Trong những năm qua, ngành nông nghiệp của tỉnh đã được chú trọng đầu tư phát triển theo hướng xuất khẩu hàng hóa, khẳng định được vị thế của mình trong cơ cấu nông nghiệp của tiểu vùng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo,
Ths: Tòng Thị Quỳnh Hương Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
tới cô giáo đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để giúp em hoàn thành khóa luận này
Để có những tư liệu cần thiết nghiên cứu khóa luận, em đã nhận được sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên, Cục thống
kê tỉnh Điện Biên, thư viện tỉnh Điện Biên Em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ của các cô, các bác đã cung cấp số liệu giúp em trong quá trình nghiên cứu
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, các phòng ban, trung tâm Thông tin thư viện Trường Đại học Tây Bắc, thư viện khoa Sử - Địa Trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Sử - Địa đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn bạn bè, gia đình và những người thân đã luôn động viên em trong quá trình nghiên cứu Khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý, giúp đỡ của các thầy cô giáo để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Tao Thị Hà
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ NÔNG NGHIỆP 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp 8
1.1.2 Vai trò, đặc điểm nông nghiệp 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp vùng Trung du miền núi Bắc Bộ 12
1.2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp tiểu vùng Tây Bắc 15
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH ĐIỆN BIÊN 17
2.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 17
2.2 Điều kiện tự nhiên 18
2.2.1 Địa hình và đất đai 18
2.2.2 Khí hậu 21
2.2.3 Nước 22
2.2.4 Tài nguyên sinh vật 23
2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
2.3.1 Dân cư và nguồn lao động 24
2.3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật 26
Trang 32.4 Đánh giá chung 29
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH ĐIỆN BIÊN 31
3.1 Thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Điện Biên từ 2005 – 2013 31
3.1.1 Thực trạng phát triển nông nghiệp Điện Biên giai đoạn 2005 – 2013 theo ngành 31
3.1.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp Điện Biên giai đoạn 2005 – 2013 theo vùng lãnh thổ 46
3.1.3 Đánh giá chung 47
3.2 Giải pháp phát triển nông nghiệp Điện Biên giai đoạn tới 49
3.2.1 Quan điểm đề xuất 49
3.2.2 Định hướng phát triển 49
3.2.3 Các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Điện Biên giai đoạn tới 50
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Hình 1: Cơ cấu sử dụng đất Điện Biên năm 2013 20
2 Hình 2: Cơ cấu GTSX ngành trồng trọt theo giá thực tế phân
theo nhóm cây trồng tỉnh Điện Biên năm 2005 – 2013 (đơn vị:
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1: Một số chỉ tiêu sản xuất lương thực của vùng Trung du
miền núi Bắc Bộ giai đoạn 2000 – 2013
6 Bảng 6: Diện tích, sản lượng lúa phân theo huyện, thị, thành phố
tỉnh Điện Biên năm 2005, 2013
36
7 Bảng 7: Diện tích, năng suất, sản lượng các vụ lúa Điện Biên
2005 - 2013
37
8 Bảng 8: Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm
của tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2005 - 2013
11 Bảng 11: Số lượng đàn gia súc phân theo huyện, thị, thành phố
tỉnh Điện Biên, năm 2005, 2013
43
12 Bảng 12: Số lượng đàn gia cầm phân theo huyện, thị, thành phố
tỉnh Điện Biên, năm 2013 (đơn vị: con)
45
Trang 7Ở Việt Nam, nông nghiệp ra đời trong lòng văn hóa khảo cổ học Hòa Bình
Tổ tiên ta từ văn hóa Phùng Nguyên đã sớm chọn cây lúa nước làm nguồn sản xuất chính, đặt nền móng cho nông nghiệp của nước nhà phát triển như ngày nay
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật (KH – KT), nông nghiệp ngày càng được mở rộng; các giống cây trồng vật nuôi ngày càng đa dạng và phong phú Trong bất cứ xã hội nào, lương thực – cái ăn của con người – thường được đặt lên hàng đầu Vai trò to lớn của nó thể hiện ở chỗ nông nghiệp sản xuất ra lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu hàng ngày của con người Đối với cả nước nói chung và từng thành viên cụ thể nói riêng, lương thực có ý nghĩa rất quan trọng Nhờ có các chính sách phù hợp và sự tiến bộ trong sản xuất, nền nông nghiệp của nước ta phát triển không ngừng Nông nghiệp đang dần trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từ chỗ xưa kia thiếu đói triền miên, đến nay không chỉ đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trong nước, mà còn dôi dư để xuất khẩu
Nông nghiệp có vai trò quan trọng của đối với đời sống, kinh tế, xã hội Do
đó, vấn đề phát triển nông nghiệp được coi là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết với đất nước và từng địa phương
Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng núi Tây Bắc với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh hiện nay là 9.554.097 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 108.158 ha, chiếm 11,3% diện tích đất tự nhiên
Trang 8Trong những năm qua, ngành nông nghiệp của tỉnh đã được chú trọng đầu
tư phát triển theo hướng xuất khẩu hàng hóa, khẳng định được vị thế của mình trong cơ cấu nông nghiệp của tiểu vùng Tây Bắc, vùng nông nghiệp Trung du miền núi phía Bắc nói riêng, trong cơ cấu nông nghiệp cả nước nói chung, năng suất và sản lượng các sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Song nền nông nghiệp vẫn còn tồn tại những hạn chế như chưa khai thác và phát triển được tương xứng với tiềm năng, trình độ
KH – KT, chính sách quản lí tổ chức sản xuất, tư liệu sản xuất đơn giản, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu,…
Xuất phát từ mục đích khoa học là nghiên cứu tiềm năng, thực trạng, từ đó
đề xuất một số giải pháp để phát triển nông nghiệp Điện Biên có hiệu quả tôi đã
lựa chọn đề tài “Tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Điện Biên giai đoạn
2005 – 2014” cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Dựa trên cơ sở lí luận về Địa lí kinh tế - xã hội (KT – XH) nói chung, địa lí nông nghiệp nói riêng, đề tài tập trung đánh giá các nguồn lực, phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp, từ đó đề ra các giải pháp hợp lí góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Điện Biên
2.2 Nhiệm vụ
- Kế thừa có chọn lọc cơ sở lí luận về nông nghiệp và Địa lí nông nghiệp để
vận dụng vào địa bàn tỉnh Điện Biên
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp
của tỉnh Điện Biên
- Phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp theo ngành và sự phân hóa theo lãnh thổ của tỉnh Điện Biên Trên cơ sở đó, làm rõ bức tranh phát triển nông
nghiệp của một tỉnh miền núi trong giai đoạn 2005 – 2014
- Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Điện Biên hiệu quả và bền vững
Trang 92.3 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp tỉnh Điện Biên theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp trên các mặt:
+ Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Điện Biên
+ Phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp theo cơ cấu ngành và sự phân hóa theo lãnh thổ
+ Đưa ra các giải pháp
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ tỉnh Điện
Biên, có sự phân cấp tới cấp huyện Bao gồm 10 đơn vị hành chính: TP Điện Biên Phủ, TX Mường Lay, các huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ảng và Nậm Pồ
- Về thời gian: số liệu được sử dụng trong nghiên cứu đề tài từ năm 2005
đến 2014 Một số số liệu ở dạng sơ bộ sẽ lấy đến năm 2013
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nông nghiệp và các khía cạnh của địa lí nông nghiệp đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến từ lâu, có thể kể một số công trình như:
- Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, Địa lí các vùng kinh tế do PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ chủ biên, Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam của GS
TS Nguyễn Viết Thịnh và GS TS Đỗ Thị Minh Đức, Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam do GS.TS Lê Thông chủ biên
Trong các công trình này, các tác giả đã nêu ra những vấn đề lí luận và thực tiễn của Địa lí kinh tế - xã hội nói chung, Địa lí nông nghiệp nói riêng như: vai trò, các nhân tố ảnh hưởng, sự phân bố Địa lí của sản xuất nông nghiệp, đặc điểm phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
- Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam do PGS.TS Đặng Văn Phan chủ
biên Trong công trình này, tác giả đã nêu 11 vấn đề có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến nông nghiệp Việt Nam như: tổ chức lãnh thổ và TCLTNN; tài nguyên đất, khí hậu trong nông nghiệp; chuyên môn hóa và tập trung hóa trong
Trang 10sản xuất nông nghiệp; vấn đề lao động và thâm canh trong sản xuất nông nghiệp; phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững
- Địa lí nông – lâm – thủy sản do Nguyễn Minh Tuệ - Lê Thông đồng chủ
biên Trong công trình này các tác giả đề cập tới cơ sở lí luận về địa lí các ngành nông – lâm – thủy sản nói chung, trong đó tổng quan ngắn gọn về quan niệm, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng và một số hình thức tổ chức lãnh thổ tiêu biểu Mặt khác, các tác giả tập trung trình bày địa lí các ngành nông – lâm – thủy sản của nước ta, đồng thời đề cập đến sự phân hóa theo lãnh thổ của các phân ngành nông nghiệp
Ở địa bàn của tỉnh Điện Biên: đã có một số công trình như:
- Kế hoạch phát triển KT – XH 5 năm 2006 -2010 tỉnh Điện Biên
- Quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH tỉnh Điện Biên thời kì 2006 –
2020
Các tác phẩm này mới chỉ đề cập đến sự phát triển KT – XH nói chung của tỉnh mà chưa đi sâu nghiên cứu sự phát triển của ngành nông nghiệp tỉnh Điện Biên
Tuy vậy các nghiên cứu trên vẫn có ý nghĩa nhất định và là các nguồn tư liệu quý giá để tác giả sử dụng trong nghiên cứu đề tài
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm
4.1.1 Quan điểm hệ thống và lãnh thổ
Đây là quan điểm được thể hiện rộng rãi trong nghiên cứu địa lí, theo quan điểm này, khi nghiên cứu một lãnh thổ nào đó phải đặt nó trong hệ thống các thể tổng hợp tự nhiên và thể tổng hợp KT – XH Khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong mối tương quan với những vấn đề xung quanh
Đồng thời, cũng phải xem Điện Biên như một hệ thống lãnh thổ kinh tế với nhiều thành phần, không những là sự phát triển kinh tế trên các phương diện ngành, thành phần nông nghiệp mà còn là sự phát triển toàn diện của cả nền kinh
tế theo một hệ thống
Trang 11Vì đối tượng nghiên cứu của đề tài phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc trưng riêng nên việc áp dụng quan điểm tổng hợp cho phép xem xét các yếu tố tác động đến tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên một phạm vi lãnh thổ đề tài nghiên cứu cũng như mối quan hệ chặt chẽ với các
bộ phận khác
4.1.3 Quan điểm lịch sử
Điện Biên là vùng đất có bề dày lịch sử, là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc ít người với bản sắc văn hóa lâu đời Trải qua hàng ngàn năm lịch sử với những bước phát triển thăng trầm, đến nay, vùng đất này vẫn giữ được những đặc điểm riêng biệt về tự nhiên, văn hóa và con người Những đặc thù này là điều kiện cho phát triển KT – XH trên địa bàn Sử dụng quan điểm lịch sử để nghiên cứu truyền thống sản xuất, đặc trưng văn hóa của các dân tộc để từ đó có thể hoạch định những chiến lược phát triển KT – XH hợp lí, giúp cho việc tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn có hiệu quả và bền vững
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, đề tài còn sử dụng một số quan điểm khác như quan điểm kinh tế, quan điểm sinh thái, quan điểm bền vững, quan điểm dự báo…
Trang 124.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được sử dụng phổ biến hầu như trong tất cả các nghiên cứu Việc vận dụng phương pháp này đảm bảo tính kế thừa các nghiên cứu trước
đó, sử dụng các thông tin đã được kiểm nghiệm, công nhận và xã hội hóa, tiết kiệm được thời gian và công sức Việc phân loại, phân nhóm và phân tích dữ liệu sẽ giúp phát hiện nhiều vấn đề trọng tâm và nhiều khía cạnh cần được tiếp cận của vấn đề Tài liệu cần được thu thập gồm các tài liệu trong phòng và tài liệu ngoài thực địa
Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, việc phân tích, tổng hợp sẽ giúp hệ thống hóa một cách toàn diện và khái quát về vấn đề nghiên cứu
4.2.2 Phương pháp thực địa địa phương
Thực địa là phương pháp đặc thù trong nghiên cứu đối tượng địa lí Việc tiếp cận trực tiếp các đối tượng nghiên cứu cho phép thu thập các thông tin cập nhật, cụ thể và chính xác mà các tài liệu thành văn và các bản đồ không có ưu thế bằng
Với phương pháp này, chúng ta có thể chủ động quan sát, điều tra, thu thập, phỏng vấn về những vấn đề mình quan tâm và nghiên cứu Các kết quả kiểm tra thực địa là cơ sở quan trọng để thẩm định lại tài liệu cũng như một số vấn đề thế giới quan trong quá trình nghiên cứu
4.2.3 Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận, đề tài còn sử dụng một số công cụ hỗ trợ như các phần mềm Microsoft (Word, Excel…) các công
cụ này hỗ trợ đắc lực trong việc xử lí các số liệu để làm cơ sở cho việc đánh giá hiện tượng và xu hướng phát triển, đồng thời là cơ sở dữ liệu để thành lập biểu
đồ, bảng số liệu nhằm góp phần xác định các đặc điểm, mức độ của đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp dự báo, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh…
Trang 135 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về nông nghiệp
Chương 2: Tiềm năng phát triển nông nghiệp tỉnh Điện Biên
Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Điện Biên
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
VỀ NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai
để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều phân ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng và phức tạp trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Vai trò, đặc điểm nông nghiệp
1.1.2.1 Vai trò nông nghiệp
Vai trò to lớn của nông nghiệp được thể hiện ở các điểm sau:
a) Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của con người
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người Sản phẩm quan trọng hàng đầu mà con người làm ra để nuôi sống mình
Trang 15mới nói đến các hoạt động khác Ông đã chỉ rõ: nông nghiệp là ngành cung cấp
tư liệu sinh hoạt cho con người và việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự sống của họ và của mọi lĩnh vực sản xuất nói chung
Mặc dù hiện nay công nghệ hóa chất đã áp dụng được các phương pháp tổng hợp để sản xuất thực phẩm, nhưng nguồn cung cấp thực phẩm cho con người vẫn phải dựa vào nông nghiệp
Như vậy, nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực – thực phẩm quan trọng Có thể nói: không có ngành nông nghiệp thì không có sự sống
b) Nông nghiệp là một trong những ngành quan trọng cung cấp nguyên liệu
để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho dân cư
Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp chế biến Các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống; công nghiệp dệt, da và đồ dùng bằng da… đều sử dụng nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp Đối với các nước đang phát triển, nguyên liệu từ nông sản là bộ phận đầu vào chủ yếu để phát triển công nghiệp chế biến và nhiều ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
c) Nông nghiệp và nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Cần phải có quá trình tiêu thụ sản phẩm để tái sản xuất Nông nghiệp được coi là thị trường rộng lớn của nền kinh tế tiêu thụ máy móc thiết bị của ngành công nghiệp nặng, hàng tiêu dùng của công nghiệp nhẹ, các sản phẩm của ngành chế biến lương thực thực phẩm
d) Nông nghiệp là ngành cung cấp khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩu, mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước
Nông sản dưới dạng thô hoặc qua chế biến là bộ phận hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của hầu hết các nước đang phát triển Trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu, tỉ lệ nông sản xuất khẩu – nhất là dưới dạng thô, có xu hướng giảm đi, nhưng về giá trị tuyệt đối thì vẫn tăng lên Vì vậy trong thời kì đầu của quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước, nông nghiệp trở thành ngành xuất khẩu chủ yếu, tạo ra tích lũy để tái sản xuất và phát triển nền kinh tế quốc dân
Trang 16e) Nông nghiệp phục vụ cho việc tái sản xuất mở rộng nền kinh tế
Nông nghiệp cung cấp nguồn lao động cho các ngành kinh tế khác Sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng cao, quá trình cơ giới hóa nông nghiệp ngày càng đẩy mạnh thì sức lao động được giải phóng ngày càng lớn, thì bộ phận lao động đó sẽ chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ
Nông nghiệp tạo vốn tích lũy ban đầu cho tái sản xuất mở rộng nền kinh tế, khi các ngành kinh tế khác chưa phát triển thì vốn tích lũy ban đầu chỉ có thể dựa vào nông nghiệp
Nông nghiệp còn là ngành sản xuất có chức năng tái sản xuất sức lao động thông qua việc đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho người lao động
f) Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ cân bằng sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở cho sự phát triển bền vững của môi trường Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh… làm ô nhiễm đất và nguồn nước Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của
môi trường
g) Nông nghiệp góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng
Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân đội, đảm bảo tiềm lực quân đội cho đất nước Nông nghiệp là ngành hậu cần tại chỗ trong trường hợp có chiến sự xảy ra Đồng thời, nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo mối liên hệ hậu phương và tiền tuyến trong chiến tranh
Việc cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho nhân dân, có nguồn dự trữ lương thực vững chắc để đề phòng chiến tranh hay thiên tai xảy ra là yếu tố quan trọng để đảm bảo an ninh quốc phòng, Lênin nói: “cơ sở thực sự của nền kinh tế là
dự trữ lương thực, không có dự trữ lương thực thì chính quyền nhà nước không có
Trang 171.1.2.2 Đặc điểm nông nghiệp
a) Đất trồng vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sản xuất
Đất trồng là đối tượng để con người tác động vào đó, đồng thời đất đai trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất như là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Không thể sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Mục đích cuối cùng của sản xuất nông nghiệp là việc thông qua việc tác động vào đất trồng để tạo ra năng suất cây trồng Quy mô và phương hướng sản xuất, mức độ thâm canh và cả TCLTNN phụ thuộc nhiều vào đất đai
b) Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, cơ thể sống
Nông nghiệp có đối tượng sản xuất là các cây trồng, vật nuôi, nghĩa là các
cơ thể sống Chúng tồn tại và phát triển theo quy luật sinh học Đồng thời, chịu tác động rất nhiều của quy luật tự Quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp
là quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng thông qua sự sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi Quá trình phát triển của sinh vật tuân theo các quy luật sinh học không thể đảo ngược
c) Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
Tính thời vụ là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt Tính thời vụ thể hiện không những ở nhu cầu về đầu vào như lao động, vật tư, phân bón, mà còn ở cả khâu thu hoạch, chế biến, dự trữ và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường
Sự không phù hợp giữa thời gian lao động và thời gian sản xuất là nguyên nhân nảy sinh tính mùa vụ Thời gian nông nhàn và thời gian bận rộn thường xen kẽ nhau
d) Nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất đai
và khí hậu Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ đối tượng lao động của nông nghiệp
là cây trồng vật nuôi Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có đủ 5 yếu
tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng, trong đó yếu tố này không thể thay thế yếu tố kia Các yếu tố trên kết hợp và cùng tác động với nhau trong một thể thống nhất Chỉ cần thay đổi một
Trang 18yếu tố là có hàng loạt các kết hợp khác nhau và dĩ nhiên, điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nông nghiệp
Do những đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên không gian rộng lớn, liên quan tới khí hậu, thời tiết, đất đai của từng vùng cụ thể, do đó sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét Trong cơ chế thị trường, việc
bố trí sản xuất nông nghiệp sao cho phù hợp với từng vùng sinh thái sẽ tăng thêm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Để nâng cao hiệu quả kinh tế, cần xem xét, vận dụng các đặc điểm trên của sản xuất nông nghiệp một cách linh hoạt
có khả năng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế Về dân cư, có nhiều dân tộc thiểu số sống thưa thớt Vùng Trug du miền núi Bắc Bộ có thể phát triển tổng hợp kinh
tế nông nghiệp và du lịch, nền kinh tế nhiệt đới có cả những sản phẩm cận nhiệt
và ôn đới
- Ngành trồng trọt
+ Cây lương thực
Trước đây, Trung du miền núi Bắc Bộ được cả nước biết đến như là vùng
có thế mạnh sản xuất lúa, màu lương thực nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh đói nghèo do thiếu lương thực, một phần vì dân số tăng, rừng bị chặt phá, nạn thiếu nước trở nên nghiêm trọng Từ ngày đổi mới, sản xuất nông nghiệp trong vùng
đã có nhiều chuyển biến tích cực, trước hết là sản xuất lương thực (lúa, ngô)
Trang 19Bảng 1: Một số chỉ tiêu sản xuất lương thực của vùng Trung du miền
núi Bắc Bộ giai đoạn 2000 – 2013
1 Diện tích cây lương thực có hạt (nghìn ha) 1.033,5 1.114,1 1.195,1
Trong đó diện tích trồng lúa cả năm (nghìn ha) 661,2 670,4 688,8
Tỉ lệ % so với diện tích cây lương thực có hạt 64,0 60,2 57,6 Trong đó diện tích trồng ngô (nghìn ha) 371,5 443,2 505,8
Tỉ lệ % so với diện tích cây lương thực có hạt 35,9 39,8 42,3
2 Sản lượng lương thực có hạt (nghìn tấn) 3.908,3 4.569,3 5.180,2
Trong đó sản lượng lúa cả năm (nghìn tấn) 2.864,6 3.053,6 3.275,8
Tỉ lệ % so với sản lượng lương thực có hạt 73,3 66,8 63,2 Trong đó sản lượng ngô (nghìn tấn) 1.043,3 1.515,4 1.904,2
Tỉ lệ % so với sản lượng lương thực có hạt 26,7 33,2 36,8
3 Lương thực có hạt bình quân đầu người
(kg/người)
361,9 412,6 435,2
Diện tích và sản lượng lương thực có hạt của vùng tăng lên nhanh chóng, năm 2013, diện tích trồng cây lương thực có hạt đạt 1.195,1 nghìn ha (gấp 1,2 lần năm 2005), sản lượng lương thực có hạt đạt 5.180,2 nghìn tấn (gấp 1,3 lần năm 2005) Bình quân lương thực đầu người đạt 435,2 kg (2013), tuy vẫn thấp hơn mức trung bình cả nước cùng thời điểm (546 kg) song nhiều địa phương đã
tự túc được lương thực Năm 2013, một số tỉnh đạt trên 400 kg như: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình Nổi bật nhất trong sản xuất lương thực là cây ngô, tăng cả diện tích và sản lượng, từ 377,9 nghìn ha năm 2005 lên 505,8 nghìn ha năm 2013 (gấp 1,3 lần), nâng sản lượng ngô tương ứng từ 1.065,4 nghìn tấn (2005) lên 1.904,2 nghìn tấn
Trang 20năm 2013 (gấp 1,8 lần), chiếm 43,1% diện tích và 36,7% sản lượng ngô cả nước năm 2013 Các tỉnh sản xuất ngô hàng đầu của vùng là Sơn La 654,6 nghìn ha, Lào Cai 122,5 nghìn ha Ngoài lúa, ngô các tỉnh trong vùng đều trồng các cây hoa màu lương thực như sắn, khoai lang
Nhìn chung, so với các vùng trong nước, việc sản xuất ngô, lúa còn nhiều hạn chế: năng suất thấp, canh tác chủ yếu dựa vào nước trời, tình trạng quảng canh và đất xói mòn dẫn tới nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, đời sống vẫn khó khăn + Cây công nghiệp
Trong cơ cấu cây công nghiệp, phát huy thế mạnh cây chè, phát triển công nghiệp chế biến chè đen xuất khẩu vì chè là cây có giá trị của vùng Chè là cây công nghiệp rất thích hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của vùng, đồng thời là thức uống bổ dưỡng, được nhân dân ưa chuộng và là mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Trung Đông, EU và Bắc Mỹ Các tỉnh trồng chè với quy mô lớn là Thái Nguyên, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn La… Một số giống chè có chất lượng cao và nổi tiếng như chè Tân Cương (Thái Nguyên), chè Shan (Hà Giang), Mộc Châu (Sơn La), Suối Giàng (Yên Bái) Các vùng chuyên canh chè
đã hình thành và phát triển tương đối ổn định do nhu cầu thị trường ngày càng tăng, các nhà sản xuất và kinh doanh chè đã có tiến bộ trong khâu sản xuất kết hợp với định hướng thị trường
Ngoài chè, một số cây công nghiệp có giá trị như bông, cà phê cũng có điều kiện phát triển tốt Các cây dược liệu như hồi, quế, bạc hà và một số dược liệu quan trọng được trồng ở vùng núi như thảo quả, tam thất, sâm nam Quế được trồng nhiều ở Yên Bái, Lào Cai; hồi ở Lạng Sơn; thảo quả ở Bát Xát (Lào Cai); trên cao nguyên Đồng Văn – Lũng Cú có điều kiện trồng tam thất, sâm nam và một số cây dược liệu quý hiếm Vùng chuyên canh sản xuất quế (Yên Bái), hồi (Lạng Sơn) được quy hoạch và từng bước thích ứng với thị trường biến động
Khí hậu nhiệt đới ẩm có mùa đông lạnh là điều kiện thích hợp để phát triển nhiều loại rau, hoa, quả cận nhiệt và ôn đới Vì vậy, Trung du miền núi Bắc Bộ nổi tiếng với cam Hà Giang, bưởi Đoan Hùng, quýt Bắc Sơn, đào Sa Pa
Trang 21- Ngành chăn nuôi
Nhờ có nhiều đồng cỏ tự nhiên, lại có nguồn màu lương thực phong phú như ngô, khoai lang, các loại cây họ đậu, đặc biệt là đậu tương, đồng thời do nhu cầu thực phẩm trên thị trường không ngừng tăng mà đàn gia súc tăng mạnh về quy mô, thay đổi về cơ cấu sản phẩm theo hướng gắn với thị trường Năm 2013, tổng đàn trâu của vùng đạt 1.424,2 nghìn con (chiếm 55,6% tổng đàn trâu cả nước), đàn bò đạt 896,6 nghìn con (chiếm 17,4% tổng đàn bò cả nước) Đàn lợn không chỉ tăng nhanh về tổng đàn (6.328,7 nghìn con) mà cả về trọng lượng xuất chuồng và sản lượng thịt hơi Đàn gia cầm cũng tăng lên đáng kể (trên 63.229,0 nghìn con năm 2013) Nghề nuôi dê, mật ong, bò sữa… có xu hướng ngày càng tăng
1.2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp tiểu vùng Tây Bắc
Phát huy thế mạnh cây công nghiệp, vùng Tây Bắc đã phát triển trồng các cây công nghiệp lâu năm như chè, cà phê Cây công nghiệp hàng năm nhiều nhất
là mía (13,5 nghìn ha năm 2013) Ở Tây Bắc đang xây dựng vùng chuyên canh mía Hòa Bình (8,7 nghìn ha) Ngoài ra còn có một vài vùng mía quy mô nhỏ như Sơn La (4,8 nghìn ha)… Các cây công nghiệp khác là đậu tương (11,3 nghìn ha) tập trung nhiều ở Điện Biên và Sơn La; bông (2,2 nghìn ha) chủ yếu ở Sơn La, Điện Biên nhưng quy mô nhỏ
Ở Tây Bắc nổi lên thế mạnh về chăn nuôi gia súc lớn, bởi lẽ trong vùng có những đồng cỏ liền dải Nhiều địa phương có truyền thống chăn nuôi nổi tiếng như trâu giống huyện Sông Mã (Sơn La), nuôi trâu đàn của người Thái, người Mường Đến năm 2013, đàn trâu có 473,6 nghìn con (chiếm 18,5% đàn trâu cả nước) Đàn bò có 312,7 nghìn con (chiếm 6,1% đàn bò cả nước) Đáng chú ý là đàn bò sữa được nuôi ở Mộc Châu (Sơn La) và ngày càng có triển vọng Ngoài
ra còn có dê, ngựa ở Sơn La, Điện Biên đàn lợn gắn liền với vùng sản xuất lương thực Năm 2013, cả vùng có 1.333,8 nghìn con, chiếm 5,1% đàn lợn của
cả nước
Về lương thực, từng bước giảm lúa đồi, phát triển lúa nước, xây dựng các cánh đồng miền núi như Mường Thanh (Điện Biên), Mường Tấc (Sơn La),
Trang 22Mường Than (Lai Châu)… và phát triển ruộng bậc thang Vì vậy, diện tích cây lương thực có hạt đến năm 2013 đạt 427,9 nghìn ha (chiếm 4,7% diện tích cây lương thực cả nước), trong đó diện tích cây lúa là 177 nghìn ha (chiếm 2,2% diện tích lúa cả nước) Sản lượng lương thực của vùng là 1.621,5 nghìn tấn, trong đó có 678,6 nghìn tấn lúa Về cơ cấu cây lương thực, lúa chiếm 41,9% sản lượng lương thực của vùng, hoa màu 58,1%, chủ yếu là ngô, sắn Một vấn đề được đặt ra là Tây Bắc có nhiều điều kiện để phát triển cây ngô trên các cao nguyên đá vôi, trong các thung lũng và bãi ven sông Ngô là cây lương thực hàng hóa, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc Năm 2013, toàn vùng có 250,9 nghìn ha ngô (chiếm 21,4% diện tích ngô cả nước) Sơn La đứng đầu cả nước với 162,8 nghìn ha
Vùng Tây Bắc đã hình thành một số vùng cây con gắn với công nghiệp chế biến, tạo nguồn hàng để xuất khẩu như chè Lương Sơn, bò sữa, chè và cây ăn quả Mộc Châu, vùng cây ăn quả Yên Châu, vùng ngô và bông Mai Sơn (Sơn La), vùng chè Tam Đường (Phong Thổ, Lai Châu)… sản lượng lương thực và các loại cây trồng khác đều tăng khá, nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế
Trang 23CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng phía Tây Bắc của Tổ quốc,
là vị trí chiến lược an ninh, quốc phòng của cả khu vực miền Tây Bắc, cách thủ
đô Hà Nội gần 500 km về phía Tây; trên tọa độ địa lý 20o54’ – 22o33’ vĩ Bắc,
102o10’ – 103o56’ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam – Trung Quốc; phía Tây
và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Có diện tích tự nhiên là 9.562,9 km2 (chiếm 2,9% diện tích cả nước), với Dân số toàn tỉnh 527.290 người (năm 2013), mật độ 55 người/ km2, gồm 21 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 38,4%, dân tộc Mông chiếm 29,6%, dân tộc Kinh chiếm 20%, còn lại là các dân tộc khác
Về mặt hành chính, gồm 10 đơn vị hành chính: 1 TP (TP Điện Biên Phủ),
1 TX (TX Mường Lay), 8 huyện (Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ảng, Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa, Nậm Pồ và Tuần Giáo)
Về vị trí địa kinh tế, chính trị, xã hội của Điện Biên có những điểm nổi bật sau:
- Là tỉnh miền núi cực tây của tổ quốc, cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô
Hà Nội và cả vùng Bắc Bộ, Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Trung Quốc và Lào, trong đó biên giới Việt - Lào dài 360 km và biên giới Việt - Trung dài 40,681 km Trên tuyến biên giới Việt - Lào có 3 cửa khẩu là Huổi Puốc, Tây Trang, Si Pa Phìn và tuyến biên giới Việt - Trung có cửa khẩu A Pa Chải, trong đó đặc biệt cửa khẩu Tây Trang từ lâu là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc và cả nước đã được Chính phủ quy hoạch, xây dựng thành khu kinh tế cửa khẩu Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại quốc tế, phát triển nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp tỉnh Điện Biên nói riêng, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung
Trang 24chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào - Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Mianma
- Điện Biên nằm cách xa trung tâm kinh tế lớn của đất nước (Hà Nội), giao thông đi lại khó khăn nên việc thu hút đầu tư và giao lưu kinh tế còn nhiều hạn chế
- Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn của cả nước là sông
Đà, sông Mã và sông Mêkong, trong đó riêng lưu vực Sông Đà trên các huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và TX Mường Lay có diện tích khoảng 5.300 km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, do vậy rừng của Điện Biên có vai trò hết sức quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ các công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà và điều tiết dòng chảy cho các khu vực hạ lưu
2.2 Điều kiện tự nhiên
2.2.1 Địa hình và đất đai
Địa hình: Điện Biên có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, mức độ chia cắt
ngang và chia cắt sâu lớn; được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng, sông suối nhỏ, hẹp và dốc phân bố khắp nơi trong địa bàn tỉnh Núi cao tập trung ở phía Nam, thuộc ranh giới huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và Tuần Giáo Đó là các dãy núi thượng nguồn sông Mã và Nậm Rốm, đỉnh cao nhất là
Pú Huổi Luông (2.178m), núi Pho Thông (1.908m), Nậm Khẩu Hú (1.747m), dãy núi Hồ Nậm Nghèn (1.395m) Xen giữa núi và cao nguyên là các thung lũng hoặc lòng chảo có bề mặt tương đối bằng phẳng, những dạng địa hình này chiếm phần diện tích không lớn Đáng chú ý nhất là lòng chảo Điện Biên Phủ rộng khoảng 150.000 ha với bề mặt bằng phẳng, có nguồn gốc tích tụ trầm tích tạo nên cánh đồng Mường Thanh Đây là cánh đồng rộng nhất trong 4 cánh đồng vùng Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc) với diện tích hơn 4.000 ha lúa nước, là vùng lúa trọng điểm của tỉnh Bên cạnh đó, huyện Tuần Giáo cũng
có nhiều cánh đồng có khả năng thâm canh và tăng năng suất lúa nước Các cao nguyên Si Pa Phìn (Mường Chà), Tả Phình (Tủa Chùa) thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc
Trang 25Nhìn chung địa hình ở Điện Biên khá hiểm trở, ngoài lòng chảo Điện Biên
và một số khu vực thuộc thuộc huyện Mường Ảng, Tuần Giáo, cao nguyên ở Mường Nhé, Tủa Chùa địa hình tương đối bằng phẳng, còn hầu hết là địa hình đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nhất là mạng giao thông kết nối và tổ chức các điểm dân cư xã hội
Đất đai:
Tổng diện tích tự nhiên tỉnh Điện Biên là 956.290,37 ha Trong đó hầu hết đất đai có độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng Do tác động chủ đạo của nhiều yếu tố như: địa hình, đá mẹ, khí hậu, thực vật, hoạt động sản xuất của con người… nên
đã hình thành nhiều loại đất khác nhau Cấu tạo địa chất đất của tỉnh được chia thành 5 nhóm chính như sau:
- Nhóm đất phù sa: Có diện tích 35.222,43 ha chiếm 3,7%, phân bố thành dải hẹp ven các con sông suối trong tỉnh như suối Nậm Rốm, Nậm Mức, Nậm Pồ Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi đắp của phù sa sông suối, quá trình thổ nhưỡng xảy ra yếu cho nên có đặc tính xếp lớp, địa hình khá bằng phẳng, ở thượng nguồn phần lớn có thành phần cơ giới nhẹ, phân lớp tương đối
rõ, độ phì thấp, lẫn nhiều sỏi sạn, ở cuối nguồn thành phần cơ giới nặng hơn, ít sỏi sạn hơn
- Nhóm đất đen: Nhóm đất đen có diện tích 126,66 ha chiếm 0,01% diện tích tự nhiên, phân bố ở huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo Nhóm đất đen ở tỉnh Điện Biên có 2 loại: Đất nâu thẫm trên sản phẩm phong hóa của đá bazan, diện tích 36,59 ha và đất đen trên sản phẩm bồi tụ của các bon nát, diện tích 90,07 ha Cả hai loại đất này đều ở độ dốc dưới 3o, có độ dày tầng đất mịn từ 70 - 100cm Các loại đất đen đều có ưu điểm là có độ phì tự nhiên cao, đất không chua thích hợp với các loại cây đậu đỗ, ngô, các loại cây ăn quả, ở địa hình thấp, thoát nước kém nên trồng lúa Chú ý sử dụng các loại phân bón phù hợp trong môi trương trung tính và kiềm giàu Ca++, Mg++
- Nhóm đất đỏ vàng: Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 485.559,62 ha chiếm 50,8% diện tích tự nhiên, phân bố ở tất cả các huyện trong tỉnh Đây cũng là
Trang 26nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất và đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội
- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Có diện tích 424.086,44 ha chiếm 44,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đất phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau ở độ cao trên 900m Phân bố trên địa hình đồi núi cao của tất cả các huyện Loại đất này hàm lượng mùn trong đất khá cao
Đất mùn vàng đỏ trên núi là loại đất tốt, có độ phì tự nhiên khá, nhưng đất
ở cao, địa hình hiểm trở, đi lại rất khó khăn Vì vậy hướng sử dụng chính trên loại đất này là khoanh nuôi bảo vệ rừng
- Nhóm đất thung lũng: Diện tích 1.966,07 ha chiếm 0,2% diện tích tự
nhiên toàn tỉnh Đất được hình thành ở các thung lũng, xung quanh là đồi núi cao khép kín, địa hình khó thoát nước Hàng năm được bồi tụ các sản phẩm từ các sườn đồi núi cao xung quanh đưa xuống
Do địa hình thung lũng nên đặc điểm của loại đất này phụ thuộc nhiều vào tính chất đất đai của các vùng đồi núi xung quanh thung lũng như thành phần cơ giới độ chua, mức độ lẫn đá và sỏi sạn
Hiện trạng sử dụng đất:
- Năm 2013 đất nông nghiệp của Điện Biên có 782.533,27 ha, chiếm 81,8% diện tích tự nhiên của tỉnh; đất phi nông nghiệp là 25.194.99 ha, chiếm 2,6%; đất chưa sử dụng là 148.562,11 ha, chiếm 15,5%
Hình 1: Cơ cấu sử dụng đất Điện Biên năm 2013
Trang 27- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp:
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Điện Biên năm 2013
Mục đích sử dụng Tổng số (ha) Cơ cấu (%)
độ mưa lớn và tập trung
- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 – 23oC, biên độ nhiệt ngày đêm dao động lớn từ 9 – 12oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 và cao nhất vào tháng 5 Các tháng có nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 20oC phổ biến từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Các tháng có nhiệt độ trên 25oC phổ biến từ tháng 5 đến tháng 9 và chỉ xảy ra ở các vùng thấp
- Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.700 - 2.500 mm, nhưng phân bố không đều trong năm Mưa lớn thường tập trung từ tháng 4 đến tháng 9 và chiếm 80% lượng mưa cả năm Các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng 10 năm
Trang 28trước đến tháng 3 năm sau và chỉ chiếm khoảng 20% lượng mưa hàng năm Độ
ẩm không khí trung bình hàng năm là 80 - 85% Số giờ nắng hàng năm bình quân từ 1.580-1.800 giờ
- Nhìn chung, Điện Biên ít chịu ảnh hưởng của bão nhưng lại bị ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, thường xuất hiện giông, mưa đá vào mùa hè và sương muối vào mùa đông Đây là hiện tượng thời tiết bất lợi cho đời sống và sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp nên cần tránh để giảm thiểu thiệt hại
Bên cạnh những khó khăn bất lợi về địa hình, điều kiện khí hậu của Điện Biên cũng khá phù hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi như các cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc và khoanh nuôi tái sinh rừng Đặc biệt sự đa dạng về địa hình, cảnh quan và sinh thái của Điện Biên
là một lợi thế để quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi và mở rộng các khu bảo tồn thiên nhiên gắn với phát triển du lịch sinh thái
2.2.3 Nước
Đặc điểm về thuỷ văn ở Điện Biên là hệ quả của điều kiện địa lý, khí hậu
và địa hình Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn là sông Đà, sông Mã và sông Mêkong Trong đó riêng lưu vực sông Đà trên các huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay có diện tích khoảng 5.300 km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Sông Đà ở phía Bắc tỉnh, bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), qua Mường Tè (tỉnh Lai Châu) - Thị xã Mường Lay - Tuần Giáo rồi chảy về tỉnh Sơn La Trên sông có nhiều thác ghềnh, thậm chí đến tận khu vực hạ lưu vẫn xuất hiện thác Phần lưu vực sông Đà thuộc địa phận tỉnh Điện Biên có 5 phụ lưu, đó là: lưu vực sông Nậm Mạ (dòng chính dài 63km); lưu vực sông Nậm Bum (dòng chính dài 36km); lưu vực sông Nậm Pồ (dòng chính dài 103km); lưu vực sông Nậm Mức (dòng chính dài 86km); lưu vực sông Nậm Muôi (dòng chính dài 50 km)
Lưu vực sông Mã nằm ở phía cực Tây và Tây Nam của khu Tây Bắc Địa
Trang 29760m chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Phần lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Điện Biên có các phụ lưu chính là: sông Nậm Khoai thuộc huyện Tuần Giáo (dòng chính dài 62, 5 km) và Sư Lư thuộc huyện Điện Biên Đông (dòng chính dài 39km)
Hệ thống sông Mê Kông trên địa phận tỉnh Điện Biên có 2 phụ lưu chính là sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa Sông Nậm Rốm bắt nguồn từ phía Bắc huyện Điện Biên, qua thành phố Điện Biên Phủ, đến xã Pa Thơm (huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào Sông Nậm Núa bắt nguồn từ độ cao 1.200m tại xã Mường Nhà, phía nam lòng chảo Điện Biên, phụ lưu lớn nhất của sông Nậm Núa là suối Nậm Ngám
Nhìn chung hệ thống sông, suối trên địa bàn tỉnh Điện Biên khá phong phú
và đa dạng (với hơn 1.000 sông, suối lớn nhỏ) nên việc khai thác, tận dụng yếu
tố thủy văn có những thuận lợi và khó khăn nhất định Tại những nơi có địa hình bằng phẳng, độ dốc thấp như lòng chảo Điện Biên, một số khu vực thuộc các huyện Tuần Giáo, Mường Ảng, Mường Nhé, Tủa Chùa thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp: trồng lúa nước, rau đậu các loại, nuôi trồng thủy sản Những nơi có địa hình cao, độ dốc lớn thường bị hạn chế về khả khả năng khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, hay xảy ra lũ quét, lũ ống, việc xây dựng các công trình thủy lợi đòi hỏi phải đầu tư rất lớn nhưng đồng thời khu vực này cũng là nơi cung cấp nguồn thuỷ năng lớn thuận lợi cho xây dựng các công trình thuỷ điện
2.2.4 Tài nguyên sinh vật
Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm năng phát triển rừng và đất rừng rất lớn Toàn tỉnh có 637.817,24 ha đất rừng, chiếm 66,7% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Trong đó đất rừng phòng hộ là 305.853,61 ha, chiếm 32,0% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng đặc dụng 118.514,61 ha, chiếm 12,4% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất 213.449,02 ha, chiếm 22,32% diện tích đất lâm nghiệp Độ che phủ rừng toàn tỉnh là 40,2%
- Hệ thực vật rừng khá phong phú với 740 loài cây gỗ thuộc 500 chi của
156 họ trong 5 ngành thực vật Hiện còn có nhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế
Trang 30cao, cũng như trong nghiên cứu khoa học gồm Lát, Tếch, Giổi, Pơ Mu, Sa Mu, Trám, Muồng đen, Vối thuốc, tre, nứa
- Hệ động vật rừng có nhiều loài quý hiếm khoảng 59 loài thú, 185 loài chim, 36 loài bò sát, 11 loài lưỡng cư Những loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như: Gấu chó, Gấu ngựa, Vượn bạc má, Voọc xám, các loài Hổ, Báo hoà mai, các loài Khỉ, Rái cá, Công, Niệc cổ hung, Trăn gấm,
Nguồn tài nguyên rừng của tỉnh Điện Biên đang giảm dần về tính đa dạng phong phú vốn có về thành phần loài cũng như số lượng cá thể Các nguồn gen đặc hữu và quý hiếm ngày càng mất đi, nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng Vì vậy cần có biện pháp nhằm khoanh giữ và phát triển nguồn tài nguyên này
Nhìn chung, rừng Điện Biện chứa đựng nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú, song những năm gần đây, do vấn đề bùng nổ dân số, nạn du canh du cư
tự do, người dân thiếu ý thức bảo vệ môi trường đã khiến diện tích rừng và chất lượng rừng bị suy giảm đáng kể Chất lượng môi trường sinh thái vẫn tiếp tục bị suy giảm, gây nên thiên tai, lũ lụt lớn, sản xuất nông lâm nghiệp mất ổn định
Tuy nhiên cũng cần phải nhận định rằng: đa dạng về thành phần loài sinh vật ở Điện Biên còn khá phong phú Vì vậy, việc bảo vệ nghiêm ngặt các loài thực vật, động vật đang tồn tại là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ
đa dạng tài nguyên sinh vật để phát triển bền vững ở Điện Biên
2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.3.1 Dân cư và nguồn lao động
2.3.1.1 Dân cư
Là tỉnh vùng núi cao nên Điện Biên có quy mô dân số không lớn Dân số trung bình năm 2013 là 527.290 người, mật độ dân số bình quân 55 người/ km2,
là một trong những tỉnh có mật độ dân số thấp nhất cả nước và thấp hơn nhiều
so với mật độ dân số trung bình của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ (121 người/km2) và của cả nước (271 người/km2) Trong đó dân số đô thị chiếm 15%
So với năm 2005 (438.457 người) dân số năm 2013 tăng gấp 1,2 lần Tỉ lệ gia
Trang 31là 14,1‰ trong khi cả nước là 9,9‰), năm 2005 là 18,8‰ đến năm 2013 là 14,1‰ Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Điện Biên
đã góp phần quan trọng trong việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số trong những năm gần đây
Về phân bố dân cư: Sự phân bố dân cư ở Điện Biên mang đậm nét đặc thù của một tỉnh miền núi với nhiều dân tộc sinh sống và phân bố rất không đều giữa các vùng, các khu vực Dân cư tập trung chủ yếu ở các điểm đô thị, các thung lũng giữa núi, các trục đường giao thông Các địa phương tập trung dân số đông nhất là: TP Điện Biên Phủ (760 người/km2); TX Mường Lay (104 người/km2); huyện Mường Ảng (91 người/km2) Ngược lại, các khu vực núi cao hiểm trở, điều kiện sinh hoạt và đi lại khó khăn là nơi dân cư thưa thớt như Mường Nhé (22 người/km2); Mường Chà (30 người/km2)
Điện Biên là nơi hội tụ sinh sống của 21 dân tộc anh em Mỗi dân tộc có những nét riêng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa… tạo thành bức tranh
đa sắc màu cho nền văn hóa Điện Biên Trong đó, dân tộc Thái đông nhất chiếm 38,4% dân số toàn tỉnh, tiếp theo là dân tộc Mông chiếm 29,6%; Kinh 20%; các dân tộc còn lại chiếm 12 %
2.3.1.2 Nguồn lao động
Dân số trong độ tuổi lao động năm 2013 là 327,7 nghìn người, chiếm 62,1% dân số So với năm 2005 là 235,7 nghìn người, lượng lao động của tỉnh tăng khoảng 92 nghìn người (năm 2013), đây là nguồn lao động dồi dào cho các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, chủ yếu là lao động nông thôn, năm 2013: lao động nông thôn chiếm 54,8%, thành thị: 49,8% Lao đông nông nghiệp chất lượng còn thấp, nhất là đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu xa
Về chất lượng nguồn lao động: Những năm gần đây chất lượng lao động ở Điện Biên đó được cải thiện một bước, trình độ văn hoá của lực lượng lao động ngày được nâng cao Tỷ lệ lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp phổ thông giảm, số lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông ngày càng tăng Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng nhanh Năm 2013,
tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo
Trang 32chiếm 18,9% dân số trong độ tuổi lao động
Điện Biên là vùng tập trung nhiều dân tộc ít người với những bản sắc riêng của mình Do vậy, trong việc phát triển KT – XH của vùng cần khơi dậy các ngành nghề truyền thống kết hợp với việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; cần có sự sắp xếp lại dân cư cho hợp lí; để thu hút nguồn lao động nông nghiệp cần chú trọng phát triển ngành nghề nông thôn, từng bước chuyển một phần lao động nông nghiệp sang lao động thủ công nghiệp, dịch vụ Đồng thời, việc đào tạo, nâng cao chất lượng, trình độ lao động cần được quan tâm chú trọng đầu tư bằng việc tăng cường hệ thống các trường dạy nghề, liên kết với các trường mở lớp đào tạo nghề
2.3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
a) Kết cấu hạ tầng thủy lợi: tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển theo
hướng đa mục tiêu Giai đoạn 2011-2015 đã đầu tư xây dựng mới 96 công trình thủy lợi và nâng cấp sửa chữa 66 công trình, giai đoạn 2011-2015 được đầu tư mới và nâng cấp sửa chữa là 266,4 km trong đó chiều dài kênh mương được kiên cố hóa 237,7 km, chiều dài kênh đất 28,8 km Đến nay, toàn tỉnh hiện có
793 công trình thuỷ lợi, trong có 522 công trình kiên cố, 271 công trình tạm, 1.370 km kênh mương các loại trong đó có 949,7 km kênh đã được kiên cố hóa, 420,4 km kênh đất Đảm bảo nước tưới cho 16.597,7 ha lúa mùa tăng 1.980,7 ha
so với năm 2005, và tưới cho 8.262,9 ha lúa chiêm xuân, tăng 955,9 ha so với năm 2005 Hệ thống hồ, đập, kênh dẫn nước tưới được đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân khai hoang, tăng diện tích gieo trồng, thâm canh, tăng
vụ, nâng cao năng suất và sản lượng các loại cây trồng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, chuyển đổi cơ cấu cây trồng
b) Kết cấu hạ tầng cấp điê ̣n: Hiện nay, 30/130 xã, phường thị trấn có điện
và có trên 87,18% số hộ dân được sử dụng điện Hiện tại nguồn cấp điện của tỉnh, chủ yếu từ lưới điện quốc gia tuyến đường dây 110 KV Sơn La - Thuận Châu - Tuần Giáo - Điện Biên Trên địa bàn tỉnh đến thời điểm hiện tại có 8 nhà máy thủy điện đang hoạt động với tổng công suất 36,54 MW; trong đó 5 nhà
Trang 33điện Thác Bay (2,4 MW), thủy điện Nà Lơi (9,3 MW), thủy điện Thác Trắng (6 MW), thủy điện Pa Khoang (2,4 MW) Dự kiến cuối năm 2014 có thêm thủy điện Nậm Mức công suất 44MW được xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác
sử dụng
Việc phát triển hạ tầng lưới điện được quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn vốn Ước đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 170,74 km đường truyền tải điện cao thế (110KV); 2.077km đường dây trung thế (10-35KV); 2.061km đường dây hạ thế (0,4kV); trạm phân phối 777 trạm, tổng dung lượng khoảng 84.119kVA
c) Mạng lưới giao thông
Các tuyến giao thông chính cơ bản đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi, đảm đương được vai trò là trục đường chính kết nối giao thông các vùng trong tỉnh với các khu vực lân cận và trung ương Riêng 02 dự án: Cải tạo, nâng cấp QL 6 đoạn Tuần Giáo - Mường Lay theo tiêu chuẩn đường cấp V dài 105 km và dự án thành phần hai đoạn Điện Biên - Tây Trang Quốc lộ 279 dài 42 km) phải giãn tiến độ đầu tư sau năm 2015 nên giao thông đi lại rất khó khăn Đường tỉnh tuy chưa được đầu tư nhiều, nhưng về cơ bản đi lại khá thuận lợi đảm bảo thông suốt bốn mùa Đường hành lang biên giới được đầu tư, đảm bảo an ninh quốc phòng Giao thông nông thôn: Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có 130 xã, phường, thị trấn (116 xã) Trong đó, có 94/116 xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi lại được các mùa trong năm, còn 22/116 xã có đường ô tô đến trung tâm xã đi được mùa khô
- Hệ thống giao thông đường bộ, gồm:
Quốc lộ 6A: Từ Hà Nội đến TX Mường Lay dài 474 km, trong đó đoạn chạy qua tỉnh dài khoảng 120km
Quốc lộ 12: Từ TP Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Ma Lu Thàng dài 195 km Quốc lộ 279: Từ Tuần Giáo qua TP Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Tây Trang dài 117 km
Ngoài các tuyến đường quốc lộ, các cửa khẩu nối liền Điện Biên với các tỉnh và các nước Lào - Trung Quốc còn có hệ thống giao thông liên huyện liên
xã đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân dân
Trang 34- Hệ thống giao thông đường không:
Điện Biên có Cảng hàng không Điện Biên Phủ phục vụ tuyến Hà Nội - Điện Biên Phủ với tần suất lên xuống 2 lượt /ngày Tương lai không xa sẽ mở đường bay đến một số nước trong khu vực như: Lào, Myanma, Campuchia Nhìn chung, giao thông nông thôn trên địa bàn các xã những năm qua tương đối phát triển, nhiều tuyến được mở mới, nâng cấp đã đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân cũng như việc vận chuyển hàng hóa được dễ dàng và thuận lợi hơn, từ đó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Mặc dù hệ thống giao thông nông thôn tương đối phát triển nhưng chất lượng giao thông còn thấp (đường nền đất), đi lại gặp nhiều khó khăn, nhất về mùa mưa do đường trơn, lầy thụt, sạt lở…
d) Hệ thống cung ứng vật tư nông nghiệp
Năm 2014 các đơn vị sản xuất giống trong tỉnh đã liên kết và tự sản xuất được: 469 tấn giống cây trồng các loại cây lương thực (lúa, ngô, đậu tương ); 367.000 cây giống các loại cây trồng lâu năm (bạch đàn, chè, ) Tổng giá trị trên 10 tỷ đồng
Các đơn vị sản xuất, liên kết đảm bảo chất lượng, giá thành hợp lý được người sản xuất chấp nhận, do chủ động trong sản xuất nên việc cung ứng giống kịp thời Sản xuất giống tại chỗ đã tạo điều kiện cho trên 12.000 hộ dân có công
ăn việc làm thu nhập ổn định
Năm 2014 đã cung ứng được 1.720 tấn vật tư nông nghiệp (trong đó giống cây trồng: 1290 tấn, phân bón: 412 tấn) và 28,67 vạn cây giống các loại
e) Hệ thống các cơ sở công nghiệp chế biến
Những năm qua, cùng với sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, phù hợp với kinh tế thị trường, trên địa bàn tỉnh đã hình thành lên các vùng sản xuất với quy mô tập trung theo vùng như: Vùng nguyên liệu sản xuất lương thực hàng hóa chất lượng cao ở Điện Biên, Tuần Giáo, TP Điện Biên Phủ; vùng nguyên liệu cà phê ở huyện Mường Ảng, huyện Điện Biên; vùng tre khu vực xung quanh lòng chảo Điện Biên và huyện Điện