1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình

96 608 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người nói chung, của trẻ em nói riêng cần được tiến hành nghiên cứu thường xuyên và có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định.. Mục đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần nắm vững các đặc điểm về thể lực, trí tuệ và tâm sinh lý của trẻ Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em luôn có ý nghĩa quan trọng

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người có thể thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã hội và môi trường tự nhiên [12], [23], [44], [58], [63], [67], [71], [74], [75]

Do đó, các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người nói chung, của trẻ em nói riêng cần được tiến hành nghiên cứu thường xuyên và có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định

Đến nay, đã có một số tác giả nghiên cứu về thể lực, chức năng sinh lý, năng lực trí tuệ của người Việt Nam [6], [10], [20], [23], [24], [28], [34], [40], [43],… Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi mầm non còn ít và chủ yếu là nghiên cứu về chức năng sinh lý, tình trạng dinh dưỡng Việc nghiên cứu các chỉ số thể lực, sinh lý và trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi mầm non là cần thiết Nó cung cấp dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em ở bậc học mầm non, cũng như tạo cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thế hệ tương lai của đất nước một cách tốt nhất

Kiến Xương là một huyện thuần nông của tỉnh Thái Bình Trong những năm gần đây, mức sống của người dân đã được nâng cao, nhưng ở một số xã, đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn Đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về thể lực, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non của huyện để có thể dựa vào đó đề ra biện pháp góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ở địa bàn này

Trang 2

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình”.

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định được một số chỉ số về thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số chỉ số về thể lực của trẻ em lứa tuổi mầm non

(chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, chỉ số pignet, chỉ số khối cơ thể (BMI))

- Nghiên cứu một số chỉ số về chức năng của một số hệ cơ quan của trẻ

em lứa tuổi mầm non (tần số tim, tần số thở)

- Nghiên cứu chỉ số thông minh (IQ) và các mức trí tuệ của trẻ em lứa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là trẻ em lứa tuổi mầm non của xã Bình Thanh

và xã Hồng Tiến thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Đối tượng được nghiên cứu ở trạng thái khoẻ mạnh, tâm sinh lý bình thường, không có dị tật

về hình thể hoặc các bệnh mạn tính

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chỉ số về thể lực, về chức

năng của một số hệ cơ quan, về năng lực trí tuệ, khả năng ghi nhớ và mối liên quan giữa một số chỉ số nghiên cứu của trẻ em lứa tuổi mầm non ở xã Bình Thanh và xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Trang 3

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Các chỉ số: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, tần số tim, tần

số thở được xác định theo các phương pháp hiện hành

+ Các chỉ số pignet, BMI được tính theo công thức:

Pignet = chiều cao đứng (cm) - [cân nặng (kg) + vòng ngực(cm)]BMI = cân nặng (kg) / [chiều cao đứng (m)]2

+ Năng lực trí tuệ được xác định bằng test Ravent màu dùng cho trẻ em

từ 6 tuổi trở xuống

+ Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev

Kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý trên máy vi tính bằng chương trình Microsoft Excel

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Là đề tài đầu tiên xác định được một số chỉ số về thể lực và trí tuệ của

trẻ em lứa tuổi mầm non tại xã Bình Thanh và xã Hồng Tiến của huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

- Bước đầu nghiên cứu mối liên quan giữa một số chỉ số nghiên cứu ở trẻ

em lứa tuổi mầm non

- Kết quả trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho

hướng nghiên cứu về thể lực, sinh lý, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non, cung cấp dẫn liệu cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và là dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em mầm non được tốt hơn

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Khái quát các giai đoạn phát triển của trẻ em lứa tuổi mầm non

Mỗi giai đoạn phát triển cá thể của con người có những đặc điểm riêng

về mặt cấu tạo và chức năng Chính các đặc điểm này đã xác định sự khác nhau trong quá trình phát triển giữa các lứa tuổi [36], [42]

Hiện nay có nhiều cách phân chia các thời kỳ phát triển cá thể của con người Các tác giả như Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan [36], Đức Minh và một

số tác giả khác (theo [42]) chấp nhận cách phân chia của Viện Hàn Lâm sư phạm Liên Xô, vì nhận thấy cách phân chia này phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của người Việt Nam và có thể ứng dụng trong hệ thống giáo dục trẻ em Việt Nam Theo các tác giả, thì lứa tuổi mầm non gồm hai giai đoạn: giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi (giai đoạn tuổi thơ sớm hay tuổi vườn trẻ) và giai đoạn từ

3 đến 6 tuổi (giai đoạn tuổi thơ đầu hay tuổi mẫu giáo) Ở mỗi giai đoạn, sự phát triển của trẻ em có những đặc điểm riêng

Đặc điểm nổi bật của trẻ em từ 1đến 3 tuổi là sự phát triển và hoàn chỉnh hoá các hệ cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh Trẻ em trong giai đoạn này được làm quen với nhiều loại thức ăn và đồ vật khác nhau của môi trường Kết quả của sự tiếp xúc đa dạng đó không chỉ dẫn tới những thay đổi

về mặt hình thái thể lực mà cả sự phát triển trí tuệ cũng thay đổi [36]

Đặc điểm của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi là chiều cao và khối lượng cơ thể phát triển chậm hơn giai đoạn trước Tốc độ tăng vòng đầu và vòng ngực cũng chậm hơn [36] Về hoạt động tư duy, theo Piaget, quá trình phát triển của trẻ em ở giai đoạn từ 2 đến 6 tuổi có thể phân thành ba pha: tư duy lặp lại

- hình thành các khái niệm tư duy - hình thành các khái niệm phân lập [54].Tóm lại, chức năng sinh học và xã hội cơ bản của trẻ em lứa tuổi mầm non là sinh trưởng và phát triển [36]

Trang 5

1.2 Đặc điểm về thể lực và chức năng của một số hệ cơ quan của trẻ em lứa tuổi mầm non

1.2.1 Các chỉ số về thể lực của trẻ em lứa tuổi mầm non

Thể lực là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người [63] Để đánh giá sự phát triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất Từ các chỉ số cơ bản này, người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số pignet, BMI [36], [42], [66]

Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học Chiều cao của mỗi người được quyết định bởi đặc điểm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện sống [2], [10], [12], [36], [42], [48], [63], [74]

Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong những năm đầu Chiều cao của các em tăng trung bình 7cm/năm ở giai đoạn

từ 1 đến 3 tuổi, và tăng trung bình 6 cm/năm từ 3 đến 6 tuổi [4], [7], [36]

Để theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ em, có thể áp dụng công thức tính gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ em trên một tuổi [36], [72]

X (cm) = 75 + 5.nTrong đó: X - chiều cao đứng (cm); n - số tuổi (năm); 75 - chiều cao trẻ

1 năm; 5 - chiều cao tăng trung bình/năm

Cùng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự phát triển của cơ thể Cân nặng biểu thị mức độ và tỷ lệ giữa hấp thụ với tiêu hao năng lượng của con người So với chiều cao, cân nặng của cơ thể ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn mà có liên quan chủ yếu tới điều kiện dinh dưỡng [2], [12], [19], [27], [48]

Trang 6

Thông thường ở cùng một lứa tuổi, những trẻ em cao hơn thường nặng cân hơn Trong vòng ba năm đầu, khối lượng cơ thể của các em tăng rất nhanh Từ 3 đến 6 tuổi, khối lượng cơ thể của các em tăng chậm hơn, tăng trung bình 1,5 kg/năm, nhưng tốc độ tăng tương đối đồng đều [4], [36].

Cân nặng của trẻ em trên một tuổi có thể tính gần đúng như sau:

X (kg) = 9 + 1,5 (n - 1) hay X = 9,5 + 2(n -1)Trong đó: X - cân nặng của trẻ trên một tuổi (kg); 9 - cân nặng của trẻ lúc một tuổi (kg); n - số tuổi của trẻ (năm)

Vòng ngực và vòng đầu của trẻ em cũng là những chỉ số có ý nghĩa khi đánh giá sự phát triển cơ thể Vòng ngực và vòng đầu của trẻ em đều tăng nhanh ở giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi, và tăng chậm hơn ở giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi Vòng ngực nhỏ hơn vòng đầu lúc 1 tuổi, sau đó đuổi kịp và cao hơn [3]

Từ các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực có thể tính thêm được chỉ số pignet, BMI của cơ thể BMI được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người [78], [80] Từ chỉ số pignet, có thể đánh giá thể lực theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền và cs [56], (theo [83])

Từ 1 đến 6 tuổi, chiều cao của trẻ em tăng nhanh, còn cân nặng và vòng ngực tăng chậm hơn, nên chỉ số pignet của trẻ em ở giai đoạn này tăng dần

Từ năm tháng tuổi đến 6 tuổi, BMI của trẻ em giảm dần, do ở giai đoạn này tốc độ tăng chiều cao của trẻ em nhanh hơn so với tốc độ tăng khối lượng cơ thể [36]

1.2.2 Các chỉ số về chức năng của hệ tuần hoàn, hệ hô hấp của trẻ em lứa

tuổi mầm non

1.2.2.1 Tần số tim của trẻ em lứa tuổi mầm non

Hệ tuần hoàn có chức năng cơ bản là cung cấp oxi và chất dinh dưỡng cho toàn bộ hoạt động của cơ thể Tim có chức năng vừa hút máu vừa đẩy máu, là động cơ chính của hệ tuần hoàn Công suất của tim phụ thuộc vào tần

Trang 7

số tim và thể tích co tim Vì vậy, tần số tim là một trong các chỉ số quan trọng

để đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn [41], [42], [45], (theo [83])

Tần số tim là số lần tim co bóp trong một phút Tần số tim có thể thay

đổi và phụ thuộc vào các trạng thái tâm sinh lý khác nhau [36], [46], [62] Tần

số tim của trẻ em cao hơn nhiều so với của người trưởng thành Trong quá trình phát triển cá thể của trẻ em, tần số tim giảm dần theo tuổi Tốc độ giảm tần số tim của trẻ em không đều Ở cùng một độ tuổi, tần số tim của nam và của nữ khác nhau Tần số tim của trẻ em dễ thay đổi khi khóc, sốt, sợ hãi, gắng sức [3], [36], [52]

1.2.2.2 Tần số thở của trẻ em lứa tuổi mầm non

Cơ thể luôn cần trao đổi khí với môi trường bên ngoài Việc đổi mới không khí trong phổi được thực hiện qua động tác thở nhờ cử động của các cơ

hô hấp với sự luân phiên nhịp nhàng giữa động tác hít vào và thở ra Mỗi lần thở ra và hít vào được gọi là một nhịp thở [36], [83]

Số lần thở trong một phút gọi là tần số thở Tần số thở phụ thuộc vào kích thước của cơ thể, lứa tuổi, trạng thái tâm sinh lý và khí hậu [36], [62] Tần số thở của trẻ em giảm dần theo tuổi Một số tài liệu cho thấy, lúc 1 tuổi tần số thở của trẻ là 30 - 35 nhịp/phút, giảm xuống còn 25 - 30 nhịp/phút lúc 3 tuổi và 20 - 25 nhịp/phút lúc 6 tuổi [3], [4], [18], [36], [52] Tần số thở của trẻ

em vào mùa hè cao hơn vào mùa đông khoảng 2 - 6 nhịp/phút Do trung khu

hô hấp chưa phát triển hoàn chỉnh nên tần số thở của trẻ em hay bị rối loạn, có lúc thở nhanh, có lúc thở chậm, lúc thở nông, lúc thở sâu Tần số thở của trẻ

em cao hơn của người lớn Dưới 2 tuổi, trẻ em nam thở nhanh hơn trẻ em nữ [36], [52]

1.3 Đặc điểm về trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non

Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người Theo tiếng Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ [51] Theo từ điển

Trang 8

tiếng Việt [73], trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định Tựu chung lại có ba khuynh hướng chính quan niệm về trí tuệ [51].

Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân B.G Ananhev cho rằng, trí tuệ là một đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc và học tập phụ thuộc vào nó Theo J Huarte, thì trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo (theo [60]) Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực

tư duy trừu tượng Terman cho rằng, chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các khái niệm Menchins kaia lại coi đặc trưng của trí tuệ là sự tích luỹ các tri thức và các thao tác trí tuệ [31], (theo [60]) Khuynh hướng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích ứng Đại diện cho khuynh hướng này là R Stern (theo [60]) Ông coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người với điều kiện

và nhiệm vụ mới trong đời sống Theo ông, trí tuệ là năng lực suy luận và khả năng sáng tạo trên cơ sở kết hợp những kinh nghiệm khác nhau để giải quyết vấn đề mới

Ngoài ra, còn có nhiều thuật ngữ khác dùng để mô tả năng lực trí tuệ như: trí khôn, trí lực, trí thông minh, trí năng… nhưng chúng đều xuất phát từ chữ tiếng Anh là intelligence [11], [26] Rõ ràng là không có một khái niệm nào chứa đựng hết bản chất của các hiện tượng phức tạp như trí tuệ

Theo J Piaget [54] thì sự phát sinh, phát triển của trí tuệ cá nhân chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố Thứ nhất là sự tăng trưởng của cơ thể, đặc biệt là

sự chín muồi của hệ thần kinh và nội tiết Thứ hai là vai trò của sự tập luyện

và kinh nghiệm thu được thông qua hoạt động của đối tượng Thứ ba là sự tương tác và chuyển giao xã hội Thứ tư là tính chủ thể và phối hợp chung các hành động cá nhân

Để đánh giá trí tuệ của con người, có nhiều phương pháp như: quan sát, điều tra, trắc nghiệm, tìm hiểu biến đổi điện - hoá trong hệ thần kinh và cơ

Trang 9

thể [30], [61] Phương pháp phổ biến hiện nay là dựa vào trắc nghiệm tâm

lý Trong đó trắc nghiệm khả năng trí tuệ được dùng phổ biến hơn cả Mục đích của các trắc nghiệm trí tuệ là xác định chỉ số thông minh, mức trí tuệ

Năm 1912, W Stern đã đưa ra cách tính chỉ số thông minh (Intelligence Quotient) viết tắt là IQ, bằng thương số giữa tuổi trí tuệ (MA - Mental Age) và tuổi thực (CA - Chrorological Age) (theo [60])

100

MA IQ CA

Trong đó: MA - tuổi trí khôn được tính theo kết quả bài trắc nghiệm;

CA - tuổi thời gian tính theo ngày tháng năm sinh

D Wechsler (theo [60]) lại cho rằng, sự phát triển trí tuệ diễn ra trong suốt đời người một cách không đồng đều nên một đại lượng như cách tính của Stern không thể đánh giá được sự phát triển của trí tuệ Ông đưa ra khái niệm

IQ bằng công thức sau:

IQ = X X 15 100

SD− × +Trong đó: X - điểm trắc nghiệm cá nhân; X - điểm trắc nghiệm trung

bình trong cùng một độ tuổi; SD - độ lệch chuẩn.

Dựa trên chỉ số IQ, D.Wechsler phân thành 7 mức trí tuệ khác nhau [77]

Để tính được chỉ số IQ, người ta thường sử dụng các loại test khác nhau như test “trí tuệ đa dạng”, test “hình phức hợp Rey”, …(theo [42]) Một trong

số đó là test Raven Test Raven được xây dựng trên cơ sở thuyết tri giác hình thể của Tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của Spearman [21] Sau hai lần chuẩn hóa vào những năm 1954 và 1956, test Raven đã được UNESCO công nhận và chính thức đưa vào sử dụng để chẩn đoán trí tuệ con người từ những năm 1960 [76]

Trí tuệ của mỗi người đều là sự kết hợp hữu cơ của trí tuệ ngôn ngữ, tư duy vận động thân thể, tư duy logic toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ âm

Trang 10

nhạc, trí tuệ giao tiếp Trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non cũng không nằm ngoài quy luật đó [79].

Đặc điểm chủ yếu về tư duy của trẻ em từ 12 - 18 tháng tuổi là tư duy được thực hiện qua các thao tác Bằng cách tác động trực tiếp với đồ vật, trẻ dần tìm ra được các thuộc tính đơn giản của đồ vật Từ 2 - 3 tuổi, song song với sự phát triển về thể chất, sự tập trung của trẻ cũng phát triển nhanh Ba tuổi, trẻ đã có khả năng tổng hợp các tính chất của vật thể mà trẻ nắm được, đồng thời có thể sử dụng các vật thể đó để thực hiện các trò chơi theo trí tưởng tượng [79]

Từ 4 - 5 tuổi, trẻ đã có thể tìm ra đặc điểm, thuộc tính của đồ vật bằng những phép thử, phép so sánh trong óc Trẻ còn biết sử dụng các hệ thống kí hiệu khác nhau, như kí hiệu về đồ vật, hành động, kí hiệu về con người Trẻ cũng có thể xếp các đồ vật từ nhỏ nhất đến to nhất, ngắn nhất đến dài nhất…Sáu tuổi, ở trẻ đã hình thành tư duy sơ đồ và tư duy logic Từ việc học thông qua quan sát và kinh nghiệm, trẻ đã có thể chuyển sang học bằng ngôn ngữ và logic Trẻ có khái niệm về thời gian và các ngày trong tuần, khái niệm về con

số, không gian, hình dáng, mầu sắc Tuy nhiên, khả năng chú ý của trẻ 6 tuổi vẫn là chú ý ngắn hạn, trong khoảng 15 phút là nhiều nhất [79]

Một trong các điều kiện cần thiết để phát huy trí tuệ là khả năng ghi nhớ Có nhiều cách hiểu về trí nhớ Theo nhiều tác giả, nhớ là sự tiếp nhận, gìn giữ và tái hiện những sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã suy nghĩ, tưởng tượng ra Trí nhớ phản ánh những sự vật, những hiện tượng trước đây đã tác động vào cơ thể mà hiện tại không cần sự tác động đó nữa [32], [33], [36] Trí nhớ được xem như là một bước chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lí tính vì trong quá trình nhớ, não đã thực hiện việc khái quát hoá các hình ảnh đã cảm giác, tri giác trước đây thành các biểu tượng [13]

Trang 11

Căn cứ vào thời gian tồn tại của trí nhớ, người ta phân biệt hai loại trí nhớ là trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn Trí nhớ ngắn hạn là sự lưu thông hưng phấn trong các vùng nơron, chỉ tồn tại trong vòng vài giây hoặc một phút sau khi tiếp nhận một sự kiện hay hiện tượng nào đó Trí nhớ dài hạn tồn tại trên cơ sở sự hình thành các prôtêin hoạt hoá vùng xinap, có khả năng lưu giữ hình ảnh trong vòng nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm [33].

Về cơ chế nhớ, có nhiều quan điểm khác nhau Theo Anôkhin, trí nhớ

là một hệ thống chức năng phức tạp Cùng quan điểm với Anôkhin, Luria cho rằng, trí nhớ được thực hiện bằng sự phối hợp hoạt động của cả một loạt các vùng trên vỏ não, mỗi vùng giữ một nhiệm vụ chuyên biệt [15] Theo Pavlov,

cơ sở sinh lý của trí nhớ là sự hình thành, lưu giữ và tái hiện lại những đường liên hệ thần kinh tạm thời Hyden lại cho rằng, cơ sở của trí nhớ là sự thay đổi trong cấu trúc phân tử của axit ribonucleic Còn theo Conell và Jacobson, thì trí nhớ có liên quan đến lượng axit deoxyribonucleic [33] Cơ chế của sự lưu giữ thông tin ngày càng được nghiên cứu sâu hơn Tuy nhiên, chưa có một cơ chế lý thuyết thống nhất về cơ chế của trí nhớ

Trẻ sơ sinh chưa có trí nhớ, đến cuối tháng thứ sáu, trẻ mới bắt đầu tái nhận lại Trẻ một tuổi có thể tái nhận lại sự vật hiện tượng sau vài ngày Đến hai tuổi, trẻ không những tái nhận lại sự vật, hiện tượng diễn ra sau vài tuần

mà còn nhớ được những gì mới xảy ra trong vài ngày Ở lứa tuổi này trẻ mới chỉ có trí nhớ không chủ định, nghĩa là trẻ chưa đặt ra cho mình mục đích, chưa có kế hoạch nhớ những điều cần ghi nhớ mà thường chỉ nhớ những ấn tượng riêng biệt, những ấn tượng đượm màu sắc xúc cảm (theo [14], [59]).Trong lứa tuổi mẫu giáo các quá trình ghi nhớ của trẻ em tiếp tục phát triển và hoàn thiện Trẻ tham gia vào các hoạt động phức tạp hơn, đòi hỏi phải nhớ được luật chơi, nội dung chơi hoặc kể lại được câu chuyện, thuộc thơ…nên ở trẻ đã bắt đầu xuất hiện trí nhớ có chủ định (theo [14], [59])

Trang 12

1.4 Những nghiên cứu về các chỉ số thể lực và trí tuệ

1.4.1 Những nghiên cứu về các chỉ số thể lực

Năm 1919, nhà nhân trắc học người Đức, Rudoll Martin đã đề xuất một

hệ thống các dụng cụ và phương pháp đo để xác định kích thước của cơ thể

Từ đó đến nay, phương pháp Martin tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện về cả

lý thuyết và thực tiễn (theo [20])

Năm 1964, trong cuốn “Nhân trắc học”, F Vaneler Rael đã đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng thang phân loại thể lực của con người theo các chỉ

số đánh giá thể lực (theo [28])

Tại hội nghị lần thứ bảy toàn Liên Xô về vấn đề sinh thái, sinh lý và hình thái lứa tuổi, B.A Nhikitic và V.P Tresov đã công bố sơ đồ phát triển cá thể sau khi sinh của con người Sơ đồ cho biết khá chi tiết về sự tăng trưởng phát triển của con người ở mỗi giai đoạn và đã được áp dụng rộng rãi trong nhân trắc học, giáo dục học, nhi khoa (theo [28])

Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu đầu tiên về thể lực con người

là của một số tác giả Mondiere (1875), Huard, Bogot (1938) và Đỗ Xuân Hợp (1943) (theo [42]) Sau năm 1954, đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam Năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên được xuất bản Đây là một công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa của người Việt Nam [68] Năm 1976 - 1980,

Vũ Thị Chín nghiên cứu về các chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý của trẻ em từ

0 đến 3 tuổi và đã xây dựng được biểu đồ phát triển về chiều cao, cân nặng của trẻ [5]

Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cộng sự (cs) [74] nghiên cứu một

số chỉ số sinh học của người Việt Nam từ 3 đến 110 tuổi Phân tích kết quả

Trang 13

nghiên cứu, các tác giả nhận thấy chiều cao và cân nặng trung bình của người Việt Nam thấp hơn của người Âu, Mỹ ở mọi lứa tuổi.

Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [10] đã nghiên cứu chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới trên 8000 người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi ở ba miền Bắc - Trung - Nam Các tác giả nhận thấy có quy luật gia tăng về chiều cao của người Việt Nam, tăng 4 cm/20 năm

Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [58] đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái của người Việt Nam từ 1 - 25 tuổi ở Nghệ Tĩnh Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng bằng Bắc Bộ Tác giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái thể lực theo giới tính Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người

Trong hai năm 1995 - 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và cs nghiên cứu trên 10339 trẻ em từ 1 - 36 tháng tuổi và 11985 trẻ em từ 37 - 72 tháng tuổi tại Hà Nội, Hà Tây, Hà Bắc, Ninh Bình, Nam Hà Kết quả cho thấy từ 5 đến

72 tháng tuổi, mức tăng chiều cao nhanh hơn so với mức tăng cân nặng [4]

Từ năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan [39], [42] nghiên cứu trên trẻ em

Hà Nội từ 6 - 17 tuổi cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng của trẻ em lớn hơn so với các kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỷ 80 trở về trước và so với trẻ em Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của trẻ em

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số thể lực trên người Việt Nam khá phong phú Các công trình có ít nhiều khác nhau nhưng cùng xác định được hình thái thể lực phụ thuộc vào điều kiện sống, địa bàn nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và có sự biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính

Trang 14

1.4.2 Những nghiên cứu về các chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan

1.4.2.1 Những nghiên cứu về tần số tim

Năm 1993, Đoàn Yên và cs [74] nghiên cứu tần số tim của người Việt Nam cho thấy, sau khi sinh, tần số tim biến đổi có tính chất chu kỳ Tần số tim giảm dần đến tuổi 25 và ổn định đến 69 tuổi

Nghiêm Xuân Thăng [58] nghiên cứu một số chỉ số chức năng sinh lý của người Nghệ Tĩnh cho thấy, tần số tim chịu sự tác động của môi trường sống, đặc biệt là tác động của khí hậu Tần số tim biến đổi theo ngày, mùa và phụ thuộc vào mức độ bức xạ Ngoài ra, chỉ số này còn chịu sự chi phối của các yếu tố khác như lao động, trạng thái tâm lý

Nghiên cứu của Trần Thị Loan ở học sinh [41], [42] cho thấy tần số tim giảm dần theo tuổi, sự biến đổi nhịp tim của nam và của nữ khác nhau

Nguyễn Thị Thúy Hằng khảo sát sự biến đổi huyết áp, tần số tim, điện tim qua nghiệm pháp gắng sức trên các vận động viên trình độ cao ở thành phố Huế cho thấy, việc rèn luyện thể chất có ý nghĩa rất lớn đối với chức năng của hệ tim - mạch [17]

Nhiều công trình nghiên cứu khác cho thấy, tần số tim thay đổi theo tuổi

và theo trạng thái chức năng của cơ thể Những thay đổi này có liên quan đến

sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của dây thần kinh ngoài tim [50], [62], [66]

Nhìn chung, tần số tim đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đạt được những kết quả nhất định, nhưng nghiên cứu chưa nhiều ở trẻ em lứa tuổi mầm non

1.4.2.2 Những nghiên cứu về tần số thở

Nghiêm Xuân Thăng [58] nghiên cứu một số chỉ số chức năng sinh lý của người Nghệ Tĩnh cho thấy, khí hậu có ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, trong đó tần số thở và dung tích sống chịu ảnh hưởng nhiều nhất của khí hậu

Trang 15

Vương Thị Hòa [20] nghiên cứu trên trẻ em từ sơ sinh đến 4 tuổi ở một

số xã vùng nông thôn của tỉnh Thái Bình nhận thấy, mức chênh lệch giữa tần

số thở của trẻ em nam và của trẻ em nữ không đáng kể Dưới 3 tuổi, tần số thở của trẻ em nam cao hơn của trẻ em nữ

Nhìn chung, những nghiên cứu về chức năng hô hấp của người Việt Nam khá phổ biến, nhưng chủ yếu là trên đối tượng người trưởng thành với các chỉ tiêu phân áp các chất khí trong máu, khuếch tán khí, chỉ tiêu chức năng thông khí phổi như dung tích sống, dung tích sống thở mạnh, thể tích khí lưu thông, thể tích khí cặn [8], [22], [25], [49], [66], [70], ít thấy những nghiên cứu về tần số thở

1.4.3 Những nghiên cứu về trí tuệ

Mở đầu cho những nghiên cứu đầy đủ, khoa học về trí tuệ là những nghiên cứu theo thuyết liên tưởng về tư duy, đại diện là các nhà triết học Anh như O Ghatli, D.S Miler, H Spencer… [37]

Ở Việt Nam, từ những năm 80 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về trí tuệ ngày càng nhiều Trần Trọng Thủy là người đầu tiên nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều hướng, cường độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh qua các lứa tuổi khác nhau [59]

Năm 1996, Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan đã nghiên cứu đánh giá sự phát triển trí tuệ của học sinh thành phố và học sinh nông thôn Kết quả nghiên cứu cho thấy, học sinh thành phố có mức trí tuệ cao hơn học sinh nông thôn [35], [38]

Năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trí tuệ của học sinh từ 6 - 17 tuổi

ở quận Cầu Giấy - Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra liên tục, tương đối đồng đều và không có sự khác biệt về giới tính [42]

Trang 16

Lê Minh Hà [14] sử dụng test Raven màu nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo từ 5 - 6 tuổi ở Hà Nội và Yên Bái cho thấy, điểm test Raven trung bình xấp xỉ bằng điểm chuẩn, mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo ở Hà Nội cao hơn của trẻ ở Yên Bái.

Năm 2003, Mai Văn Hưng nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực trí tuệ của sinh viên một số trường đại học ở phía Bắc Việt Nam cho thấy, năng lực trí tuệ có mối tương quan không chặt chẽ với các chỉ số thể lực [23].Như vậy, trí tuệ và mối tương quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ

số sinh học đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đạt được những kết quả nhất định, nhưng chủ yếu mới được tiến hành ở học sinh, sinh viên, ít thấy nghiên cứu ở trẻ em lứa tuổi mầm non

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về trí tuệ, các tác giả còn nghiên cứu về các chỉ số có liên quan với trí tuệ như trí nhớ Trên thế giới, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này như L.X Vưgotxki, A.N Leonchiev, A.A Smirnov, P.M Xêtrênov… [15] Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về trí nhớ [34], [35], [38], [40], [42], [55], [57], [59]

Trần Trọng Thuỷ và cs nghiên cứu trí nhớ của trẻ em trung học ở thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Huế và tỉnh Hoà Bình nhận thấy, khả năng ghi nhớ thính giác ngắn hạn của trẻ em Việt Nam thuộc loại khá và tương đối đồng đều, không có sự khác biệt giữa trẻ em nam và nữ nhưng có sự khác biệt giữa trẻ em thành thị và nông thôn [59]

Nghiêm Xuân Thăng [58] nghiên cứu khả năng ghi nhớ của học sinh và sinh viên Nghệ Tĩnh cho thấy, khả năng ghi nhớ của đối tượng nghiên cứu biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và đối lưu không khí của môi trường

Trịnh Văn Bảo và cs (theo [42]) nghiên cứu khả năng ghi nhớ của học sinh lớp 6, trường Năng khiếu Marie - Curie và trường Phổ thông cơ sở Tô

Trang 17

Hoàng (Hà Nội) nhận thấy, trí nhớ của nhóm học sinh trường năng khiếu tốt hơn của nhóm học sinh bình thường

Trần Thị Loan [42] nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ 6 - 17 tuổi tại quận Cầu Giấy - Hà Nội cho thấy, khả năng ghi nhớ ngắn hạn của học sinh tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đều và không có sự khác biệt về khả năng ghi nhớ của trẻ em theo giới tính Từ 6 đến 11 tuổi, khả năng ghi nhớ của cả nam và nữ đều tăng nhanh, nhanh nhất là lúc 9 - 11 tuổi

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thể lực, sinh lý và trí tuệ của người Việt Nam khá phong phú, nhưng chủ yếu là ở học sinh, sinh viên, thanh niên Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, các nghiên cứu mới chỉ được tiến hành về các chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực hay chức năng của một số hệ cơ quan Còn các công trình nghiên cứu về trí tuệ và mối tương quan giữa năng lực trí tuệ với một số chỉ số sinh học khác của trẻ em lứa tuổi này chưa nhiều Việc nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non là cần thiết Nó góp phần xây dựng các chỉ số sinh học người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, bổ sung số liệu cho hướng nghiên cứu về thể lực, trí tuệ của trẻ em, đồng thời là dẫn liệu cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học

sư phạm mầm non và là dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em mầm non được tốt hơn

Trang 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là trẻ em lứa tuổi mầm non của xã Bình Thanh và

xã Hồng Tiến thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; gồm 6 nhóm với 6 độ tuổi khác nhau, từ 1 đến 6 tuổi

Bình Thanh và Hồng Tiến là hai xã thuần nông nên đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn Sự đầu tư cho chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em còn hạn chế Phần lớn trẻ em ở diện nghiên cứu đi học ở trường mầm non Điều kiện phục vụ cho học tập, sinh hoạt, vui chơi của trẻ chưa tốt như ở thành phố, thị trấn Nhưng nhà trường thực hiện đúng chế độ sinh hoạt quy định trong một ngày của trẻ, kiến thức chăm sóc bà mẹ và trẻ em của người dân cũng dần được nâng cao, nên đã có tác động tốt đến sự phát triển của trẻ.Đối tượng được nghiên cứu ở trạng thái khoẻ mạnh, không có dị tật về hình thể hoặc các bệnh mạn tính Tuổi của các đối tượng nghiên cứu được tính theo quy ước chung của tổ chức Y tế thế giới (theo [9])

Tổng số đối tượng được nghiên cứu là 781 trẻ em, trong đó có 394 trẻ

em nam và 387 trẻ em nữ Phân bố các đối tượng được nghiên cứu theo tuổi

và theo giới tính được thể hiện qua bảng 2.1

Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu

Trang 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

Mẫu nghiên cứu được chọn bằng cách bắt thăm ngẫu nhiên để chọn hai

xã thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu cỡ lớn dựa vào công thức:

n = S2.t2 /d2Trong đó: n - số cá thể của mẫu cần lấy; S - độ lệch chuẩn tính theo % của giá trị trung bình (SD); t - trị số của tương ứng với độ tin cậy chọn trước kết quả; d - sai số cho phép của trị số trung bình chọn trước

Chọn sai số cho phép của kết quả nghiên cứu là ± 5% của trị số trung bình, độ tin cậy của kết quả là 99% thì t = 2,58; SD = 10% và cỡ mẫu cần chọn là:

n = 102 x 2,582 /52 = 27Theo cách tính cỡ mẫu trên, chúng tôi chọn cỡ mẫu để nghiên cứu trong công trình này có số cá thể của mỗi nhóm là từ 30 trở lên (bảng 2.1)

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số

2.2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu

- Các chỉ số về thể lực: Chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, chỉ số

pignet, BMI

- Các chỉ số về chức năng của một số hệ cơ quan: Tần số tim, tần số thở.

- Các chỉ số về trí tuệ: Chỉ số IQ và mức trí tuệ.

- Các chỉ số về trí nhớ: Điểm trí nhớ thị giác và điểm trí nhớ thính giác.

2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số về thể lực

- Chiều cao đứng

+ Trẻ em từ 1 - 2 tuổi được đo ở tư thế nằm ngửa trên bàn đo Khi đo, để đầu trẻ áp sát vào tấm ván đính vuông góc với bàn đo, chân trẻ duỗi thẳng, đầu gối không cong lên, đặt thước đến gót chân của trẻ và đọc số đo

Trang 20

+ Trẻ em trên 2 tuổi đo ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân

áp sát nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo Thước đo bằng polyme có vạch chia độ chính xác đến 0,1

cm do Trung tâm thiết bị trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất

- Cân nặng được xác định bằng cân y học Trung Quốc, có vạch chia đến

0,1 kg Đo xa bữa ăn Khi đo, đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không mang giày dép Đối tượng đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân sát nhau

- Vòng ngực được đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức,

dưới núm vú sao cho mặt phẳng của thước dây tạo ra song song với mặt đất Đối tượng ở tư thế đứng thẳng Thước dây không co dãn và có vạch chia độ chính xác đến 0,1 cm

- Vòng đầu được đo bằng thước dây vòng quanh đầu, phía trước dây

nằm trên cung lông mày, phía sau qua ụ chẩm để lấy kích thước tối đa Đối tượng ở tư thế đứng thẳng Thước dây không co dãn và có vạch chia độ chính xác đến 0,1 cm

- Chỉ số pignet được tính theo công thức:

Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + Vòng ngực (cm)]

So sánh chỉ số pignet của trẻ với chỉ số pignet theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền và cs [56], (theo [83]) để đánh giá thể lực

Bảng 2.2 Phân loại chỉ số pignet

Trang 21

- BMI được tính theo công thức:

BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao đứng (m)]2 Căn cứ vào BMI, tuổi và giới tính của trẻ em từ 2 - 6 tuổi, xác định điểm tương ứng trên biểu đồ BMI riêng cho nam và nữ từ 2 đến 20 tuổi của Trung tâm quốc gia phòng bệnh mạn tính và tăng cường sức khỏe (National Center for Chronic Disease Prevention and Health Promotion), gọi tắt là CDC, của Mỹ (phụ lục 1 và 2) để so sánh và đánh giá mức độ gầy béo của cơ thể [81], [82]

Bảng 2.3 Phân loại BMI đối với nam từ 2 - 6 tuổi

< 14,8 < 14,4 < 14,0 < 13,9 < 13,8 Dưới 5 Suy dinh

dưỡng 14,8 - 18,2 14,4 - 17,4 14,0 - 17,0 13,9 - 16,8 13,8 - 17,0 Từ 5 - 85 Bình

thường 18,2 - 19,4 17,4 - 18,3 17,0 - 17,8 16,8 - 17,9 17 - 18,4 Từ 85 - 95 Nguy có

< 14,4 < 14,0 < 13,7 < 13,5 < 13,4 Dưới 5 Suy dinh

dưỡng 14,4 - 18,0 14,0 - 17,2 13,7 - 16,8 13,5 - 16,8 13,4 - 17,0 Từ 5 - 85 Bình

thường 18,0 - 19,1 17,2 - 18,3 16,8 - 18,0 16,8 - 18,2 17,0 - 18,8 Từ 85 - 95 Nguy có

béo phì

≥ 19,1 ≥ 18,3 ≥ 18,0 ≥ 18,2 ≥ 18,8 Trên 95 Béo phì

Trang 22

Với trẻ em 1 tuổi, căn cứ vào tháng tuổi và cân nặng, xác định điểm tương ứng trên biểu đồ phát triển trẻ em dành cho trẻ dưới 2 tuổi của Trung tâm quốc gia phòng bệnh mạn tính và tăng cường sức khỏe (CDC), của Mỹ (phụ lục 3) để so sánh và đánh giá mức độ gầy béo của cơ thể [79], [80].

Bảng 2.5 Phân loại mức độ phát triển cơ thể đối với trẻ dưới 2 tuổi

5,4 - 6,2 5,6 - 6,4 5,8 - 6,6 5,9 - 7,8 6,0 - 7,0 6,2 - 7,1 6,4 - 7,3

Suy dinh dưỡng nặng

6,2 - 7,6 6,4 - 7,8 6,6 - 7,9 7,8 - 8,0 7,0 - 8,2 7,1 - 8,4 7,3 - 8,7

Suy dinh dưỡng vừa

- Tần số tim được xác định bằng ống nghe Khi đo, đối tượng ngồi ở tư

thế thoải mái Người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong 1 phút và đo ba lần rồi lấy giá trị trung bình

Trang 23

- Tần số thở được xác định bằng cách cho trẻ em nằm trên giường, hai

tay đặt lên ngực, vén áo của trẻ lên cao hơn bụng Quan sát bụng của trẻ, mỗi một lần thành bụng của trẻ nâng lên, hạ xuống thì tính là một nhịp thở

2.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu trí tuệ

Trí tuệ được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm và sử dụng test Raven màu với từng trẻ mẫu giáo từ 4 - 6 tuổi vì test phù hợp với lứa tuổi này Test Raven màu gồm 36 khuôn hình, chia thành 3 bộ (A, AB, B), cấu trúc theo nguyên tắc có độ khó tăng dần Mỗi bộ gồm 12 bài tập, được bắt đầu bằng khuôn hình đơn giản (khuôn hình 1) và kết thúc bằng khuôn hình phức tạp (khuôn hình 12) Do đó, bài tập dễ nhất trong toàn bộ test Ravent là khuôn hình A1 và khó nhất là khuôn hình B12 [1] Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với từng cá nhân trẻ Thời gian tiến hành với mỗi trẻ không quá 15 phút

Mỗi bài test gồm hai phần Phần hình vẽ lớn và phần 6 hình nhỏ Hình

vẽ lớn luôn bị thiếu một phần Phần thiếu có cùng kích thước với các hình nhỏ

và là một trong 6 hình Nghiệm thể cần tìm đúng hình nhỏ duy nhất đó Để trẻ hiểu bài tập, chúng tôi hướng dẫn cụ thể ở khuôn hình A1 Trắc nghiệm viên chỉ vào hình vẽ lớn và phần bị thiếu, nói hình vẽ đã bị cắt một miếng Nếu lắp các hình nhỏ vào phần bị cắt, thì đều đúng kích thước, nhưng không phải hình nhỏ nào cũng phù hợp với hình vẽ lớn, chỉ có đúng một hình nhỏ phù hợp Nói trẻ quan sát kỹ hình lớn và các hình nhỏ, rồi chọn xem hình nhỏ phù hợp

là hình nào Nếu trẻ còn lúng túng, trắc nghiêm viên tiếp tục giải thích cho đến khi trẻ thực sự hiểu

Khi trẻ làm các bài từ A2 đến A5, AB1 đến AB5 và B1 đến B5, dù trẻ chọn đúng hay sai, trắc nghiệm viên chỉ vào phần bị thiếu của hình vẽ lớn, hỏi hình nhỏ trẻ đã chọn có lắp đúng vào đó không Nếu trẻ trả lời có, trắc nghiệm viên chấp nhận dù sai Nếu trẻ chọn hình khác, trắc nghiệm viên hỏi trẻ hình mới chọn cũng đúng à? Nếu trẻ nói là đúng thì trắc nghiệm viên chấp nhận Nếu

Trang 24

trẻ vẫn còn do dự, trắc nghiệm viên hỏi trẻ hình nào mới đúng, và ghi lại kết quả trẻ đã chọn Với các bài khác, trắc nghiệm viên không hỏi đúng sai, chỉ nhắc trẻ mỗi bài chỉ có đúng một hình phù hợp, trẻ cần chọn kỹ.

Trắc nghiệm viên ghi lại kết quả ở mỗi bài của trẻ, rồi chấm điểm theo khoá điểm của test Raven màu Căn cứ vào điểm test Raven, chỉ số IQ được tính theo công thức của D Wechsler Trên cơ sở chỉ số IQ, đối chiếu với tiêu chuẩn phân loại trí tuệ của D Wechsler để phân loại các mức trí tuệ [77]

Bảng 2.6 Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ

2.2.2.5 Phương pháp nghiên cứu trí nhớ

Trí nhớ được xác định dựa theo phương pháp Nechaiev Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắn hạn thính giác của trẻ em từ 4 - 6 tuổi

- Trí nhớ thị giác: Dùng giấy A3 in 10 hình con vật mà trẻ đã biết Ví dụ: vịt, chó, mèo, gà, thỏ, gấu, hổ, bướm, voi, cá Nói trẻ chú ý quan sát, cố gắng nhớ để còn kể lại Sau khi cho trẻ quan sát 30 giây, ghi lại tên các con vật mà trẻ trả lời đúng, không cần theo thứ tự

Đánh giá kết quả dựa vào số con vật trẻ nhớ đúng trong thời gian 30 giây Mỗi tên con vật nhớ đúng, được 1 điểm

Trang 25

- Trí nhớ thính giác: Phương pháp tương tự như nghiên cứu trí nhớ ngắn

hạn thị giác, nhưng bằng cách đọc cho trẻ nghe tên của mười con vật quen thuộc ba lần, sau đó yêu cầu trẻ nhớ lại, kể tên các con vật Trắc nghiệm viên ghi lại kết quả

2.2.3 Phương pháp xử lí số liệu

2.2.3.1 Xử lý thô

- Xử lý số liệu về thể lực: Dựa vào cân nặng, chiều cao, vòng ngực để tính

chỉ số pignet và BMI

- Xử lý bài test Raven: Điểm được tính theo khoá chấm điểm của

Raven [1], mỗi bài tập đúng được một điểm Tính tổng số điểm của mỗi bộ bài tập của từng cá nhân trừ điểm trung bình kỳ vọng của từng bộ bài tập tương ứng trong bảng kỳ vọng Nếu hiệu này dao động trong khoảng ± 2 SD

và hiệu giữa tổng điểm làm được của cả ba bộ bài tập trừ điểm kỳ vọng của tất cả các bài ≤ 6 thì kết quả trắc nghiệm đạt yêu cầu và được xử lý tiếp Với những bài đạt yêu cầu, tính chỉ số IQ theo công thức của D Wechsler và phân loại các mức trí tuệ theo tiêu chuẩn phân loại trí tuệ của D Wechsler [77]

- Xử lý điểm trí nhớ: Mỗi con vật nhớ đúng được 1 điểm, tổng điểm trí

nhớ của trẻ là số các con vật mà trẻ trả lời chính xác

2.2.3.2 Xử lý số liệu bằng phuơng pháp thống kê xác suất dùng cho y, sinh học

Các số liệu được xử lý theo toán xác suất thống kê dùng trong y, sinh học [29], [47] Việc tính toán số liệu được thực hiện trên máy vi tính bằng phần mềm Microsoft Excel 2003 Các giá trị thống kê gồm có: giá trị trung bình (X ), độ lệch chuẩn (SD), hệ số tương quan (r)

- Tính giá trị trung bình:

Trang 26

X X

n i i

=

= 1

Trong đó: X - giá trị trung bình; Xi - giá trị thứ i của đại lượng X; n -

số cá thể ở mẫu nghiên cứu

- Tính độ lệch chuẩn theo công thức:

n

X X SD

n

i i i

n i

n

i i i

n i

n i

n

i i i

i i

Y Y

n X

X n

Y X

Y X n

r

1

2 1

2 1

2 1 2

Trong đó: Xi - từng giá trị của đại lượng X; Yi - từng giá trị của đại lượng Y; n - số mẫu có trong công thức; r - hệ số tương quan giữa hai đại lượng X và Y

So sánh hai giá trị trung bình của hai mẫu theo phương pháp Student - Fisher với mức ý nghĩa α = 0,05

Kiểm định giả thuyết về hệ số tương quan theo phân vị Student với các mức ý nghĩa α = 0,05 và α = 0,001

Kết quả nghiên cứu được so sánh với số liệu trong bảng “Chuẩn tăng trưởng của trẻ em toàn thế giới 2006” (theo [36]), cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” (HSSH) [68], cuốn “Các giá trị sinh học người Việt Nam

Trang 27

bình thường thập kỷ 90, thế kỷ XX” (GTSH) [69] và kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Các chỉ số thể lực của trẻ em lứa tuổi mầm non

3.1.1 Chiều cao của trẻ em

3.1.1.1 Chiều cao của trẻ em nam

Kết quả nghiên cứu chiều cao của trẻ em nam lứa tuổi mầm non từ 1 - 6 tuổi được thể hiện ở bảng 3.1 và hình 3.1

Bảng 3.1 Chiều cao của trẻ em nam

Trang 28

Hình 3.1 Chiều cao của trẻ em nam

Số liệu trong bảng 3.1 cho thấy, từ 1 đến 6 tuổi, chiều cao của trẻ em nam tăng dần Cụ thể là chiều cao của trẻ em nam tăng từ 75,48 ± 1,59 cm lúc

1 tuổi lên 110,64 ± 2,89 cm lúc 6 tuổi, tăng thêm 35,16 cm, tăng trung bình 7,03 cm/năm Tuy nhiên, chiều cao của trẻ em nam tăng không đều theo lứa tuổi Mức tăng chiều cao của trẻ em nam cao nhất ở giai đoạn từ 1 đến 2 tuổi (tăng 9,49 cm/năm) và thấp nhất ở giai đoạn từ 5 đến 6 tuổi (tăng 5,66 cm/năm)

Mức độ khác nhau về chiều cao giữa trẻ em nam cao nhất với trẻ em nam thấp nhất trong cùng một độ tuổi không nhiều, thay đổi từ 4,5 cm lúc 1 tuổi đến 7,5 cm lúc 4 tuổi Tỉ lệ trẻ em nam có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi tương đối cao (87,56 %) Tỉ lệ này thấp nhất

là 78,69 % lúc 6 tuổi và cao nhất là 91,04 % lúc 2 và 3 tuổi Điều này chứng

tỏ, trong cùng một độ tuổi, chiều cao của trẻ em nam tương đối đồng đều

3.1.1.2 Chiều cao của trẻ em nữ

Kết quả nghiên cứu chiều cao của trẻ em nữ lứa tuổi mầm non từ 1 - 6 tuổi được thể hiện qua bảng 3.2 và hình 3.2

Trang 29

Bảng 3.2 Chiều cao của trẻ em nữ

X SD± ] (%)

X SD± Tăng Max

(1)

Min (2) (1) - (2)

Mức độ khác nhau về chiều cao giữa trẻ em nữ cao nhất với trẻ em nữ thấp nhất trong cùng một độ tuổi không nhiều, thay đổi từ 5,5 cm lúc 1 tuổi đến 7 cm lúc 3 tuổi, 4 và 6 tuổi Tỉ lệ trẻ em nữ có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi tương đối cao, từ 86,67 % lúc 4 tuổi đến 91,8 % lúc 6 tuổi Điều này cho thấy, trong cùng một độ tuổi, chiều cao của trẻ em nữ tương đối đồng đều

Trang 30

Hình 3.2 Chiều cao của trẻ em nữ

3.1.1.3 So sánh chiều cao của trẻ em theo tuổi và giới tính

Kết quả so sánh chiều cao của trẻ em lứa tuổi mầm non từ 1 - 6 tuổi theo tuổi và giới tính được thể hiện qua bảng 3.3 và hình 3.3, 3.4

Bảng 3.3 Chiều cao của trẻ em theo tuổi và giới tính

Trang 31

1 tuổi lên 110,64 ± 2,89 cm lúc 6 tuổi, tăng thêm 35,16 cm Chiều cao của trẻ

em nữ tăng từ 74,28 ± 2,01 cm lúc 1 tuổi lên 109,72 ± 2,38 cm lúc 6 tuổi, tăng thêm 35,44 cm Mỗi năm, chiều cao của trẻ em nam tăng trung bình 7,03 cm/năm, chiều cao của trẻ em nữ tăng trung bình 7,09 cm/năm Như vậy, tốc

độ tăng chiều cao của trẻ em nữ lớn hơn so với của trẻ em nam 0,06 cm/năm Điều này cho thấy, từ 1 đến 6 tuổi, tốc độ tăng chiều cao của trẻ em nam và của trẻ em nữ khác nhau không nhiều

Tốc độ tăng chiều cao của trẻ em không đều Trẻ càng nhỏ, mức tăng chiều cao càng nhiều Ở giai đoạn từ 1 đến 2 tuổi, chiều cao của trẻ em tăng nhanh nhất (tăng 9,49 cm/năm ở trẻ em nam và 9,02 cm/năm ở trẻ em nữ) Ở giai đoạn từ 5 đến 6 tuổi, mức tăng chiều cao của trẻ em nhỏ nhất (tăng 5,66 cm/năm ở trẻ em nam và 5,46 cm/năm ở trẻ em nữ)

Trong cùng một độ tuổi, trẻ em nam luôn cao hơn trẻ em nữ Sự khác biệt về chiều cao của trẻ em theo giới tính thể hiện rõ ở giai đoạn từ 1 đến 4 tuổi (p<0,05), còn ở giai đoạn từ 5 đến 6 tuổi, mức chênh lệch này không đáng kể (p>0,05)

Trang 32

Hình 3.3 Chiều cao của trẻ em theo tuổi và giới tính

Hình 3.4 Mức tăng chiều cao của trẻ em theo tuổi và giới tính

3.1.2 Cân nặng của trẻ em

3.1.2.1 Cân nặng của trẻ em nam

Trang 33

Kết quả nghiên cứu cân nặng của trẻ em nam lứa tuổi mầm non từ 1 - 6 tuổi được thể hiện qua bảng 3.4 và hình 3.5.

Bảng 3.4 Cân nặng của trẻ em nam

Hình 3.5 Cân nặng của trẻ em nam

Số liệu trong bảng 3.4 cho thấy, cân nặng của trẻ em nam tăng liên tục theo tuổi Từ 1 đến 6 tuổi, cân nặng của trẻ em nam tăng thêm 8,34 kg, tăng

Trang 34

trung bình 1,67 kg/năm Tuy nhiên, cân nặng của trẻ em nam tăng không đều qua các năm Ở giai đoạn từ 1 đến 2 tuổi, mức tăng cân nặng của trẻ em nam cao nhất (tăng 2,24 kg/năm) Ở giai đoạn từ 3 đến 4 tuổi, mức tăng cân nặng của trẻ em nam thấp nhất (tăng 1,43 kg/năm).

Mức độ khác nhau về cân nặng giữa trẻ em nam nặng nhất với trẻ em nam nhẹ nhất trong cùng một độ tuổi không nhiều, thay đổi từ 2,4 kg lúc 3 tuổi đến 2,7 kg lúc 5 và 6 tuổi Tỉ lệ trẻ em nam có cân nặng nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi tương đối cao, thấp nhất là 80,95 %

lúc 1 tuổi và cao nhất là 85,07 % lúc 2 và 3 tuổi Điều này cho thấy, trong cùng một độ tuổi, cân nặng của trẻ em nam khác nhau không nhiều

Trang 35

trẻ em nữ tăng thêm 8,22 kg, tăng trung bình 1,64 kg/năm Tốc độ tăng cân nặng của trẻ em nữ không đồng đều theo lứa tuổi, có lứa tuổi tăng nhanh, có lứa tuổi tăng chậm Cụ thể là cân nặng của trẻ em nữ tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 1 đến 2 tuổi (tăng 2,05 kg/năm) và tăng chậm nhất ở giai đoạn từ 3 đến 4 tuổi (tăng 1,38 kg/năm).

Mức độ khác nhau về cân nặng giữa trẻ em nữ nặng nhất với trẻ em nữ nhẹ nhất trong cùng một độ tuổi không nhiều, thay đổi từ 2,3 kg lúc 1 và 5 tuổi đến 3 kg lúc 4 tuổi Tỉ lệ trẻ em nữ có cân nặng nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi tương đối cao, thấp nhất là 76,76 % lúc 4 tuổi và cao nhất là 85,07 % lúc 2 tuổi Điều này chứng tỏ, trong cùng một độ tuổi, cân nặng của trẻ em nữ khác nhau không nhiều

Hình 3.6 Cân nặng của trẻ em nữ

3.1.2.3 So sánh cân nặng của trẻ em theo tuổi và giới tính

Trang 36

Kết quả so sánh cân nặng của trẻ em lứa tuổi mầm non từ 1 - 6 tuổi theo tuổi và giới tính được thể hiện qua bảng 3.6 và hình 3.7, 3.8.

Bảng 3.6 Cân nặng của trẻ em theo tuổi và giới tính

Tốc độ tăng cân nặng của trẻ em diễn ra không đồng đều theo lứa tuổi

Ở giai đoạn từ 1 đến 2 tuổi, cân nặng của trẻ em tăng nhanh nhất Trong đó, cân nặng của trẻ em nam tăng 2,24 kg/năm và của trẻ em nữ tăng 2,05 kg/năm Từ 2 đến 6 tuổi, tốc độ tăng cân nặng của trẻ em ít hơn Cân nặng của trẻ em nam tăng khoảng 1,43 - 1,68 kg/năm, cân nặng của trẻ em nữ tăng khoảng 1,38 - 1,71 kg/năm

Trang 37

Trong cùng một độ tuổi, cân nặng của trẻ em nam luôn có trị số lớn hơn của trẻ em nữ Tuy nhiên, mức chênh lệch cân nặng giữa trẻ em nam và trẻ

em nữ không lớn, chỉ chênh lệch từ 0,19 - 0,56 kg Từ 2 đến 4 tuổi, mức chênh lệch về cân nặng giữa trẻ em nam và trẻ em nữ thể hiện rõ rệt (p<0,05)

Hình 3.7 Cân nặng của trẻ em theo tuổi và giới tính

Trang 38

Hình 3.8 Mức tăng cân nặng của trẻ em theo tuổi và giới tính

3.1.3 Vòng ngực của trẻ em

3.1.3.1 Vòng ngực của trẻ em nam

Kết quả nghiên cứu vòng ngực của trẻ em nam lứa tuổi mầm non từ 1 -

6 tuổi được thể hiện ở bảng 3.7 và hình 3.9

Trang 39

Hình 3.9 Vòng ngực của trẻ em nam

Số liệu trong bảng 3.7 cho thấy, từ 1 đến 6 tuổi, vòng ngực của trẻ em nam tăng liên tục theo tuổi Cụ thể là vòng ngực của trẻ em nam tăng thêm 7,6 cm, tăng trung bình 1,52 cm/năm Tốc độ tăng vòng ngực của trẻ em nam diễn ra không đồng đều theo lứa tuổi Vòng ngực của trẻ em nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 1 đến 2 tuổi (tăng 2,47 cm/năm) và tăng chậm nhất ở giai đoạn từ 5 đến 6 tuổi (tăng 0,93 cm/năm)

Mức độ khác nhau giữa trẻ em nam có vòng ngực rộng nhất với trẻ em nam có vòng ngực hẹp nhất trong cùng một độ tuổi không nhiều, thay đổi từ 6

cm lúc 1 tuổi và 4 tuổi đến 7,5 cm lúc 6 tuổi Tỉ lệ trẻ em nam có vòng ngực nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi tương đối cao (81,47 %) Tỉ

lệ này thấp nhất là 77,94 % lúc 4 tuổi và cao nhất là 85,08 % lúc 2 tuổi Điều này cho thấy, trong cùng một độ tuổi, vòng ngực của trẻ em nam khác nhau không nhiều

3.1.3.2 Vòng ngực của trẻ em nữ

Trang 40

Kết quả nghiên cứu vòng ngực của trẻ em nữ lứa tuổi mầm non từ 1 - 6 tuổi được thể hiện ở bảng 3.8 và hình 3.10.

Mức độ khác nhau giữa trẻ em nữ có vòng ngực rộng nhất với trẻ em

nữ có vòng ngực hẹp nhất trong cùng một độ tuổi không nhiều, thay đổi từ 6

cm lúc 1 tuổi đến 9 cm lúc 6 tuổi Tỉ lệ trẻ em nữ có vòng ngực nằm trong khoảng giá trị trung bình tương đối cao (83,46 %) Tỉ lệ này thấp nhất là 79,11 % lúc 2 tuổi và cao nhất là 90,9 % lúc 5 tuổi Điều này cho thấy, trong cùng một độ tuổi, vòng ngực của trẻ em nữ khác nhau không nhiều

Ngày đăng: 05/10/2016, 19:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hồng Anh (1990), Bản hướng dẫn sử dụng test Raven, Lược dịch, Trung tâm nghiên cứu trẻ em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản hướng dẫn sử dụng test Raven
Tác giả: Đỗ Hồng Anh
Năm: 1990
2. Trịnh Văn Bảo (1997), “Vấn đề di truyền với sự tăng trưởng”, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tài KX - 07 - 07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề di truyền với sự tăng trưởng”," Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Năm: 1997
3. Bộ môn Nhi khoa, Trường Đại học Y khoa Hà Nội (2006), Bài giảng nhi khoa, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nhi khoa
Tác giả: Bộ môn Nhi khoa, Trường Đại học Y khoa Hà Nội
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2006
4. Hàn Nguyệt Kim Chi và cs (1996), Một số chỉ tiêu hình thái trẻ em dưới 6 tuổi, Kết quả bước đầu nghiên cứu chỉ tiêu sinh học người Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu hình thái trẻ em dưới 6 tuổi
Tác giả: Hàn Nguyệt Kim Chi và cs
Năm: 1996
5. Vũ Thị Chín (1989), Chỉ số phát triển sinh lý - tâm lý trẻ em từ 0 - 3 tuổi, Nxb Khoa học xã hội, tr. 17 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển sinh lý - tâm lý trẻ em từ 0 - 3 tuổi
Tác giả: Vũ Thị Chín
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
7. Đỗ Văn Dũng (2000), “Tốc độ tăng trưởng trẻ em tuổi nhà trẻ”, Báo cáo hội thảo dinh dưỡng trẻ em, Hà Nội, tr. 25 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tốc độ tăng trưởng trẻ em tuổi nhà trẻ”, "Báo cáo hội thảo dinh dưỡng trẻ em
Tác giả: Đỗ Văn Dũng
Năm: 2000
8. Trịnh Bỉnh Dy (1996), “Nghiên cứu chức năng phổi từ sau hội nghị hằng số năm 1972”, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chức năng phổi từ sau hội nghị hằng số năm 1972”, "Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1996
9. Trịnh Bỉnh Dy, Lê Thành Uyên (1978), “Bàn về mốc phân chia các lứa tuổi người Việt Nam”, Sinh lý học, Tổng hội Y Dược học Việt Nam, (1), Hà Nội, tr. 66 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mốc phân chia các lứa tuổi người Việt Nam”, "Sinh lý học
Tác giả: Trịnh Bỉnh Dy, Lê Thành Uyên
Năm: 1978
10. Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Huy Khôi và cộng sự (1996), “Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi”, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển chiều cao, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi”, "Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam
Tác giả: Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Huy Khôi và cộng sự
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1996
11. Gardner.H (1998), Cơ cấu trí khôn- Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu trí khôn- Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn
Tác giả: Gardner.H
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Từ Giấy và cộng sự (1986), “Tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực trẻ em ở một số vùng sinh thái khác nhau”, Mấy vấn đề nghiên cứu về phân bổ, sử dụng đào tạo và điều kiện lao động nữ, Trung tâm Nghiên cứu khoa học Phụ nữ - Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực trẻ em ở một số vùng sinh thái khác nhau”, "Mấy vấn đề nghiên cứu về phân bổ, sử dụng đào tạo và điều kiện lao động nữ
Tác giả: Từ Giấy và cộng sự
Năm: 1986
13. Lê Thị Minh Hà (2000), “Một số quan điểm về trí nhớ”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (11), tr. 15 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm về trí nhớ”, "Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Lê Thị Minh Hà
Năm: 2000
14. Lê Minh Hà (2003), Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, tr. 10 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Tác giả: Lê Minh Hà
Năm: 2003
15. Phạm Minh Hạc (2003), Tuyển tập tâm lý học, Nxb Giáo dục, tr. 21 - 31, 621 - 626 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
16. Nguyễn Kế Hào (1991), “Khả năng phát triển trí tuệ của trẻ em Việt Nam”, Nghiên cứu giáo dục, (10), tr. 2 - 3, 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng phát triển trí tuệ của trẻ em Việt Nam”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Năm: 1991
17. Nguyễn Thị Thúy Hằng (1995), “Nghiên cứu các chỉ số sinh học lứa tuổi mẫu giáo thành phố Huế”, Thông báo khoa học Đại học Y khoa Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các chỉ số sinh học lứa tuổi mẫu giáo thành phố Huế”
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Năm: 1995
18. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2006), “Khảo sát sự biến đổi huyết áp, tần số tim, điện tim qua nghiệm pháp gắng sức trên các vận động viên trình độ cao", Tạp chí Sinh lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sự biến đổi huyết áp, tần số tim, điện tim qua nghiệm pháp gắng sức trên các vận động viên trình độ cao
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Năm: 2006
19. Châu Hữu Hầu, Huỳnh Văn Nên (1995), “Các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi”, "Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học
Tác giả: Châu Hữu Hầu, Huỳnh Văn Nên
Năm: 1995
20. Vương Thị Hoà (1998) “Nghiên cứu sự phát triển một số chỉ số hình thái và chức năng của trẻ sơ sinh đến 4 tuổi vùng nông thôn Thái Bình, Luận án Tiến sĩ Y học, tr. 4 - 8, 17, 33 - 34, Học viện Quân y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự phát triển một số chỉ số hình thái và chức năng của trẻ sơ sinh đến 4 tuổi vùng nông thôn Thái Bình
21. Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Kim Quý (1991), Trắc nghiệm tâm lý I, ĐHSP Hà Nội, tr. 18 - 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm tâm lý I
Tác giả: Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Kim Quý
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Phân loại chỉ số pignet - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 2.2. Phân loại chỉ số pignet (Trang 20)
Bảng 2.4. Phân loại BMI đối với nữ từ 2 - 6 tuổi - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 2.4. Phân loại BMI đối với nữ từ 2 - 6 tuổi (Trang 21)
Bảng 2.6. Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 2.6. Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ (Trang 24)
Bảng 3.1. Chiều cao của trẻ em nam - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 3.1. Chiều cao của trẻ em nam (Trang 27)
Bảng 3.2. Chiều cao của trẻ em nữ - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 3.2. Chiều cao của trẻ em nữ (Trang 29)
Bảng 3.18. Chỉ số IQ của trẻ em theo giới tính - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 3.18. Chỉ số IQ của trẻ em theo giới tính (Trang 59)
Bảng 3.19. Phân bố trẻ em theo mức trí tuệ - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 3.19. Phân bố trẻ em theo mức trí tuệ (Trang 60)
Hình 3.28. Sự phân bố trẻ em theo mức trí tuệ và giới tính - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Hình 3.28. Sự phân bố trẻ em theo mức trí tuệ và giới tính (Trang 62)
Hình 3.30. Trí nhớ thị giác của trẻ em theo giới tính - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Hình 3.30. Trí nhớ thị giác của trẻ em theo giới tính (Trang 65)
Hình 3.31. Trí nhớ thính giác của trẻ em theo tuổi - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Hình 3.31. Trí nhớ thính giác của trẻ em theo tuổi (Trang 66)
Hình 3.32. Trí nhớ thính giác của trẻ em theo giới tính - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Hình 3.32. Trí nhớ thính giác của trẻ em theo giới tính (Trang 67)
Bảng 3.25. Hệ số tương quan giữa một số chỉ số nghiên cứu của trẻ em - Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã, huyện kiến xương, tỉnh thái bình
Bảng 3.25. Hệ số tương quan giữa một số chỉ số nghiên cứu của trẻ em (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w