Trước khi chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tồn tại như một chính thể và Ủy ban Trung ương hoạt động như là một chính phủ lâm
Trang 1MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC MIỀN NAM VIỆT NAM Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức liên minh quân sự và chính trị, dân tộc
chủ nghĩa cánh tả, hoạt động chống chính quyền Việt Nam Cộng hòavà sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam
Đây là tổ chức kế thừa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Mặt trận của cả nước từ Bắc đến Nam) ở miền Nam (thừa nhận sau năm 1975) nhưng Việt Nam Cộng hòa được sự hỗ trợ của Mỹ không thi hành Hiệp định Geneva về Việt Nam, làm trở ngại cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Vì vậy trong phong trào Đồng khởi ở
miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam ra đời Chủ trương của Mặt trận là: "Đoàn kết toàn dân,
kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới."
Tổ chức này được thành lập dưới sự hậu thuẫn và được hỗ trợ tài chính, thiết bị và nhân sự bởi nhiều bộ phận dân cư tại miền Nam Việt Nam cũng như của chính phủ và quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trước khi chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tồn tại như một chính thể và Ủy ban Trung ương hoạt động như là một chính phủ lâm thời, đại diện cho các vùng thuộc quyền kiểm soát, quản lý các vùng do Mặt trận quản lý Thực chất đây là một tổ chức được thành lập theo yêu cầu chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam và những người có lập trường thân cộng sản nhằm tạo
vị thế chính trị cho phong trào đấu tranh chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đồng thời quản lý các vùng đất do
họ quản lý có được kể từ sau phong trào đồng khởi
Mặt trận liên tục tổ chức, lãnh đạo các hoạt động chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa, chống lại sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh Để thực hiện mục đích đó, Quân Giải phóng Miền Nam đã được thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1961, do Trung ương cục miền Nam lãnh đạo, sau đó gia nhập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Quân Giải phóng Miền Namđã thực hiện chiến tranh du kích chống lại chính quyền Sài Gòn, với chi viện về vũ khí và người từ miền Bắc
Trước 1975, Mặt trận này tuyên bố là tổ chức độc lập với Miền Bắc, nhưng không độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó tuyên bố chủ quyền trên cả nước cho đến khi Cộng hòa Miền nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở miền Nam năm 1969 Từ 31 tháng 1 năm 1977, tổ chức này sát nhập hoàn toàn với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày nay Nhà nước Việt Nam khẳng định Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các mặt trận trước đó và sau này là các tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện các nhiệm vụ đoàn kết toàn dân dưới lá cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam để đạt mục tiêu chính trị
do Đảng đề ra Tuy nhiên trước đây sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và các tổ chức tương tự không công khai với đối phương (nhưng có công khai với đối tượng trong thành phần cách mạng hay cảm tình cách mạng), do mặt trận mang ý nghĩa là một liên minh chính trị gồm nhiều thành phần
1.Tên gọi khác:
Trong các chiến dịch Tố Cộng của mình năm 1956, Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình
Diệm đã phổ biến cụm từ Việt Cộng để chỉ những người "Cộng sản Việt Nam" viết ngắn gọn của từ Việt
Nam Cộng-sản, (Vietnamese communist) Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập,
Trang 2nhiều người Nam Việt Nam cũng gọi những người tham gia Mặt trận bằng cụm từ này Khi quân Mỹ vào
Nam Việt Nam, họ cũng chịu ảnh hưởng của cách gọi này và gọi một cách ngắn gọn là VC (viết tắt từ "Việt Cộng" và đọc theotiếng Anh là "vi-xi"), hoặc biến tấu đi thành Victor Charlie (nguyên nhân là do hai chữ cái
V và C lần lượt được phát âm là Victor và Charlie theo bảng mẫu tự ngữ âm của NATO).
2.Bối cảnh chính trị xã hội:
Theo nhận định của người Mỹ, theo Hiệp định Genève, 190.000 quân của Quân đội viễn chinh Pháp, và 900.000 thường dân di chuyển từ miền Bắc Việt Nam để vào miền Nam Việt Nam; hơn 100.000 binh lính Việt Minh và dân thường di chuyển từ Nam ra Bắc Với chính quyền Ngô Đình Diệm, việc một số lượng lớn người vào Nam là một thành công lớn, coi như bằng chứng phản kháng chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bằng chứng thuyết phục được người Mỹ, thứ hai lực lượng này sẽ hỗ trợ cho chính quyền của ông Sau
đó những người di cư nhận được viện trợ của Mỹ còn cao hơn dân bản địa (100 USD, cao hơn thu nhập bình quân hàng năm của người miền Nam)
Hiệp định Genève dẫn đến Việt Nam tạm thời bị phân chia thành hai vùng tập trung quân sự Miền Bắc đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tại miền Nam, với sự hậu thuẫn của người
Mỹ, Thủ tướng Ngô Đình Diệm của chính phủ Quốc gia Việt Namđã thực hiện cuộc trưng cầu dân ý để phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính thểViệt Nam Cộng hòa
Theo nhận định của Mỹ, Ngô Đình Diệm trong một thời gian ngắn đã làm được nhiều hơn mong đợi, lên nắm quyền trong vòng 10 tháng vượt qua các cuộc đảo chính, ổn định tình hình, thành lập một nhà nước có chủ quyền vào năm 1955 được 36 quốc gia công nhận, soạn thảo một hiến pháp mới, và mở rộng kiểm soát Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tới các khu vực được Việt Minh kiểm soát trong suốt Chiến tranh Đông Dương Theo ước tính của Pháp, vào năm 1954, Việt Minh kiểm soát 60% - 90% nông thôn miền Nam Việt Nam Tháng 1-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố tẩy chay bầu cử Hiệp định Genève, với lý do ông đưa ra là không thể
có bầu cử tự do tại miền Bắc được cai trị bởi "nhà nước cảnh sát" Ông không loại trừ khả năng thống nhất đất nước trong hòa bình và dân chủ với điều kiện bầu cử không có sự cưỡng ép hay đe dọa cử tri
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhiều lần đã cố gắng đề nghị Chính phủ Việt Nam Cộng hoà trong tháng 7 năm
1955, tháng 5 và tháng 6 năm 1956, 1958, tháng 7 năm 1959, và tháng 7 năm 1960, đề xuất tham vấn đàm phán "các cuộc bầu cử tự do chung bằng cách bỏ phiếu kín" và tự do hóa quan hệ Bắc-Nam nói chung Chính phủ Việt Nam Cộng hoà hoặc từ chối, hoặc im lặng
Chính phủ Mỹ cũng cho rằng so với thời những nguồn tin khác nhau chỉ ra cho Tổng thống
Mỹ Eisenhower thấy 80% dân chúng sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh, thì sẽ được rút ngắn lại, do ông Ngô Đình Diệm đã đạt được một số thành công, trong khi Miền Bắc đang gặp nhiều khó khăn do khan hiếm lương thực
và mất uy tín sau cải cách ruộng đất được tướng Giáp thừa nhận (dẫn đến một cuộc bạo động của nông dân Công giáo tháng 11 năm 1956)
Tuy nhiên sự thật các cải cách của ông kéo theo các biện pháp áp bức Ông nắm quyền khi mà ngoài Sài Gòn
và các vùng phụ cận, miền Nam Việt Nam được phân chia thành các vùng đất do Việt Minh kiểm soát và lãnh địa các giáo phái "thần quyền" như Cao Đài và Hòa Hảo Ông chống lại bất đồng chính kiến, và đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối cá nhân với các quan chức hàng đầu Tài liệu của Mỹ cũng cho biết Ngô Đình Diệm là một người Công giáo bảo thủ Ngô Đình Diệm lúc đầu đã được chào đón nồng nhiệt trong một số người từng
là thành viên Việt Minh Nhưng chương trình cải cách điền địa của ông thất bại và dừng lại năm 1959
Trang 3Trong tháng 6 năm 1956, Ngô Đình Diệm hủy bỏ cuộc bầu cử hội đồng làng, có vẻ như vì lo ngại rằng một số lượng lớn Việt Minh có thể giành chiến thắng, thay vào đó là các các quan chức Chính phủ bổ nhiệm, là người miền Bắc, Công giáo hoặc thân cận Năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiết lộ rằng khoảng 15.000-20.000 người cộng sản đã bị giam giữ trong các "trại tập trung chính trị", trong khi Devillers đưa ra con số 50.000
Tháng ba năm 1958, sau một bài xã luận "ăn da", chính phủ Ngô Đình Diệm đóng cửa các tờ báo lớn nhất ở Sài Gòn Mùa xuân năm 1960, một nhóm các nhà lãnh đạo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản đến với nhau -ban hành Tuyên Ngôn Caravelle, một cuộc biểu tình bất bình chống chế độ Ngô Đình Diệm Chính sách của Ngô Đình Diệm hầu như đảm bảo rằng những thách thức chính trị với ông ta sẽ bị liệt nằm ngoài luật pháp Cuối cùng, những nổi lên từ các nguồn truyền thống quyền lực ở miền Nam Việt Nam - lực lượng vũ trang, các giáo phái tôn giáo, và nông dân vũ trang Đến năm 1958, khoảng 1/3 tỉnh trưởng là sĩ quan quân đội, đến năm 1960, đã tăng lên đến gần 2/3; 1962, 7/8 của tất cả các tỉnh đã được lãnh đạo bởi các sĩ quan Ông lập luận các mối đe dọa từ những người cộng sản để biện minh cho sự tập trung của mình về an ninh nội bộ Người Mỹ cũng nhận thức được sự yếu kém của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Theo nhận định của người
Mỹ, Mỹ cũng thấy được sự vỡ mộng "đặc biệt là ở các tầng lớp có học", sự"bất mãn trong các sĩ quan quân
đội", "nỗ lực của chế độ bảo đảm an ninh nội bộ khi cho rằng một chính phủ độc tài là cần thiết để xử lý các vấn đề của đất nước sẽ dẫn đến một áp lực liên tục của các yếu tố đối lập tiềm năng", "trong một khoảng thời gian dài, sự tích tụ bất bình giữa các nhóm khác nhau và các cá nhân có thể dẫn đến sự phát triển của phong trào đối kháng quốc gia" Mỹ thấy cần ủng hộ việc thành lập một chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam,
không phân biệt thành phần
Hội đồng an ninh quốc gia của Mỹ đưa ra quan điểm "Hỗ trợ miễn phí Việt Nam để phát triển một chính phủ
mạnh mẽ, ổn định, và hiến pháp để cho phép Việt Nam Tự Do, để khẳng định một sự tương phản ngày càng hấp dẫn đối với các điều kiện trong vùng Cộng sản hiện nay" Từ năm tài chính 1946 - năm tài chính 1961,
Việt Nam đứng thứ ba bảng xếp hạng nước ngoài NATO được Mỹ hỗ trợ, và trên toàn thế giới xếp thứ bảy 75% viện trợ kinh tế của Mỹ cung cấp trong cùng thời kỳ đã đi vào ngân sách quân sự của Chính phủ Việt Nam, và nhiều dự án ngoài quân sự đã lọt vào chi tiêu phục vụ quân sự Tuy nhiên can thiệp của Mỹ ngày càng tăng vào chính phủ Việt Nam Cộng hòa dẫn đến việc Tổng thống Ngô Đình Diệm lên tiếng phản đối Chính tất cả những điều này đã kích thích các phong trào đấu tranh hòa bình đòi thống nhất đất nước của dân chúng ở miền Nam Tuy nhiên, tất cả đều bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa đàn áp, nhất là những người Cộng sản và Việt Minh cũ còn ở lại miền Nam, những người mà Tổng thống Ngô Đình Diệm cho là đối thủ tiềm tàng nguy hiểm nhất Bị đàn áp, những người cộng sản miền Nam cùng với những đồng minh của mình tập hợp và tổ chức ra có một số tổ chức vũ trang, bán vũ trang để chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa một cách tự phát Từ giữa 1957, những người cộng sản miền Nam đã áp dụng chiến thuật du kích phù hợp học thuyết quân sự Mao - Giáp
Ngoài ra thì sự phân chia đất nước khiến cho nhiều gia đình phân ly, những người có tinh thần dân tộc cũng bất bình Do vậy, những người cách mạng ở miền Nam đã ủng hộ cho giải pháp khởi nghĩa giành chính quyền Sau khi Hội nghị TW 15 của Đảng Lao động tháng 1 năm 1959 tán thành khởi nghĩa ở miền Nam, phong trào cách mạng có biến chuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thể can thiệp trực tiếp vào tình hình miền Nam, trong khi vấn đề cấp bách là cần có một lực lượng chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, từ nhu cầu đó Mặt trận được thành lập
3.Lịch sử
Trang 4Dự định thành lập Mặt trận được công khai nói đến lần đầu tiên trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam Tại đại hội, Tôn Đức Thắng đã nói rằng Mặt trận sẽ được dựa trên các khái niệm của Lenin về liên minh 4 giai cấp, nhưng để phù hợp với sự phức tạp của xã hội miền Nam, Mặt trận cần bao gồm cả các nhóm tôn giáo và dân tộc khác nhau; mục tiêu đấu tranh của Mặt trận phải rộng để kêu gọi được đông đảo quần chúng; Mặt trận cần nhấn mạnh các chủ trương dân tộc và cải cách, đặt ra mục tiêu cuối cùng
là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh Cũng như tiền thân Việt Minh của nó, Mặt trận mới này sẽ cần được tổ chức thành nhiều cấp, từ ủy ban trung ương đến các tổ chức ở cấp làng; chủ nghĩa cộng sản sẽ không được nói đến [5]
Theo Nghị quyết Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam, được đăng tải trên báo Nhân dân khi đó "nhiệm vụ
trước mắt của cách mạng miền Nam là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược
và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới Để bảo đảm cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam giành được toàn thắng, đồng bào ta ở miền Nam cần ra sức xây dựng khối công nông binh liên hợp và thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm lấy liên minh công nông làm cơ sở Mặt trận này phải đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số, các đảng phái yêu nước và các tôn giáo, và tất cả những người có khuynh hướng chống Mỹ - Diệm Mục tiêu phấn đấu của mặt trận này là hòa bình, độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình thống nhất Tổ quốc Công tác mặt trận phải nhằm đoàn kết tất cả những lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ lực lượng nào
có thể tranh thủ, trung lập những thế lực cần phải trung lập, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân vào phong trào đấu tranh chung chống Mỹ - Diệm nhằm giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương Cục miền Nam Những người Cộng sản miền Nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận Trung ương Cục Miền Nam là tổ chức đại diện Đảng Lao động trong Nam, hoạt động bí mật (đến 1969 công khai), thời kỳ chiến tranh không công khai về vai trò chỉ đạo (trong khi Đảng Nhân dân Cách mạng là đảng hoạt động công khai), trực tiếp chỉ đạo hay phối hợp với Trung ương Mặt trận - Chính phủ, với Ban dân vận TW Cục (phụ trách dân vận - mặt trận - chính quyền) là cầu nối Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt đại diện tại căn cứ địa của Mặt trận (và Chính phủ cách mạng sau này), và Mặt trận (Chính phủ cách mạng lâm thời) đặt đại diện tại Hà Nội
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của mình ở tỉnhTây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương
Từ khi ra đời, Mặt trận được tổ chức để thu hút tất cả các nhà hoạt động chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả những người theo chủ nghĩa cộng sản, với mục tiêu kết nối tất cả những người đối nghịch với
"Mỹ Diệm" Trên danh nghĩa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một phong trào giải phóng, liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng nhwung không độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, số thành viên của nó tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người
Trang 5Ngày 15-12-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, mặt trận đã làm lễ kết nạp Lực lượng võ trang giải phóng là thành viên chính thức Tại cuộc mít-tinh này, Ban tổ chức đã giới thiệu đoàn chủ tịch (cũng là bộ phận lâm thời công khai của mặt trận) gồm các vị: Bác sĩ Phùng Văn Cung thay mặt giới trí thức Sài Gòn; Ông Nguyễn Văn Linh thay mặt Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam; Ông Ung Ngọc Ky thay mặt Đảng dân chủ Việt Nam; Ông Nguyễn Văn Hiếu thay mặt Đảng xã hội cấp tiến Việt Nam; Ông Lê Thanh thay mặt Lực lượng quân giải phóng Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận là Nguyễn Hữu Thọ (1961)
a.Đại hội lần I
Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16 tháng 2 năm 1962 tại Tân Biên (Tây Ninh) chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybih Aleo, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, và Nguyễn Văn Hiếu là Tổng thư ký Mặt trận Ủy viên Đoàn Chủ tịch gồm có: Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế,Trần Bửu Kiếm, bà Nguyễn Thị Định, Hòa thượng Thích Thượng Hào, Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, ông Đặng Trần Thi
Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm" với mục tiêu đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam đấu tranh nhằm đánh Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tiến tới sự thống nhất của Việt Nam Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài
“Giải phóng miền Nam” làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận
Chương trình của Mặt trận: "Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã chiến đấu không
ngừng cho độc lập và tự do của Tổ quốc Năm 1945, đồng bào cả nước đã đứng lên đánh đổ Nhật - Pháp giành chính quyền và đã anh dũng kháng chiến 9 năm, đánh bại xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, đưa cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc ta đến thắng lợi vẻ vang.Tại hội nghị Giơ ne vơ tháng 7-1954, đế quốc Pháp buộc phải cam kết rút quân khỏi Việt Nam và các nước tham dự hội nghị đều trịnh trọng tuyên bố công nhận chủ quyền, độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc, quyết phấn đấu đến cùng cho những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thuận theo trào lưu tiến bộ của thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời.Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở miền Nam Việt Nam không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất tổ quốc Vì hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc, vì vận mạng của dân tộc, vì đời sống của chúng ta, vì tương lai của ta và con cháu ta Tất cả hãy đứng lên !Tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy xiết chặt hàng ngũ, tiến lên chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam để đánh đổ ách thống trị tàn ác của
đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm để cứu nước, cứu nhà Chúng ta nhất định thắng, vì lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là lực lượng vô địch, vì chính nghĩa thuộc về chúng ta, vì chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời ngày nay đang tan rã và đi tới diệt vong Trên thế giới, phong trào hoà bình dân chủ, độc lập dân tộc đang phát triển rộng rãi, mạnh mẽ và ngày càng thu được nhiều thắng lợi mới Tình hình đó hết sức thuận lợi cho sự nghiệp cứu nước cứu nhà của chúng ta Đế quốc Mỹ và tay sai của
Mỹ nhất định sẽ thất bại! Sự nghiệp giải phóng dân tộc ở miền Nam Việt Nam nhất định sẽ thành công! Hãy đoàn kết, tin tưởng và phấn đấu anh dũng ! Tiến lên giành lấy thắng lợi huy hoàng cho dân tộc ta, cho Tổ quốc ta."
b.Đại hội lần II
Trang 6Ngày 1-11-1964, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội lần thứ 2 Có 150 đại biểu tham dự Đoàn Chủ tịch Mặt trận được bầu gồm có: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ - đại diện liên minh các đảng yêu nước, Phó chủ tịch: Abil Aleo - đại diện những người Tin Lành yêu nước, người dân tộc Êđê, chủ tịch Phong trào tự trị các dân tộc Tây Nguyên, Phùng Văn Cung - đại diện liên minh các đảng yêu nước, Võ Chí Công - chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng VN, Huỳnh Tấn Phát - Tổng thư ký Đảng Dân chủ, Thích Thơm
Mê Thế Nhêm - đại diện người Khmer yêu nước (mất 1966), Trần Nam Trung - đại diện Quân giải phóng Miền Nam Các ủy viên: Nguyễn Thị Định, Trần Bạch Đằng, Thích Thiện Hào, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Văn Ngợi, Phan Xuân Thái (Phan Văn Đáng), Nguyễn Hữu Thế, Đặng Trần Thi Ban Thư ký: Huỳnh Tấn Phát (TTK), Lê Văn Huân, Hồ Thu, Ung Ngọc Kỳ, Hồ Xuân Sơn (phó TTK) Sau ông Nguyễn Văn Hiếu lại tham gia Đoàn chủ tịch
Ngày 8-1-1967, Mặt trận họp Đại hội bất thường, công bố Cương lĩnh mới, kế tục và phát triển chương trình hành động 10 điểm Đại hội đã thông qua một chương trình mới phác thảo cách nhằm thu hút lực lượng người Việt Nam tham gia để đánh đuổi đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, và tạo ra một nền độc lập, hòa bình, dân chủ, trung lập, và thịnh vượng Nam Việt Nam, tiến tới hiệp thương thống nhất đất nước Cương lĩnh cũng đưa ra các cải cách dân chủ và sự phát triển của nền kinh tế và văn hóa dân tộc
c.Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã lập ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa Chính phủ cách mạng lâm thời do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch, và Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật
sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch Hội đồng làm việc với Chính phủ theo cơ chế hiệp thương, song thực ra có quyền hơn Chính phủ thực hiện các chức năng hành chính nhà nước bao gồm đại diện và quản lý hành chính lãnh thổ Chính phủ cách mạng lâm thời đã được các nước theo phe cộng sản và một số nước thuộc Thế giới thứ Ba công nhận Ngay trong tháng 6 năm 1969, cho đến ngày 5 tháng 11 năm 1975 đã có 23 nước công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước thiết lập quan hệ ngoại giao Quyền lực của nó không phân biệt được với quyền của Đảng Lao động, theo nhận định phía Mỹ[9]
Bộ trưởng Quốc phòng Trần Nam Trung, Trưởng Ban Quân sự của Mặt trận cũng công khai là ủy viên TW Đảng Lao động, thành viên TW Cục, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Đồng Văn Cống công khai là thành viên Trung ương Cục Miền Nam của TW Đảng Lao động Việt Nam, trong khi Nguyễn Văn Cúc (Tổng bí thư Đảng NDCM, tham gia thành lập CP) tuy không công khai là ủy viên TW của Đảng Lao động, nhưng công khai là đại diện Đảng NDCM trong TW Cục Miền Nam của Đảng Lao động (một số thành viên của Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam cũng công khai là thành viên TW Cục, theo báo cáo tháng 12 năm
1969 về "Ủy ban quân sự Miền Nam"
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam được chính thức công nhận là một chính quyền tại Nam Việt Nam và là một trong 4 bên tham gia hiệp định Tuy nhiên, những người lãnh đạo vẫn tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đã giành được quyền kiểm soát Nam Việt Nam vào năm 1975
d.Hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, từ ngày 15 đến 21 tháng 11 năm 1975, hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức để tiến tới thống nhất về mặt nhà nước Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 7do ông Trường Chinh đứng đầu, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do ông Phạm Hùng đứng đầu Hội nghị đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất
Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, đặt tên nước
là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, xác định Thủ đô, bầu chính phủ, đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh Từ đây, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam thống nhất
Sau khi hợp nhất lãnh thổ và chính quyền, các đơn vị đoàn thể khác cũng tiếp tục hợp nhất Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam Mặt trận bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1977 đã tuyên bố hợp nhất Mặt trận với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Miền Nam Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
4.Tổ chức:
a.Cơ cấu tổ chức:
Ở cấp trung ương, Ủy ban TW bầu ra Đoàn chủ tịch, là cấp cao nhất, giúp việc có các Ban chuyên môn của Mặt trận, hay các Hội đồng chuyên môn của TW Mặt trận Các cấp địa phương cũng có các ban thành lập theo quy định Trong đó có cả Ban Quân sự, nhưng tương tự như Bộ Quốc phòng sau này nó chỉ làm nhiệm vụ hành chính Quân giải phóng Miền Nam là lực lượng tham gia Mặt trận công khai là do Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng chỉ đạo, nhưng thực chất đều do các cấp ủy đảng, quân ủy lãnh đạo, theo cơ chế phức tạp, như cơ chế hiện nay với quân đội nhân dân Bộ Tư lệnh chỉ đạo chuyên môn thuần túy quân sự theo phân công địa bàn của Đảng Lao động Ước tính của Mỹ, đầu 1969 có 750.000 thành viên, trong đó 300.000 thành viên dân sự
Các tổ chức Mặt trận tổ chức tại cấp dưới theo vùng: Tây Nam Bộ, Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Sài Gòn - Gia Định (Huỳnh Tấn Phát đứng đầu), Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Tây Ninh Tổ chức Mặt trận cấp vùng chịu sự lãnh đạo của cấp Trung ương
Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương được tổ chức ở 4 cấp: cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Từ năm 1960-1967, Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương các cấp thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng
ở cấp mình Đến năm 1968 một số địa phương như Thừa Thiên-Huế, Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Đà Nẵng thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng thì Ủy ban nhân dân cách mạng làm nhiệm vụ của chính quyền Sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời ra đời thì chính phủ và Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp làm nhiệm vụ chính quyền
b.Các tổ chức thành viên
Sau khi Mặt trận ra đời, hàng loạt các tổ chức của Mặt trận được thành lập và các tổ chức cách mạng ra đời tham gia Mặt trận
Hội Liên hiệp Sinh viên Học sinh Giải phóng, chủ tịch Trần Bạch Đằng, phó chủ tịch Lê Văn Thanh, thành lập 24-4-1961
Hội Liên hiệp Thanh niên Học sinh, Chủ tịch Trần Bửu Kiếm, thành lập 9-1-1961
Kỳ ủy Đảng Dân chủ Miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Trần Bửu Kiếm, Tổng thư ký Huỳnh Tấn Phát, phó Tổng thư ký Ung Ngọc Kỳ, thành lập 31-1-1961
Trang 8 Đảng Xã hội Cấp tiến Miền Nam Việt Nam, Tổng thư ký Nguyễn Văn Hiếu, sau
là Nguyễn Văn Tiến, phó Tổng thư ký: Nguyễn Ngọc Thương, ủy viên TW Lê Văn Thà, thành lập 1-7-1961
Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (do Bộ tư lệnh Các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ huy)
Hội Phụ nữ Giải phóng, chủ tịch Nguyễn Thị Tú (về sau là Nguyễn Thị Định), thành lập 8-3-1961
Ủy ban Tự trị Dân tộc Tây Nguyên (sau là Phong Trào Các Dân Tộc Tự Trị Tây Nguyên), chủ tịchYbih Aleo, thành lập 19-5-1961
Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước - chủ tịch Joseph Marie Hồ Huệ Bá
Hội Lục hòa Phật tử - chủ tịch Thích Thiện Hào
Hội Nông dân Giải phóng, Chủ tịch hội là Nguyễn Hữu Thế, thành lập 20-2-1961
Hội Lao động Giải phóng (sau đổi là Liên hiệp đoàn Giải phóng), chủ tịch Hội là Phạm Xuân Thái, phó chủ tịch: Đặng Trần Thi
Hội Văn nghệ Giải phóng - chủ tịch Huỳnh Minh Siêng (Lưu Hữu Phước)
Ủy ban Đoàn kết Á Phi của miền Nam Việt Nam - chủ tịch Nguyễn Ngọc Thương
Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới của miền Nam Việt Nam -chủ tịch Phùng Văn Cung
Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (bộ phận của Đảng Lao động Việt Nam ở miền Nam Việt Nam, do Bí thư Trung ương Cục miền Nam đứng đầu) - công khai Chủ tịch Võ Chí Công, Tổng bí thư Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), ủy viên TW công khai: Nguyễn Văn Cúc và Nguyễn Văn Đông (Hai Văn, Phạm Xuân Thái, tức Phan Văn Đáng)
Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Việt Nam sau đổi tên Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh - chủ tịch Trần Bạch Đằng
Hồng thập tự Giải phóng - chủ tịch Phùng Văn Cung
Hội Nhà giáo yêu nước - chủ tịch Lê Văn Vỵ
Ủy ban nhân dân miền Nam Việt Nam đoàn kết với nhân dân Mỹ - chủ tịch Hồ Thu
Hội nhà báo dân chủ và hòa bình: chủ tịch Tân Đức
Hội phục hưng thiểu số hiến dâng cho Hòa Hảo: chủ tịch Nguyễn Thị Biên, Huỳnh Văn Trí
Hội Phật giáo yêu nước: chủ tịch Thích Thiện Hảo
Ban Củng cố Hoà bình chung sống đạo Cao Đài (Tòa Thánh Tây Ninh)
Cao Đài chi phái Tiên Thiên: Ngọc Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi đứng đầu
Ủy ban hòa bình thế giới Nam Việt Nam: đứng đầu Ung Ngọc Kỳ
Ủy ban đoàn kết với nhân dân Mỹ Latinh: chủ tịch Thích Thiện Hảo, tổng thư ký: Phạm Văn Quang, Lê Văn Huấn
Ủy ban bảo vệ trẻ em và phụ nữ: chủ tịch Bùi Thị Mê
Hội những người kháng chiến cũ ở miền Nam Việt Nam, chủ tịch Phan Văn Đáng, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Trần Bạch Đằng
Nhóm những người đấu tranh cho hòa bình thống nhất độc lập Tổ quốc Việt Nam, bao gồm những binh sĩ trong quân đội Việt Nam Cộng hòa theo cách mạng thành lập 4-1-1961
Trang 9Năm 1973, Mặt trận bao gồm hơn 30 đảng chính trị và các tổ chức xã hội và tôn giáo tham gia, hoạt động công khai
c.Vai trò của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam
Trong các tổ chức tham gia Mặt trận, đảng bộ miền Nam của Đảng Lao động Việt Nam có tên công khai
là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (tuyên bố tách từ Đảng bộ miền Nam của đảng Lao động) có vai trò quan trọng nhất, "linh hồn" Mặt trận Trong suốt quá trình tồn tạiĐảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam công khai quan hệ thân hữu với Đảng Lao động Việt Nam nhưng sau chiến tranh Đảng Cộng sản Việt Nam xác nhận nó thực chất chỉ là đảng bộ của Đảng Lao động Việt Nam ở miền Nam, do Trung ương Đảng, Khu ủy Trị Thiên (sau khi tách khỏi Khu V, trực thuộc TW), Khu ủy Khu V (sau khi tách khỏi Trung ương Cục miền Nam, trực thuộc TW), Trung ương cục miền Nam và các Khu ủy trực thuộc (địa bàn B2 cực nam Nam Trung
Bộ và Tây Nguyên trở vào, sau khi tách Khu V về TW) lãnh đạo
Ngày 18/1/1962 trên sóng Radio Hà Nội tuyên bố Đảng Nhân dân cách mạng đã thành lập ngày 1/1/1962, là
tổ chức có lập trường chống thực dân, đế quốc và phong kiến Tuy không đề cập trực tiếp là tổ chức cộng sản, nhưng tuyên bố tuyên truyền chủ nghĩa Marx - Lenin tại miền nam Việt Nam TW Cục miền Nam và các khu
ủy lãnh đạo trực tiếp, điều lệ đảng do TW Đảng Lao động đề ra Đứng đầu là bí thư TW cục, và Võ Chí Công đại diện đảng tại Mặt trận Đảng Dân chủ trên cơ sở một phần Đảng Dân chủ năm 1944, do Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Tấn Phát đứng đầu, và Đảng Xã hội cấp tiến thành lập năm 1961 do Nguyễn Văn Hiếu đứng đầu, đều
là đảng viên cộng sản Theo tài liệu của Mỹ, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam chịu chỉ đạo từ TW Đảng
ở Hà Nội, còn Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội cấp tiến, là "đối tác" của Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Đảng Nhân dân Cách mạng theo điều lệ là đại diện giai cấp công - nông miền Nam Việt Nam
5.Sự kiểm soát của Đảng lao động Việt Nam:
Trong suốt chiến tranh Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam không tuyên bố công khai rõ ràng về tính độc lập với Đảng Lao động "ở Miền Bắc" (chưa bao giờ thừa nhận là đảng của miền bắc dù mặc nhiên thừa nhận Đảng nhân dân cách mạng là đảng cộng sản ở miền nam), nhưng là đảng cộng sản ở miền Nam, là tiên phong lãnh đạo Quân giải phóng Miền Nam thông qua Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang, thành viên chủ chốt của Mặt trận, theo tài liệu Mỹ có được lúc đó quan hệ với đảng Lao động trên tình huynh đệ cộng sản Tuy nhiên đảng công khai cử đại diện tham gia Trung ương Cục Miền Nam, là bộ phận đặt ở phía nam của Trung ương Đảng Lao động Nhưng thực chất Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam chỉ là cánh tay phía Nam của Đảng Lao động Việt Nam, và là công cụ chủ yếu thông qua đó Hà Nội kiểm soát cuộc nổi dậy chống lại
"Mỹ-Diệm"
Theo tài liệu của Mỹ, Trung ương Cục Miền Nam là Ban Chấp hành TW của Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam (sau đổi thành Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam VN), nhưng năm 1969 khi thành lập Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Trung ương Cục Miền Nam lại là đại diện của Đảng Lao động Việt Nam (được hiểu như có trụ sở tại Miền Bắc) tại miền Nam Việt Nam, và độc lập với "Ban chấp hành TW Đảng Nhân dân cách mạng")
Theo nhận định của Mỹ dựa vào các tin tình báo, giới lãnh đạo cộng sản tại miền Bắc đứng đằng sau sự hình thành Mặt trận và các cuộc nổi dậy ở miền Nam Họ đề ra chiến lược quân sự lẫn chính trị cho các nhà lãnh đạo Mặt trận tại miền Nam Tuy nhiên, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hoà vẫn không nắm rõ sự tác động của
Trang 10Miền Bắc đến mức nào giai đoạn trước và sau năm 1959 do Miền Bắc phủ nhận hoàn toàn sự can thiệp trong giai đoạn đầu, nhưng công khai hỗ trợ vào giai đoạn sau
a.Về chiến lược
Theo nhận định của Mỹ, Mặt trận tuyên truyền tranh thủ dân chúng bất mãn, và thành lập lực lượng "Phong trào giải phóng nhân dân Việt Nam", một đơn vị quân sự bao gồm các cựu chiến binh Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, tù nhân chính trị chạy thoát, và các cán bộ cộng sản (1957) Một ví dụ sau này là "Hội Phật Giáo Việt Nam-Campuchia", một trong các tổ chức tuyên truyền cho khẩu hiệu "Hòa bình và Hòa Hợp dân tộc." Theo nhận định của Mỹ, trước năm 1959, Miền Bắc bị giằng xé giữa chính sách thân Liên Xô "cùng tồn tại hòa bình", và chính sách thân Trung Quốc cổ vũ cho cho bạo lực cách mạng vô sản cho dù Trung Quốc không thích viện trợ nhiều cho Việt Nam Về kinh tế, Miền Bắc cũng đạt được thành tích về kinh tế từ 1959, nhất là công nghiệp
Đến năm 1959, có vẻ như có khả năng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chọn để theo đuổi một chiến lược
"súng và bơ", và thu được viện trợ cần thiết của Liên Xô và Trung Quốc Nghị quyết 15 năm 1959 và Nghị quyết đại hội Đảng III, Đảng Lao động công khai hỗ trợ cho cuộc chiến ở Miền Nam
Trong suốt thời gian chiến tranh Miền Bắc luôn khẳng định là chỉ chi viện, hỗ trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bao gồm cả phối hợp chỉ đạo quân sự chứ không can thiệp trực tiếp vào chính sách đối nội - ngoại của Mặt trận Sau chiến tranh, nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam luôn khẳng định Đảng lãnh đạo toàn bộ cách mạng, nhưng trong vài năm đầu tiên các hoạt động vũ trang do các cấp chỉ huy địa phương tự quyết định ngoài các chỉ thị từ trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại miền Bắc Philippe Devillers, nhà phân tích người Pháp nhận định: những người kháng chiến buộc phải hành động, cho
dù có sự hỗ trợ từ Hà Nội hay không, bởi các đồng đội của họ bị bắt, bị bỏ tù và bị tra tấn Ông này công bố
tài liệu của Nambo Veterans of the Resistance Association, tháng 3/1960, Mặt trận tuyên bố kêu gọi "đấu tranh" để "giải phóng mình từ sự phục tùng Mỹ, loại bỏ tất cả các căn cứ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, trục
xuất các cố vấn quân sự Mỹ " và kết thúc "chế độ thực dân và chế độ độc tài phát xít của nhà Ngô" Ông cũng
nhận định"chính phủ Nam Việt Nam cuối cùng đã phá hủy sự tin tưởng của người dân, mà nó đã giành được
trong những năm đầu, và thực tế đã đưa họ vào cuộc nổi loạn và tuyệt vọng" Arthur Schlesinger, Jr cũng có
nhận định tương tự
Ủy ban giám sát thi hành Hiệp định lại không thể kiểm tra hết các cơ sở để khẳng định khả năng hai bên sử dụng vũ lực Năm 1959 và 1961 Ủy ban này đã công bố rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã trắng trợn vi phạm các quy định kiểm soát vũ khí của Hiệp định Geneva, cho dù lưu ý vấn đề lật đổ ở miền Nam Việt Nam Chính phủ Hoa Kỳ, trong sách trắng về Việt Nam năm 1961 và 1965, đã đổ lỗi cho sự nổi dậy trên là "xâm lược" của Hà Nội, tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam luôn là công cụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Đối phương đáp lại các cuộc nổi dậy bắt đầu như là một cuộc nổi loạn chống lại chính phủ
áp bức của Ngô Đình Diệm, và chỉ từ cuối năm 1960, khi Hoa Kỳ sẽ cam kết nguồn lực lớn để giúp chính phủ Diệm trong cuộc chiến của mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thúc đẩy cuộc chiến với khẩu hiệu giải phóng miền Nam Việt Nam khỏi sự xâm lược của Mỹ
b.Về tổ chức
Theo nhận định của Mỹ, cơ cấu chỉ huy cộng sản khá phức tạp với một loạt các hội đồng, ủy ban, ban giám đốc lồng vào nhau Tất cả đều được kiểm soát bởi Ủy ban Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam Hà Nội Cấu