1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên

129 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 6,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một số nước ở vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu: “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên” Nguyễn Văn Thêm, 1992 [27].Đã có nhiều nghiên cứu hướng vào phân tích ảnh hưởn

Trang 2

LUÂN VĂN THAC s ĩ SINH HOC • • •

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đồng Tấn

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin cảm ơn TS Lê Đồng Tấn - người đã hướng dẫn trực tiếp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều

tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin ừân trọng cảm ơn tập thể cán bộ ủ y ban nhân dân xã Mùn Chung, ủ y ban nhân dân huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên; phòng Sau đại học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2); đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè ừong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Văn Mưòi

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đồng Tấn Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này.

Tác giả luận văn

Trần Văn Mười

Trang 6

Lời cảm ơ n i

Lời cam đ o an ii

Bảng ký hiệu các chữ viết t ắ t iii

Mục lụ c iv

Danh mục các b ản g V Danh mục các h ìn h vi

Danh mục các biểu đ ồ vii

MỞ Đ Ầ U 1

1 Lý do chọn đề t à i 1

2 Mục đích nghiên c ứ u 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễ n 2

4 Đóng góp mới của đề t à i 3

NỘI D U N G 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI L IỆ U 4

1.1 Một số khái niệm về tái sinh rừ n g 4

1.2 Lược sử nghiên c ứ u 5

1.2.1 Trên thể g iớ i 5

1.2.2 Ở Việt N a m 8

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 17

2.1 Đối tượng nghiên c ứ u 17

2.2 Phạm vi nghiên c ứ u 17

2.3 Thời gian nghiên c ứ u 17

2.4 Nội dung nghiên c ứ u 17

MỤC LỤC

Trang 7

2.5.2 Xử lý sổ liệ u 20

Chương 3 ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN - XÃ HỘI CỦA KHU vực NGHIÊN C Ứ U 23

3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên c ứ u 23

3.1.1 Vị tri địa lý, ranh giới, diện tíc h 23

3.1.2 Địa chất, địa h ìn h 23

3.1.3 Khỉ hậu, thuỷ v ă n 24

3.1.4 Tài nguyên thiên n hiên 25

3.2 Điều kiện xã hội khu vực nghiên c ứ u 28

3.2.1 Dân tộc, dân s ổ 28

3.2.2 Các hoạt động kinh tế chủ y ể u 28

3.2.3 Văn hóa, y tế, giáo d ụ c 29

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ THẢO LU Ậ N 31

4.1 Đặc điểm thành phần loài cây tái sinh trong vùng nghiên cứu 31 4.2 Đặc điểm tổ thành loài cây tái sin h 35

4.3 Chất lượng, nguồn gốc cây tái sin h 37

4.4 Quy luật phân bố cây tái sin h 40

4.4.1 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều c a o 40

4.4.2 Phân bổ cây tải sinh trên mặt đ ấ t 43

4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên 45

4.5.1 Yếu tổ địa hình: vị trí địa hình, độ dốc, hướng p h o i 45

4.5.2 Ảnh hưởng của sự thoái hoá đ ấ t 51

4.5.3 Vai trò của động vật và ảnh hưởng của sự chăn th ả 53

4.5.4 Tác động của con người và ảnh hưởng của hoạt động khai thác

54

Trang 8

4.6.2 Giải pháp về kỹ th u ậ t 56

4.6.3 Giải pháp về tổ chức 57

4.6.4 Giải pháp về tuyên truyền, giáo d ụ c 57

4.6.5 Giải pháp về xã h ộ i 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN N G H Ị 59

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 61

PHU L ư c 66

Trang 9

Trang Bảng 4.1 Số lượng, tỉ lệ % các chi, loài cây tái sinh ở khu vực

nghiên c ứ u 31

Bảng 4.2 Tổ thành loài cây tái sinh ở khu vực nghiên c ứ u 36

Bảng 4.3 Chất lượng cây tái sinh ở khu vực nghiên c ứ u 37

Bảng 4.4 Nguồn gốc cây tái sinh ở khu vực nghiên c ứ u 38

Bảng 4.5 Sự phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 41

Bảng 4.6 Phân bố cây tái sinh trên mặt đ ấ t 43

Bảng 4.7 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo vị trí địa h ìn h 45

Bảng 4.8 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo cấp độ d ố c 47

Bảng 4.9 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo hướng phơi 50

Bảng 4.10 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo mức độ thoái h o á đ ấ t 51

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

TrangHình 3.1 Bản đồ thảm thực vật lưu vực đầu nguồn sông Đà, xã

Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện B iên 27Hình 4.1 Rừng thứ sinh tại xã Mùn Chung - Tuần Giáo - Điện

B iên 35Hình 4.2 Phân bố đều cây tái sinh trên mặt đất ở khu vực nghiên

c ứ u 44

Trang 11

TrangBiểu đồ 4.1 Tỉ lệ % các loài, các chi thuộc các họ thực vật ở khu

vực nghiên c ứ u 34Biểu đồ 4.2 Chất lượng cây tái sinh trong các OTC ở khu vực

nghiên c ứ u 39Biểu đồ 4.3 Nguồn gốc cây tái sinh trong các OTC ở khu vực

nghiên c ứ u 39Biểu đồ 4.4 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều c a o 42

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rừng là một bộ phận không thể thay thế được của môi trường sinh thái,

nó giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống con người Ở nước ta rừng

và đất rừng chiếm 3/4 tổng diện tích lãnh thổ, song thực tế các khu rừng nguyên sinh của chúng ta còn rất ít, chủ yếu là rừng thứ sinh ở mức độ thoái hóa khác nhau Nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm chất lượng rừng là do các hoạt động của con người tác động vào như: do chiến tranh, do đốt nưorng làm rẫy, cháy rừng, sự di dân tự do, khai thác quá mức, sự mở rộng đất nông nghiệp

Hiện nay, việc nghiên cứu bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái rừng đã

và đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại Vì rừng là nguồn tài nguyên

vô cùng quý giá Ngoài gỗ và rất nhiều lâm sản có giá trị, rừng còn có vai ừò

to lớn trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, giữ cân bằng sinh thái và sự phát triển bền vững của sự sống trên trái đất Không những thế rừng còn là noi bảo tồn và cung cấp nguyên liệu về mặt di truyền cho sự tiến hoá của sinh giới Mất rừng, làm suy giảm đa dạng sinh học, độ che phủ giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán, lũ lụt gia tăng ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là những vùng dân cư sống ven rừng Các thảm họa thiên tai gần đây đã là sự cảnh tỉnh đối với công chúng nói chung và các nhà quản lý nói riêng về hậu quả nghiêm ừọng của việc chặt phá rừng và suy giảm đa dạng sinh học Vì vậy, việc phục hồi tài nguyên rừng đã và đang là vấn đề được toàn xã hội quan tâm

Ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau (chiến tranh, nhu cầu lâm sản ngày càng cao, việc chuyển đổi rừng sang đất nông nghiệp như là kết quả

Trang 13

tất yếu của sự tăng dân số và đặc biệt là khai thác không kế hoạch) từ 14,3 triệu

ha rừng tự nhiên (độ che phủ 43%) năm 1943 giảm xuống còn 9,2 triệu ha (độ che phủ 27,8%) năm 1993 (Trần Văn Con và cộng sự, 1991) [9] Trong những năm vừa qua diện tích rừng và độ che phủ đã tăng, nhưng chủ yếu là rừng trồng, rừng tái sinh, rừng sau khai thác, rừng tre nứa với trữ lượng nhỏ, sản phẩm rừng nghèo nàn nên chất lượng rừng giảm sút

Hiện nay, đã có nhiều giải pháp cụ thể trong việc bảo tồn và phục hồi rừng, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo đảm an ninh môi trường

và phát triển kinh tế Tuy nhiên, các hệ sinh thái rừng ở nước ta rất đa dạng và phức tạp, trong khi các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung tại một vùng hay một khu vực nhất định nào đó, việc nghiên cứu chưa thật sự đồng bộ và thiếu bền vững Cho nên, tái sinh rừng tự nhiên vẫn đang là nội dung càn được tiếp tục nghiên cứu

Mùn Chung là một xã thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Mặc dù

có diện tích không lớn, nhưng do đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng, cho nên

có nhiều kiểu rừng khác nhau với hệ thực vật rất đa dạng Đây được xem là địa điểm thuận lợi cho việc nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên, xây dựng

các mô hình phục hồi rừng Với những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: Nghiên

cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại

xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tình Điện Biên.

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá năng lực tái sinh tự nhiên của các kiểu thảm thực vật phục hồi

tự nhiên trong vùng nghiên cứu

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ỷ nghĩa khoa học: Góp phàn bổ sung dẫn liệu về đặc điểm tái sinh tự

nhiên của thảm thực vật rừng ở khu vực nghiên cứu nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung

Trang 14

Ỷ nghĩa thực tiễn: Ket quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc lựa

chọn giải pháp xúc tiến tái sinh rừng nhằm thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế

và nâng cao chất lượng rừng phục hồi tự nhiên ở xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

4 Đóng góp mói của đề tài

Một số dẫn liệu cập nhật về cấu trúc rừng tái sinh phục hồi tự nhiên tại khu vực nghiên cứu

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một sổ khái niệm về tái sinh rừng

Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái tạo, hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí

cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên Cùng với thuật ngữ này, còn có nhiều thuật ngữ khác đang đươc sử dụng rộng rãi hiện nay Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ “Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Schereckenbeg, Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ: “Rehabitilatic” để chỉ sự phục hồi lại bằng biện pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng

Căn cứ vào nguồn giống, người ta chia thành 3 mức độ tái sinh như sau:

- Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo

giống trực tiếp

- Tái sinh bán nhân tạo: nguồn giống được con người tạo ra bằng cách

trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh tiếp theo

- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên.

Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng

là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng Theo tác giả thì vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây

gỗ già cỗi Vì vây, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại

Trang 16

thành phàn cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tác giả cũng khẳng định tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng.

Bàn về vai trò của lớp cây tái sinh, Trần Xuân Thiệp (1996) [29] cho rằng nếu thành phần loài cây tái sinh giống với thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác Ngược lại, nếu thành phàn loài cây tái sinh khác với thành phần cây đứng thì quá trình diễn thế xảy ra

Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình thiết lập lớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con được thiết lập đều có nguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường họp tái sinh nhân tạo thì cây con cũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieo trước đó Nó được phân biệt với các khái niệm khác như trồng rừng là sự thiết lập lớp cây con bằng việc trồng cây giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm Vì đặc trưng đó nên tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của các hệ sinh thái rừng

1.2 Lược sử nghiên cứu

1.2.1 Trên thế giới

Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng ừên thế giới đã ừải qua hàng thế kỷ, nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này mới được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ XX trở lại đây

Từ những năm giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của ngành công nghiệp hoá giấy, cho phép sử dụng một cách tổng họp các sản phẩm gỗ tự nhiên, nên nhiều diện tích rừng đã bị khai thác trắng để làm nguyên liệu Để phục hồi lại thảm thực vật và đáp ứng nhu cầu về gỗ đang ngày càng gia tăng, trong Lâm nghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng nhân tạo cho năng xuất cao Nhưng sau thất bại trong tái sinh nhân tạo ở Đức và

Trang 17

một số nước ở vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu: “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên” (Nguyễn Văn Thêm, 1992) [27].

Đã có nhiều nghiên cứu hướng vào phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến quá trình tái sinh rừng như: ánh sáng, độ ẩm đất, thảm mục, độ dầy rậm của thảm tươi, khả năng phát tán hạt Trong đó ánh sáng (thông qua

độ tàn che của rừng) là nhân tố được đề cập nhiều nhất và được coi là nhân tố chủ đạo đóng vai trò điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên [8], [32], [38]

p w Richards [24] đưa ra nhận xét rằng ở rừng nhiệt đới có sự phân bố

số lượng cây trong các tầng rất khác nhau Phần lớn các loài cây ưu thế ở tầng trên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít, thậm chí vắng mặt ở những tầng thấp hay cấp thể tích nhỏ Ngược lại, ở những rừng đơn ưu như rừng Mora gongiũ ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và Trinidat, rừng Eusdezoxylon

ở Bomeo lại có đầy đủ đại diện ở các lớp kích thước Theo tác giả thì sự phân

bố này là do đặc tính di truyền của các loài cây, được thể hiện ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển Ông cũng cho rằng,

sự thiếu hụt ánh sáng ừong rừng mưa nhiệt đới ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của mầm non thường không rõ

H Lamprecht (1989) [41] căn cứ vào nhu cầu sử dụng ánh sáng ừong suốt đời sống của các loài cây, ông đã phân chia rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây nửa chịu bóng và nhóm cây chịu bóng

Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta đều nhận thấy rằng: tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nhân tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, do đó thảm cỏ

và thảm cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh là không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai

Trang 18

thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng

là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Nguyên Văn Thêm, 1992) [27]

Phân chia các giai đoạn trong tái sinh tự nhiên đã được đa số các nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng, càn phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng

và các nhân tố ảnh hưởng từ khi hình thành cơ quan sinh sản, sự hình thành hoa, quả, các nhân tố phát tán hạt, sự phù hợp của mùa vụ hạt giống với điều kiện khí hậu và sự phá hoại của động vật, côn trùng cho đến khi cây con phát triển ổn định Đa số các nhà Lâm học của Liên Xô cũ đề nghị trong Lâm học chỉ nghiên cứu quá trình tái sinh rừng bắt đầu từ khi cây có hoa, quả, thậm từ giai đoạn cây mạ trở đi (Đinh Quang Diệp, 1993) [11]

Đối với rừng nhiệt đới, quá trình tái sinh tự nhiên có nhiều điểm khác biệt Căn cứ vào đặc điểm tái sinh Van Steenis (1956) [42] đã phân biệt hai kiểu tái sinh tự nhiên phổ biến: đó là tái sinh phân tán liên tục dưới tán của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh theo vệt ừên các lỗ trống của các loài cây ưa sáng Ông gọi những loài cây tiên phong là các loài cây tạm cư, còn những loài cây mọc sau là những loài cây định cư hay định vị

Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của p w Richards (1964) [24], tác giả cuốn “Rừng mưa nhiệt đới” Nhận định về khả năng phục hồi rừng tự nhiên ông cho rằng tất cả các quần xã thực vật do rừng mưa nhiệt đới sinh ra,

từ thảm cỏ, thảm cây bụi, đến rừng thứ sinh nếu được bảo vệ, không chặt phá, đốt lửa và chăn thả, theo thời gian, qua một số giai đoạn trung gian, chúng đều có thể phục hồi lại rừng cao đỉnh Các tác giả khác: G Baur [1], Trần Ngũ Phương (1970) [22], Thái Văn Trừng (1978) [35], A Bratawinata (1994) [39], M c Godt và M Hadley (1991) [40], cũng đã đưa ra nhận xét tương tự

Trang 19

Những kết quả nghiên cứu về thảm thực vật tái sinh trong đất sau nucmg rẫy cũng như trên đất rừng sau khai thác đều cho thấy tiềm năng tái sinh tự nhiên ừên đất rừng nhiệt đới là rất lớn và khả năng phục hồi tự nhiên thảm thực vật là hiện thực [25], [26], [32], [38].

Bernard Rollet (1974) có nhận xét: trong các ô tiêu chuẩn có kích thước nhỏ (lm X lm , 1 m X 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một

số ít có phân bố Poisson

Zlobin (1970) [43] đề ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn phân loại chất lượng

và dự báo khuynh hướng phát triển của cây con Aubreville A (1951), đưa ra

lý thuyết tái sinh tuần hoàn thành bức khảm: tại một địa điểm và trong thời gian nhất định xã họp của loài ưu thế sẽ được thay thế bằng xã hợp có thành phàn khác với xã họp cũ

Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, càn thiết

bổ sung bằng ừồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy phải đề ra các biện pháp lâm sinh cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [7]

Trong nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới, nhiều nhà Lâm học còn đặc biệt quan tâm tới các phương thức tái sinh của các loài cây mục đích Thứ tự của các bước xử lý cũng như hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh rừng tự nhiên được G Baur (1976) tổng kết khá đày đủ trong tác phẩm “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” [1]

1.2.2 Ở Viêt Nam m

Trang 20

Ở nước ta, vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới đã được tiến hành nghiên cứu

từ những năm 60 của thế kỉ XX Với chuyên đề “Tái sinh tự nhiên” do Viện Điều ừa Quy hoạch rừng thực hiện tại một số khu rừng trọng điểm thuộc các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An (lưu vực sông Hiếu ), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê) và Quảng Bình (lưu vực sông Long Đại) Trên cơ sở các nguồn tài liệu và số liệu của các đoàn, đội điều tra tài nguyên thu thập (nhận trong các báo cáo tài nguyên rừng hoặc báo cáo lâm học, khi điều tra thuộc miền Bắc Việt Nam đã được Nguyễn Vạn Thường, 1991 [33] tổng kết và bước đầu đưa ra kết luận hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ

đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ Sự phân bổ cây tái sinh rất không đồng đều, số cây mạ (cấp H < 20 cm) chiếm ưu thế rõ rệt so với số cây

ở các cấp tuổi khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh khuynh hướng lan ừàn và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Trong các loài cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp và phân bố tản mạn Thậm chí một số loài hoàn toàn vắng bóng ở thế hệ sau những ừạng thái tự nhiên Trong thành phàn cộng tác tái sinh, tác giả cho rằng bất kỳ ở đâu có hiện tượng tái sinh tự nhiên thì ở đó có sự sống chung của những cá thể khác loài, khác chi, thậm chí cả khác họ Dựa vào thành phàn loài cây mục đích chất lượng cây con, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới theo tiêu chuẩn 5 cấp dựa theo số cây non/ha: rất tốt (>12.000 cây/ha), tốt (8.000-12.000 cây/ha), trung bình (4.000-8.000 cây/ha), xấu (2.000-4.000 cây/ha), rất xấu (< 2.000 cây/ha)

Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện của tái sinh là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng Các cây con này dần dần sẽ thay thế vị trí của cây già cỗi (theo thời gian) hay đây chính là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là

Trang 21

tầng cây gỗ Đồng thời, trong quá trình tái sinh tự nhiên các kiểu phụ, kiểu ừái không có nhiều biến đổi cụ thể ừong hình thái cấu trúc nhưng lại có biến đổi về tỷ lệ và thành phàn cá thể các loài cây ừong quần xã thực vật do mỗi loài cây có chu kỳ phát dục riêng biệt, có thời gian ra hoa, kết quả, có tập tính truyền giống và lan truyền khác nhau.

Đã có rất nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về sự tái sinh của thảm thực vật David T A w và Richards p w (1961) khi nghiên cứu

về thảm thực vật rừng nhiệt đới khẳng định: Tình hình tái sinh rất thưa thớt dưới tán rừng của những loài cây đang chiếm ưu thế ở các tầng ừên Các công trình nghiên cứu của Richards p w (1952); Barnard, Rollet (1974, 1996), về phân bố cây tái sinh rừng nhiệt đới, đã cho rằng: trong các ô có kích thước nhỏ (lm X lm) và (lm X l,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có dạng phân bố Poisson Zlobin (1970) [43] đề ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn phân loại chất lượng và dự báo khuynh hướng phát triển của cây con Aubreville A (1951), đưa ra lý thuyết tái sinh tuần hoàn thành bức khảm: tại một địa điểm và ừong thời gian nhất định xã hợp của loài ưu thế sẽ được thay thế bằng xã hợp có thành phàn khác với xã hợp cũ

Việc phân chia các giai đoạn trong quá trình tái sinh rừng, nhiều nhà khoa học cho rằng cần phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng từ khi hình thành cơ quan sinh sản cho đến khi cây con phát triển ổn định Một số tác giả khác lại đề nghị nên nghiên cứu từ giai đoạn ra hoa, mùa vụ hạt giống, sự phù họp của mùa vụ hạt giống với điều kiện khí hậu

Trần Đình Lý và cộng sự (1995) [19], đánh giá năng lực tái sinh thảm thực vật rừng Việt Nam Những năm gần đây, diện tích rừng bị thu hẹp và suy thoái do nhiều nguyên nhân, nên những công trình nghiên cứu về quá trình tái sinh phục hồi rừng rất phong phú Hầu hết các công trình nghiên cứu đều cho rằng số lượng và chất lượng của lớp tái sinh tự nhiên trong giai đoạn đầu của

Trang 22

quá trình phục hồi thảm thực vật rừng, các trạng thái IB, Ic, IIA, IIb đều có thể xếp vào đối tượng có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng.

Vũ Tiến Hỉnh (1991) [12], nghiên cứu đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên cho thấy quá trình tái sinh là liên tục và tuổi rừng càng nhỏ thì số cây càng tăng

Thái Văn Trừng (1998) [36], cho rằng: quá trình tái sinh tự nhiên phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ánh sáng chiếu xuống trái đất, đặc biệt giai đoạn cây mạ, cây con trong các trạng thái thảm thực vật Những cây mạ, cây non chịu được bóng trong giai đoạn còn nhỏ dưới tán rừng thì mới có đủ các cấp tuổi của loài đó

Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1994) [16], đánh giá quá trình tái sinh tự nhiên phụ thuộc vào 3 yếu tố chính sau đây: 1 Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt giống ừên một đon vị diện tích; 2 Điều kiện để hạt nảy mầm bén

rễ (nhiệt độ, độ ẩm ); 3 Điều kiện để cây mạ và cây con sinh trưởng và phát triển (đất, nước, ánh sáng )

Trong quá trình nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới, nhiều nhà Lâm học còn đặc biệt quan tâm tới phương thức tái sinh của các loài cây mục đích Nguyễn Văn Thêm (1992) [27], nghiên cứu quá trình tái sinh tự

nhiên của Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) trong rừng kín ẩm thường

xanh và nửa rụng lá nhiệt đới mưa mùa ở Đồng Nai khẳng định: Tái sinh theo

lỗ trống là kiểu phổ biến của Dầu song nàng Bên cạnh đó còn có nghiên cứu của Phạm Đình Tam (1987) về tái sinh các lỗ trống ở rừng thứ sinh vùng Hương Sơn (Hà Tĩnh) cũng nhận xét: số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các

lỗ trống khác nhau, lỗ ữống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán

Nguyễn Thế Hưng (2003) [14], nghiên cứu tái sinh của thảm thực vật cây bụi tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) có đánh giá tái sinh trong các trạng thái

Trang 23

thảm thực vật: Còn hầu hết các trạng thái thảm thực vật có năng lực tái sinh ở mức trung bình đến khá, trừ thảm cây bụi thấp Cây gỗ tái sinh có mật độ 4513-5401 cây/ha Chủ yếu là cây gỗ tái sinh bằng chồi, thành phàn loài và cấu trúc đơn giản, ít loài có giá trị kinh tế.

Phạm Ngọc Thường (2002) [32], đánh giá quá trình tái sinh trên đất sau nương rẫy cho rằng: Mỗi khoảng thời gian phục hồi, thảm thực vật tái sinh có đặc trưng về tổ thành loài cây, mật độ, độ che phủ và chất lượng cây tái sinh khác nhau Chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cây tái sinh thể hiện trên 3 phương diện: kỹ thuật, kinh tế và sinh vật học

Lê Đồng Tấn và cộng sự (2005), nghiên cứu về tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh ở VQG Tam Đảo, đã thống kê được 53 loài cây tái sinh, trong

đó có 26 loài là cây gỗ, đạt chiều cao sinh trưởng 6 cm trở lên; 17 loài cây bụi

và gỗ nhỏ Thành phàn loài chủ yếu gồm: Trọng đũa (Ảrdisia crenata), Lấu

(Psychotrìa rubra), Ba chạc (Euodỉa lepta), Trám (Canarium album), Re

(Phoebe ), Chẹo {Engelhartia roxburghiana), Bời lời (Litsea umbellata) Mật

độ cây tái sinh khá cao, dao động ừong khoảng từ 16230-21030 cây/ha, trung bình 18165 cây/ha Tỷ lệ cây chồi dao động trong khoảng 17,39-46,15% thấp hơn so với tỷ lệ cây hạt 53,85-82,61% Đồng thời cũng chỉ ra rằng, do thành phần chủ yếu là cây bụi và cây tiên phong ưa sáng, nhưng lại bị sinh trưởng ừong điều kiện bị che bóng nên chất lượng tái sinh không cao Tỷ lệ cây tốt 32,11%, cây trung bình 26,58% và cây xấu 41,31%

Nhiều tác giả khác cũng có những nghiên cứu về đặc điểm lớp tái sinh tự nhiên trong các trạng thái thực bì khác nhau ở một số vùng sinh thái đồi núi của Việt Nam như: Nguyễn Duy Chuyên (1995) [7], Nguyễn Hồng Quân (1984) [23], Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1995) [31], Hà Văn Tuế & nnk (1995) [38] Đinh Quang Diệp (1993) [11] nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp vùng Easup - Đắc Lắc kết luận độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dày đặc

Trang 24

của thảm tươi, điều kiện lập địa, lửa rừng là những nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến số lượng và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng, trong đó lửa rừng là nguyên nhân gây nên tái sinh cây đời chồi, về qui luật phân bố cây trên mặt đất, tác giả nhận định khi tăng diện tích lên thì lớp cây tái sinh có phân bố theo cụm.

Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1994) [16] cho rằng nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để hướng

sự can thiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tuỳ thuộc vào mức độ tác động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh, với mức cao nhất là tái sinh nhân tạo Theo tác giả thì quá trình tái sinh tự nhiên tuỳ thuộc vào 3 yếu tố chính sau:

- Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt trên một đơn vị diện tích

- Điều kiện để hạt có thể nảy mầm, bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm, thảm tươi)

- Điều kiện để cây mạ, cây con sinh trưởng và phát triển: đất, nước, ánhsáng

Nguyễn Duy Chuyên (1995) [7] cho thấy nhiều loài cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng có thể được biểu diễn bằng hàm toán học Qua nghiên cứu cho thấy ở diện tích nhỏ (lm X lm ), (2m X 2m) phần lớn cây tái sinh tự nhiên ở khu vực sông Hiếu (Hà Tĩnh) có phân bố cụm, ở trạng thái rừng trung bình (IHA2) cây tái sinh có phân

bố Poisson

Trần Đình Lý và các cộng sự (1995) nghiên cứu tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng tại đảo Kế Bào, Lâm trường Hoành Bồ (Quảng Ninh) Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên, diễn thế của thảm thực vật trên đất sau nương rẫy tại Chiềng Sinh (Sơn La) Kết quả nghiên cứu đã đề xuất quy phạm khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Kết quả đề tài xây dựng quan niệm về phục hồi rừng và cơ sở lựa chọn đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng dựa trên kết quả nghiên cứu ở các vùng sinh thái

Trang 25

Trần Xuân Thiệp (1996) [29] căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xây dựng bảng đánh giá tái sinh cho các ừạng thái rừng (theo hệ thống phân loại của Loschau 1961-1966): tốt, trung bình, xấu Phân cấp chiều cao cây tái sinh

để điều tra gồm 8 cấp, về phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao có sự tương đồng giữa các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Mayer từ cấp I-

V (< 300 cm), cấp VI có chiều cao > 300 cm do tính cộng dồn đến các cây có chiều cao tương ứng với đường kính dưới 10 cm nên không thể hiện quy luật này nữa

Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1995) [31] cũng đã đưa ra kết luận tương tự về quy luật phân bố này đối với lớp cây tái sinh tự nhiên ở vùng núi cao Phan Si Pan

Lâm Phúc Cố (1996) [8] nghiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông, Mù Căng Chải, tinh Yên Bái đã phân chia thành 5 giai đoạn và kết luận diễn thế thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông theo hướng đi lên tiến tới rừng cao đỉnh Tổ thành loài tăng dần theo các giai đoạn phát triển, từ 4 loài ở giai đoạn I (dưới 5 năm), tăng lên 5 loài ở giai đoạn (trên 25 năm) Rừng phục hồi có 1 tàng cây gỗ giao tán ở giai đoạn 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4

Lê Đồng Tấn (2000) [25] nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lượng cây/ô tiêu chuẩn, mật độ cây giảm dần từ chân đồi lên sườn và đỉnh đồi Mật độ cây giảm khi độ dốc tăng Tổ họp loài cây ưu thế trên cả 3 vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau, sự khác nhau chính là hệ số tổ thành của các loài trong tổ họp đó, tính chất này càng thể hiện rõ ừên cùng một địa điểm (một khu đồi) Độ cao có ảnh hưởng lên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm thực vật Thoái hoá đất có ảnh hưởng đến: mật độ cây, số lượng loài cây và tổ thành loài cây

Trang 26

Phạm Ngọc Thường (2002) [32] nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên

và đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn Tác giả đã rút ra một số kết luận: Quá trình phục hồi rừng sau nương rẫy chịu tác động tổng họp của các nhân tố sinh thái: nguồn giống, địa hình, thoái hoá đất và con người Khoảng cách rừng tự nhiên gieo giống đến đám nương càng gần thì khả năng gieo giống càng thuận lợi Ở chân đồi số loài, mật độ cây gỗ tái sinh là lớn nhất và ít nhất là ở đỉnh, độ dốc càng lớn thì quá trình phục hồi rừng càng khó khăn Mật độ cây gỗ giảm dần theo thời gian phục hồi rừng

Lê Ngọc Công (2002) [10] trong nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho rằng ở đoạn đàu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1-6 năm) mật độ cây tăng lên, sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải của các loài cây Nhận xét được rút ra từ kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu của các tác giả

+ Thứ hai là phương thức tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ ừống ừong tán rừng của các loài cây ưa sáng mọc nhanh Dưới tán kín hay thưa của chúng, những loài cây định vị trong thành phần xã họp cũ thường đòi hỏi bóng trong 1-2 năm đầu, sẽ mọc sau và dần dần vươn lên thay thế những loài

Trang 27

cây tiên phong tạm thời có tuổi thọ ngắn Những cây tiên phong sẽ tự tiêu vong, hoặc sẽ bị tiêu diệt bởi tán kín rậm của các loài cây định vị mọc sau, chỉ trừ một số ít loài cây tiên phong định cư có tuổi thọ dài có thể tồn tại ừong thảnh phần của các xã họp đã tái sinh tự nhiên.

Yếu tố chủ đạo đối với quá trình tái sinh dưới tán rừng là ánh sáng, còn đối với quá trình tái sinh trên các lỗ ừống là mức độ thoái hoá của đất

Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản

lý rừng bền vững theo mục tiêu đề ra, tiết kiệm được thời gian, tiền của khi có

sự hiểu biết đầy đủ về bản chất qui luật của hệ sinh thái rừng, trước hết là quá trình tái sinh tự nhiên [28], [31]

Qua tổng quan nghiên cứu được trích dẫn ở trên cho thấy:

Hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các ừạng thái rừng tự nhiên (số lượng, mật độ cây tái sinh, đặc điểm lớp cây tái sinh và vai trò của ánh sáng đối với quá trình tái sinh tự nhiên) mà chưa đề cập đến tái sinh ở các ừạng thái thực bì khác nhau như: thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh nhân tạo (rừng sau nương rẫy, sau khai thác kiệt) Đây là vấn đề càn được tiếp tục nghiên cứu

Những kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng ừên thế giới cho chúng ta những hiểu biết về các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số vùng Đặc biệt là sự vận dụng các hiểu biết

về quy luật tái sinh tự nhiên để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững Tuy thiên, thảm thực vật rừng nhiệt đới rất đa dạng và phức tạp, đời sống của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên ở từng vùng địa lý Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của các hệ sinh thái rừng ở các vùng địa lý khác nhau là cần thiết

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN

2.1 Đổi tượng nghiên cứu

Một số thảm thực vật rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm thành phàn loài cây tái sinh

- Nghiên cứu đặc điểm tổ thành loài cây tái sinh

- Nghiên cứu chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh

- Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh

+ Nghiên cứu phân bố số cây theo cấp chiều cao

+ Nghiên cứu phân bố cây tái sinh trên mặt đất

- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố địa hình: vị trí địa hình, độ dốc, hướng phoi

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của sự thoái hoá đất

+ Nghiên cứu vai ừò của động vật và ảnh hưởng của sự chăn thả

+ Nghiên cứu ảnh hưởng do tác động của con người

- Nghiên cứu đề xuất giải pháp phục hồi rừng

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Điểu tra thưc đìa • •

Trang 29

Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập các dữ liệu

về phân loại (thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu vật ở trạng thái tươi, và các đặc điểm khác); thu thập số liệu về đa dạng sinh học (số lượng, chất lượng, diễn biến về số lượng và chất lượng), tình trạng suy thoái trong những vùng tiểu sinh thái cụ thể về các loài ở nơi nghiên cứu Để làm tốt công tác điều ừa thực địa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1978) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) để điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC); Xác định độ tàn che theo phương pháp của Nguyễn Văn Thêm (2002); nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo công thức của Nguyễn Hải Tuất (1990); đo chiều cao cây tái sinh theo 8 cấp chiều cao của Trần Đình Lý (2003)

Lập tuyển điều tra và thu thập dữ liệu: Điều tra theo tuyến để xác định

sự phân bố của các đối tượng nghiên cứu, dự kiến địa điểm bố trí ô tiêu chuẩn Tuyến điều tra được thiết lập dựa trên các thông tin về thảm thực vật (bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ qui hoạch các phân khu chức năng), các thông tin từ ban quản lý và cán bộ chuyên môn của khu vực nghiên cứu, Các tuyến điều tra đi qua tất cả các trạng thái rừng, các dạng địa hình, đai độ cao, các trạng thái rừng bị phá huỷ hay suy thoái do tác động của con người Tuyến điều tra được xác định theo 2 hướng: song song và vuông góc với đường đồng mức; chiều rộng tuyến là 10 m; chiều dài tuyến tùy thuộc vào địa hình cho phép nhưng ít nhất là 500 m; số lượng tuyến điều tra cho mỗi đối tượng ít nhất là 3 tuyến; khoảng cách giữa các tuyến là 50-100 m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí các ô tiêu chuẩn

và ô dạng bản để thu thập số liệu, số liệu càn phải được thu thập ừên một diện tích đủ lớn gọi là ô tiêu chuẩn (OTC) Việc áp dụng phương pháp điều tra theo OTC đang được áp dụng rộng rãi ừên thế giới cũng như ừong nước [14], [18], [25]

Trang 30

Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới, để xác định diện tích OTC, H.Lamprecht (1989) [41] đã tiến hành điều ừa số lượng loài cây trên diên tích

ô cơ sở 400 m2, sau đó ghép dàn các ô cho đến khi không có loài cây mới xuất hiện Tổng diện tích của các ô là diện tích tối thiểu của OTC Phương pháp này cho phép xác định diện tích của OTC một cách chính xác, đặc biệt là đối với những kiểu thảm thực vật có thảnh phàn loài cây và địa hình đơn giản, còn đối với những kiểu thảm có thành phần loài và điều kiện địa hình phức tạp như rừng nhiệt đới thì sẽ khó áp dụng hơn

Từ năm 1930, ở Malaysia người ta đã áp dụng phương pháp điều ừa OTC với diện tích đo đếm là 4 m2 (2 m X 2 m) Đen năm 1948, London đã phát triển phương pháp này, sau đó là Barnard (1950) tiếp tục hoàn thiện cho đến 1960 Wyatt - Smith bổ sung có sửa đổi thành phương pháp điều tra chuẩn đoán Phương pháp này được áp dụng một cách rộng rãi trong việc đánh giá hiệu quả các phương thức xử lý lâm sinh trong kinh doanh rừng ở vùng nhiệt đới, ừong đó đối tượng chính là đánh giá lớp cây tái sinh Theo phương pháp này, để đánh giá hiện trạng lớp cây tái sinh cần phải mở các tuyến điểu tra Trên tuyến điểu tra đặt các OTC theo cự ly nhất định (thường là 100 m) để thu thập số liệu

Trên tuyến điều tra, thống kê tất cả cây gỗ có đường kính > 5 cm số liệu được ghi chép theo biểu 1

Biêu 1 Điêu tra thực vật theo tuyên

1

2

Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và thu thập dữ liệu: Mỗi ừạng thái thảm thực

vật đặt ngẫu nhiên 10 OTC; mỗi OTC có diện tích 400 m2 (20m X 20m), trong

Trang 31

mỗi OTC thiết lập các ô dạng bản có diện tích 4 m2 (2 m X 2 m) Trong mỗi ô dạng bản, đo đếm các chỉ tiêu ở tất cả các cá thể có đường kính ngang thân từ

5 cm trở xuống và đánh giá chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo hình thái và sinh lực phát triển rồi phân chia theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu số liệu được ghi chép theo biểu 2

Xác định cây chồi dựa vào vết sẹo trên gốc cây

Chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo hình thái và sinh lực phát triển và phân chia theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng, phát triển tốt, không sâu bệnh Cây trung bình là cây không cong queo, không sâu bệnh, không gẫy cành, cụt ngọn nhưng khả năng sinh trưởng kém hơn, có thể còn đang bị chén ép bởi tầng cây bụi và thảm tươi Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng, phát triển kém, sâu bệnh, bị chèn ép bởi cây bụi và thảm tươi

Xác định hệ số tổ thành loài cây tái sinh được tính theo công thức:

Trong đó: p là hệ số tổ thành loài (%)

n là số cá thể của loài

N là số cá thể của tất cả các loài.

Trang 32

Theo Daniel Marmillod, chỉ những loài cây có p > 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái ừong lâm phần (nếu p > 5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành, nếu p < 5% thì loài đó không được tham gia vào công thức tổ thành) Theo Thái Văn Trừng (1978) [35], trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó > 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Vì vậy, càn tính tổng p của những loài có trị số lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lai khi tổng p đạt 50%.

Xác định mật độ cây: Được tính trung bình trên OTC sau đó quy ra số cây/ha theo công thức:

N = -X 10.000

s

Trong đó: n là số lượng cây

s là diện tích ô điều tra.

Xác định sự phân bố cây tái sinh theo các cấp chiều cao: số cây tái sinh được tính cho các cấp chiều cao sẽ phân chia theo 8 cấp như sau:

Cấp I: chiều cao < 20 cm

Cấp I I : chiều cao từ 21 -50 cm

Cấp III: chiều cao từ 51 -100 cm

Cấp IV: chiều cao từ 101-150 cm

Cấp V: chiều cao từ 151 -200 cm

Cấp VI: chiều cao từ 201-250 cm

Cấp VII: chiều cao từ 251 -300 cm

Cấp V III: chiều cao >300 cm

Kết quả được thể hiện bằng đồ thị

Xác định phân bố cây tái sinh ừên mặt đất: Nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang (phân bố khoảng cách từ một điểm chọn ngẫu

nhiên đến các cây lân cận) Áp dụng tính chất bằng nhau giữa số bình quân ( X )

Trang 33

và phương sai (S”2) để xác định kiểu phân bố Theo phương pháp này càn phải tính:

Trang 34

Chương 3 ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN - XÃ HỘI

CỦA KHU Vực NGHIÊN cứu

3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu [21]

3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích

3.1.1.1 Vị trí địa lỷ

Xã Mùn Chung là 1 trong 18 xã của huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên có tọa độ địa lý là 21°45’28” độ vĩ Bắc và 103°23’28” độ kinh Đông

Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 592 m

3.1.1.2 Diện tích, ranh giới xã Mùn Chung

+ Diện tích 42,4 km2

+ Ranh giới cụ thể :

- Phía Tây Bắc giáp Huyện Tủa Chùa

- Phía Đông, Đông Bắc giáp Xã Phình Sáng

- Phía Đông giáp Xã Pú Nhung

- Phía Nam giáp xã Mường Thín và Quài Nưa

- Phía Tây giáp xã Mường Mún

3.1.2 Đìa chất, đìa hình

3.1.2.1 Địa chất

Khu vực nghiên cứu có các loại đất chủ yếu sau: Đất pheralit vàng đỏ và

đỏ vàng phát triển trên nền phiến thạch, đá vôi thuộc nhóm đá mẹ Macma axít; đất đen là sản phẩm phong hóa của đá vôi hoặc tích đọng ở địa hình bằng, trũng, đất có độ phì, tập trung ở những xã vùng thấp của huyện Loại đất này rất thích hợp trồng cây lưorng thực, thực phẩm (ngô, đậu, đỗ, lạc) và các cây công nghiệp ngắn ngày (bông, gai), cây công nghiệp (chè, cà phê, quế, hồi, trẩu, thảo quả)

3.1.2.2 Địa hình

Trang 35

Địa hình xã Mùn Chung hiểm trở và đa dạng, đa số núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam độ dốc trung bình 12-20°.

Độ cao trung bình so với mặt biển là 592 m

3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

3.1.3.1 Khi hậu

Khí hậu khu vực nghiên cứu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam (gió Lào) khô và nóng, không có bão lớn Hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô

từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình 18,2°c, cao nhất là 36- 37°c, thấp nhất xuống đến 0°c Độ ẩm không khí trung bình trong năm 87%,

độ ẩm thấp nhất trong năm 22%, lượng bốc hơi cả năm 514 mm Lượng mưa phân phối không đều ừong năm, mùa mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 7 Lượng mưa trung bình cả năm là 1.805 mm, có ngày lượng mưa lớn nhất 272 mm

Giông là hiện tượng tương đối phổ biến ở khu vực nghiên cứu, thường tập trung nhiều từ tháng 4 đến tháng 8, nhất là các tháng đầu mùa mưa Mưa giông có cường độ khá lớn, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho cây trồng Mưa giông đầu mùa mang một lượng Amoniac và Nitơrat cung cấp nguồn phân bón cho cây trồng song mưa giông cũng có những mặt bất lợi, cường độ mưa giông lớn làm tăng độ xói mòn, sạt lở đất tại các đồi núi, cuốn trôi những lớp phù sa màu mỡ, hơn nữa trong cơn giông thường đi kèm theo lốc xoáy, có tốc độ mạnh làm đổ cây cối, nhà cửa, gây thiệt hại nặng nề cho tài sản của nhân dân trong khu vực xảy ra giông

Ở khu vực nghiên cứu sương muối xuất hiện không nhiều song đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là gây tác hại cho các loại cây nhiệt đới ưa nóng và khó khăn cho sản xuất vụ đông xuân Ở những nơi có độ cao 1.500 m tần suất xuất hiện sương muối lớn, trung bình từ 9-10 ngày/năm

Trang 36

Ở những nơi thấp hơn, tần suất xuất hiện sương muối nhỏ, khoảng từ 1-2 ngày/năm Ngoài ra ở khu vực nghiên cứu thường có nhiều ngày sương mù, trung bình từ 80-110 ngày/năm Sương mù ở Tuần Giáo chủ yếu là dạng sương mù bức xạ, thường xảy ra ương các tháng thu đông (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) Tháng có mật độ sương mù dày nhất là tháng 1 hoặc tháng

12, trung bình 10-19 ngày/tháng Tháng có mật độ thấp nhất là tháng 5 hoặc tháng 6 (khoảng 3,5 ngày)

3.1.3.2 Thuỷvăn

Khu vực nghiên cứu thuộc lưu vực sông Đà, gồm có sông Nậm Mức là một nhánh của sông Đà chảy cách vùng khoảng 6 km về phía Tây, các suối trong vùng đều là chi lưu của sông Nậm Mức Suối Nậm Mu là dòng suối lớn nhất và là miền thoát nước chính của vùng Suối có lòng rộng hàng chục mét, phía hạ nguồn nước khá sâu, ừong mùa khô cũng đạt 1-2 m, bè mảng nhỏ có thể hoạt động được Phía thượng nguồn, đoạn từ Rạng Đông trở lên, nước nông 0,2-0,5 m Suối Nậm Pay là một nhánh lớn của Nậm Mu, suối bắt nguồn

từ Phương Mun ở phía đông điểm quặng Hán Chờ, chảy theo hướng Nam - Tây Nam qua Pá Tòng khoảng 2 km thì nhập vào dòng Nậm Mu Suối khá dốc, nhiều thác cao, lòng rộng 5-10 m, về mùa khô ít nước có thể lội qua, mùa mưa thường có lũ lớn nước sâu và chảy xiết rất nguy hiểm khi vượt suối Hiện nay trên các sông và suối này đều đã có các công trình thủy điện

3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

Trang 37

+ Đất phi nông nghiệp : 124,17 ha trong đó:

- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp : 0,03 ha

- Đất phát triển hạ tầng, cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã : 32,8 ha

- Đất ở tại nông thôn : 49,65 ha

- Đất xây dựng trụ sở, cơ quan : 0,31 ha

- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng : 8,56 ha

- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, su ố i: 27,12 ha

- Đất phi nông nghiệp khác : 5,70 ha

Trang 38

B Ả N Đ Ó T H Ả M T H Ự C V Ậ T L ư u v ự c Đ Ẩ U N G U Ồ N S Õ N G Đ À

XÃ MỦN C HUNG - H TUẤN GIAO - T ĐIỆN BIÊN

Hình 3.1 Bản đổ thảm thực vật lưu vực đầu nguồn sông Đà,

xã Mùn Chung, huyện Tuân Giáo, tỉnh Điện Biên

Trang 39

3.2 Điều kiện xã hội khu yực nghiên cứu [21]

3.2.1 Dân tộc, dân sỗ

Theo số liệu thống kê năm 2013 ở xã Mùn Chung có 11 thôn/bản với tổng

số dân là 3.619 người trong đó có 1.786 nam và 1.833 nữ sống trong 867 hộ gia đình Noi đây tập trung 8 dân tộc cùng chung sống Dân tộc Thái chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 62,95%, tiếp đến là dân tộc Mông 20,01%; dân tộc Khơ Mú chiếm 13,44% ; dân tộc Kinh chiếm 3,49% ; dân tộc Kháng chiếm 0,05% ; dân tộc Mường chiếm 0,02%, XTiêng chiếm 0,02%, Hà Nhí chiếm 0,02% Trong những năm qua, do thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình nên mức độ gia tăng tự nhiên đã ở mức 1,55% Mật độ dân số bình quân đạt 85,14 người/km2

3.2.2 Các hoạt động kinh tế chủ yếu

Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính chiếm vị trí quan ừọng trong cơ cấu kinh tế của xã Mùn Chung, trong nông nghiệp trọng tâm là trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm

3.2.2.1 Trồng trọt

Cây trồng chủ yếu là cây lương thực trong đó diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ năm 2013 là 379,90 ha với sản lượng là 992,58 tấn ; diện tích lúa sơ

bộ năm 2013 là 179,90 ha với năng suất lúa là 24,05 tạ/ha ; diện tích ngô sơ

bộ năm 2013 là 200,00 ha với năng suất ngô là 28 tạ/ha ; diện tích trồng cây công nghiệp hàng năm sơ bộ năm 2013 là 89,5 ha ; diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm 158,23 ha ; diện tích trồng cây ăn quả 7,5 ha

3.2.2.2 Chăn nuôi

Chăn nuôi đang ngày càng được đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng theo hướng sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, phương pháp chăn nuôi chưa mang tính công nghiệp, chưa có quy mô trang trại mà chủ yếu vẫn theo hình thức hộ gia đình là chủ yếu để giải quyết sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và nhu cầu thực phẩm cho nhân dân địa phương Cụ thể: theo số liệu năm 2013

Trang 40

thì số lượng trâu là 982 con, bò là 147 con, lợn là 1847 con, dê là 226 con, gia cầm là 31,520 nghìn con trong đó gà là 26,560 nghìn con.

3.2.3 Văn hóa, y tế, giáo dục

3.2.3.1 Văn hóa

Trên toàn bộ địa bàn xã đã được phủ sóng đài truyền thanh, truyền hình, điện lưới quốc gia Mạng lưới viễn thông cũng từng bước phát triển, mở rộng đến các xã đã tạo điều kiện trao đổi thông tin, cập nhật tin tức được thuận lợi, nhanh chóng

Đặc điểm văn hóa trong xã là văn hóa mang tính cộng đồng, bản sắc địa phương của một vùng núi ở Tây Bắc Đe phát triển cũng như duy trì bản sắc văn hóa của địa phương, thời gian qua, chính quyền các cấp cũng như ngành văn hóa đã quan tâm đầu tư cho các hoạt động văn hóa thông tin

3.2.3.2 Y tể

Hiện tại, trạm y tế đã có đầy đủ các phòng chức năng, mạng lưới y tế dần dần được bổ sung hầu hết đã có bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ sinh và các cộng tác viên thôn bản Trang thiết bị để phục vụ cứu chữa bệnh nhân còn thiếu và chưa đồng bộ Trạm xá chỉ đáp ứng được các bệnh nhân nhẹ và các bệnh thông thường còn các bệnh nhân nặng chỉ sơ cứu ban đầu và chuyển lên bệnh viện tuyến trên

Công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình đã có hiệu quả đến nay tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,55%

Ngày đăng: 05/10/2016, 13:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] . G. Baur (1976), Cơ sở sinh thái học của kỉnh doanh rừng mưa (Vương Tấn Nhị dịch). Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kỉnh doanh rừng mưa
Tác giả: G. Baur
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1976
[2] , Nguyễn Tiến Bân (1997), cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnolỉophyta, Angỉospermae) ở Việt Nam, 532 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnolỉophyta, Angỉospermae) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
[3] . Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk. (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II, 1203 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vậtViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
[4] . Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk. (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập III, 1248 tr., Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vậtViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
[5] . Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk. (2007), Danh lục đỏ Việt Nam, 412 tr., Nxb KHTN &amp; CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục đỏ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk
Nhà XB: Nxb KHTN & CN
Năm: 2007
[6] . Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk. (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần II. Thực vật, 611 tr., Nxb KHTN &amp; CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) &amp; nnk
Nhà XB: Nxb KHTN & CN
Năm: 2007
[7] . Nguyên Duy Chuyên (1995), Nghiên cứu quy luật phân bổ cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Châu Quỳ, Nghệ An. Công trình khoa học kỹ thuật điều ừa quy hoạch rừng (1991-1995). Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy luật phân bổ cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Châu Quỳ, Nghệ An
Tác giả: Nguyên Duy Chuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
[8] . Lâm Phúc c ố (1996), Nghiên cứu một sổ biện pháp xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà tại Púng Luông, Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái.Luận án PTS Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một sổ biện pháp xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà tại Púng Luông, Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái
Tác giả: Lâm Phúc c ố
Năm: 1996
[9] . Tràn Văn Con &amp; nnk. (1991), Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng khộp ở cao nguyên DakNong, Daklak, Luận văn PTS KHNN, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng khộp ở cao nguyên DakNong, Daklak
Tác giả: Tràn Văn Con &amp; nnk
Năm: 1991
[10] . Lê Ngọc Công (2002), Nghiên cứu quá trình tái sinh phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một sổ thảm thực vật ở Thái Nguyên. Luận án Tiến sĩ Sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình tái sinh phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một sổ thảm thực vật ở Thái Nguyên
Tác giả: Lê Ngọc Công
Năm: 2002
[11] . Đinh Quang Diệp (1993), Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng Khập Easup, Đẳc Lẳc. Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng Khập Easup, Đẳc Lẳc
Tác giả: Đinh Quang Diệp
Năm: 1993
[12] . Vũ Tiến Hĩnh (1991), về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên. Tạp chí Lâm nghiệp, (2), 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về "đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên
Tác giả: Vũ Tiến Hĩnh
Năm: 1991
[13] , Phạm Hoàng Hộ (1999-2001), Cây cỏ Việt Nam, Tập 1-3, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
[14] . Nguyễn Thế Hưng (2003), Nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phục hồi rừng của thảm thực vật cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã cẩm Phả (Quảng Ninh), Luận án tiến sĩ Sinh học, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phục hồi rừng của thảm thực vật cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã cẩm Phả (Quảng Ninh)
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng
Năm: 2003
[15] . Phừng Ngọc Lan (1986), Nguyên lí lâm sinh học, Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lí lâm sinh học
Tác giả: Phừng Ngọc Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
[16] , Nguyễn Ngọc Lung, Lâm Phúc c ố (1994), Bảo vệ khoanh nuôi và phục hồi rừng. Tạp chí Lâm Nghiệp (10), 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ khoanh nuôi và phục hồi rừng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung, Lâm Phúc c ố
Năm: 1994
[17] , Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư (1995), Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi ở Việt Nam. Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1995
[18] . Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Hà Văn Tuế, Lê Đồng Tấn (1995), Nghiên cửu xác định diện tích và hệ thống biện pháp kỹ thuật cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng. Báo cáo đề tài KN 03-11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cửu xác định diện tích và hệ thống biện pháp kỹ thuật cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng
Tác giả: Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Hà Văn Tuế, Lê Đồng Tấn
Năm: 1995
[19] . Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn (1995), Khả năng tái sinh tự nhiên thảm thực vật vùng núi Sa Pa. Tạp chí Lâm nghiệp (2), 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tái sinh tự nhiên thảm thực vật vùng núi Sa Pa
Tác giả: Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn
Năm: 1995
[20] . Tràn Đình Lý (1998), Sinh thái thảm thực vật. Giáo trình dành cho Cao học, Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật - Viện KH &amp; CN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thảm thực vật
Tác giả: Tràn Đình Lý
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Bản đổ thảm thực vật lưu vực đầu nguồn sông Đà, - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Hình 3.1. Bản đổ thảm thực vật lưu vực đầu nguồn sông Đà, (Trang 38)
Bảng 4.1. Sô lượng, tỉ lệ % các chi, loài cây tái sinh ở  khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 4.1. Sô lượng, tỉ lệ % các chi, loài cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu (Trang 42)
Hình 4.1. Rừng thứ sinh tại xã Mùn Chung -  Tuần Giáo - Điện Biên - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Hình 4.1. Rừng thứ sinh tại xã Mùn Chung - Tuần Giáo - Điện Biên (Trang 47)
Bảng 4.2.  Tổ thành loài cây tái sinh ở  khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 4.2. Tổ thành loài cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 4.3.  Chất lượng cày tái sinh ở  khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 4.3. Chất lượng cày tái sinh ở khu vực nghiên cứu (Trang 49)
Bảng 4.4. Nguôn gôc cây tái sinh ở  khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 4.4. Nguôn gôc cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu (Trang 50)
Hình 4.2. Phân bô đêu cây tái sinh trên mặt đàtởkhu  vực nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Hình 4.2. Phân bô đêu cây tái sinh trên mặt đàtởkhu vực nghiên cứu (Trang 56)
Bảng 4.7. Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo vị trí địa hình - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 4.7. Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo vị trí địa hình (Trang 57)
Bảng 4.9. Sô lượng và chât lượng cây tái sinh theo hướng phơi - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 4.9. Sô lượng và chât lượng cây tái sinh theo hướng phơi (Trang 62)
Bảng 4.10. Sô lượng và chăt lượng cây tái sinh theo mức độ thoái hoá đăt - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã mùn chung, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên
Bảng 4.10. Sô lượng và chăt lượng cây tái sinh theo mức độ thoái hoá đăt (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w