Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh bằng các tác phẩm tiểu thuyết của mìnhđã cất lên tiếng nói sâu sắc mà chí lí về vấn đề nữ quyền.. hệ thống nhân vật nữ khá ấn tượng cùng với vốn văn hóa sâu rộn
Trang 1Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh bằng các tác phẩm tiểu thuyết của mình
đã cất lên tiếng nói sâu sắc mà chí lí về vấn đề nữ quyền Ông đã đưa vàotác phẩm của mình hình ảnh người phụ nữ và cuộc sống của chính họ trongmuôn nẻo đường đời, tình đời, tình người với tất cả thấu hiểu, thông cảm,
sẻ chia và yêu thương Đồng thời, từ đó, ngầm đưa ra phương cách để tạodựng bình quyền cho người phụ nữ trong cuộc sống hiện tại Ông sáng tác
từ những năm 1950 Tác phẩm đầu tay là Làng nghèo ông viết năm 1958 nhưng không được in Mãi đến năm 1990, Nguyễn Xuân Khánh in Miền hoang tưởng nhưng cũng bị phê phán kịch liệt Trư cuồng của ông cũng không được in Nhưng rồi với Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006)và gần đây là Đội gạo lên chùa (2012) thì tác giả đã được xem là
một hiện tượng văn học Ba tác phẩm đoạt nhiều giải thưởng, được giới phêbình ca ngợi và được công chúng chào đón nồng nhiệt
Hồ Quý Ly là tác phẩm tiểu thuyết ứng lịch sử tái hiện lịch sử xã hội
đầy biến động của nước ta trong giai đoạn cuối nhà Trần, đầu nhà Hồ Với
Trang 2hệ thống nhân vật nữ khá ấn tượng cùng với vốn văn hóa sâu rộng, tác giả
đã thể hiện suy nghĩ của mình về bi kịch của những người phụ nữ trong
cung cấm và bày tỏ tiếng nói đòi quyền sống cho họ Mẫu thượng ngàn tuy
dựa trên sự kiện lịch sử song lại khai thác sâu vào khía cạnh văn hóa củathời đại Trong mạch nguồn văn hóa truyền thống của dân tộc, ông pháthiện và tôn thờ tín ngưỡng thờ Mẫu Từ tín ngưỡng ấy, vẻ đẹp và sức mạnhcủa người phụ nữ được tái hiện như bản sắc, nội lực tiềm tàng của đất Việt
Hiếm có tác phẩm nào ca ngợi nữ quyền kín đáo mà thấm thía đến thế Đội gạo lên chùa cũng tái hiện lại số phận người phụ nữ trong thời điểm hai
cuộc binh đao, chống Pháp ở đầu này và chống Mĩ ở cuối kia Người phụ
nữ dù chịu bao oan nghiệt vẫn đầy sức sống dưới sự “tỏa bóng” linh thiêngcủa Phật giáo
Quả thực, vấn đề nữ quyền là đề tài sâu sắc trong các tiểu thuyết củaNguyễn Xuân Khánh Đây cũng lý do chúng tôi lựa chọn vấn đề này khinghiên cứu tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Các nghiên cứu về vấn đề nữ quyền
Vấn đề nữ quyền đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài tìm hiểu từlâu M.H Abrams phân loại thuyết phê bình nữ quyền thành hai giai đoạn,lấy mốc là những năm 1970 làm ranh giới phân chia Trong hai giai đoạn
đó, chủ yếu là giai đoạn thứ hai, chúng tôi nhận thấy có sự phân định giữacách thức phê bình nữ quyền thuộc trường phái Anh – Mỹ và cách thức phêbình của Pháp Tựu chung, họ đều có một số điểm chung trong cách tiếpcận Đó là quan niệm cho rằng nền văn minh phương Tây tràn ngập tính giatrưởng Trong nền văn minh đó, vai trò của người phụ nữ bị hạ thấp Bảnthân người phụ nữ trong quá trình xã hội hóa cũng tự hạ thấp giá trị củamình Và hơn thế, tư tưởng phụ quyền còn lan tràn trong những sáng tác
Trang 3được coi là kiệt tác văn chương của nhân loại, mà ở đó, chủ yếu vẫn là dođàn ông viết về đàn ông Lý luận phê bình nữ quyền bắt đầu thịnh hành từđầu thập niên 70, một mặt, như một nỗ lực lý thuyết hoá các phong tràotranh đấu cho nữ quyền rầm rộ trong xã hội Tây phương lúc bấy giờ; mặtkhác, như một bước phát triển mới những phát hiện táo bạo của hai nhà văn
nữ nổi tiếng khá lâu trước đó: Virginia Woolf và Simone de Beauvoir Sau
khi công trình Giới thứ hai của Simone de Beauvoir ra đời vào năm 1949
thì ngay lập tức ở châu Âu đã có hàng trăm công trình nghiên cứu khoa họckhác nhau bàn về nữ quyền (chẳng hạn quyền được đi học, quyền được lyhôn, được làm chủ kinh tế, được tự do bầu cử và tham gia chính trường,…)xuất hiện Những năm gần đây, khuynh hướng phê bình nữ quyền ở châu
Âu và Mỹ thiên về sưu tập, nghiên cứu những tác phẩm tự truyện(autobiography) của các nhà văn nữ Trong tự truyện, các nhà văn nữ kể vềchính mình bằng cái nhìn nội quan và xem mình là nhân vật trung tâm củatác phẩm
Ở Việt Nam, ý thức nữ quyền đã được manh nha hình thành trong lýluận phê bình văn học đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, phải từ năm 1986 trở đi,
âm hưởng nữ quyền trong văn học mới thực sự được các nhà văn, nhà phêbình và độc giả chú ý Ý thức phái tính được đánh thức bởi chính các “nữ sĩtiên phong cổ xúy phong trào nữ quyền qua hoạt động báo chí và văn học”như Hằng Phương, Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân Năm 1990,bài viết “Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn” (Tạp chí Văn học, số 5), nhà nghiên cứu Trương Chính đã bước đầu
thể hiện những kiến giải của mình về ý thức nữ quyền trong tiểu thuyết của
Tự lực văn đoàn Bài viết chủ yếu nhìn nhận vấn đề nữ quyền trên phương
diện nội dung tư tưởng Năm 1996, trên Tạp chí Văn học số 6, trong
chuyên mục Trao đổi ý kiến đã thực hiện cuộc bàn luận của các nhà nghiên
Trang 4cứu (Lại Nguyên Ân, Đặng Anh Đào, Phạm Xuân Nguyên, Vương TríNhàn, Đặng Minh Châu,…) về sáng tác của các cây bút nữ trên nhiềuphương diện: điểm mạnh và điểm yếu của các nhà văn nữ; phụ nữ với nghềvăn; gương mặt những cây bút nữ; đóng góp của những cây bút nữ; tiềmnăng của những cây bút nữ,…Từ giữa năm 1999 với nhiều chuyên đề liênquan đến nữ quyền trong văn học có sức lan tỏa rất nhanh trên văn đàn,nhất là ở ngoài nước Do có sự tiếp xúc với chủ thuyết nữ quyền, dòng vănhọc hải ngoại có bước đột phá rất ngoạn mục trong việc nghiên cứu về phái
tính Những chuyên đề như Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học, Tình yêu tình dục của Tạp chí Việt, chuyên đề Văn học nữ quyền, chuyên
đề Giới tính trên trang DaMau.org… liên tiếp mở ra nhiều khám phá Từ
khoảng thời gian năm 2006, những nghiên cứu về nữ quyền trong văn học
nữ trong nước xuất hiện ngày một nhiều
2.1 Các nghiên cứu về Nguyễn Xuân Khánh và các tiểu thuyết của ông
Từ năm 2000 đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và bàiviết về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết của ông Nội dung chủyếu là bàn về nội dung, nghệ thuật và bút lực của nhà văn Cụ thể là các bàiviết:
Nhà văn Lã Nguyên trong bài viết Về những cách tân nghệ thuật trong Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh đã chỉ ra “lối viết cổ điển” không xung đột với những cách tân
nghệ thuật Những cách tân nghệ thuật trong sáng tác của ông vừa mangđậm dấu ấn phong cách cá nhân, vừa thể hiện xu hướng vận động của vănhọc thời đại
Ở bài viết Đàn Bà, Con Gái Trong Tiểu Thuyết Của Nguyễn Xuân Khánh, Xuân Phong lại nhấn mạnh tới cảm hứng sinh động về hình ảnh
Trang 5những người đàn bà của làng quê Việt Nam Điều đặc biệt là tất cả những người đàn bà ấy đều rất đẹp, đầy quyến rũ Và chính những người đàn bà
ấy đã làm cái riêng trong tác phẩm của ông
Tham luận về tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Châu Diên): Tác giả khẳng định
những thành công của Nguyễn Xuân Khánh ở nhiều phương diện, đặc biệtông nhấn mạnh: “Nói đến cách tạo nhân vật, ta sẽ không thể nào quên cônglao của Nguyễn Xuân Khánh trong việc tạo ra nhân vật chính Hồ Quý Ly
Đó là con người có nhiều phẩm chất ”
Hồ Quý Ly – cuốn tiểu thuyết lịch sử đặc sắc (Đinh Công Vỹ) Tác giả
nhận xét: “Nguyễn Xuân Khánh không hề đơn giản hóa, không hề bị chiphối bởi cách xây dựng nhân vật một chiều Nhân vật của ông tập trungnhiều mâu thuẫn, giằng xé nội tâm”
Trong bài viết Vạn Xuân, Hồ Quý Ly trên nền tiểu thuyết lịch sử, in trong sách Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, (Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, năm 2002), tác giả Lại Văn Hùng cho rằng, vài năm gần đây, vẫnthấy xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử, hơn nữa chúng lại nhậnđược sự hoan nghênh của công chúng, sự công nhận của giới phê bình văn
học Theo tác giả bài viết, thì tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly (2000) của
Nguyễn Xuân Khánh có nhiều vấn đề được đề cập trong nội dung của tácphẩm như: vấn đề khoa cử, chiến tranh, tình yêu, tình dục, phong tục tậpquán, dân trí, lịch sử cương thổ địa lý, v.v Bài viết đã tập trung phân tích
những thành công về phương diện xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly Tác giả bài viết cho rằng, Hồ Quý Ly là một nhân vật đa tính cách,
cả thiện và ác, nhiều tâm trạng và cả sự biến dạng lý tưởng mà nhân vậttheo đuổi
Những nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Trần Thị Trường):
đưa ra ý kiến xác đáng về cách xây dựng những nhân vật nữ của Nguyễn
Trang 6Xuân Khánh: “Mười bốn người phụ nữ, mười bốn số phận, mười bốn tínhcách và mười bốn lối ứng xử, để rồi mười bốn kết cục” Theo bà thìNguyễn Xuân Khánh đã xây dựng hết sức thành công các nhân vật, ông đã
“chiêm ngẫm cả những ý nghĩ trong cõi thẳm sâu tâm hồn người khác”
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên trong bài: Đọc Hồ Quý Ly cũng thừa
nhận: “cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh là ở thể lưỡngtính, phân thân không chỉ với một nhân vật Hồ Quý Ly mà còn với cácnhân vật khác như Trần Khát Chân, Hồ Nguyên Trừng… nhân vật lịch sửcủa ông ta là những cá nhân mâu thuẫn, giằng xé, một bên là thúc bách (tấtyếu) lịch sử, một bên là đòi hỏi (tất yếu) con người trước thử thách vậnmạng của đất nước, chúng dân”
Trong Hồ Quý Ly – Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh cũng
đã phát hiện ra những cách tân của Nguyễn Xuân Khánh trong cách xâydựng nhân vật lịch sử: “Nhân vật trung tâm Hồ Quý Ly được mô tả từnhiều điểm nhìn khác nhau…”
Trong bài nghiên cứu mang tên Ngôn ngữ thân thể trong tiểu thuyết
“Mẫu Thượng Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh, Trịnh Thị Lan cho rằng đây là “hiện tượng độc đáo hợp quy luật phát triển của tư duy tiểu thuyết hiện đại […] nó mang tính chất lưỡng tính, vừa là thân thể, vừa là tâm hồn” Đề cập đến vấn đề này, tác giả bài nghiên cứu muốn khẳng định, ở
nhà văn Nguyễn Xuân Khánh toát lên một cái nhìn đầy tính nhân văn,
tức nhà văn đã nhìn ra “vẻ đẹp trần gian nơi con người” mà bấy lâu nó còn ẩn chìm trong “cái bề sâu của nền văn hóa Việt tràn đầy sức sống”.
Thay vì chăm chú xem nhà văn viết cái gì, có đúng sự thật không thìnhiều bài nghiên cứu đã đi sâu khai thác những vấn đề rất nhân bản, thiết
thực Các bài nghiên cứu trên đều cho rằng “tác giả muốn ca ngợi vẻ đẹp tràn đầy chất phồn thực ở họ”
Trang 7Bài nghiên cứu của Trần Thị An – Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết “Mẫu Thượng Ngàn” lại nghiên cứu khá sâu về khía
cạnh tín ngưỡng dân gian, trong đó bao gồm cả một hệ thống tín ngưỡng đa
dạng, huyền bí trong tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn Đó là những tín ngưỡng
vật linh, tục thờ cúng bách thần, những câu chuyện huyền thoại với tínngưỡng phồn thực, và đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu Đi vào phân tích tínngưỡng văn hóa tâm linh, Trần Thị An muốn làm nổi bật văn hóa ngườiViệt trong tín ngưỡng dân gian, từ đó khẳng định nét riêng trong phongcách sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh khi viết về văn hóa dân tộc
Dương Thị Huyền cũng cho rằng “Mẫu Thượng Ngàn là một tác phẩm thể hiện nguyên lí tính Mẫu đặc sắc và tinh tế” [7] Đề cập đến vấn
đề tính Mẫu, Dương Thị Huyền không nhằm mục đích chỉ hướng về đạo
Mẫu, mà qua đó để nói lên vai trò “duy trì, bảo tồn, tái sinh và phát triển… những công việc mà chỉ có người phụ nữ với bản năng làm vợ, làm
mẹ mới có thể thực hiện được” Bài viết ngắn gọn, cô đọng nhưng đã thể
hiện cách cảm của bản thân người viết một cách sâu sắc về những giá trịthiết thực của tác phẩm
Đỗ Hải Ninh lại khai thác vấn đề này khá cụ thể qua bài nghiên cứu
Quan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Bài
nghiên cứu khai thác vấn đề trong mối tương quan giữa hai tác phẩm của
Nguyễn Xuân Khánh là Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn Ở hai tác phẩm
này có những nét tương đồng và dị biệt nhưng nhìn chung cả hai đều ítnhiều đề cập đến tính lịch sử Và ở cả hai tác phẩm, quan niệm về lịch
sử của Nguyễn Xuân Khánh cũng không hoàn toàn đồng nhất, mỗi bàimột khía cạnh Để rồi, cả hai đều góp phần tạo nên hệ thống quan niệm củanhà văn Nguyễn Xuân Khánh trước sự thật lịch sử
Trang 8Trần Thanh Giao trong Thử Nhìn “Đội Gạo Lên Chùa” Qua Góc
“Cổ Điển Mới” nhận ra tiểu thuyết Đội gạo lên chùa đã vận dụng tốt
những thủ pháp cách tân, kết hợp sự mới mẻ với sự giản dị và sự chín chắn,không đối lập "truyền thống đích thực” với "độc sáng đích thực"", và bútpháp là "lối kể chuyện thông thường", là cách tự sự cổ điển Cổ điển thì rõrồi, vì ngay trên bìa bốn của những lần in đầu, có ghi:“ Tiểu thuyết Đội gạolên chùa được viết theo lối cổ điển…” Có thể khảo sát cách tự sự cổ điển
ấy qua bố cục, hệ thống hình tượng, hệ thống nhân vật, diễn ngôn theo lối
kể chuyện thông thường
Bài viết Tinh thần Phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh của tập thể ba tác giả Phùng Nga, Lưu Vân
và Đoàn Đức Hải thì chỉ ra sự quan tâm tới Phật giáo của Nguyễn XuânKhánh Ông phối trộn nhiều nguồn sử liệu với sự hư cấu của tiểu thuyết tạonên cảm quan Phật giáo rất gần gũi nhưng đầy nghệ thuật
Ngoài ra còn một số tiểu luận, luận văn chuyên sâu như:
Tiểu luận Đặc sắc tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa (Mai Anh Tuấn) đã tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh từ góc nhìn văn hóa học, nhân học văn hóa Theo đó, các đặc điểm
và giá trị nổi bật của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh được qui về: Một là,những mô tả về lễ hội, những tạo tác thói quen tín ngưỡng và thăm dò tâmthức tôn giáo của Nguyễn Xuân Khánh cho thấy chúng là tạo phẩm văn hóa
và do đó, các trạng thái nhân sinh sẽ thâu nhận chúng như một hạt nhân trộicấu thành bản sắc dân tộc
Luận văn Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết lịch sử qua Hồ Quý Ly
và Sông Côn mùa lũ, (Đại học Sư phạm Hà Nội 1, năm 2003), tác giả
Nguyễn Thị Liên đã minh định về thể loại của tác phẩm này Tác giả cho
Trang 9rằng tính chất đặc trưng của Hồ Quý Ly là một tiểu thuyết lịch sử hiện đại
có nhiều đóng góp về mặt nội dung thể loại
Tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly (Lê Thị Chung- 2004) đã chỉ ra những
thành công của cuốn tiểu thuyết ở góc độ đặc điểm thể loại tiểu thuyết lịchsử; khẳng định vị trí của Hồ Quý Ly trong tiến trình phát triển của tiểuthuyết lịch sử Việt Nam Lê Thị Chung còn rất quan tâm đến vấn đề nhânvật của cuốn tiểu thuyết Luận văn đã có cách đánh giá một cách khá hệthống về đặc điểm thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly: nhân vậtlịch sử, nhân vật hư cấu, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vậttrung gian, …cho ta hình dung về sự đa dạng, phong phú của hệ thống nhânvật trong tác phẩm
Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động của tiểu thuyết lịch sử nước
ta nửa sau TK XX (Đỗ Hải Ninh- 2003): đã chỉ ra một số nét đặc sắc của
thế giới nhân vật trong cuốn tiểu thuyết: nhân vật đầy sức sống, nhân vật tưtưởng…
Nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1995 đến nay (Phạm Thị
Thu Thủy -2005) Khẳng định: Nguyễn Xuân Khánh có thành tựu trongviệc xây dựng nhân vật tiểu thuyết, đặc biệt xây dựng nhân vật chính HồQuý Ly
Ngoài ra, còn rất nhiều những ý kiến khác nhau xung quanh tác giảNguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết của ông đăng rải rác trên các báo, tạpchí và các trang thông tin điện tử
Những ý kiến trên đã cung cấp cho chúng tôi một điểm tựa về lý luận vàvăn học sử để chúng tôi thực hiện đề tài luận văn của mình Tuy nhiên,
chúng tôi khẳng định hiện chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về Vấn
đề nữ quyền trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
3 Phạm vi, đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 103.1 Phạm vi nghiên cứu: những ý kiến đánh giá trong các bài viết, công
trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo và luận án những vấn đề liênquan đến tác giả Nguyễn Xuân Khánh và các tiểu thuyết của ông Giới hạn
ba tiểu thuyết: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh cho
nền tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây về đề tài nữ quyền
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu các khái niệm liên quan tới nữ quyền và sự vận động của ýthức nữ quyền trên phương diện văn học
- Tìm hiểu khái niệm tiểu thuyết
- Tìm hiểu tác giả Nguyễn Xuân Khánh và các tác phẩm tiêu biểucủa ông
- Tìm hiểu vấn đề nữ quyền trong tiểu thuyết của Nguyễn XuânKhánh, từ phương diện kết cấu, nhân vật cho tới nghệ thuật xây dựngtruyện
4 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu thể loại:
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp tiểu sử
- Ngoài ra, luận văn còn vận dụng những phương pháp nghiên cứuhiện đại khác đang được sử dụng trong nghiên cứu văn xuôi như thipháp học, tự sự học, cấu trúc, v.v
Trang 11- Cùng với những phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi sử dụngcác thao tác nghiên cứu như khảo sát, thống kê, phân loại, so sánh,phân tích, tổng hợp, khái quát, đánh giá.
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
5.1 Hệ thống và lý giải một cách cơ bản những vấn đề lý luận về nữ quyền
và nữ quyền trong văn học
5.2 Bước đầu chỉ ra được ý thức về nữ quyền trong tiểu thuyết NguyễnXuân Khánh như một bước tiến/ hệ quả của tiến trình dân chủ hoá xã hội
và văn học
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Nêu ra một số vấn đề lí thuyết chung để làm cơ sở cho việc đivào khảo sát nội dung, nghệ thuật tỏng tiểu thuyết Nguyễn Xuân KhánhChương 2: Tìm hiểu vấn đề nữ quyền trong tiểu thuyết của Nguyễn XuânKhánh dưới góc độ nội dung
Chương 3: Tìm hiểu vấn đề nữ quyền trong tiểu thuyết của Nguyễn XuânKhánh dưới góc độ nghệ thuật
NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết chung1.1 Vấn đề nữ quyền
Trang 121.1.1 Khái niệm về nữ quyền và trường phái phê bình văn học nữ quyền
1.1.1.1 Khái niệm về nữ quyền
Khái niệm nữ quyền ( Feminism, women’s right) gắn liền với “hoạt động chính trị và xã hội, sinh ra từ ý thức về sự bình đẳng trên phương diện giới Nói một cách khái quát, khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị
và xã hội của người phụ nữ Thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến
sự bình đẳng với nam giới” [6] Đây là một khái niệm tiến bộ trên thế giới,
quen thuộc với con người thời hiện đại, có mức độ phổ biến rộng trongphạm vi xã hội Trước kia, người phụ nữ phải chịu quá nhiều thiệt thòi, xãhội gắn cho họ những điều thuộc về bản năng, gò ép họ trong khuôn khổ
Đã đến lúc người phụ nữ phải đấu tranh cho quyền bình đẳng giới củamình Vì vậy, bằng phong trào nữ quyền, họ đã đấu tranh cho sự thừa nhậnbản sắc nữ giới đầy khát khao và lên tiếng chống lại qưyền lực đàn áp củađịnh chế chính trị, của xã hội với phụ nữ
Tuy nhiên, khái niệm này có lịch sử phát triển gian nan Ý thức nữquyền đã có tiền đề từ hàng ngàn năm trước nhưng nó chỉ thực sự phát triểnrực rỡ trong điều kiện lịch sử xã hội văn mình, hiện đại Khởi đầu ởphương Tây, phụ nữ đã đấu tranh giành quyền bình đẳng và làm dấy lênnhững hoạt động chính trị - xã hội mang tính nữ quyền, trong tư thế đối lậpvới nam giới Song cũng phải rất vất vả phụ nữ mới chiến thắng 8.3 - ngàyphong trào đấu tranh của phụ nữ chiến thắng được lấy làm ngày Quốc tếphụ nữ Trong khi đó, ở phương Đông, ý thức nữ quyền ở phương Đôngtồn tại trong trạng thái thầm lặng, kín đáo hơn Ở Việt Nam, phong trào nữquyền gắn liền với phong trào cứu quốc nữ giới vừa đấu tranh giải phóngdân tộc, vừa cởi trói cho giới của mình khỏi những ràng buộc cũ kĩ của xãhội Đó không phải là cuộc đấu tranh của một giới phản kháng lại một giới
Trang 13mà là cuộc đấu tranh chung của một cộng đồng xã hội có tư tưởng cấp tiến
về giới chống lại những hệ tư tưởng cổ hủ áp bức người phụ nữ
1.1.1.2 Khái niệm trường phái phê bình văn học nữ quyền
Wang Ning, giáo sư chuyên ngành Tiếng Anh và Văn học so sánh,đồng thời là Giám đốc Viện Văn học So sánh và Nghiên cứu Văn hoáthuộc Đại học Ngôn ngữ và Văn hoá Bắc Kinh đã đề ra khái niệm văn học
nữ quyền (Female literature) bao gồm những sáng tác của phụ nữ có ý thức
nữ quyền mạnh mẽ [5;tr9] Ý thức nữ quyền đã bước vào văn chương vớinhiều hoạt động mạnh mẽ Văn học được xem là tiếng nói của tâm hồn,nhất là đối với phụ nữ Các nhà văn nữ tìm đến con đường văn học khôngchỉ để bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình mà còn để đấu tranh đòi bìnhđẳng về giới, đòi quyền sống cơ bản của người phụ nữ Các nhà văn đã đàosâu, làm phong phú hơn những đề tài về hôn nhân, tình yêu, gia đình, sựnghiệp, con cái theo cách rất phụ nữ Đặc biệt, họ đề cập đến cả nhữngchuyện cấm kị như đề cao tính dục, đề cao thân xác, đề cao vẻ đẹp củangười phụ nữ và đả kích vào thế giới gia trưởng nam quyền Nhiều nhà văn
nữ của Việt Nam khước “hậu tố nữ” trong việc định danh họ và trong khisáng tác
Từ bộ phận văn học này, giới phê bình đã hình thành trường phái phêbình văn học nữ quyền Từ đó, có thể định nghĩa: “Phê bình nữ
quyền”: “Là một trường phái phê bình văn học thoát thai từ phong trào chính trị xã hội, phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, chủ trương xác lập một nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học riêng cho nữ giới” [38;tr18].
1.1.2 Nữ quyền trong văn học Việt Nam
1.1.2.1 Nữ quyền trong văn học Việt Nam truyền thống
Trang 14Chung trong dòng chảy của văn học thế giới, văn học Việt Nam cũngsản sinh ra dòng văn học nữ quyền Dòng văn học này có sự phát triển ngay
từ những tác phẩm văn học cổ Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này trongvăn học dân gian, văn học thời trung đại Sự xác lập ý thức nữ quyền trongvăn học Việt Nam truyền thống thể hiện qua văn hóa Mẫu hệ - nền tảng của
ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam truyền thống Tục thờ Mẫu lan
tỏa và ngày càng được mở rộng theo bước chân và tấm lòng thành kính củanhững người phụ nữ tảo tần Lý do khiến Đạo Mẫu ngày càng được mởrộng cũng gắn liền với cuộc sống của người phụ nữ Đạo Mẫu chắp cánhcho những ước vọng, khát khao của người phụ nữ, đồng hành cùng vớingười phụ nữ trong khát vọng may mắn, bình an Gắn với cội nguồn vănhóa Mẫu, ý thức nữ quyền đã dần được người phụ nữ Việt Nam xác lập Vìvậy, các tác phẩm dân gian đã viết về người phụ nữ một cách thiện cảmhơn với việc ca ngợi sắc đẹp sắc sảo, đằm thắm, hồn hậu của người phụ nữ:
“Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”
Tuy nhiên, đạo Mẫu bị áp chế bởi đạo Nho Sống trong sự áp chế củaNho giáo, người phụ nữ vẫn luôn được khuyến khích cam chịu thân phận,
an phận thủ thường Có lẽ, vì thế, bóng dáng người phụ nữ trong ca daovẫn là những người cam chịu, vất vả, họ chỉ dám cất tiếng than thân tráchphận và gửi gắm nỗi niềm riêng vào những câu ca, lời hát chứ chưa biếtcách cải hóa số phận Số phận bi đát của người phụ nữ được thể hiện trong
ca dao như một tiếng kêu thương:
Trang 15“Cầm trâu, cầm áo, cầm khăn
Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em”
Bên cạnh cảm quan thân phận mang đặc thù của tính nữ đó, ngườiphụ nữ xưa đã mơ hồ nhận ra sự bất bình đẳng nam nữ trước quan niệmđạo đức đã trói chặt người phụ nữ trong luân lý, tam tòng:
“Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thường
Chữ “trinh” đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
Vắng sao Hôm có sao mai
Vắng chàng thiếp đã có trai trong nhà
Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm”
Tư tưởng phản kháng ấy thể hiện rõ nhất trong thơ Hồ Xuân Hương
Bà đã tạo ra bước đột phá trong văn học, khẳng định bước tiến và là ngườiđặt nền móng cho chủ nghĩa nữ quyền trong văn học Việt Nam Phong cáchthơ của nữ sĩ họ Hồ ấn tượng và độc đáo bởi sự phản kháng, chống lại chế
độ đa thê, chống lại chế độ xã hội trọng nam khinh nữ một cách quyết liệt.Thơ bà còn khơi đầu cho lối viết thân thể đặc trưng ở nữ giới với ngôn ngữthơ mang nhiều ẩn dụ tính dục, cảm quan tính dục Hầu hết các bài thơ của
Hồ Xuân Hương đều có ngụ ý tả cảnh làm tình, miêu tả những bộ phậnnhạy cảm của cơ thể, nhất là cơ thể người phụ nữ Bằng những câu thơ
Trang 16Nôm mầu nhiệm, dường như, nữ sĩ họ Hồ đã đánh lên một tiếng trống làmbừng tỉnh cơn mê ngủ của cả một lớp tài tử văn nhân Nho học lúc bấy giờ.
Tuy nhiên, nhìn chung, trong thời kì này, những biểu hiện phảnkháng với những bất công trong xã hội đối với người phụ nữ trong văn họcViệt Nam truyền thống còn yếu ớt Ý thức nữ quyền còn bị nhiều thứ chiphối nên chưa thể trở thành ý thức tự giác
1.1.2.2 Nữ quyền trong văn học hiện đại Việt Nam
Sau năm 1858, phụ nữ dần ý thức được thân phận của mình và bắtđầu cất tiếng nói đòi bình đẳng Năm 1918, lần đầu tiên một tờ báo dànhriêng cho phụ nữ đã ra đời (Nữ giới chung), do một phụ nữ làm chủ bút làSương Nguyệt Anh Những cây bút nữ như Manh Manh nữ sĩ, Vân Hương
nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương nữ sĩ,Phan Thị Bạch Vân,… đã có những trao đổi, tranh luận trên văn đàn, đưa ranhững cách nhìn nhận, những quan điểm về vấn đề nữ quyền Trong cuốn
Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu nhận định: “Một
Anh Thơ chân tình mộc mạc, một Mộng Tuyết trong trẻo, hồn nhiên, mộtNgân Giang tài hoa cổ kính, một Hằng Phương đằm thắm, ngọt ngào, mộtVân Đài duyên dáng dịu nhẹ… và bấy nhiêu thôi cũng đủ góp phần chocung đàn thơ ca Việt Nam thêm đa dạng về âm sắc và giọng điệu” [38;tr43] Tư tưởng nữ quyền cũng được thể hiện trong tác phẩm của Tự lựcvăn đoàn Chống lại lễ giáo phong kiến hà khắc và đề cao hạnh phúc cánhân luôn là mục đích mà các nhà văn Tự lực văn đoàn hướng đến Và đểđạt được mục đích sang tác của mình, Tự lực văn đoàn đã xây dựng hìnhảnh những cô “gái mới” không chỉ đẹp về ngoại hình mà luôn mang trongmình mong muốn được sống thực là mình trong tình yêu và được hạnh
Trang 17phúc Những cô “gái mới” trong Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự,… thể hiện rất rõ điều đó.
Cách mạng tháng Tám thành công mở ra trang sử mới cho dân tộc
Việt Nam Ba mươi năm văn học 1945 – 1975 là thời kì phát triển rực rỡnhất của văn học cách mạng Việt Nam Trong nhiều tác phẩm, người phụ
nữ được hình dung như những anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp của thời đại
như chị Sứ (Hòn đất của Anh Đức), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu), Trần Thị Lý (Người con gái Việt Nam của Tố Hữu),
… Tuy nhiên, văn học giai đoạn này chỉ ghi lại không khí và tâm trạng của
cả một thời đại chứ ít nói về con người cá nhân Hình tượng người phụ nữ
có được xây dựng song hầu hết là những hình tượng con người phi giớitính Trong suốt cả giai đoạn văn học này, Xuân Quỳnh là một hiện tượng
hy hữu Đọc thơ Xuân Quỳnh, người ta có thể cảm nhận được một khátvọng tình yêu mang hơi hướng nữ tính cuồng nhiệt không kém gì nam giới
Với Sóng, Thuyền và biển, Mùa hoa doi, đời tư Xuân Quỳnh được xem
như một “bông hoa lạ” trong nền thơ kháng chiến Tiếp đến là Túy Hồng,
bà là nhà văn nữ vốn nổi tiếng trong văn học đương thời về những ngôn từ
“bạo dạn” khi miêu tả đời sống tình dục Văn chương Túy Hồng từng làmột hiện tượng không ai nghiên cứu văn học giai đoạn này có thể bỏ qua
Nếu Vết thương dậy thì (1967) còn miêu tả người phụ nữ e ấp, thụ động và
là nô lệ trong đời sống tình dục thì ở những tác phẩm sau này như Trong mưa móc hạt huyền (1970), Những sợi sắc không (1970), Bướm khuya (1971), Eo biển đa tình (1973),… những nhân vật nữ thẹn thùng ở ngưỡng
cửa tình yêu và tình dục đã trở thành những nhân vật sành sỏi, đam mê và
có kiểm soát trong dục tình Nhân vật Trầm – một giáo sư đã ly dị chồng
trong Những sợi sắc không là một nhân vật như thế Trầm sống độc lập,
phóng khoáng, hút thuốc lá, sẵn sàng uống rượu mạnh với các bạn trai và
Trang 18nhất là sống buông thả một cách có kiểm soát Viết về tình dục nơi ngườiphụ nữ, ngòi bút Túy Hồng bạo dạn, thẳng thắn với những cảm xúc mạnh
mẽ, dữ dội về sinh lý; bà đã dám mở toang cánh cửa khuê phòng của mình
để độc giả, nhất là độc giả nam có thể trải nghiệm những điều sâu kín trongnỗi lòng người phụ nữ
Từ năm 1986, đất nước Việt Nam chính thức bước vào công cuộcđổi mới Sự thức nhận mới về giá trị con người, về quyền sống, quyền cánhân và xu hướng toàn cầu hóa đã đem lại những cơ hội và thách thức chongười Việt Nam nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng Đáp ứng sự thứcnhận ấy, nền văn học Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của vănhọc nữ quyền Sự góp mặt của hàng loạt cây bút nữ thực sự tài năng nhưPhạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban,Nguyễn Thị Thu Huệ, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu,Phong Điệp, Di Li, Nguyễn Ngọc Tư, đã mang đến cho văn đàn nhữngtiếng nói mới mẻ “Nếu như trước đây, văn xuôi viết về người phụ nữthường theo hướng phê phán hay ngợi ca từ cái nhìn đạo đức, chỉ sử dụngnhân vật nữ để chuyển tải một quan niệm, tư tưởng thì trong văn xuôi thời
kỳ đổi mới, việc xem phụ nữ như một khách thể thẩm mỹ độc lập, như mộtthế giới riêng đầy bí ẩn và hấp dẫn cần được khám phá và lý giải đã trởthành một trào lưu văn học mới” [40;tr55] Bằng các trang viết của mình,các nhà văn nữ thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến hình ảnh người phụ nữ với
số phận, hạnh phúc và quyền sống riêng, với ước mơ được tự do phơi mởcái tôi cá nhân của chính mình với những giọng điệu riêng, cách thức riêng.Người phụ nữ đặc biệt hiện lên qua những khát khao hạnh phúc đời thường
và họ dùng tính dục như một phương thức thể hiện bản ngã Đồng thời cácnhà văn cũng đề cập đến những người đàn ông Nhân vật đàn ông hầu hếtđều trở thành đối tượng để công kích, lên án với nhiều ở những mặt hạn
Trang 19chế Mỗi khuôn mặt đàn ông được miêu tả ở mỗi góc nhìn riêng tạo ra mộtbức tranh về thế giới đàn ông với đủ các gam màu tối.
Dưới góc độ nghệ thuật, văn chương cũng đã thể hiện tính nữ quyền
rõ rệt Đầu tiên là qua việc xây dựng không gian, thời gian Không gian,thời gian trong sáng tác của các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn nữ đượcthể hiện ở hai đặc điểm chính: xáo trộn, bộn bề và mang tính huyền thoại
Nó mang dáng dấp của những ám ảnh, ma mị, rối rắm của cuộc đời và củalòng người Không gian, thời gian xáo trộn thể hiện cuộc sống bất an củacon người giữa một xã hội bất toàn Còn không gian huyền thoại cổ tích lạithể hiện khát vọng muốn được che chở của nữ giới Bằng cảm quan pháitính, thông qua sự bức bối, dồn nén của yếu tố không gian, thời gian đongđầy trong tác phẩm, các cây bút nữ đã lên tiếng đòi quyền được sống hạnhphúc trong một không gian hạnh phúc hơn cho những người phụ nữ trongcuộc sống đương đại Thứ hai, nó thể hiện qua ngôn ngữ, giọng điệu
Người phụ nữ viết văn giai đoạn trước những năm 1975 vẫn luôn gìn giữ,
bảo toàn thứ ngôn ngữ dịu dàng, mực thước, đầm đìa cảm xúc trong tácphẩm của mình Tuy vậy, từ sau năm 1975, một trào lưu ngôn ngữ giọngđiệu mới đã được xướng lên mà những cây bút nữ tiên phong là Phạm ThịHoài và Thuận Đi sâu vào tìm hiểu ngôn ngữ giọng điệu văn xuôi nữ saunăm 1975, chúng tôi tìm thấy sự muôn màu của thế giới ngôn từ trong tácphẩm của các cây bút nữ Từ ngôn ngữ bình dân tới ngôn ngữ bác học, từngôn ngữ lịch sự tới ngôn ngữ chợ búa,…Đặc biệt trong đó, các nhà vănchú trọng sử dụng ngôn ngữ đời thường mang nét gai góc, thô ráp Dẫuvậy, không phải vì thế mà văn phong nữ mất đi nét nữ tính hồn hậu Bảnchất thiên tính nữ vẫn luôn ẩn chứa sau ngôn ngữ giọng điệu ấy Bên cạnhcách đưa ngôn từ đời thường vào tác phẩm thì các tác giả nữ trong văn xuôiđương đại cũng thể hiện phái tính mạnh mẽ thông qua ngôn ngữ biểu đạt,
Trang 20mà cụ thể là thông qua ngữ điệu Phạm Thị Hoài cho độc giả thấy tài năngdiễn ngôn trong sáng tác của mình bởi sự đan xen của nhiều giọng điệu.
Nếu Thiên sứ, Kiêm ái, Những con búp bê của bà cụ chủ yếu là kiểu giọng lạnh lùng, dửng dưng vô cảm thì ở Man nương, Một anh hùng, Tiệm may Sài Gòn lại chủ yếu là kiểu giọng bỡn cợt pha lẫn chua ngoa Thứ ba, nó
thể hiện ở huynh hướng tự truyện như một nét đặc thù của lối viết nữ Cáctác giả nữ thường mang khuynh hướng tự truyện như là một sự khẳng địnhbản ngã trước thế giới đàn ông, viết như một sự thoả mãn cho niềm thíchthú được nói về mình, được tự do phô bày bản thể; họ viết để được bày tỏlòng mình, để làm dịu nỗi đau, và để nói những điều mà xưa nay họ chưatừng được nói; viết để tìm sự cảm thông, chia sẻ, an ủi của những ngườikhác Những tác phẩm giàu tính tự thuật của nữ giới thể hiện rất rõ chân
dung và cuộc sống cá nhân nhà văn, như: Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Tiền định (Đoàn Lê),…
1.2 Nhìn chung về tiểu thuyết
1.2.1 Khái niệm
Theo cách hiểu của lí luận và phê bình văn học hiện đại, tiểu thuyết làmột thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc đểphản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống conngười, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữvăn xuôi theo những chủ đề xác định [10;tr670]
Đặc trưng đầu tiên của tiểu thuyết là tính chất văn xuôi Nó dungchứa toàn vẹn hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phứctạp muôn màu của hiện thực đời sống Thứ hai, tiểu thuyết tuy thường gặpnhững kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lý, kết cấu luận đề, kết cấu đơntuyến, kết cấu đa tuyến,…song tiểu thuyết vẫn không chịu được những chế
Trang 21định chặt chẽ về đề tài, chủ đề Nó không có quy phạm cố định và ngườiviết thậm chí có thể phá vỡ những khuôn mẫu sẵn có để vận dụng một cáchlinh hoạt và sáng tạo các hình thức kết cấu khác nhau Thứ ba, tiểu thuyếtlấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm với việc xuấthiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và
kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện Nhân vật kể chuyện này cũng đadạng về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhânvật xưng "tôi", cũng có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nêncác tác phẩm có một điểm nhìn trần thuật Việc tăng thêm các điểm nhìn ởtác phẩm làm tác phẩm trở nên đa thanh, thú vị hơn Thứ tư, tiểu thuyết sửdugj nhiều hư cấu nghệ thuật Hư cấu cho phép tác phẩm tái hiện nhữngthời đại lịch sử phát triển trong câu chuyện hư cấu, không hiện thực như sửhọc, và những nhân vật hoàn toàn không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu ngoàiđời như những tác phẩm thuộc thể ký Thứ năm, tiểu thuyết mang tính đadạng về màu sắc thẩm mỹ Trong tác phẩm, ta có thể thấy cả cái bi kịch, cáicái cao cả, hài kịch là cái thấp hèn, thơ là cái đẹp và cái lý tưởng, Ở tiểuthuyết không diễn ra quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mỹ khi tiếp nhậnhiện thực mà nội dung của nó thể hiện sự pha trộn, chuyển hóa lẫn nhaucủa các sắc độ thẩm mỹ khác nhau: cái cao cả bên cái thấp hèn, cái đẹp bêncái xấu, cái thiện lẫn cái ác, cái bi bên cạnh cái hài,…Ở phương diện cuốicùng, tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp Nó có thể dungnạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách nghệ thuật của các thểloại văn học khác như thơ (những rung động tinh tế), kịch (xung đột xãhội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật của những loại hìnhngoại biên như hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanh âm), điêu khắc (sự cânxứng, chi tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức màn hiện thực); và thậm
Trang 22chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm học, đạo đứchọc và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng khác v.v
1.2.2 Phân loại
Quá trình phát triển thể loại tiểu thuyết hiện đại ở các nền văn họcchâu Âu cho thấy hai hướng cấu trúc tiêu biểu:
Tiểu thuyết mở có ngọn nguồn từ Đôn Kihôtê (1605, 1615), miêu tả
xã hội một cách đa diện, tạo các lý do thật chi tiết cho sự tiến triển củanhân vật chính, cho nhân vật này can dự vào nhiều biến cố và những biến
cố ấy lại là nơi cư ngụ cho vô số nhân vật phụ Kiểu tiểu thuyết này cũngđặc trưng ở sự miêu tả rộng rãi hoàn cảnh ngoại giới khách quan mà trướcnhất là hoàn cảnh xã hội
Tiểu thuyết theo xu hướng cấu trúc "đóng" có thể tính ngọn nguồn từtác phẩm Quận chúa Clèves (La princesse de Clèves) (1678) của nữ sĩ M
M de La Fayette, thể hiện sự tập trung vào cuộc đời của một con người,đôi khi vào chỉ một xung đột, một tình huống, do đó mang tính hướng tâm,đồng tâm, xét về kết cấu Xu hướng cấu trúc tiểu thuyết này đã rất sớm trởthành ngọn nguồn của những sáng tác tiểu thuyết tâm lý giai đoạn sau Phân chia loại thể tiểu thuyết theo nội dung, đề tài đã có từ xa xưatrong lịch sử văn học các nước phương Tây cũng như phương Đông Cáctài liệu về lịch sử tiểu thuyết ở Trung Quốc nói đến các loại tiểu thuyết sau:
- Tiểu thuyết chí quái: những tác phẩm kể những chuyện quái dị Có thể
kể đến Sưu Thần Ký, Liệt dị truyện đời Lục Triều
- Tiểu thuyết chí nhân: ghi về lời nói, việc làm của người thường có ýnghĩa tiêu biểu, như Thế thuyết tân ngữ
Trang 23- Tiểu thuyết truyền kỳ thịnh hành thời Đường, Tống, Nguyên, Minh,như Cổ kính ký, Bạch Viên truyện, Tiễn đăng tân thoại, Ngu sơ tân chí.
- Tiểu thuyết thoại bản đời Tống, Nguyên, Minh, tiêu biểu là các tácphẩm của Phùng Mộng Long, Lăng Mông Sơ
- Tiểu thuyết chương hồi: những tiểu thuyết trường thiên bao gồmnhiều hồi, đầu mỗi hồi có "hồi mục", là một hoặc hai câu thất ngôn dự báotình tiết chính của hồi, mỗi hồi viết về một sự kiện chủ yếu và kết thúc hồi
có lời dẫn dắt đến hồi tiếp
Tiểu thuyết ở phương Tây xuất hiện đa dạng tùy theo đặc điểm vănhọc dân tộc Tuy nhiên, thường thấy các thể sau:
- Tiểu thuyết hiệp sĩ (chevalric romance): là thể loại văn học tao nhãthời trung đại xuất hiện ở Trung và Nam Âu, nhân vật chính là hiệp sĩ đilập công vì vinh quang và vì người tình Tiêu biểu là các tiểu thuyết về vuaArter, câu chuyện Tristan và Iser v.v
- Tiểu thuyết du đãng (picaresque novel): nhân vật trung tâm là những
kẻ bợm nghịch xuất thân từ dưới đáy xã hội, thường có óc thông minh, hàihước, hay chơi khăm ông chủ bà chủ Có thể kể đến tác phẩm Gil Blas ởSantillanne của Alain-René Lesage
- Tiểu thuyết đen (roman noir), còn gọi là tiểu thuyết kinh dị (gothicnovel): xuất hiện ở Anh vào cuối thế kỷ 18, với cốt truyện kết hợp cácmotif kinh dị, cạm bẫy, hồn ma, sức mạnh siêu nhiên với niềm hoài niệmquá vãng Nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe sau này đã tiếp tục với loại thể tiểuthuyết này trong nhiều tác phẩm của mình
Trang 24- Tiểu thuyết trinh thám (roman detective): nhân vật chính là thám tử,cốt truyện là điều tra vụ án, tình tiết được giữ bí mật cho đến kết thúc tácphẩm Tiêu biểu là tác phẩm của Conan Doyle.
- Tiểu thuyết lịch sử (historical novel): lấy nhân vật, sự kiện lịch sử là
đề tài, tuy có hư cấu một số nhân vật hay tình tiết phụ nhưng về cơ bản làtôn trọng sự thật lịch sử Pie Đại đế của Tolstoi thuộc dạng này
- Tiểu thuyết giáo dục: học hỏi, kể về quá trình trưởng thành của mộtcon người như David Corpefil của Dickens
- Tiểu thuyết luận đề (problem novel): thông qua nhân vật và sự kiệntrình bày một vấn đề chủ yếu
- Tiểu thuyết tâm lý (psychological fiction): đặt trọng tâm ở miêu tảdiễn biến tâm lý, động cơ, cảnh ngộ của nhân vật Các tiểu thuyết củaHenry James thuộc dạng này
- Tiểu thuyết tự truyện (autobiographical novel): nhà văn tự kể lạiđời mình một cách khách quan, trung thực, thịnh hành ở thế kỷ 19 như bộ
ba tác phẩm Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi của M.Gorki
1.2.3 Sự phát triển tiểu thuyết ở Việt Nam
Ở Việt Nam tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tới thế kỷ 18, ta mới thấy
Hoàng Lê nhất thống chí - tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu thuyết, là
pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc.Phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểuthuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại Cùng phong trào thơ mới,tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc vàthành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: những cây bút nổi tiếng của
Trang 25Tự Lực văn đoàn, những người đã thúc đẩy sự hình thành thể loại như NhấtLinh, Khái Hưng, Thạch Lam; và những nhà văn hiện thực phê phán nhưNgô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, NguyênHồng Trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), độingũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn HuyTưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,Nguyên Ngọc) Ít nhiều tiểu thuyết Việt Nam có thành tựu tiệm cận với thểloại tiểu thuyết-sử thi vốn mang đề tài hoành tráng và dung lượng đồ sộ,
mà một trong số đó là Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi Sau 1986, lịch sử tiểu
thuyết Việt Nam sang trang mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, LêLựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, có nội dung sâu sắc hơn về thân phậncon người và hình thức có dấu hiệu manh nha hệ hình văn chương hậu hiệnđại
1.3 Nguyễn Xuân Khánh và các tiểu thuyết của ông
1.3.1 Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
1.3.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1932 tại làng Cổ Nhuế, Từ Liêm, HàNội Ông đỗ tú tài Toán, học đại học Y khoa Hà Nội cho đến hết năm 1952thì ra vùng tự do tham gia bộ đội Trong khoảng mười năm, ông ở mộtđơn vị pháo binh rồi dạy văn hóa ở trường Sĩ quan Lục quân trước khi trở
về làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội Từ năm 1966, ông là phóng
viên báo Thiếu niên Tiền phong trước khi về hưu non vào năm 1973 Hiện
ông sống ở Hà Nội
Khi còn đang công tác, ông đã từng gặp một số trục trặc về công việcnhưng lại gánh gồng trên vai bài toán cơm áo gạo tiền cho tới bảy miệngăn; do vậy, ông đã làm nhiều nghề để kiếm sống, như: dịch thuật lẫn thợ
Trang 26may, có thợ khóa và chuyên nghiệp đi bán máu, có làm bảo vệ ban đêm lẫnnuôi lợn… Ông cho rằng: “nghề nào kiếm được ra tiền bằng bàn tay lươngthiện đều cao quý như nhau Tôi luôn cảm ơn những ngày tháng ấy, nhữngtrải nghiệm ấy, những giọt mồ hôi và cả nước mắt ấy Tất cả đã giúp tôi cómột bề dày vốn sống vô giá để viết lách, hun đúc cho tôi một ý chí để vượtlên”, “Từ những năm 60, tôi đã nghiên cứu giáo lý nhà Phật Tôi hiểu mọi
hệ lụy rồi cũng sẽ qua, cứ thấm lời răn từ bi hỉ xả, biết khoan dung vị thathì việc dữ rồi cũng sẽ hóa lành Vả lại, tôi cứ nghĩ đơn giản thế này, conngười được sinh ra trong cõi đời này đã là niềm hạnh phúc Và hãy luôn cốgắng giúp cõi đời ấy ngày một đẹp lên, ấy là hạnh phúc đã được nhân đôi”[35;tr29]
Ý chí vươn lên ấy luôn cháy bỏng trong ông, khi trong suốt nhữngtháng ngày khổ đau, vất vả ấy, ông vẫn không ngừng học, không ngừngđọc, không ngừng tích lũy vốn hiểu biết về văn hóa, triết học, phong tục tậpquán làng xã Việt khổng lồ Những đạo Mẫu, đạo Phật, những chính sáchcải cách canh tân của vị vua họ Hồ mà ông gửi gắm trong các tác phẩm saunày đều có nguồn gốc từ đó Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh luôn khẳngđịnh rằng, ngoài những duyên may, thì ông là một người không ngừng nghỉ
tự học, tự đọc Để viết được một cuốn tiểu thuyết, ông đã phải đọc rất nhiềucuốn sách về phong tục tập quán, về văn hóa, về phân tâm học, văn học cổkim trong ngoài nước Cũng chính bằng phương pháp tự học, mà ông đã trởthành một dịch giả với những cuốn sách như Những quả vàng (tiểu thuyếtcủa Nathalie Sarraute, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1996), Chuông nguyện cầucho kẻ đã khuất (tiểu thuyết của Taha Ben Jelloun, Trung tâm Văn hoá -Văn minh Pháp và NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1998), Bảy ngày trên khinh khícầu (Jules Verne, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1998), Hoàng hậu Sicile (tiểuthuyết của Pamela Schoenewaldt, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1999),Tâm lý
Trang 27học đám đông (tiểu luận của Gustave le Bon, NXB Tri thức, Hà Nội, 2006)hay cuốn Sự hình thành biểu tượng ở trẻ nhỏ của tác giả Jean Piaget (JeanPiaget là một nhà tâm lý học và triết học người Thụy Sĩ, nổi tiếng về nhữngnghiên cứu nhận thức luận với trẻ em)
1.3.1.2 Sự nghiệp
Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu những trang tiểu thuyết đầu tiên củamình năm 1959 Đó là một tiểu thuyết viết về làng quê, đã được nhà xuấtbản Quân đội nhân dân nhận in, nhưng vì ông không chỉnh sửa kịp nêncuốn tiểu thuyết đành bỏ dở, không được in Sau đó, vì cuộc sống khókhăn, ông lăn lộn với chặng đường mưu sinh mà vắng bóng trên văn đànsuốt 20 năm (1969 – 1989) Mãi năm 1990, Nguyễn Xuân Khánh mới in
Miền hoang tưởng, sách vừa ra, tác giả liền bị phê phán kịch liệt Tác phẩm Trư cuồng được nhà văn viết bằng biết bao tâm huyết nhưng cũng
không được đón nhận Cả một giai đoạn dài, sáng tác của Nguyễn XuânKhánh chẳng những không được đón nhận mà còn bị phê phán, nhưngkhông vì thế mà nhà văn nản chí, sờn lòng Tốn công sức, tiền bạc vẫnkhoog làm lung lay được ý chí sáng tác của ông Do vậy, dù đã già, dù đãbước sang tuổi tám mươi nhưng nhà văn vẫn sáng tạo không ngừng Không
ít tác phẩm của ông ra đời rồi bị chìm ngay vào quên lãng nhưng không vìthế mà ông chùn bước, ông vẫn ngang nhiên khẳng định cái tôi của mình Cho đến một ngày, ký ức về làng, giấc mộng về làng đã thôi thúctrong ông, ông viết như lên đồng về văn hóa, bản sắc của làng quê Việt.Người ta gọi ông là “gừng càng già càng cay” Những tác phẩm được ôngviết vào cái tuổi xưa nay hiếm đều có một bề dày đáng kể so với các tácphẩm giai đoạn trước Hình ảnh thôn quê Việt Nam với những tín ngưỡngvăn hóa muôn đời đã hiện lên trên trang viết của nhà văn Nguyễn Xuân
Trang 28Khánh như thôi miên bạn đọc Ông, bằng tất cả vốn tự học, tự đọc, tựnghiên cứu của mình, đã khẳng định: Văn hóa người Việt đứng vững bởinhững nền tảng của văn hóa làng; đạo Nho, đạo Khổng và “Chúng ta đang
ở một thế giới hiện đại, chúng ta đang mất đi những nét đẹp, thông thườngchúng ta muốn chiếm đoạt Tôi muốn nói con người nên quay lại, tôi khôngkêu gọi người ta đi theo Phật giáo, đi tu ở chùa mà cần có lối sống Phậtgiáo, phải làm hằng ngày, xây dựng văn hóa cho con người, “từ bi hỉ xả”.Tôi muốn người đọc tự nhận ra, không thuyết giảng Bất cứ người ViệtNam nào, dù không tôn giáo cũng đều mang chút tính cách, tâm hồn củađạo Phật Với người Việt, Phật giáo là một lối sống Với văn chương, quantrọng nhất là những ý tưởng thể hiện, và những ý tưởng của tôi luôn cókhuynh hướng đi về văn hóa Văn hóa trong tiểu thuyết có thể là tập tục,nếp sống làng quê Nếu không có nền tảng văn hóa thì tiểu thuyết không
đứng vững được” [12;tr11] Vì vậy, đến khi ba tác phẩm Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh ra đời, công
chúng đón nhận nồng nhiệt; các nhà văn, nhà báo, nhà phê bình, cảchuyên nghiệp lẫn nghiệp dư đều khen nức nở Hội Nhà văn Việt Nam,Hội Nhà văn Hà Nội lần lượt tổ chức trao giải thưởng
- Hồ Quý Ly (2000) giành được 4 giải:
+ Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết (1998 – 2000) của Hội Nhà vănViệt Nam,
+ Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội, 2001,
+ Giải thưởng Mai vàng của báo Người lao động, 2001,
+ Giải thưởng Thăng Long của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội,
2002
Trang 29- Mẫu thượng ngàn (2005): có 2 giải:
+ Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, 2006,
+ Giải thưởng văn hoá Doanh nhân, 2007
- Đội gạo lên chùa xuất bản đầu năm 2011, đầu năm 2012 đã được
trao ngay giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh vào loạt những đầu sách bán
chạy Hồ Quý Ly đã tái bản 11 lần Mẫu thượng Ngàn: tái bản 7 lần, gần như lần nào cũng in 2000 nghìn bản Đội gạo lên chùa phát hành hồi tháng
6 năm 2011, đến tháng 2 năm nay, nhà xuất bản đã rục rịch tái bản lần thứtư
Sở dĩ những tác phẩm của tác giả thành công là vì ông đã nắm bắtđược hồn Việt với khuynh hướng lịch sử-văn hóa, sự giao thoa văn hóa,lịch sử - văn hóa - phong tục cổ kim đan quyện vào nhau Trong buổi tọa
đàm “Lịch sử và văn hóa qua tự sự nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh”,
Gs Trần Đình Sử cho rằng, Nguyễn Xuân Khánh là người có tư tưởngriêng chứ không minh họa cho tư tưởng nào khác [35;tr1] Nhiều người chorằng, ông là số ít các nhà nhà văn Việt Nam đáng đọc nhất hiện nay bởi sứcnghĩ và vốn sống dày dặn của ông đã viết nên những cuốn tiểu thuyết sốngcùng lịch sử văn hóa dân tộc Tuy viết về lịch sử, nhưng tiểu thuyết của ônglại có dáng dấp hiện đại Nhận xét về lối viết tiểu thuyết của Nguyễn Xuân
Khánh, Gs La Khắc Hòa cho rằng: đổi mới của Nguyễn Xuân Khánh chính
là ông đã thay đổi nguyên tắc viết theo lối truyện kể thành nguyên tắc tiểu thuyết hóa và đổi mới ngôn ngữ tự sự bằng ngôn ngữ kết cấu [35;tr3].
Trước Nguyễn Xuân Khánh có nhiều nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử,Nguyễn Xuân Khánh cũng tái hiện lịch sử nhưng ông tái hiện theo cách
Trang 30riêng của mình Nguyễn Xuân Khánh không nhằm khắc họa một hìnhtượng nhân vật nào cụ thể Ông tạo cho tác phẩm của minh một cấu trúcphức hệ, đan xen các tuyến chủ đề với nhau nhằm làm rõ chủ đề chính Nóđan xen giữa các tình huống truyện thuộc các tuyến nhân vật khác nhau; kể
về nhân vật rồi lại thêm và o miêu tả phong tục, thỉnh thoảng lại điểmxuyết vài đoạn miêu tả lịch sử Tuy vậy, nó không làm ngắt quãng mà tạonên một sự hòa quyện chặt chẽ Chính đặc điểm này đã tạo nên nét riêngcho các tác phẩm của ông Trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Nguyễn Xuân
Khánh đã nói: “Hãy cho mọi người có quyền khác anh để mọi người đều
có chỗ đứng dưới ánh mặt trời Đó chính là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ […] cho tôi phát biểu dưới ánh mặt trời ý nghĩ của tôi, thế thôi” [26;tr1] Đúng là nhờ suy nghĩ táo bạo ấy mà Nguyễn Xuân Khánh
sau bao sóng gió đã tìm được chỗ đứng trên văn đàn Qua đó, ta thấy nhàvăn là một người không những có năng lực mà còn có bản lĩnh Đọc tiểuthuyết của Nguyễn Xuân Khánh ta bắt gặp một cái gì đó tuy không mới mẻ,
lạ lẫm nhưng rất riêng, không trùng lẫn với bất cứ một tác phẩm nào
1.3.2 Các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
1.3.2.1 Mẫu Thượng Ngàn
Mẫu Thượng Ngàn là cuốn tiểu thuyết đậm đặc chất văn hóa và đã
được bạn đọc tiếp nhận một cách nhiệt tình Minh chứng là chỉ trong vòngsáu năm sau khi ra đời, cuốn sách được tái bản đến bảy lần, và cả bảy lầntái bản, cuốn sách đều bán hết sạch Nhiều bài viết, hội thảo, luận văn,…đều đề cập tới tác phẩm mày Điều đó chứng tỏ tác phẩm được bạn đọc vôcùng yêu thích Độ dày trên 800 trang của cuốn sách không làm nản lòngbạn đọc
Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn được Nguyễn Xuân Khánh phát triển
Trang 31từ truyện ngắn Làng nghèo (viết từ năm 1958 nhưng không được in) Nung
nấu ý định viết một tác phẩm về một ngôi làng truyền thống với bao nét đặcsắc về văn hóa, Nguyễn Xuân Khánh đã lấy cảm hứng từ truyện ngắn bị bỏ
dở ấy để viết nên một tác phẩm mới
Mẫu Thượng Ngàn tái hiện một cách đầy đủ về hoàn cảnh lịch sử gắn
với việc người Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai Trong trận đánh ấy ta và địchthắng bại ra sao, quân Cờ Đen chiến đấu ra sao, phía người Pháp gặp phảinhững tổn thất như thế nào đều được tái hiện Từ bối cảnh ấy, không gianđời sống, sinh hoạt của làng Cổ Đình với bao phong tục văn hóa, tínngưỡng, bao truyền thống độc đáo về văn hóa phong tục Việt Nam cuối thế
kỉ XIX – đầu thế kỉ XX Tác giả cũng tái hiện lại ảnh hưởng tôn giáo ở làng
Cổ Đình vào giai đoạn này Trước bối cảnh Pháp xâm lược Việt Nam, vịtrí của các tôn giáo trong truyền thống dân tộc ít nhiều bị biến đổi: đạo Phậtsuy tàn, đạo Khổng bị gạt bỏ, trong khi đó, đạo Thiên chúa lại đang có sứclan rộng mạnh mẽ qua chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp Hoàn cảnh ấy ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần những conngười nơi đây, khiến cho đời sống của người dân bị xáo trộn Có ngườicòn bị lâm vào tình trạng khủng hoảng cao độ cả về vật chất lẫn tinh thần,
họ chìm sâu vào bi kịch Đau khổ hơn hết vẫn là những người phụ nữ Đaukhổ không cùng, người phụ nữ tìm về nguồn cội với đạo Mẫu thiêng liêngvốn đã có từ lâu đời để tìm một chỗ dựa, tìm một sự che chở, bảo bọc, tìmnơi giải thoát cho thân phận tủi nhục của mình
Ngoài hai chủ đề về lịch sử và văn hóa phong tục, Mẫu Thượng Ngàn
còn viết về câu chuyện tình yêu của những người đàn bà Việt trong khungcảnh một làng cổ Tình yêu là đề tài vô tận và không bao giờ là cũ Khi viết
về đề tài này, Nguyễn Xuân Khánh không tái hiện những cuộc tình với bao
Trang 32nỗi nhớ nhung, mong đợi, mà ông đặt nó trong phạm trù số phận Nhân vật
nữ trong truyện có tình yêu mãnh liệt, nhưng không suồng sã, nó ý nhị, tinh
tế, chứa đựng sự bao dung, vị tha Và đôi khi tình yêu ấy lại tương đồngvới tình mẫu tử Trong tác phẩm, người phụ nữ luôn rơi vào bi kịch, chuốclấy bao cay đắng, tủi nhục của cuộc đời Họ gần như cam chịu số phậnnhưng ý thức, nhu cầu sống cá nhân của họ lại trỗi dậy mạnh mẽ, bộc lộ ởnhững cuộc tình không trọn vẹn Tình yêu ấy thấm đẫm chất phồn thực, bi
có, hài có, tất cả hòa quyện tạo nên những cuộc tình vừa mộng mơ, vừa caothượng nhưng cũng rất hiện thực
Mẫu Thượng Ngàn có lối kết cấu đan xen, kết hợp Vì thế, khi xem
xét tác phẩm từ góc nhìn nhân vật, buộc phải đặt nhân vật trong mối liên
hệ, tương quan nhiều yếu tố Cho nên, hệ thống nhân vật trong tác phẩm
Mẫu Thượng Ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng có một sự
riêng biệt, tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình nghiên cứu
1.3.2.2 Hồ Quý Ly
Tiểu thuyết Hồ Quý Ly xuất bản lần đầu vào năm 2000, lập tức trở
thành một hiện tượng văn học được dư luận tập trung chú ý Nhà xuất bảnPhụ nữ đã nối bản và tái bản nhiều lần Một trong những khuynh hướngsáng tác gần đây là quay trở lại với những thời đại đã trở thành lịch sử đểsuy ngẫm những vấn đề đương đại Nguyễn Xuân Khánh đã có một sốthành công nhất định khi đi theo hướng đó trong “Hồ Quý Ly” Phần lớnđều thừa nhận một trong những thành công của tác phẩm là đã có cách ứng
xử nghệ thuật hợp lý khi xây dựng hình tượng nhân vật lịch sử trong tiểuthuyết
Tiểu thuyết đã lấy chất liệu lịch sử ở giai đoạn cuối Trần đầu Hồ Đâykhông hề là một giai đoạn đáng tự hào trong lịch sử Việt Nam: trong nước
Trang 33thì “giặc cỏ” nổi lên như ong, chính quyền trung ương thì yếu đuối và đầy
sự xáo trộn bởi những âm mưu tranh đoạt, bên ngoài thì binh lực ChiêmThành đã vài lần đánh thốc vào tận kinh thành Thăng Long, và rồi cuốicùng thì cả nước rơi vào ách đô hộ của triều đình phương Bắc
Bản thân Hồ Quý Ly cũng là một nhân vật đầy phức tạp và còn xamới có được sự “trong suốt” của những anh hùng trong lịch sử: với các sửgia chính thống, ông là một loạn thần tiếm ngôi; là tác giả của của nhữngcái cách chính trị - xã hội đầy táo bạo, song ông lại không được lòng dân và
từ đó dẫn đến mất nước Hồ Quý Ly đã có nhiều cải cách khi lên ngôi.Tuy nhiên, tư tưởng đổi mới của Hồ Quý Ly và những cải cách của ôngthực hiện quá dồn dập trong một thời gian ngắn, không đạt kết quả nhưmong đợi và gây ra sự phẫn nộ trong nhân dân; đặc biệt là với các sĩ phutrung thành với nhà Trần
Qua số phận của những nhân vật lịch sử như Hồ Quý Ly, con trai,…
tác giả muốn đặt vấn đề muôn thuở về sự sự minh triết của con người trướcnhững cạm bẫy dục vọng, tình yêu, hạnh phúc, đức tin, quyền lực… nhữngvấn đề của thời xưa mà cũng là của con người thời nay Độc giả tìm đếntiểu thuyết lịch sử không phải để biết Hồ Quý Ly cách xa chúng ta mấytrăm năm kia phục sức ra sao, nói năng thế mà ở chỗ họ đã chống chọi với
số phận mình trong tư cách con người như thế nào Do đó, tiểu thuyết lịch
sử không phục dựng lịch sử “nguyên si” mà là dùng quá khứ để soi sángthực tại, cung cấp một nhận thức về thực tại
Với “Hồ Quý Ly”, Nguyễn Xuân Khánh đã làm một việc mà hầu nhưcác nhà tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước ông đã bỏ qua (hoặc cố tình bỏqua): viết tiểu thuyết lịch sử tức là làm một cuộc khám phá và truy xét lịch
sử để có những nhận thức chân xác nhất, cho mình, về lịch sử Khi tiếp cận
Trang 34lịch sử, thường thì những người đi trước ông vẫn bị gián cách với lịch sửbằng một “khoảng cách sử thi” rất khó vượt qua Trước cái “khoảng cách
sử thi” ấy, họ ứng xử với lịch sử chủ yếu bằng thái độ kính cẩn và ca ngợi:kính cẩn trước những nhân vật anh hùng của lịch sử dân tộc và ca ngợinhững võ công oanh liệt, những phẩm chất ngời ngời mà tiền nhân đã ghidấu trong lịch sử “Hồ Quý Ly” của Nguyễn Xuân Khánh thì khác Chọnlựa giai đoạn lịch sử này và nhân vật lịch sử này để viết, Nguyễn XuânKhánh đã vượt qua được sự kính cẩn thường thấy của tiểu thuyết gia trướclịch sử Rõ ràng ông không ca ngợi, mà ông truy xét lịch sử để biết xemđiều gì đã thực sự diễn ra trong giai đoạn quốc gia suy vong dường ấy, vànguyên nhân nào khiến nó phải diễn ra? Với nhân vật “Hồ Quý Ly” cũngvậy, tác giả đã tiếp cận rất sát, từ điểm nhìn của người kể chuyện và từ cảđiểm nhìn của những nhân vật khác, đặc biệt là Hồ Nguyên Trừng, contrai Hồ Quý Ly
Việc Nguyễn Xuân Khánh dựng lại một nhân vật lịch sử là Hồ Quý
Ly không hoàn toàn chỉ là phục dựng một thời đại lịch sử ngắn ngủi đã qua.Tác phẩm đánh thức người đọc “tri tân” về những vấn đề của hiện tại: thânphận người trí thức - những cá nhân có tầm nhìn táo bạo đi trước thời đạigiữa đám đông quần chúng chung quanh nó Sự im lặng của nhà văn suốtnhiều năm để lặng lẽ tung ra một tiếng nói có trọng lượng đã khuấy độngđược văn đàn PGS-TS Nguyễn Đăng Điệp (Viện trưởng Viện Văn học)đánh giá hướng tìm về cội nguồn của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh làmới mẻ, hòa cùng với tư duy tiểu thuyết về lịch sử của các lý thuyết hiệnđại, hậu hiện đại Nó viết tới những suy tư về quá trình đổi mới của dân tộc,qua câu chuyện về thời đoạn sóng gió cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV,Nguyễn Xuân Khánh đã thổi một luồng khí mới mẻ vào thể loại tiểu thuyết
Trang 35lịch sử, kéo câu chuyện thời quá khứ gắn kết với câu chuyện của thời hiệntại, hòng đưa ra những tham góp thiết thực vào công cuộc đổi mới đấtnước Qua những biến động trong lịch sử xã hội thời kì Trần – Hồ và nhânvật Hồ Quý Ly tác giả đã đề cập đến hai vấn đề:
- Đổi mới là nhu cầu của lịch sử (khi một triều đình đã suy vongkhông còn khả năng lãnh đạo đất nước và giặc ngoại xâm lăm le thôntính nước ta)
- Đổi mới như thế nào cho hợp lý? Hồ Quý Ly đáp ứng được nhu cầuthứ nhất nhưng bế tắc trong yêu cầu thứ hai
Đây vẫn là những vấn đề cấp thiết trong thời đại hiện nay Đổi mới đấtnước theo xu thế của thời đại nhưng đổi mới như thế nào? Đổi mới phảiphù hợp với hoàn cảnh của đất nước, phải thuận với lòng dân và đổi mớinhưng vẫn phải giữ gìn được truyền thống văn hóa dân tộc Nguyễn XuânKhánh đã đi ngược thời gian tìm về với một cơn lốc xoáy trong lịch sử đểtruy tìm, suy ngẫm và giải mã những vấn đề trong quá khứ đồng thời ráoriết tìm lời giải đáp cho các vấn đề trong hiện thực
Trong câu chuyện, tác giả để Hồ Qúy Ly nhấn mạnh về một “phươngthuốc lớn” Việc làm chính trị chẳng khác gì y đạo, cũng có bắt bệnh, cũng
có kê đơn Nhưng người làm nghề y mỗi lần chỉ có thể bắt bệnh kê đơn chomột người, còn kẻ làm chính trị thì phải bắt bệnh, kê đơn cho cả một dântộc Để bắt được bệnh đã khó, không khéo không có bệnh lại chẩn đoánthành có bệnh, có bệnh lại cứ tưởng rằng vô sự; nhưng bắt được đúng bệnhrồi thì kê đơn ra sao đây, âu cũng là việc khó Cái căn bệnh ấy, chính ôngvua già Trần Nghệ Tông là người nhận thức được hơn ai hết “Chính ông là
bà đỡ cho những cải cách của Quý Ly, đã giúp Quý Ly tiêu diệt những đốithủ, ngay cả khi đối thủ ấy là con cháu ông Lại cũng vẫn chính ông là
Trang 36người muốn kéo dài đến vô hạn cơ nghiệp của nhà Trần, tổ tiên ông, mặcdầu ông biết điều đó không thực tế, mặc dầu ông biết các tôn thất, các cựuthần nhà Trần ở mọi nơi hiện đang thối ruỗng Vậy ông đang tự chống lạibản thân Ông có miếng thịt thối, muốn cắt đi, nhưng vì nó là cơ thể ôngnên không đành lòng.” [12,tr40] Đó chẳng phải cũng chính là căn bệnhthời đại của chúng ta hay sao? Miếng thịt thối ấy ai là người dám cắt bỏ đểgiữ cho cơ thể được khỏe mạnh? Hay cứ để nó đấy vì tiếc xương thươngthịt rồi hoại tử mà chết? Đứng trước vận mệnh của dân tộc: hoặc là đổi mớihoặc là bại vong, việc từ bỏ những quyền lợi của một tổ chức cầm quyền đểthực hiện một cuộc Cách mạng toàn diện là điều cần thiết Nhà Trần đãkhông dám dũng cảm thực hiện sứ mạng ấy và chuốc lấy bại vong, là điềuđươngnhiên.
Bài học canh tân trong “Hồ Qúy Ly” còn là bài học về lòng dân Cóhai phe đối lập với nhau: đó là với phe canh tân – đại diện là Hồ Quý Ly làphe thủ cựu Nghe vậy đã thấy canh tân là việc khó khăn Nội bộ đã khôngthống nhất, phe thủ cựu quá đông, vậy mà lòng dân còn không thuận.Nhưng Hồ Qúy Ly không hay, ông quá nôn nóng cải cách Ông cho xâythành Tây Đô giữa lúc ngân sách quốc gia thiếu hụt trầm trọng, người dâncòn sống lầm than, chiến tranh với Chế Bồng Nga vừa mới kết thúc và sắpsửa đương đầu với quân Trung Hoa, thành Tây Đô chẳng khác nào đượcxây lên bằng xương bằng máu của dân khiến người dân oán than Canh tân
là hướng đi tiến bộ, nhưng không thể một sớm một chiều có thể thực thi.Nhất là việc sử dụng tiền giấy Người dân ta thời ấy chưa ý thức được giátrị của tiền tệ và chưa có một nền tài chính hoàn thiện, việc sử dụng tiềngiấy thực là chuyện viển vông Dù nhà Hồ chiêu hiền đãi sĩ, có được nhữngngười tài như Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Trần Khát Chân, PhạmSinh, Sử Văn Hoa và thậm chí cả Hồ Nguyên Trừng,…nhưng thái độ
Trang 37chung của tầng lớp trí giả thời ấy là không đồng tình với các biến pháp của
Hồ Qúy Ly Hồ Qúy Ly quá cố chấp, không muốn nghe lời can gián, luônđàn áp phe bất đồng quan điểm mà không hề tiếp thu hay thuyết phục họ.Người đời quay lưng với nhà Hồ, khởi nghĩa của nông dân nổi lên khắpnơi, bên ngoài thì giặc phương Bắc dòm ngó, cha con Hồ Qúy Ly cuốicùng vẫn chung một kết quả với nhà Trần
1.3.2.3 Đội gạo lên chùa
Đến tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh càng hiện lên
với nét riêng của một nhà văn hóa, tư tưởng trong tư cách nhà văn Ở “Độigạo lên chùa”, ông cũng vẫn lấy bối cảnh giao thời ở Việt Nam làm bệ đỡcho việc thể hiện các tư tưởng, quan điểm về nguồn cội của sức sống ViệtNam, căn nguyên để người dân Việt Nam vượt lên mọi ách thống trị trong
suốt mấy ngàn năm Nếu ở Mẫu Thượng Ngàn, sức mạnh ấy là đạo Mẫu thì
trong tác phẩm này, tác giả đã lựa chọn đạo Phật Nguyễn Xuân Khánh đã
để các nhân vật bao bọc bởi niềm tin hồn nhiên vào một thế giới đa thầngiáo, xuất phát bởi chỗ được tiếp xúc thường xuyên với sự phồn thực phồnsinh miền nhiệt đới
Đội gạo lên chùa dày 866 trang, được chia làm 3 phần:
1/ Trôi sông (18 chương)
2/ Bão nổi can qua (5 chương)
3/ Về cõi nhân gian (8 chương)
Tiểu thuyết kể về những biến động của xã hội Việt Nam suốt từ vàothời điểm đầu những năm năm mươi (thời chống Pháp) cho đến sau ngàyđất nước thống nhất thông qua một ngôi làng Lúc này lực lượng khángchiến ở vùng đồng bằng Bắc bộ hãy còn nhỏ lẻ Ở một vùng quê cách Hà
Trang 38Nội không xa thì bộ máy cai trị của thực dân Pháp lại càng mạnh Hình ảnh
lý trưởng Phượng, có đồn bốt do người làng là Quản Mật làm sếp, có đại
úy Thalan phụ trách P.C huyện và trung úy Tây lai Bernard phụ tráchphòng nhì, có trại giam,…là đại diện cho chế độ cai trị thực dân đó Cuộcsống của người dân bị kiểm soát gắt gao nhất là những khi kẻ địch muốnchứng tỏ quyền uy, năng lực của mình, những khi đánh hơi thấy sự nguyhiểm đối với chúng
Ở đó, có một ngôi chùa nhỏ, tên là chùa Sọ Các nhân vật đều liênquan đến chùa làng, dù là vãi, tiểu, du kích, bộ đội, hay ngoại xâm… Để rồi
từ những chuyện quanh chùa Sọ, tác giả miêu tả, đề cập đến rất nhiều vấn
đề văn hóa-xã hội, triết lý nhân sinh, đặc biệt là thân phận con người trongnhững biến đổi thăng trầm chịu tác động của hoàn cảnh xã hội Bên trongcái cai trị của thực dân Pháp, kể cả khi u ám nhất, một mạch ngầm khácvẫn âm thầm tuôn chảy, bất chấp sự hà khắc do chính sách cai trị của bộmáy chính quyền Đó là mạch sống của tôn giáo, của đạo Phật, của đạo lý,của tâm thức Việt tồn tại qua bao thử thách thời gian, không kể giàu nghèohay sự khác nhau về nhận thức cả trong một gia đình hay trong mỗi dòng
họ Cấu trúc tác phẩm xoay quanh một cái trục, mà tâm điểm là ngôi chùa
Sọ, là góc độ độc đáo của tác phẩm Trong Đội gạo lên chùa, chùa Sọ làtrung tâm tâm linh mọi sự kiện, mọi nhân vật trong làng Sọ, không chỉ thuhút những người tín tâm, có tiền duyên cửa Phật, mà đùm bọc cả nhữngnạn nhân chiến cuộc không nơi bấu víu như chị em Nguyệt, An bố mẹ bịgiết trong một trận càn Chùa Sọ còn là nơi trau dồi những phẩm chất thiệnlương, cốt cách làm người trước khi là một cán bộ cách mạng Những nhânvật tốt xấu trong làng đều ít nhiều liên quan đến ngôi chùa Sọ và quan hệ
họ hàng với người nhà chùa Hòa thượng trụ trì đạo cao đức trọng vẫn bị
Trang 39phòng nhì Pháp bắt, tra tấn đến gãy chân, bởi địch cho rằng nơi ít ngờ nhất
là nơi có thể có cán bộ kháng chiến về hoạt động
Đội gạo lên chùa còn là một cuộc phiêu lưu kỳ lạ Mượn tứ của câu
ca dao đa nghĩa và nổi tiếng vào hàng bậc nhất trong văn học dân gian VN
“Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư”
Nguyễn Xuân Khánh đã dẫn dắt người đọc vào cuộc phiêu lưu kỳ lạ của An
và Nguyệt Vượt quãng thời gian thăm thẳm của hai cuộc kháng chiếnchống Pháp và cải cách ruộng đất, tác giả đã dựng lại câu chuyện của chútiểu An và Nguyệt Qua số phận hai chị em, người đọc được chạm vàonhững số phận của người dân làng Sọ và cuộc sống vừa lạ lùng, bí hiểm,vừa thanh khiết, thân thuộc trong ngôi chùa làng Sọ Hai chị em chú bé An,sau một trận càn dữ dội của giặc Pháp, cha mẹ đều chết, đã phải rời bỏ quêhương trốn chạy Họ trôi dạt đến một ngôi chùa, được sư cụ dang tay cứuvớt Số phận An được gắn với chùa Sọ và làng Cọ, quê hương mới của chú.Làng Sọ, một làng quê nhỏ bé êm đềm trong nửa thế kỷ, đã trải qua haicuộc chiến tranh, và những biến động lớn lao
Trong Đội gạo lên chùa, tác giả cũng vẽ lên chân dung những người
phụ nữ mà Nguyễn Xuân Khánh miêu tả thật kỹ, thật trân trọng và yêu quýnhư nhân vật Nguyệt, em Rêu, vãi Thầm, cái Huệ Dù là nhân vật chính
hay nhân vật phụ thì người phụ nữ trong Đội gạo lên chùa thật sự là người
phụ nữ điển hình của chịu thương chịu khó, sống vì gia đình, quê hương.Trong đó còn có cả những số phận trôi dạt được sư cụ trong chùa cứu độ vàgiác ngộ làm người
Trang 40Về mặt bút pháp, Nguyễn Xuân Khánh không có nhiều cách tânsong lối viết của ông vẫn mang rất hấp dẫn Nguyễn Xuân đã di chuyểnđiểm nhìn liên tục để mở ra nhiều tuyến nhân vật trong trong khoảng thờigian ngót ba mươi năm Và đời sống lịch sử qua lăng kính tôn giáo, đượcphục chế một cách sinh động Ngòi bút miêu tả của ông cũng rất tinh tế,chân thực Ông mô tả mùa rơm vàng, một mùa hoa dẻ luôn vướng vàotrong tâm khảm người đọc như đó là quê hương bản quán của ta Đọc văncủa ông đâm mê đường quê vào mùa gặt, ông như một hoạ sĩ chuyên vẽtranh thiên nhiên, có cả âm nhạc của gió và nắng hanh Có những trangsách vừa khơi gợi vừa để người đọc nghĩ ngợi thêm về phận người đau khổtrên thế gian dù hướng tới bạn đọc và cuộc sống trong tương lai sáng sủahơn, hy vọng hơn Có những trang, ông lại khơi gợi ý nghĩ thuộc lĩnh vựctâm linh làm ta tò mò Như hình ảnh bà vãi Thầm biết nói chuyện vớingười âm làm câu chuyện thêm sinh động Bà như người ngẩn ngơ nhưng
có lần bà nằm mơ thấy một vị quan trên thượng giới cho mang 3 mâm đồ lễđến xin cưới cô Nguyệt thì đúng hôm sau, gia đình thầy giáo Hải cũngmang đồ lễ đến xin cưới cô Nguyệt như điềm mộng của bà Hay chi tiết:chú hổ con lớn lên, thân thiện với mọi người nhà chùa, nhưng với sư ThíchKhoan Độ, nguyên là tướng cướp, ông vẫn không sao thu phục được thiệncảm của hổ con,…