là cử đội công trình mang theo thiết bị và vũ khí để thi công

Về cung cấp thiết bị: Trung Quốc đã ký với ta Biên bản hội đàm về việc viện trợ đồng bộ cho Việt Nam những vật tư, thiết bị giao thông vận tải thủy bộ và đường sắt trong năm 1965 - 1966 bao gồm: ray và phụ tùng, các vật liệu về thép, thiết bị cơ giới cho các đội thi công, dụng cụ thi công, tàu chở hàng, thiết bị vật tư cho thông tin thời chiến, phụ tùng ô tô, máy kéo vải bạt, nhà bạt, thuốc men…

Ví dụ 2: Hiệp định ngày 20/12/1973 về việc Chánh phủ Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết viện trợ kinh tế không hoàn lại cho Chánh phủ cách mạng lâm thời

Cộng hòa miền Nam Việt Nam năm 1974 thì “xuất phát từ tình hữu nghị và hợp tác

anh em, và nhằm mục đích viện trợ kinh tế cho Cộng hòa miền Nam Việt Nam… Chánh phủ Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết viện trợ kinh tế không hoàn lại cho Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam một số tiền đến 25 triệu rúp (mỗi rúp có hàm kim lượng bằng 0, 987412 gờ-ram vàng nguyên chất) bằng cách cung cấp hàng hóa từ Liên Xô trong năm 1974” [65, tr 33]

3Là tuyến đường sắt bắt nguồn từ cửa khẩu Hữu Nghị Quan trên biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, nằm tại xã Bảo Lâm thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn kéo dài đến thị trấn Kép thuộc huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang

4Kéo dài từ thị trấn Đồng Mỏ đến Ga Bản Thí - xã Vân Thủy, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Trang 30

Ngoài ra, trong khối tài liệu về vấn đề này còn có các Sổ thống kê Hiệp định vay, viện trợ các nước nhằm thống kê, theo dõi tình hình ký và thực hiện các Hiệp định, Nghị định thư này

Do đặc điểm về hoàn cảnh lịch sử, thời kỳ này có rất nhiều văn bản đóng dấu chỉ các mức độ mật, đặc biệt là đối với các văn bản quan trọng như Hiệp định và Nghị định thư nên việc tiếp xúc, khai thác nội dung thông tin trong các loại văn bản này là rất hạn chế, thậm chí là tiếp xúc bề ngoài của tài liệu Do vậy, chúng tôi không có điều kiện thống kê một cách đầy đủ số lượng và nội dung của các văn bản

Để tìm hiểu thông tin, độc giả chỉ có thể khai thác, tổng hợp thông tin từ tiêu

đề hồ sơ và một số Sổ thống kê Hiệp định vay, viện trợ các nước nằm trong phông UBTNCP và phông Bộ Tài chính Tuy nhiên, việc thống kê chỉ mang tính tương đối

vì trong nhiều trường hợp, tiêu đề hồ sơ không phản ánh đúng, đủ số lượng và nội dung các Hiệp định, Nghị định thư Tương tự như vậy, các quyển sổ ghi chép, thống

kê chỉ trong một giai đoạn, đối với từng khu vực ủng hộ nhất định

Ví dụ: Sổ thống kê Hiệp định vay và viện trợ của các nước XHCN từ 1955 –

1971 [69] Theo quan sát của chúng tôi, quyển sổ được viết khá chi tiết Tuy nhiên, trong sổ chỉ thống kê các Hiệp định, Nghị định thư về vay, viện trợ của các nước XHCN đối với Việt Nam trong thời gian từ 1955 - 1971, trong đó, nội dung thông tin không được ghi một cách rõ ràng gây khó khăn trong việc tổng hợp chính xác số lượng, nội dung các Hiệp định, Nghị định thư trong giai đoạn này

Qua sự tổng hợp thông tin từ tiêu đề hồ sơ, tài liệu và từ các cuốn sổ, chúng tôi thấy rằng giai đoạn này Việt Nam đã ký khoảng gần 200 Hiệp định, Nghị định thư, Bản Thỏa thuận về việc trao đổi hàng hóa, viện trợ và vay nợ với các nước trên thế giới

b) Nhóm tài liệu về chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý hoạt động

Sau khi các văn kiện pháp lý được ký kết, các cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý của Nhà nước ta tiến hành xây dựng các văn bản để tổ chức và hướng dẫn thực hiện các văn kiện này Trong khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1955 - 1975,

có một số hồ sơ trực tiếp đề cập đến nội dung này chủ yếu tập trung trong các phông: Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBTNCP, Bộ Tài chính

Trang 31

Ví dụ: Hồ sơ 8047, phông Phủ Thủ tướng: Hồ sơ hướng dẫn và xét duyệt việc nhận hàng viện trợ cho các cơ quan: Ban Thống nhất quản lý viện trợ, Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam, Ngân hàng nhà nước, Tổng cục Hậu cần năm 1965

Hồ sơ 2678, phông UBTNCP: tài liệu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hướng dẫn về việc tranh thủ vật chất các nước ủng hộ cho miền Nam năm 1963 - 1964

Hồ sơ 2693, phông UBTNCP: Thông tư, Quyết định, Công văn của Phủ Thủ tướng, Bộ Tài chính, Ban thống nhất Quản lý viện trợ về việc thống nhất quản lý hàng viện trợ năm 1965

Thành phần tài liệu bao gồm: Kế hoạch, Đề án thực hiện các văn bản hợp tác; Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư, Công văn hướng dẫn việc tiếp nhận, phân phối và sử dụng hàng viện trợ, vay nợ các nước như Chỉ thị ngày 11/2/1966 của Thủ tướng về việc thống nhất quản lý hàng viện trợ nhân dân tặng miền Nam Việt Nam [41, tr.01-04]; Công văn số 1041/TN ngày 30/5/1967 của Phủ Thủ tướng gửi Bộ Y tế về việc sử dụng thuốc viện trợ nhân dân năm 1967 [27, tr.01]; Kế hoạch kiểm tra hàng viện trợ nhân dân năm 1969 [27, tr.02-06]; Thông tư về việc tiếp nhận phân phối thanh toán hàng viện trợ nhân dân năm 1969 [28, tr.04-08]… Bên cạnh đó, còn có một số văn bản nằm rải rác trong các hồ sơ thuộc phông Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBTNCP và phông Bộ Tài chính Ngoài ra, trong phông các Bộ như: Bộ Ngoại thương, Bộ Y tế, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Giáo dục cũng có một số văn bản quy định, hướng dẫn việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng hàng viện trợ thuộc đơn vị mình quản lý Tuy nhiên, số lượng văn bản trong các phông này là rất ít

Ví dụ: Công văn số 1041/TN ngày 30/5/1967 của Phủ Thủ tướng gửi Bộ Y tế

về việc sử dụng thuốc viện trợ nhân dân năm 1967, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn như sau:

“Những loại thuốc đối với ta còn mới chưa quen dùng còn phải thí nghiệm

và khối lượng quá ít thì có thể cấp phát không tính tiền cho các bệnh viện dùng thử Nếu số lượng của loại thuốc này nhiều và sau khi cho dùng thử ở 2 hay là 3 bệnh viện không tính tiền mà thấy tốt thì Bộ Y tế sẽ định giá và chính thức cho vào danh mục hàng hóa chính thức lưu thông

Trang 32

Những loại thuốc không còn giá trị sử dụng như hết hạn, mất phẩm chất tuyệt đối không được đưa ra lưu thông, phân phối, sử dụng và phải có hội đồng lập biên bản tiêu hủy

Thuốc viện trợ nhân dân trên thực tế rất nhiều thứ linh tinh, phức tạp, Bộ Y

tế cần quan tâm đúng mức việc kiểm kê, bảo quản, định giá, phân phối chặt chẽ không để hư hỏng, mất mát, lợi dụng” [27, tr.01]

c) Nhóm tài liệu về kết quả ủng hộ

Đây là nhóm tài liệu có số lượng lớn nhất trong toàn bộ khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong giai đoạn này

Hồ sơ, tài liệu phản ánh kết quả ủng hộ về vật chất các nước dành cho Việt Nam giai đoạn này thuộc các phông Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBTNCP, Bộ Tài chính

và một số hồ sơ, tài liệu thuộc các phông lưu trữ các Bộ: Văn hóa, Y tế, Giáo dục, Giao thông - Vận tải, Nội thương, Ngoại thương, Vật tư, Công nghiệp, Nông lâm, Lương thực và Thực phẩm, Kế hoạch - Đầu tư, Cứu tế xã hội và các phông Tổng cục Thống kê, Cục Dệt và Vật dụng

Thành phần tài liệu trong nhóm chủ yếu là Công văn, Tờ trình, Báo cáo, các Bảng thống kê, Sổ sách do các cơ quan, tổ chức Việt Nam ban hành để báo cáo và theo dõi tình hình tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn viện trợ từ các nước Trong đó, Báo cáo là tài liệu phản ánh một cách đầy đủ, rõ ràng và chi tiết nhất về kết quả viện trợ Hầu hết Báo cáo đều phản ánh những nội dung cơ bản như: Hoàn cảnh thực hiện; kết quả viện trợ (một số Báo cáo có sự so sánh với kế hoạch và so sánh với năm trước); tình hình phân phối, sử dụng; những khó khăn, thuận lợi và kế hoạch, phương hướng huy động nguồn viện trợ trong thời gian tiếp theo

Nội dung chính của khối tài liệu:

Về các hình thức ủng hộ bao gồm: cho vay và viện trợ không hoàn lại bằng việc gửi tiền mặt, hàng hóa, trang thiết bị toàn bộ hoặc một phần; thiết kế, giúp đỡ

về kinh phí hoặc trực tiếp xây dựng, sửa chữa các công trình;

Các lĩnh vực được viện trợ vật chất bao gồm: thương mại, lương thực thực phẩm, đồ gia dụng, y tế, giáo dục, giao thông vận tải, bưu điện, văn hóa… được thực hiện bằng các cách thức sau: chuyển tiền mặt vào tài khoản của Ngân hàng nhà

Trang 33

nước Việt Nam, hàng hóa được chuyển về qua những chuyến tàu cập cảng, máy bay chuyên dụng, tàu hỏa hoặc qua các đợt cán bộ đi công tác nước ngoài mang về hay người nước ngoài sang Việt Nam dự hội nghị…

Ví dụ 1: Báo cáo số 28/P1 ngày 06/02/1967 của Văn phòng Văn Giáo về tình hình viện trợ của các nước cho ngành Y tế, Giáo dục Việt Nam từ năm 1965 - 1966 thì: Trong năm 1965 - 1966 ngành Y tế đã tiếp nhận số lượng lớn hàng viện trợ của Chính phủ các nước XHCN, các đoàn thể, nhân dân các nước XHCN và một số nước tư bản bao gồm thuốc men, máy móc, y cụ và bông băng… Tổng giá trị hàng viện trợ của Chính phủ năm 1965 là 14.600.000đ, năm 1966 là 27.100.000đ; của nhân dân năm 1965 là 5.120.000đ, năm 1966 là 2.500.000đ tổng cộng số hàng Chính phủ và nhân dân các nước viện trợ cho ta trong hai năm là 49.320.000 Trong

đó, máy móc và y cụ là 14.500.000đ còn lại là thuốc men và bông băng phục vụ cho công tác y tế trong thời chiến [63, tr.01-08]

Ví dụ 2: Báo cáo ngày 10/4/1972 của UBTNCP về tình hình tiếp nhận viện trợ vật chất cho miền Nam trong hai năm 1970 – 1971 [42, tr.01-15] có nội dung như sau:

I Kết quả tiếp nhận viện trợ

Trong hai năm số hiện vật của Chính phủ và nhân dân thế giới ủng hộ miền Nam đã tiếp nhận được là 2.073 tấn Trong đó: phần viện trợ nhân dân là 1.741 tấn; phần viện trợ có kế hoạch của Trung Quốc (viện trợ cho dân và Đảng miền Nam) là

Báo cáo lý giải nguyên nhân “số tăng là do các đợt ủng hộ giúp vùng bị lũ

lụt ở miền Trung, Trung Bộ trong 2 năm liền gần 1135 tấn Riêng Trung Quốc là

933 tấn (chưa kể 5 triệu nhân dân tệ tiền mặt), Liên Xô 42 tấn, Bun-ga-ri 64 tấn,

Trang 34

CHDC Đức 23 tấn, Triều Tiên 14 tấn Trong năm 1970 - 1971 do ta chủ động đề xuất xin Trung Quốc viện trợ riêng cho các ngành Dân Đảng miền Nam được trên

300 tấn hàng gồm những phương tiện, thuốc men, hàng hóa thích hợp, đáp ứng được các nhu cầu quan trọng trước mắt cho chiến trường, đặc biệt là hàng thông tin vô tuyến và hữu tuyến, phương tiện in ấn, nhiếp ảnh và hàng trang bị cho cán bộ

đi công tác B Trong kế hoạch năm 1972, Bạn 5 cũng nhận viện trợ cho miền Nam gần 900 tấn hàng các loại như trên”

2 Tổ chức ở các nước tư bản chủ nghĩa và tổ chức quốc tế khác

Phong trào ủng hộ của nhân dân các nước tư bản chủ nghĩa và tổ chức quốc

tế cho miền Nam Việt Nam trong năm 1970 - 1971 vẫn được duy trì Khối lượng hàng hóa có tăng hơn so với các năm trước, chất lượng hàng hóa nói chung đáp ứng theo yêu cầu gợi ý của ta

So với các năm trước khối lượng hiện vật trong năm 1970 - 1971 có tăng như sau:

Bên những tài liệu nêu trên, trong nhóm tài liệu có một khối lượng lớn Chứng từ, Hóa đơn giao hàng… nhằm theo dõi, kiểm chứng quá trình vận chuyển, giao nhận các mặt hàng viện trợ do các nước bạn gửi cho ta Các tài liệu này tập trung toàn bộ trong phông UBTNCP

Từ sự trình bày trên đây, chúng tôi thấy có sự khác biệt tương đối rõ ràng về thành phần tài liệu trong các phông như sau:

5tức Trung Quốc

Trang 35

+ Các văn bản, tài liệu mang tính chất ngoại giao phản ánh các hoạt động thiết lập cơ sở pháp lý và văn bản mang tính chất chỉ đạo, hướng dẫn việc quản lý hoạt động viện trợ như Hiệp định, Nghị định thư, Bản thỏa thuận, Hợp đồng, Kế hoạch, Đề án, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư… không nhiều và nằm trong một số phông nhất định Trong đó, tập trung chủ yếu trong phông UBKHNN, Phủ Thủ tướng, Bộ Tài chính

+ Các văn bản về việc thực hiện và báo cáo các hoạt động tiếp nhận, quản lý

và sử dụng nguồn viện trợ từ các nước có số lượng hồ sơ, tài liệu rất lớn nằm trong rất nhiều phông nhưng hầu hết tập trung ở phông UBTNCP (và có một số loại hình tài liệu mà chỉ phông này mới có), sau đó là phông UBKHNN, Bộ Tài chính và Phủ Thủ tướng Ngoài ra, còn có trong một số phông đã được liệt kê ở trên

1.2.3 Đặc điểm của tài liệu

1.2.3.1 Hình thức tài liệu

a) Về vật mang tin

Khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) tại TTLTQG III bao gồm nhiều loại giấy có chất liệu, trọng lượng khác nhau như: giấy in, giấy pôluya, giấy dó, giấy da với độ dày, mỏng và màu sắc giấy khác nhau: màu trắng, trắng đục, xanh nhạt, hồng Đa phần, tài liệu được đánh máy, in trên giấy có độ trắng trung bình có trường hợp sử dụng giấy dó hoặc giấy có độ trắng kém, thậm chí rất đen Bên cạnh đó, có rất nhiều tài liệu là bản viết tay trên các cuốn sổ, tờ bìa

Trang 36

Ví dụ: Trong một số hồ sơ, tài liệu đã bị mờ hết chữ không còn đọc được bất

kỳ một thông tin nào như một số văn bản, tài liệu thuộc phông UBTNCP: hồ sơ 3073

tờ 39 - 42, hồ sơ 3183, hồ sơ 3205 tờ 139 - 140, 166

e) Về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản

- Trong giai đoạn này, do các cơ quan có thẩm quyền của nước ta chưa ban hành văn bản quy định, hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày các yếu tố trong văn bản nên giữa các cơ quan, tổ chức và trong cùng một cơ quan, tổ chức chưa có

sự thống nhất

Ví dụ 1:Về thành phần Quốc hiệu

Công văn số 1188/TC/TDT/P4 ngày 25/4/1960 của Bộ Tài chính về việc thống nhất số liệu sử dụng viện trợ, vay nợ [68, tr.22], thành phần quốc hiệu được trình bày như sau:

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA độc lập tự do hạnh phúc Báo cáo số 1810 ngày 17/5/1960 của Bộ Ngoại thương về báo cáo tổng hợp hàng về 6 năm từ 1955 - 1960 [68, tr.04], thành phần Quốc hiệu được trình bày như sau:

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Độc- lập Tự - do Hạnh- phúc

Ví dụ 2: Về cách trình bày tên loại văn bản Cùng là thể loại báo cáo nhưng trong mỗi văn bản của các cơ quan lại có cách trình bày khác nhau:

Trang 37

Báo cáo của Đoàn đàm phán trao đổi Nội thương và Hợp tác xã với Liên Xô

- Bộ Nội thương ngày 13/5/1971 [31, tr.04] trình bày như sau:

Kính gửi: Bộ Nội thương Báo cáo Tổng kết đàm phán trao đổi hàng hóa giữa Bộ nội thương nước VNDCCH với Bộ Thương nghiệp Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết Báo cáo số 49/QLVT ngày 03/5/1975 của UBTNCP [49, tr.01] trình bày như sau:

BÁO CÁO SƠ KẾT Tình hình tiếp nhận viện trợ khẩn cấp tại các sân bay Gia Lâm và Nội Bài từ 07/4/1975 đến chiều 26/4/1975

- Có rất nhiều văn bản không có đầy đủ các yếu tố về thể thức văn bản Do đặc thù về điều kiện hình thành khối tài liệu nên các hồ sơ thường có rất ít bản chính văn bản, nhiều văn bản không đảm bảo về mặt thể thức Trong đó hầu hết là các bản dự thảo, bản viết tay không có thông tin về cơ quan ban hành văn bản, ngày, tháng, năm ban hành văn bản; số, ký hiệu văn bản; chữ ký của người có thẩm quyền và dấu cơ quan… Thậm chí có nhiều hồ sơ trong đó toàn bộ các văn bản bên trong đều thiếu các yếu tố về thể thức nêu trên

Ví dụ: Hồ sơ 9853, phông Bộ Tài Chính: Báo cáo tình hình vay và viện trợ khu vực các nước XHCN từ 1955 - 1975 toàn bộ hồ sơ là các bảng thống kê, không

có các yếu tố về cơ quan ban hành văn bản, thời gian, con dấu và chữ ký của người

có thẩm quyền

- Đối với Công văn, thường ghi chữ "Trích yếu" ở đầu phần trích yếu nội dung của văn bản

Ví dụ: Công văn số 4359/BYO/CB ngày 30/6/1955 của Vụ Fòng Bệnh

Chữa Bệnh - Bộ Y tế ghi trích yếu là: “Trích yếu: Dụng cụ hiện đại hóa bệnh

Trang 38

thường phải đọc rất kỹ nội dung văn bản, trong một số trường hợp cần phải đoán hoặc so sánh các từ ngữ trong văn bản đó với những văn bản khác để hiểu ý nghĩa Riêng đối với các từ chỉ địa danh của nước ngoài hoặc tên riêng của nhân vật nào đó nhiều khi chúng tôi không thể biết một cách chính xác nếu không tìm hiểu bằng các nguồn thông tin khác

Ví dụ: Trong tờ 133 hồ sơ 1581 phông Quốc hội, phần dịch bức thư gửi cho đồng chí Trường Chinh vào ngày 30/4/1965, tác giả văn bản được ghi là: “Chủ tịch

Uy ban Thương nhiêm Hôi nghi nhân dân tôi cao nươc CHDCND Triêu Tiên THOI DUNG KIEN” Để hiểu một cách chính xác về chức vụ và họ tên của tác giả bức thư, chúng tôi đã tìm hiểu một số văn bản có liên quan như bức thư ngày 27/5/1965 cũng của cùng tác giả nhưng cả hai tài liệu đều ghi tên, chức vụ tác giả như vậy Qua tìm hiểu các nguồn thông tin chúng tôi biết được chức danh của tác giả là “Chủ tịch Ủy ban Thường nhiệm” còn họ tên của tác giả thì chưa thể biết chính xác

- Một số văn bản dịch ra tiếng Việt không thống nhất

Ví dụ: Trong hai bức thư gửi cho đồng chí Trường Chinh vào ngày 30/4/1965

và ngày 27/5/1965 có cùng một tác giả nhưng tên cơ quan lại không thống nhất Trong bức thư ngày 30/4 tác giả là “Chủ tịch Uy ban Thương nhiêm Hôi nghi nhân dân tôi cao nươc CHDCND Triêu Tiên THOI DUNG KIEN” [10, tr.132-133], bức thư ngày 27/5 ghi là “Chủ tịch Uy ban Thương vu Hôi nghi nhân dân tôi cao nươc CHDCND Triêu Tiên THOI DUNG KIEN” [10, tr.151-152]

- Có rất nhiều văn bản mật Do đặc thù về hoàn cảnh lịch sử và nội dung tài liệu nên trong giai đoạn này có nhiều văn bản, tài liệu đóng dấu chỉ các mức độ mật Các văn bản thường là: Hiệp định, Nghị định thư, Báo cáo tổng kết Thậm chí, có một số lượng lớn hồ sơ trong danh mục tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam (1955 - 1975) tất cả các văn bản bên trong đều là văn bản mật, tối mật, tuyệt mật không thể tiếp cận

Ví dụ: Một số hồ sơ thuộc các phông lưu trữ có độ mật hoàn toàn, không thể tiếp cận như:

Hồ sơ 5425, phông Bộ Y tế: Báo cáo tổng kết hàng viện trợ, tình hình tiếp nhận và bảo quản hàng viện trợ năm 1954 - 1955 của Vụ Bào chế - Bộ Y tế

Trang 39

- Hồ sơ 5630 phông Bộ Y tế: Hiệp định và kế hoạch thi hành Hiệp định Hợp tác văn hóa giữa Việt Nam và các nước năm 1960

- Hồ sơ 9410, phông Bộ Tài chính: Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ CHDC Đức về việc Đức giao hàng và kỹ thuật viện trợ cho Việt Nam trong tháng 5/1956

Hồ sơ 1664, phông Bộ Văn hóa: Báo cáo của đoàn đại biểu trí thức Việt Nam đi dự ngày trí thức Pháp ủng hộ Việt Nam tại Paris, năm 1968

Hồ sơ 1735, phông Bộ Văn hóa: Công văn của Phủ Thủ tướng, Báo cáo của Hội Mỹ thuật về việc triển lãm tranh mỹ thuật chống Mỹ cứu nước trưng bày tại Trung Quốc từ ngày 04/1 - 16/5/1972

1.2.3.2 Về ngôn ngữ và văn phong

a) Về ngôn ngữ

Do đặc thù về nội dung tài liên quan đến các hoạt động ngoại giao và được sản sinh bởi các cơ quan tổ chức nhà nước cấp cao nên khối tài liệu có hai đặc điểm nổi bật như sau: thứ nhất, hầu hết tài liệu được đánh máy hoặc viết tay bằng ngôn ngữ tiếng Việt, có dấu; thứ hai là có rất nhiều tài liệu nguyên bản tiếng nước ngoài Đây là hai đặc điểm nổi bật của khối tài liệu mà không phải khối tài liệu nào cũng

có Khối tài liệu về sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân thế giới đối với Việt Nam

có rất nhiều tài liệu bằng các thứ tiếng khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Thái Lan, tiếng Căm-pu-chia… Trong các hồ sơ này, ngoài bản gốc thì hầu hết các văn bản, tài liệu đều được dịch ra tiếng Việt như Hiệp định, Nghị định thư, Thư, Điện thư, Bản Tuyên bố, Hợp đồng, Công văn trao đổi, các bài báo… Còn lại một số văn bản, tài liệu là nguyên bản tiếng nước ngoài, không được dịch, những văn bản này thường là các Hóa đơn, Phiếu giao hàng viện trợ của các nước bạn cho Việt Nam

b) Về văn phong

Văn phong trong văn bản, tài liệu rất đa dạng, phong phú Những tài liệu nguyên bản tiếng nước ngoài chúng tôi không phân tích Các tài liệu tiếng Việt có một số đặc điểm cơ bản sau:

Trang 40

+ Nhiều văn bản có văn phong hành chính và văn phong ngoại giao trang trọng như các loại Công văn, Thông báo, Báo cáo, các Bản ghi nhớ, Hiệp định, Nghị định thư, Thư cảm ơn…

+ Có một số lượng lớn sử dụng văn nói Các văn bản này thường là Công văn, Báo cáo của các đại sứ, các đoàn cán bộ đi công tác, học tập ở nước ngoài hoặc các đơn vị, tổ chức báo cáo tình hình tiếp nhận và phân phối hàng viện trợ của các nước bạn

Ví dụ: Trong Báo cáo kết quả đàm phán viện trợ năm 1965, 1966 do Phó

Thủ tướng Lê Thanh Nghị trước Bộ Chính trị năm 1965 có đoạn “Nếu tính cả phần

thiết bị toàn bộ do Trung Quốc giúp và cả số tiền nợ cũ về lương thực và phân bón lần này Trung Quốc cũng cho ta luôn, thì tổng số đã ký lên tới 310 triệu rúp… Những thiết bị và vật tư ấy tuy ít so với yêu cầu của ta đề ra nhưng so với tính chất yêu cầu cấp thiết của ta như vậy cũng không phải là thấp quá đáng… Điều quan trọng nhất là phải xác định thật rõ những căn cứ và kỹ thuật cho từng công trình Nên tính toán kỹ loại thiết bị nên cần có nhà máy để tự sản xuất, có những loại thiết

bị nào không nên sản xuất, vì không nhất thiết thiết bị nào ta cũng phải tự sản xuất cả; phải tính toán kỹ nguồn nguyên liệu, nguồn tiêu thụ, tránh tình trạng sản xuất rồi tiêu thụ không hết” [60, tr.395]

+ Còn tồn tại một số văn bản viết sai chính tả

Các từ ngữ sử dụng sai khá phổ biến trong các văn bản tài liệu chúng tôi đã khảo sát là: theo rõi, sảy ra, rỡ hàng, giây điện, năng xuất, giội bom, bổ xung, xử dụng, Sô Viết, chính sác…

Tiểu kết chương 1

TTLTQG III là một trong bốn lưu trữ lịch sử lớn nhất của cả nước Tại đây hiện đang lưu giữ một khối lượng lớn hồ sơ, tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, gia đình, dòng họ tiêu biểu của nước VNDCCH và nước CHXHCN Việt Nam trên địa bàn Quảng Bình trở ra Thời gian tài liệu từ năm 1945 đến nay, trong đó có khối tài liệu về sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975) hiện đang được bảo quản trong gần 20 phông lưu trữ khác nhau Với nội dung, thành phần phong phú, khối tài liệu đã phản ánh một cách chi tiết, toàn diện sự ủng hộ của Chính

Ngày đăng: 06/10/2016, 00:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

46.   2677  Bảng  kê  hàng  hóa,  thuốc,  tiền,  dụng  cụ  y  tế  của  các  nước  viện  trợ - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
46. 2677 Bảng kê hàng hóa, thuốc, tiền, dụng cụ y tế của các nước viện trợ (Trang 117)
59.   2739  Bảng kê theo dõi hàng viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
59. 2739 Bảng kê theo dõi hàng viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế (Trang 118)
67.   2844  Bảng tổng hợp tình  hình viện trợ trong năm  1969 – 1070 của Liên - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
67. 2844 Bảng tổng hợp tình hình viện trợ trong năm 1969 – 1070 của Liên (Trang 119)
83.   3009  Bảng kê hàng viện trợ Trung Quốc năm 1973. - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
83. 3009 Bảng kê hàng viện trợ Trung Quốc năm 1973 (Trang 120)
107.   17173  Bảng  tổng  hợp  viện  trợ  thiết  bị  toàn  bộ  của  phái  đoàn  mậu  dịch - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
107. 17173 Bảng tổng hợp viện trợ thiết bị toàn bộ của phái đoàn mậu dịch (Trang 122)
138.   9420  Bảng tổng hợp kết toán thiết bị toàn bộ hàng viện trợ năm 1955. - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
138. 9420 Bảng tổng hợp kết toán thiết bị toàn bộ hàng viện trợ năm 1955 (Trang 124)
144.   9481  Bảng  tổng  hợp  tình  hình  hàng  viện  trợ  của  các  nước  thực  nhập  5 - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
144. 9481 Bảng tổng hợp tình hình hàng viện trợ của các nước thực nhập 5 (Trang 125)
163.   5517  Bảng tổng kết công tác thiết bị, máy móc, thuốc men các nước viện - Sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với việt nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1955   1975) qua tài liệu lưu trữ đang bảo quản tại trung tâm lưu trữ
163. 5517 Bảng tổng kết công tác thiết bị, máy móc, thuốc men các nước viện (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w