1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở huyện thái thụy, tỉnh thái bình hiện nay

89 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 768,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nội dung cơ bản của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay ..... Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh thực hiện dân chủ cơ sở, đặ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LÊ THỊ HÒA

THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN THÁI THỤY,

TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Chủ nghĩa Xã hội khoa học

Nguời hưóng

S Nguyễn Thuý Vân

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LÊ THỊ HÒA

THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN THÁI THỤY,

TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa Xã hội khoa học

Mã số: 60.22.03.08

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Công Nhất

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Công Nhất cùng sự tham khảo các công trình khoa học của những tác giả ghi trong danh mục tài liệu tham khảo Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 29 tháng 04 năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Thị Hòa

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CCHC : cải cách hành chính XHCN : xã hội chủ nghĩa UBND : ủy ban nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

8 Kết cấu của luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1: THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CẤP HUYỆN VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 10

1.1 Cải cách hành chính và cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay 10

1.1.1.Những vấn đề chung về cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay 10

1.1.2 Cấp huyện và yêu cầu cải cách hành chính ở cấp huyện của Việt Nam hiện nay 21

1.2 Pháp lệnh dân chủ cơ sở và sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay 22 1.2.1 Khái niệm dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa 23

1.2.2 Hoàn cảnh ra đời và một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ cơ sở 25

1.2.3 Sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay 32

1.2.4 Một số nội dung cơ bản của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay 39

Trang 6

Tiểu kết chương 1: 42 Chương 2: THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 44 2.1 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội và đặc điểm tổ chức hoạt động bộ máy hành chính cấp huyện ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 44

2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 44 2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động của bộ máy hành chính cấp huyện ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 46

2.2 Thực trạng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 49

2.2.1 Thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 49 2.2.2 Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 63

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 65

2.3.1 Nâng cao nhận thức về việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở nhằm thực hiện cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 65 2.3.2 Xây dựng đồng bộ hệ thống các cơ chế, chính sách và đội ngũ cán bộ tham gia thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở nhằm thực hiện cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 66 2.3.3 Tạo cơ chế, chính sách để quần chúng nhân dân tích cực tham gia giám sát thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở nhằm thực hiện cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 68

Trang 7

2.3.4 Tích cực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn nhằm xây dựng mô hình phù hợp trong thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở nhằm thực hiện cải cách hành

chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 69

Tiểu kết chương 2: 72

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân chủ là giá trị của lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người Lịch sử loài người đã trải qua nhiều nền dân chủ khác nhau như dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và đang tiến đến xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội và cũng là bản chất của nhà nước Việt Nam XHCN Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất kỳ giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt Nam Với nhận thức đúng đắn trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng , đánh dấu những bướ c phát triển trong việc thể chế hoá phương châm ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' (mà ở đại

hô ̣i Đảng toàn quốc khóa VI năm 1986 đã nêu) nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân Trong đó văn bản quan trọng nhất khẳng định vai trò

và tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ cơ sở đối với hê ̣ thống chính tri ̣

- xã hội nước ta , đó là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH 11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn do Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 (2007) ban hành ngày 20/4/2007 Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở được gắn với phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thủ tục hành chính, cuộc vận động

"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các hoạt động văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở được nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả, dân chủ nói chung, dân chủ trực tiếp của nhân dân nói riêng tiếp tục được coi trọng, tăng cường

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa, CCHC trở thành một trào lưu, một nhu cầu thiết thực tự thân, nỗ lực của hầu hết các quốc gia trên thế giới - cả các nước đang phát triển và các nước phát triển - đều xem

Trang 9

CCHC như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội, nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước hiện đại, năng động hiệu quả, giảm phiền hà, lấy phục vụ nhân dân làm tôn chỉ, mục đích để từ đó xây dựng và hoàn thiện nền hành chính Ở nước ta, công cuộc CCHC nhà nước đang là kế hoạch trọng tâm của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng, phát triển hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Công cuộc CCHC được thực hiện ở tất cả các cấp hành chính- từ trung ương đến cấp xã, phường, thị trấn - từng bước thận trọng và

đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ CCHC đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, quá trình CCHC ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết ngay như vẫn còn bộc lộ sự xa dân, quan liêu, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, thủ tục hành chính rất nặng nề, gây phiền hà cho dân; chế độ và trách nhiệm công vụ không rõ ràng, thiếu minh bạch; cán bộ, công chức có nhiều người sách nhiễu dân, lãng phí và tham nhũng Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh thực hiện dân chủ cơ sở, đặc biệt là việc áp dụng Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC nhằm thực hiện tốt chủ trương cải cách nền hành chính nước nhà, đồng thời phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân

Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là một huyện ven biển đồng bằng sông Hồng, là lá cờ đầu của sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

và đây là một trong những địa phương đầu tiên thí điểm thực hiện CCHC

Bên cạnh những thành tựu đạt được, CCHC ở huyện Thái Thụy vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được hết quyền làm chủ của nhân dân Chính vì vậy

tôi chọn “Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay” làm đề tài luận văn của mình

Trang 10

nhằm phân tích thực trạng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ và CCHC nói chung, dân chủ và CCHC ở Việt Nam nói riêng Trong các công trình ấy, dân chủ, CCHC ở Việt Nam đã được nghiên cứu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau có thể khai thác và kế thừa như:

Nhóm các công trình nghiên cứu về CCHC nhà nước

Bàn về CCHC nhà nước có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như:

Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị và Nguyễn Hữu Đức (1998),“Cải cách hành chính địa phương lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu và phân tích tập trung vào những vấn đề lý luận và thực tiễn về CCHC; chức năng, vị trí, vai trò của CCHC địa phương trong CCHC nhà nước, đánh giá thực trạng chính quyền địa phương và xác định xu hướng cải cách Các tác giả đã đưa ra các giải pháp cụ thể CCHC đối với bộ máy hành chính theo các góc độ, phạm vi như: mô hình tổ chức bộ máy, thiết chế, sự phân chia theo lĩnh vực hành chính lãnh thổ…

Nguyễn Ngọc Hiến (2001), “Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Tác giả đã đề cập đến quá trình CCHC diễn ra như thế nào, các rào cản trong CCHC, đặc điểm, nguyên tắc CCHC từ đó đưa ra những kiến nghị các giải pháp thúc đẩy quá trình CCHC

Đoàn Trọng Truyến (2006), “Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Tư pháp, Hà Nội Cuốn sách gồm 2 phần: Phần 1: Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phần 2: Cải cách hành chính Cuốn sách là tổng hợp

Trang 11

kiến thức cơ bản về nhà nước pháp quyền, về nền hành chính trên cơ sở học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giá sắc sảo nền hành chính phong kiến Việt Nam, có cách nhìn độc lập về nền hành chính nước ta, đồng thời đề xuất mô hình một nền hành chính tương lai Tác giả nhấn mạnh rằng trong giai đoạn cách mạng mới, CCHC được coi là trọng tâm của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Tác giả cũng chỉ ra rằng, cải cách nền hành chính phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và triển khai các nhiệm vụ về cải cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy hành chính, tinh giảm biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch, vững mạnh

Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những luận cứ khoa học làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong tiến trình CCHC nhà nước, đề xuất những kiến nghị về nguyên tắc, phương pháp, giải pháp cho công tác CCHC, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước và các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và dân chủ hóa đời sống xã hội

Nhóm các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ cơ sở:

Vấn đề dân chủ và dân chủ ở cơ sở là một vấn đề đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình có giá trị và ý nghĩa đã được công bố như:

Nguyễn Tiến Phồn: “Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Luận án Tiến sỹ Chính trị học của Nguyễn Thị Tâm: “Dân chủ cơ sở và vấn đề thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay” (2007) Các tác giả đã nêu rõ những thành tựu và hạn chế trong nhận thức và cả những khuyết tật trong xây dựng và thực hiện nền dân chủ XHCN ở nước ta trong thực tiễn

PGS.TS Dương Xuân Ngọc: “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; PGS.TS Nguyễn Cúc: “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình

Trang 12

hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Lương Gia Ban: “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; TS Nguyễn Văn Sáu - GS Hồ Văn Thông: “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Các công trình này, các tác giả đã tập trung làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, cùng với thực trạng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay của nước ta

Phạm Văn Bính: “Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Cuốn sách này đã góp phần xác định và làm rõ hơn những vấn đề cơ bản trong phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh, đề xuất

áp dụng phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh đối với việc hoàn thiện phương pháp lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

Hoàng Chí Bảo (2007), cuốn sách “ Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Tác giả

đã nghiên cứu, luận giải sâu sắc về lý luận và thực tiễn một vấn đề xã hội phức tạp hiện nay là tâm lý làng xã, ảnh hưởng và tác động của nó đối với việc thực hiện và phát huy dân chủ hiện nay

PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh- ThS Tào Thị Quyên: “Dân chủ trực tiếp ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Trong cuốn sách này tác giả đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ và dân chủ trực tiếp trên thế giới và ở Việt Nam; đánh giá thực trạng, đưa

ra giải pháp nhằm phát huy các hình thức dân chủ trực tiếp ở nước ta hiện nay

PGS.TS Lê Minh Quân: “Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Ở đây tác giả đã

đề cập đến nhiều vấn đề về dân chủ hóa từ góc độ lý luận và thực tiễn, chỉ ra các yếu tố tác động và quá trình dân chủ hóa trên thế giới, phân tích những

Trang 13

vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình dân chủ hóa XHCN ở nước ta hiện nay

Bên cạnh những công trình sách đã được xuất bản, chúng ta còn có thể

kế thừa những bài báo, tạp chí như:

Dương Xuân Ngọc - Lưu Văn An: “Kết quả thực hiện Quy chế dân chủ

ở cơ sở, vấn đề đặt ra và một số giải pháp”, Tạp chí Thông tin lý luận, số

9-2000 Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên những kết quả bước đầu của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đồng thời nêu lên những vấn đề cần giải quyết cùng những giải pháp cụ thể để tiếp tục thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở

Dương Trung Ý: “Nâng cao sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng thực hiện hiệu quả dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản số 14 (tháng 5/2013)

Ở bài viết này tác giả chủ yếu đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao vai trò

và năng lực của các tổ chức cơ sở Đảng trong việc phát huy dân chủ cơ sở

TS Đoàn Minh Huấn: “Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và quá trình

mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2014 Tác giả bài viết này làm rõ đặc trưng của hai hình thức dân chủ là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, đồng thời khẳng định vai trò, ưu thế của mỗi hình thức cũng như sự cần thiết phải phối hợp chặt chẽ hai hình thức này với nhau trong việc mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta

Nhìn chung, các công trình khoa học, bài báo, luận án nêu trên với những cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng đều đã nêu lên

và làm rõ tầm quan trọng của dân chủ, dân chủ cơ sở cũng như những tiền đề

lý luận và thực tiễn của vấn đề dân chủ và dân chủ cơ sở Do vậy những tài liệu trên sẽ là những nguồn tư liệu tham khảo bổ ích đối với tác giả Tuy nhiên do Pháp lệnh số 344/2007/PL-UBTVQH 11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới được ban hành ngày 20/04/2007 nên các công trình nghiên cứu trước thời điểm ban hành Pháp

Trang 14

lệnh chưa thể đề cập đến các nội dung Pháp lệnh này của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Từ sau thời điểm công bố pháp lệnh cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể tình hình thực hiện pháp lệnh đó trong lĩnh vực CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Vì vậy trong khuôn khổ luận văn này tác giả muốn chú trọng làm rõ việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng và đề xuất những

phương hướng, giải pháp cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả của việc vận dụng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay

- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:

+ Phân tích làm rõ những cơ sở lý luận của việc vận dụng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay

+ Đánh giá thực trạng việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến nay, chỉ ra nguyên nhân và phân tích những vấn đề đặt ra cần giải quyết để tăng cường vai trò của Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC

+ Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là toàn bộ thực tiễn

triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nghiên cứu việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong lĩnh vực CCHC của UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

Trang 15

+ Số liệu điều tra, khảo sát từ năm 2001 đến nay, đây là thời điểm Đảng và nhà nước ta ban hành Quy chế dân chủ cơ sở và Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (04/2007) Trong giai đoạn này, chính phủ ban hành các chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001- 2010, 2011-2020

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận nghiên cứu của luận văn được dựa trên những

quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện thể hiện quan điểm, chủ trương của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam về thực hiện dân chủ cơ sở và CCHC Bên cạnh đó tác giả luận văn cũng có kế thừa, chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học đã được công bố về dân chủ cơ sở và CCHC

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Luận văn sử dụng phương pháp luận triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu chung như: phương pháp lôgíc- lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh và chứng minh; phương pháp liên ngành như: điều tra xã hội học để nghiên cứu đề tài này

6 Đóng góp của luận văn

Pháp lệnh dân chủ cơ sở có phạm vi điều chỉnh ở cấp xã, phường, thị trấn nhưng luận văn đã vận dụng mở rộng nghiên cứu việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở ở cấp huyện và nghiên cứu trong lĩnh vực CCHC cấp huyện Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu nghiên cứu thực tiễn việc vận dụng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái thụy, tỉnh Thái Bình Việc vận dụng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở cấp huyện (qua thực tiễn ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) cũng chính là

đóng góp mới của luận văn

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn sẽ là cứ liệu khoa học góp phần để các cơ quan hành chính cả nước nói chung, các cơ quan hành chính nhà nước ở Thái Thụy, tỉnh Thái

Trang 16

Bình nói riêng đề ra những phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC

Luận văn có thể làm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề lý luận liên quan đến dân chủ, dân chủ cơ sở, dân chủ trong lĩnh vực CCHC và là tư liệu trong các khoa học lý luận chính trị,

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn

có 2 chương 5 tiết

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1: THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CẤP HUYỆN VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ

VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Cải cách hành chính và cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay

1.1.1.Những vấn đề chung về cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay 1.1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính

Từ nhiều năm nay, CCHC đã là một vấn đề mang tính tương đối phổ cập của xã hội Việt Nam Người dân, tổ chức cảm nhận được kết quả, tác động của CCHC một cách trực tiếp nhất khi có việc phải tiếp xúc, giải quyết công việc với các cơ quan hành chính nhà nước Vậy CCHC là gì?

Cải cách là sửa đổi những bộ phận, yếu tố, thành phần đã có cho thành hợp lý, cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới để sự vật có thể vận động

và phát triển tốt hơn [48] Theo nghĩa triết học và chính trị học thì cải cách là làm thay đổi một số mặt của sự vật mà không làm thay đổi căn bản sự vật đó

Đó còn là “sự sửa đổi, cải thiện một số mặt của đời sống xã hội mà không động tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành” [43, tr.335] Khái niệm cải cách có nội hàm hẹp hơn đổi mới

Còn thuật ngữ “hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là quản lý, lãnh đạo Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về thuật ngữ này, tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu Tuy có nhiều cách tiếp cận, nhưng đặc điểm cơ bản của hành chính xuất phát từ việc trong bất kỳ xã hội nào cũng cần có sự phân công lao động, cần tới sự xác lập

những tỉ lệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Như vậy, hành chính theo nghĩa chung là quản lý công việc, là quản lý xã hội; theo nghĩa

riêng, hẹp hơn là công việc nhà nước và tổ chức quản lý nhà nước Về cơ bản, hành chính là tổng thể những hoạt động (thao tác) nhất định do con người,

Trang 18

chủ thể quản lý thực hiện đối với khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể, bảo đảm cho nó vận động tới một mục tiêu đã định Hành chính chính là hoạt động quản lý của con người để tạo ra sự vận hành mang tính hệ thống của xã hội

Căn cứ vào quan niệm về cải cách và hành chính đã làm rõ ở trên thì

CCHC chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành, quản

lý các hệ thống, cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện công tác quản lý cho tất cả các

hệ thống trong xã hội Song do hành chính gắn chủ yếu với hoạt động của các

cơ quan nhà nước, các thể chế chính trị nên khái niệm CCHC thường được coi là đồng nhất với khái niệm CCHC nhà nước Nhìn nhận một cách tổng

quát, CCHC được xác định là hành vi có tính hướng đích của con người nhằm cải biến nền hành chính của một quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn

CCHC nhà nước là tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn

Trên cơ sở nêu trên, các khái niệm CCHC thống nhất tại các điểm sau:

- CCHC là sự thay đổi có kế hoạch theo một mục tiêu xác định nhưng không làm triệt tiêu hay thay đổi bản chất của hệ thống hành chính nhà nước mà để

hệ thống hành chính nhà nước hoạt động hiệu quả hơn;

- CCHC hướng tới điều tiết những mâu thuẫn trong cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của bộ máy hành chính nhà nước;

- CCHC tập trung vào việc định rõ trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân mà thông qua đó nhằm thiết lập một hệ thống hành chính chặt chẽ từ trên xuống dưới;

- CCHC không phải là cải cách chế độ chính trị - kinh tế - xã hội mà là quá trình khắc phục mọi trở lực trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nền hành chính, làm cho nó phát triển một cách năng động và phù hợp với sự biến đổi kinh tế-xã hội;

Trang 19

Ở Việt Nam hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chính thức định nghĩa CCHC là gì Tuy nhiên, nhiều văn bản quan trọng của Đảng

ta đã đề cập đến thuật ngữ này như Nghị quyết đại hội VII, Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII, Nghị quyết Đại hội VIII đã đưa ra mục tiêu nhiệm vụ cụ thể cho công cuộc CCHC nhà nước So sánh với các quốc gia, Việt Nam là quốc gia đã xây dựng một chương trình CCHC toàn diện nhằm giải quyết những vấn đề căn bản của nền hành chính nhà nước Ở nhiều quốc gia khác, CCHC không phải lúc nào cũng được tiến hành theo một kế hoạch tổng thể mà theo các nhóm giải pháp ở các quy mô nhỏ hơn như đổi mới cơ chế, chính sách cho khu vực nào đó, phát triển tổ chức, phát triển nguồn nhân lực, quản lý chất lượng và những lĩnh vực cải cách có liên quan khác

Trong phạm vi luận văn này, nếu đề cập đến CCHC là nói đến CCHC nhà nước để phân biệt với CCHC ở các tổ chức, cơ quan, nhất là doanh nghiệp tư nhân, tức là khu vực tư nhân

1.1.1.2 Bối cảnh ra đời cải cách hành chính ở Việt Nam

Vào cuối thập kỉ 80, đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có những biến chuyển to lớn ảnh hưởng tới nước ta Không gian chính trị thời kỳ hậu Xô Viết với tác động của toàn cầu hóa như một xu thế tất yếu và phổ biến

đã làm nổi bật một đặc điểm mới của thế giới hiện nay là hòa bình, hợp tác và phát triển đòi hỏi các quốc gia phải thích nghi để phù hợp với tình hình mới Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới trong quá trình phát triển của mình cũng tiến hành cải cách trên nhiều phương diện, đặc biệt là kinh tế và tổ chức vận hành bộ máy nhà nước để thích ứng với tình hình mới, trong đó có CCHC

để đổi mới hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm tiếp tục đưa đất nước tiến lên và phát triển một cách bền vững Những bài học của nhiều nước tiên tiến, theo nhiều con đường khác nhau đã tác động đến Việt Nam làm thay đổi nhận thức của nhiều nhà lãnh đạo đất nước Nhiều người ở Việt Nam dần dần đã nhận ra rằng, cải cách nền hành chính nhà nước là một đòi hỏi có tính quy luật Việt Nam cũng nằm trong quy luật đó

Trang 20

Trong bối cảnh thế giới đó, ở Việt Nam công cuộc đổi mới toàn diện đất nước diễn ra bắt đầu từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1986) đến nay đã qua 30 năm tạo ra bước chuyển biến có ý nghĩa hết sức quan trọng từ nền kinh tế kế hoạch hóa vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Trong tiến trình đó, CCHC được đặt ra như một đòi hỏi khách quan của thực tiễn để tạo tiền đề thúc đẩy cải cách kinh tế CCHC được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành một bộ phận quan trọng trong chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta

Việc CCHC ở Việt Nam trong những năm qua được tiến hành rộng khắp trên tất cả mọi lĩnh vực của CCHC và trong tương lai đi theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính,

là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính Việc ban hành Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007- một văn bản về những quy chế dân chủ cơ sở đã được luật hóa mang tính pháp lý quan trọng- có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết để thực hiện thành công CCHC ở nước ta hiện nay

1.1.1.3 Nội dung cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay

CCHC ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với những bước đi, lộ trình khác nhau từ thấp tới cao Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức với Nghị quyết số 38/CP năm 1994 của Chính phủ, đến cải cách một bước nền hành chính nhà nước với ba nội dung được trình bày có hệ thống trong Nghị quyết Hội nghị TW 8 (Khoá VII) (tháng 1/1995) là: cải cách thể chế hành chính; cải

Trang 21

cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Đây cũng là lần đầu tiên thuật ngữ cải cách nền hành chính được sử dụng chính thức trong văn kiện của Đảng Tiến đến thực hiện bốn nội dung CCHC trong Chương trình tổng thế CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 bao gồm: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công Ngày 8/11/2011,

chính phủ đã ban hành chương trình tổng thế CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020, CCHC đã chuyển sang một bước mới với sáu nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính

Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011- 2020 với các mục tiêu đó là: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình

độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước

Trọng tâm CCHC trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công

Trang 22

chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công

Chương trình được triển khai thực hiện thông qua hai giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 2011 – 2015; giai đoạn 2 từ năm 2016 – 2020 Nếu chương trình CCHC giai đoạn 2001 – 2010 tập trung vào 4 nội dung (cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công) thì chương trình mới giai đoạn

2011 - 2020 xác định rõ nhiệm vụ CCHC trên 6 lĩnh vực cụ thể là: Cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tài chính công, hiện đại hóa hành chính

- Thứ nhất, về cải cách thể chế: một vấn đề rất quan trọng được đặt ra

đó là việc hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài của các hình thức sở hữu trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ

sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phân định rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất Qua những vụ việc về đất đai mới xảy ra gần đây cho thấy việc hoàn thiện thể chế về sở hữu và đất đai là một bước đi cần thiết và kịp thời của Đảng và Nhà nước nhằm hoàn thiện khung pháp lý về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế và đảm bảo sự ổn định, công bằng trong xã hội

- Thứ hai, về cải cách thủ tục hành chính: điểm mới là Nghị quyết 30c/NQ- CP của Chính phủ về Ban hành chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011- 2020 đã tách lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính ra khỏi cải cách thể chế và đưa ra làm nhiệm vụ riêng Đây là một yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay, bởi thủ tục hành chính có vai trò quan trọng, được thực hiện hằng ngày trong đời sống xã hội cũng như tác động lớn đến

Trang 23

thu hút đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp Trong giai đoạn 2011- 2015 cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh trong một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư, đất đai, xây dựng, sở hữu nhà ở, thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, y tế, giáo dục, lao động, bảo hiểm, khoa học- công nghệ Một điểm mới nữa là việc đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế và việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính Đây sẽ là một bước tiến đáng kể góp phần vào việc nâng cao chất lượng của các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước

- Thứ ba, về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: chương trình đã lượng hóa kết quả trên một số lĩnh vực cụ thể như bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước và đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 80 % vào năm 2020

- Thứ tư, về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã đưa ra nội dung mới đó là việc thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh, thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống Ngoài ra chương trình cũng tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán

bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội

- Thứ năm, về cải cách tài chính công có một điểm đáng chú ý là việc đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu

ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính

Trang 24

nhà nước Bên cạnh đó đối với cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch

vụ công sẽ từng bước thực hiện chính sách điều chỉnh giá dịch vụ sự nghiệp công phù hợp, chú trọng đổi mới cơ chế tài chính của các cơ sở giáo dục, đào tạo, y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh, có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân

- Thứ sáu, về hiện đại hóa hành chính đã cụ thể hóa mục tiêu đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau; Ứng dụng công nghệ thông tin- truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị

sự nghiệp công

Chương trình Tổng thể về CCHC giai đoạn 2011- 2020 là một bước đi quan trọng trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh CCHC, xác định đây là một trong ba khâu đột phá trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và đóng góp chung vào sự phát triển của đất nước trong thời gian tới

1.1.1.4 Một số đặc trưng trong cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay

Ngoài những điểm giống CCHC ở các nước, CCHC ở Việt Nam có những đặc trưng riêng sau:

- CCHC là giải pháp đột phá tiên phong trong cải cách các hoạt động của Nhà nước nói chung, của Chính phủ nói riêng

Trang 25

- Cải cách được tiến hành trong khuôn khổ hệ thống chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền- Đảng Cộng sản Việt Nam Mặt thuận lợi từ đặc trưng này chính là ở chỗ dễ tạo sự đồng thuận trong hoạch định chính sách, biện pháp, thể chế cho cải cách

- CCHC diễn ra cùng một lúc với khá nhiều cuộc cải cách khác, ví dụ như cải cách kinh tế, cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải cách giáo dục v.v Đặc trưng này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung nhằm bảo đảm mục tiêu chung của phát triển

- CCHC được triển khai trên diện rộng, ở tất cả các cấp hành chính với sáu lĩnh vực cải cách Mỗi lĩnh vực lại bao gồm một loạt các lĩnh vực thành phần cho thấy tính phức tạp, độ rộng của CCHC ở Việt Nam

- CCHC ở nước ta chịu ảnh hưởng khá lớn của điều kiện xã hội và tâm

lý của người dân Việt Nam CCHC nước ta đang được tiến hành trong xã hội

có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, do ảnh hưởng tâm lý phong kiến nặng nề,

ý thức dân chủ và năng lực dân chủ không tương xứng, trọng tình cảm, nhẹ

lý, tách rời quyền với nghĩa vụ cùng với những tệ nạn phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường

Từ những đặc trưng này rút ra những vấn đề sau:

- CCHC không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng

Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống một đảng duy nhất cầm quyền Đặc trưng này chi phối nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề CCHC CCHC muốn tiến hành được, muốn duy trì và đẩy mạnh, trước hết phải là một chủ trương trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng không thể có cải cách, càng không thể có những kết quả tích cực Từ năm 1995 cho đến nay, chủ trương CCHC đã được xác định trong một loạt các nghị quyết của Đảng tại các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện Đại hội VII cho đến Đại hội XI Năm 2007 đánh dấu một mốc thời gian quan trọng, chính là vì lần đầu tiên

Trang 26

Ban Chấp hành Trung ương Đảng có một Nghị quyết riêng về CCHC, đó là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X

CCHC không tách rời sự lãnh đạo của Đảng vừa là bài học kinh nghiệm, vừa là đặc trưng cải cách của Việt Nam Mặt thuận lợi của vấn đề này chính là

ở chỗ sự hiện diện của các tổ chức Đảng, của các đảng viên đang giữ các chức

vụ lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước từ trung ương tới cơ sở Các thành viên này có trách nhiệm triển khai nghị quyết Đảng về CCHC thông qua các hình thức thích hợp, trong đó có hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

- Sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ là một yếu tố bảo đảm CCHC đạt kết quả

Với vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong chỉ đạo triển khai CCHC của đất nước Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ có trách nhiệm cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch CCHC, trên cơ sở đó các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch CCHC của mình nhằm bảo đảm mục tiêu chung của cải cách là xây dựng được một nền hành chính mạnh, hiệu lực, hiệu quả, vì dân phục vụ

Trước đây, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 và mới đây đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020

Công tác chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với công cuộc CCHC có ý nghĩa trên các phương diện:

- Bảo đảm rõ định hướng, mục tiêu CCHC

- Xác định rõ các nhiệm vụ cải cách

- Xác định các trọng tâm, ưu tiên cải cách theo từng thời kỳ

- Xác định trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính, trước hết là Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong triển khai CCHC

Trang 27

- Tổng kết từ thực tiễn cải cách để hoạch định thể chế, cơ chế mới, có tính chất áp dụng chung trong cả nước

- CCHC triển khai với nhiều nội dung, vì vậy hết sức khó khăn và phải làm lâu dài

So với nhiều nước có tiến hành CCHC thì CCHC ở Việt Nam được triển khai trên nhiều lĩnh vực từ thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục tới con người, các

cơ chế hoạt động, ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính v.v Có thể nói gần như các yếu tố cấu thành cơ bản của nền hành chính quốc gia đều đòi hỏi phải cải cách, thay đổi Chính vì vậy, việc triển khai không đơn giản và cũng không thể sớm đạt kết quả Vấn đề này chi phối trước hết công tác xây dựng kế hoạch CCHC của các bộ, ngành và địa phương Kế hoạch phải bao quát đủ các lĩnh vực cải cách, cụ thể hóa vào phạm vi trách nhiệm của từng cơ quan Kể đến là công tác triển khai, kiểm tra việc thực hiện trong thực tiễn

- Bảo đảm tính đồng bộ của CCHC với các cuộc cải cách khác trong hệ thống chính trị

Việt Nam cùng một lúc tiến hành một loạt các cải cách: cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải cách kinh tế, cải cách giáo dục v.v Mỗi cuộc cải cách theo đuổi các mục tiêu, kết quả riêng, tuy nhiên có rất nhiều vấn đề đan xen giữa các cuộc cải cách, thậm chí có vấn đề không thể nói chỉ thuộc một cuộc cải cách riêng biệt Chính vì vậy, tính đồng bộ giữa các cuộc cải cách này có ý nghĩa quan trọng, nó tạo ra sự thống nhất ở tầm vĩ mô như hoạch định thể chế, chính sách, pháp luật để bảo đảm các cuộc cải cách có thể tốt hơn, không gặp trở ngại

Tuy nhiên, thực tiễn có lúc không diễn ra như vậy Từ góc độ cục bộ của ngành, lĩnh vực, đã có lúc các bộ chuẩn bị các dự án luật trình Quốc hội thông qua và khi ban hành mới thấy rõ sự cản trở về CCHC đang được triển khai, làm cho thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý của các bộ phức tạp hơn; người dân, tổ chức phải vất vả hơn trong giải quyết công việc của mình

Trang 28

- CCHC đòi hỏi phải có những thí điểm

Trong quá trình cải cách, nhiều vấn đề trì trệ của nền hành chính được phát hiện và các giải pháp được đề xuất để thay đổi Thông thường, các giải pháp đó về bản chất khác hẳn giải pháp hiện hành, lại chưa được kiểm nghiệm tính đúng đắn và chưa được thể chế hóa Do vậy, hết sức cần thiết có sự thí điểm để qua thực tiễn xem xét tính phù hợp của các giải pháp Một loạt các cơ chế có tính cải cách đang được triển khai trong quá trình cải cách đã ra đời theo cách như vậy

1.1.2 Cấp huyện và yêu cầu cải cách hành chính ở cấp huyện của Việt Nam hiện nay

1.1.2.1 Khái quát về cấp huyện và chính quyền cấp huyện ở Việt Nam hiện nay

Huyện là đơn vị hành chính địa phương cấp hai ở khu vực nông thôn của Việt Nam Thuật ngữ “cấp huyện” đôi khi được dùng để chỉ toàn bộ cấp hành chính địa phương thứ hai, nghĩa là bao gồm cả thành phố trực thuộc tỉnh, quận, huyện và thị xã Một huyện thông thường được chia ra thành nhiều xã

và ngân sách, an ninh quốc phòng ở địa phương, biện pháp để ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, hoàn thành các nhiệm vụ mà cấp trên giao cho

và làm tròn nghĩa vụ với đất nước

UBND huyện do Hội đồng nhân dân huyện bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân huyện, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương,

Trang 29

chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện

Ngoài ra còn các quy định cụ thể tại Mục 2- Chương 4 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND 2003 và một số văn bản pháp lý quy định khác cũng nêu rõ về nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của UBND cấp huyện Cơ cấu tổ chức của UBND huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên

Ủy viên

Chính quyền cấp huyện còn một thành phần khác là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được quy định tại Mục 5- Chương IV của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND.Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND là

cơ quan tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở

1.1.2.2 Yêu cầu cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay

Có thể nói, so với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện là cấp trực tiếp hơn, sát dân hơn khi thực thi, triển khai các hoạt động quản lý nhà nước trên phạm

vi quận, huyện, thị xã Trong thực tế hoạt động hiện nay của chính quyền cấp huyện và cụ thể là UBND cấp huyện, có thể thấy những giao dịch giữa công dân với cơ quan nhà nước thường xuyên và phần nhiều được giải quyết tại UBND cấp huyện với những cơ quan thẩm quyền riêng là các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Từ đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm CCHC cấp huyện là toàn bộ những công việc phải tiến hành đối với UBND huyện và các cơ quan chuyên môn nhằm đổi mới, điều chỉnh, cải tiến một số bộ phận, mặt công tác, lĩnh vực hoạt động của các cơ quan ấy, xây dựng một nền hành chính cấp huyện dân chủ, từng bước hiện đại, góp phần xây dựng chính quyền

Trang 30

cấp huyện trong sạch vững mạnh đáp ứng tốt yêu cầu của công cuộc đổi mới, yêu cầu của nhân dân trong huyện

Do đó, yêu cầu CCHC ở đây chính là để nâng cao chất lượng hoạt động, hiệu quả hoạt động của bộ máy, chính quyền hành chính cấp huyện, góp phần phục vụ tốt đối với các nhu cầu của công dân Công tác CCHC cấp huyện đòi hỏi sự đồng bộ trên tất cả các phương diện: thể chế; thủ tục hành chính; tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tài chính công; hiện đại hóa hành chính

1.2 Pháp lệnh dân chủ cơ sở và sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay

1.2.1 Khái niệm dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.2.1.1 Khái niệm dân chủ

Thuật ngữ “dân chủ” có gốc tiếng Hy Lạp là “demokratia” được hình thành từ hai chữ “demos” có nghĩa là nhân dân và “kratos” có nghĩa là quyền lực “Demokratia” hiểu một cách đơn giản là quyền lực thuộc về nhân dân hay nhân dân làm chủ quyền lực

Dân chủ có quá trình tiến hóa lâu dài thể hiện khát vọng của nhân dân được làm chủ vận mệnh, làm chủ quyền lực xã hội của mình Sự phát triển của dân chủ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, năng lực nhận thức cửa công dân và chính quyền, truyền thống lịch sử văn hóa,

Qua mỗi thời đại khác nhau, khái niệm “dân chủ” ngày càng phong phú hơn, mang những đặc trưng về hình thức, nội dung và bản chất của thời đại

Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì “Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức thiết chế chính trị nhất định” [43,tr.653]

Trang 31

Theo tác giả, dân chủ là sản phẩm của xã hội loài người, của quá trình đấu tranh giai cấp, là tiêu chí để đánh giá cách thức, trình độ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về bộ phận dân

cư sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội Song vấn đề dân chủ luôn là vấn đề phức tạp, có nội dung rộng lớn, gắn với những tiến bộ về lịch sử, văn hóa của loài người nên khi xem xét, nghiên cứu về dân chủ cần tìm hiểu nó ở nhiều góc độ khác nhau

2.1.1.2 Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ là khát vọng được làm chủ quyền lực, là quyền tự nhiên của con người Song, các chế độ dân chủ trước đây chỉ là dân chủ cho thiểu số giai cấp bóc lột còn đa số nhân dân lao động thì không có quyền dân chủ Chỉ đến khi nền dân chủ vô sản - dân chủ XHCN ra đời thì quyền lực của người dân mới ngày càng được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn bởi vì đó là nền dân chủ của

đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện dưới pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCH của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên nền tảng của chế

độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu

Dân chủ XHCN ra đời là một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác Đó là nền dân chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng CNXH mang bản chất giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền là chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội

Nền dân chủ XHCN khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động, nhân dân tự tổ chức quyền lực của nhà nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện

Chủ nghĩa Mác- Lênin cũng đã từng khẳng định rằng dân chủ vô sản không chỉ là công cụ, phương tiện để phát huy tính sáng tạo của quần chúng

mà còn là bản chất tồn tại của nhà nước XHCN Chế độ dân chủ XHCN là

Trang 32

một kiểu hình thức nhà nước mới khác về chất so với các hình thức nhà nước trước đó bởi nó đảm bảo quyền lợi cho đa số nhân dân lao động Theo V.I.Lênin: “Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ, lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân”[31, tr 107]

Dân chủ XHCN đảm bảo dân chủ thực sự cho nhân dân lao động Dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, thống nhất được quyền và nghĩa vụ của công dân trong mối quan hệ với nhà nước, đó là mục tiêu và động lực phát triển xã hội

Các quan niệm về dân chủ XHCN đều đã chỉ ra đó là nền dân chủ cho số đông, dân chủ thực sự và dân chủ thực sự trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thực hiện “dân là chủ, dân làm chủ” chính là thực hiện sứ mệnh lịch sử, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng, quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại

1.2.2 Hoàn cảnh ra đời và một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ

cơ sở

1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Pháp lệnh dân chủ cơ sở

Ở nước ta, trong một thời gian dài trước đây việc thực hiện dân chủ cơ

sở đã không được quan tâm đúng mức, nhiều nơi, nhiều lúc dân chủ cơ sở bị

vi phạm nghiêm trọng, người dân, người lao động không có cơ chế để bảo vệ

và thực hiện quyền làm chủ của mình Do vậy, khi pháp luật thực hiện dân chủ ra đời và được triển khai đã làm cho người dân, người lao động rất phấn khởi và nhiệt tình hưởng ứng Thông qua quá trình học tập và thực hiện dân chủ cơ sở người dân, người lao động, cán bộ, công nhân viên chức đã thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đời sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân đã có sự chuyển biến rõ rệt

Pháp lệnh dân chủ cơ sở là một trong số những văn bản quy phạm pháp luật hình thành nên khung pháp lý và những nội dung cơ bản về dân chủ ở cơ

Trang 33

sở Hệ thống các văn bản, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước quy định nội dung về dân chủ, phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân là rất nhiều Ở đây, tác giả chỉ xin điểm lại một số văn bản tạo tiền đề cho việc

ra đời của Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn:

Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở (Chỉ thị 30) Nội dung cốt lõi của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, theo Chỉ thị, là "phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng"[11]

Để luật hóa nội dung chỉ đạo tại Chỉ thị 30, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết số 45-1998/NQ-UBTVQH10 ngày 26/2/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Nghị quyết 45) Nghị quyết 45 trước hết nhắc lại và khẳng định phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", lấy đó làm cơ sở để "giao Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Quy chế)"

Ngay sau khi Nghị quyết 45 của UBTVQH được ban hành, Chính phủ đã nhanh chóng thể chế hóa các nội dung và yêu cầu của Nghị quyết thành các nghị định của Chính phủ Đầu tiên là Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (Nghị định 29), và sau 5 năm thực hiện Nghị định 29, cũng như quán triệt ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ

ở cơ sở (Chỉ thị 10), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (Nghị định 79, thay thế cho Nghị định 29)

Nghị định 79 tập trung vào bốn nội dung lớn sau: nhân dân được cung cấp

Trang 34

thông tin; tham gia bàn và quyết định trực tiếp; tham gia ý kiến và nhân dân giám sát và kiểm tra Về cơ bản, Nghị định 79 vẫn giữ nguyên những nội dung cốt lõi được quy định trong Nghị định 29, chỉ có một số "sửa đổi, bổ sung cho phù hợp" Nói cách khác, Nghị định 79 đi vào thực chất hơn, cụ thể hơn cả về việc làm và đối tượng thực hiện Trên thực tế, Nghị định 79 là bước chuyển và chuẩn bị tiếp theo để "nâng Quy chế dân chủ thành pháp lệnh hoặc luật" theo định hướng chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng trong Chỉ thị

10

Năm 2007 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc xây dựng khung pháp

lý về dân chủ ở cơ sở với việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thay cho Nghị định 79 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một văn bản được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam khóa XI đã thông qua vào ngày 20 tháng 04 năm 2007 (Pháp lệnh số 34/2007//PL-UBTVQH11) và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2007, được Chủ tịch nước Việt Nam ra lệnh công bố trên toàn quốc Đây là văn bản quy định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và là văn bản pháp lý quan trọng nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn Tính đến nay Pháp lệnh là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất (không kể Hiến pháp Việt Nam) quy định về vấn đề dân chủ ở cấp xã Ngoài ý nghĩa và giá trị pháp lý cao hơn, khẳng định lại giá trị của bốn nhóm nội dung trong Nghị định 79, Pháp lệnh có ba điểm mới Một là, cụ thể hóa và nêu rõ hơn cách thức thực hiện; hai là, đề cao trách nhiệm triển khai thực hiện của cơ quan, cán bộ chính quyền xã và ba là, nhấn mạnh đến hiệu quả thực hiện cũng như trách nhiệm giải trình của cơ quan chính quyền

xã trong trường hợp liên quan

1.2.2.2 Một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ cơ sở

Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Trang 35

gồm 6 chương, 28 điều đã quy định các vấn đề: những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã và phương thức, biện pháp cụ thể để thực hiện từng nội dung, vấn đề được quy định trong pháp lệnh cũng như các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư thôn - nơi sinh sống của cộng đồng dân cư

Tại điều 1 Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH ngày 20 tháng 4 năm 2007 về thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn có ghi: “Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phun, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là tổ dân phố), của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ cấp xã”

Một là, những nội dung công khai để dân biết

Nhân dân được biết về tình hình chung của đất nước, địa phương, về những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người dân cũng như của gia đình và cộng đồng dân cư là một trong những quyền trước tiên của nhân dân Điều 5 của Pháp lệnh nêu rõ những nội dung công khai sau đây:

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã

Trang 36

Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương

án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã

Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân

Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp

Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế

Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã

Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này

Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu

Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện

Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết

Hai là, những nội dung nhân dân được bàn và quyết định

Trang 37

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề mà điều 10 của Pháp lệnh quy định rõ:

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp

xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp bằng các hình thức ghi tại điều 11 của Pháp lệnh là: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện

Trang 38

Nhân dân bàn và biểu quyết các vấn đề trên thông qua một trong số các hình thức đó là: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố

Bốn là, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định

Nhân dân có quyền tham gia ý kiến trong các vấn đề quy định tại Điều

19 như sau: Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương

án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư

Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết

Hình thức để nhân dân tham gia ý kiến là: Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; Thông qua hòm thư góp ý

Năm là, những nội dung nhân dân tham gia giám sát

Trang 39

Nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình tức là đang thực hiện quyền dân chủ Nhân dân có quyền được giám sát những gì liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình Điều 23 của Pháp lệnh quy định rõ những nội dung mà nhân dân tham gia giám sát chính là những nội dung công khai để dân biết; những nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp; những nội dung dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định

Về mặt hình thức để thực hiện việc giám sát của nhân dân: Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Trình tự, thủ tục hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật

Sáu là, trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở

Trách nhiệm chung trong việc tổ chức và thực hiện dân chủ ở cơ sở được quy định tại điều 17: Trách nhiệm tổ chức, thực hiện thuộc về Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phối hợp cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị- xã hội cùng cấp tổ chức thực hiện; chỉ đạo trưởng thôn,

Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện kế hoạch đã được thông qua Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm lập biên bản tổng hợp kết quả về những nội dung đã đưa ra nhân dân toàn cấp xã bàn và quyết định; tổ chức triển khai thực hiện những nội dung đã được nhân dân quyết định; phối hợp với Uỷ ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam cấp xã tổ chức việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố

Trang 40

Tóm lại, trên đây là những nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ ở

xã, phường, thị trấn Pháp lệnh được ban hành đã trở thành một công cụ đắc lực để nhân dân tham gia vào các công việc của địa phương, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhằm đảm bảo mục tiêu: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đảm bảo nguyên tắc “dân làm gốc”, đảm bảo dân chủ XHCN

1.2.3 Sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay

Việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở cấp huyện Việt Nam hiện nay là rất cần thiết Bởi vì:

1.2.3.1 Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện là để thực hiện một trong những mục tiêu của Pháp lệnh dân chủ cơ sở

Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC sẽ phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong CCHC Pháp lệnh dân chủ cơ sở được ban hành nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân, giúp nhân dân nhận thức đúng hơn về quyền và nghĩa vụ của công dân, và tính đến thời điểm này, đây

là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất (không kể Hiến pháp Việt Nam) quy định về vấn đề quyền làm chủ của nhân dân Pháp lệnh đã quy định rất rõ về những nội dung nào cần công khai để dân biết, những nội dung nào dân có quyền bàn bạc và quyết định trực tiếp, những nội dung nào dân chỉ có quyền bàn, biểu quyết còn cấp có thẩm quyền sẽ ra quyết định, những nội dung dân tham gia giám sát Trong những nội dung đó có rất nhiều nội dung có liên quan đến việc quản lý mang tính hành chính của nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân người dân địa phương

Cấp huyện là cấp trên trực tiếp gắn với cấp xã, phường, thị trấn - cấp thấp nhất trong bộ máy chính quyền nhà nước Việt Nam, nhưng đây lại là cấp gần dân nhất, mọi vấn đề đều từ đây mà ra và cũng chỉ có thể giải quyết triệt

để từ đây Chính vì đây là cấp diễn ra sự tiếp xúc trực tiếp giữa cơ quan công

Ngày đăng: 05/10/2016, 23:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Ngọc Anh (2003), Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ở cở sở vững mạnh, Tạp chí cộng sản, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ở cở sở vững mạnh
Tác giả: Trịnh Ngọc Anh
Năm: 2003
2. Lê Trọng Ân (2004), Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới, Tạp chí cộng sản, (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Lê Trọng Ân
Năm: 2004
3. Nguyễn Quang Ân – Phạm Minh Đức (2010), Địa chí Thái Bình, Nxb Văn hóa thông tin, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Quang Ân – Phạm Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2010
4. Nguyễn Quang Ân- Nguyễn Văn Toại (2010), Từ điển Thái Bình, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Quang Ân- Nguyễn Văn Toại
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2010
5. Lương Gia Ban (2003), Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Lương Gia Ban
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
6. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy (2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Thái Thụy (1927 - 2005), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thái Thụy (1927 - 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thái Thụy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
7. Hoàng Chí Bảo (2000), Cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay- vấn đề và giải pháp, bài viết cho Hội thảo Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính giai đoạn 2001- 2005, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay- vấn đề và giải pháp", bài viết cho Hội thảo "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính giai đoạn 2001- 2005
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2000
8. Hoàng Chí Bảo (2005), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
9. Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
10. Phạm Văn Bính (2008), Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
12. Chính phủ, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (ban hành kèm theo Nghị định 29/1998/NĐ/CP ngày 11/5/1998), Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (ban hành kèm theo Nghị định 29/1998/NĐ/CP ngày 11/5/1998)
13. Chính phủ, Chỉ thị số 24/1998 ngày 19/6 của Thủ tướng chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 24/1998 ngày 19/6 của Thủ tướng chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư
14. Chính phủ, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (ban hành kèm theo Nghị Định số 79/2003/NĐ-Cp ngày 7/7/2003), Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (ban hành kèm theo Nghị Định số 79/2003/NĐ-Cp ngày 7/7/2003)
15. Vũ Hoàng Công (2002), Hệ thống chính trị ở cơ sở- đặc điểm, xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hệ thống chính trị ở cơ sở- đặc điểm, xu hướng và giải pháp
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. Nguyễn Cúc (chủ biên)(2002), Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Cúc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Duy Hoàng Dương (2011), Cải cách hành chính cấp huyện tại Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính cấp huyện tại Thành phố Hà Nội
Tác giả: Duy Hoàng Dương
Năm: 2011
18. Trần Bạch Đằng (2003), Dân chủ cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam, Tạp chí cộng sản (35), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Bạch Đằng
Năm: 2003
19. Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan (2010), Đất và người Thái Bình, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và người Thái Bình
Tác giả: Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2010
20. Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị và Nguyễn Hữu Đức (1998),Cải cách hành chính địa phương lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính địa phương lý luận và thực tiễn
Tác giả: Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị và Nguyễn Hữu Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
21. Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên) (2001), Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w