Mục đích nghiên cứu Đánh giá năng lực tái sinh tự nhiên của các kiểu thảm thực vật phục hồi tựnhiên trong vùng nghiên cứu.. Đóng góp mói của đề tài Một số dẫn liệu cập nhật về cấu trúc r
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
HÀ NỘI, 2016
TRẦN VĂN MƯỜI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH Tự NHIÊN
DƯỚI TÁN RỪNG THỨ SINH PHỤC HỒI Tự NHIÊN
TẠI XÃ MÙN CHUNG, HUYỆN TUẦN GIÁO,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUÂN VĂN THAC sĩ SINH HOC • • •
Trang 2TRẰN VĂN MƯỜI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH Tự NHIÊN DƯỚI TÁN RỪNG THỨ SINH PHỤC HỒI Tự NHIÊN TẠI XÃ MÙN CHUNG, HUYỆN TUẦN GIÁO,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin cảm ơn TS Lê Đồng Tấn - người đã hướng dẫn trựctiếp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều
tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin ừân trọng cảm
ơn tập thể cán bộ ủy ban nhân dân xã Mùn Chung, ủy ban nhân dân huyệnTuần Giáo - tỉnh Điện Biên; phòng Sau đại học (Trường Đại học Sư phạm HàNội 2); đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè ừong suốt thờigian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Văn Mưòi
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của TS Lê Đồng Tấn Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luậnvăn là trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này
Tác giả luận văn
Trần Văn Mười
Trang 51 1 1
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Bảng ký hiệu các chữ viết tắt iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng V Danh mục các hình vi
Danh mục các biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Đóng góp mới của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm về tái sinh rừng 4
1.2 Lược sử nghiên cứu 5
1.2.1 Trên thể giới 5
1.2.2 Ở Việt Nam 8
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.3 Thời gian nghiên cứu 17
Trang 7MỤC LỤC
2.4 Nội dung nghiên cứu 17
Trang 82.5 Phương pháp nghiên cứu 17
2.5.1 Điều tra thực địa 17
2.5.2 Xử lý sổ liệu 20
Chương 3 ĐIỀU KIỆN Tự NHIÊN - XÃ HỘI CỦA KHU vực NGHIÊN CỨU 23
3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 23
3.1.1 Vị tri địa lý, ranh giới, diện tích 23
3.1.2 Địa chất, địa hình 23
3.1.3 Khỉ hậu, thuỷ văn 24
3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 25
3.2 Điều kiện xã hội khu vực nghiên cứu 28
3.2.1 Dân tộc, dân sổ 28
3.2.2 Các hoạt động kinh tế chủ yểu 28
3.2.3 Văn hóa, y tế, giáo dục 29
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Đặc điểm thành phần loài cây tái sinh trong vùng nghiên cứu 31 4.2 Đặc điểm tổ thành loài cây tái sinh 35
4.3 Chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh 37
4.4 Quy luật phân bố cây tái sinh 40
4.4.1 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 40
4.4.2 Phân bổ cây tải sinh trên mặt đất 43
4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên 45
4.5.1 Yếu tổ địa hình: vị trí địa hình, độ dốc, hướng phoi 45
Trang 94.5.2 Ảnh hưởng của sự thoái hoá đất 51
4.5.3 Vai trò của động vật và ảnh hưởng của sự chăn thả 53
4.5.4 Tác động của con người và ảnh hưởng của hoạt động khai thác 4.6 Đề xuất giải pháp phục hồi rừng 55
4.6.1 Giải pháp về chỉnh sách 55
4.6.2 Giải pháp về kỹ thuật 56
4.6.3 Giải pháp về tổ chức 57
4.6.4 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục 57
4.6.5 Giải pháp về xã hội 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHU Lưc 66
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 4.1 Số lượng, tỉ lệ % các chi, loài cây tái sinh ở khu vực
nghiên cứu 31
Bảng 4.2 Tổ thành loài cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu 36
Bảng 4.3 Chất lượng cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu 37
Bảng 4.4 Nguồn gốc cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu 38
Bảng 4.5 Sự phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 41
Bảng 4.6 Phân bố cây tái sinh trên mặt đất 43
Bảng 4.7 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo vị trí địa hình 45
Bảng 4.8 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo cấp độ dốc 47
Bảng 4.9 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo hướng phơi 50 Bảng 4.10 Số lượng và chất lượng cây tái sinh theo mức độ thoái hoáđất 51
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
TrangHình 3.1 Bản đồ thảm thực vật lưu vực đầu nguồn sông Đà, xã
Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 27Hình 4.1 Rừng thứ sinh tại xã Mùn Chung - Tuần Giáo - Điện
Biên 35Hình 4.2 Phân bố đều cây tái sinh trên mặt đất ở khu vực nghiên cứu 44
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
vii
TrangBiểu đồ 4.1 Tỉ lệ % các loài, các chi thuộc các họ thực vật ở khu
Trang 13sự di dân tự do, khai thác quá mức, sự mở rộng đất nông nghiệp
Hiện nay, việc nghiên cứu bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái rừng đã
và đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại Vì rừng là nguồn tài nguyên
vô cùng quý giá Ngoài gỗ và rất nhiều lâm sản có giá trị, rừng còn có vai ừò tolớn trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, giữ cân bằng sinh thái và sự pháttriển bền vững của sự sống trên trái đất Không những thế rừng còn là noi bảotồn và cung cấp nguyên liệu về mặt di truyền cho sự tiến hoá của sinh giới Mấtrừng, làm suy giảm đa dạng sinh học, độ che phủ giảm, đất đai bị xói mòn, rửatrôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán, lũ lụt gia tăng ảnhhưởng trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là những vùng dân
cư sống ven rừng Các thảm họa thiên tai gần đây đã là sự cảnh tỉnh đối vớicông chúng nói chung và các nhà quản lý nói riêng về hậu quả nghiêm ừọngcủa việc chặt phá rừng và suy giảm đa dạng sinh học Vì vậy, việc phục hồi tàinguyên rừng đã và đang là vấn đề được toàn xã hội quan tâm
Ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau (chiến tranh, nhu cầu lâmsản ngày càng cao, việc chuyển đổi rừng sang đất nông nghiệp như là kết quảtất yếu của sự tăng dân số và đặc biệt là khai thác không kế hoạch) từ 14,3 triệu
ha rừng tự nhiên (độ che phủ 43%) năm 1943 giảm xuống còn 9,2 triệu ha (độche phủ 27,8%) năm 1993 (Trần Văn Con và cộng sự, 1991) [9] Trong những
Trang 14năm vừa qua diện tích rừng và độ che phủ đã tăng, nhưng chủ yếu là rừngtrồng, rừng tái sinh, rừng sau khai thác, rừng tre nứa với trữ lượng nhỏ, sảnphẩm rừng nghèo nàn nên chất lượng rừng giảm sút
Hiện nay, đã có nhiều giải pháp cụ thể trong việc bảo tồn và phục hồirừng, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo đảm an ninh môi trường vàphát triển kinh tế Tuy nhiên, các hệ sinh thái rừng ở nước ta rất đa dạng vàphức tạp, trong khi các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung tại một vùng haymột khu vực nhất định nào đó, việc nghiên cứu chưa thật sự đồng bộ và thiếubền vững Cho nên, tái sinh rừng tự nhiên vẫn đang là nội dung càn được tiếptục nghiên cứu
Mùn Chung là một xã thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Mặc dù códiện tích không lớn, nhưng do đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng, cho nên cónhiều kiểu rừng khác nhau với hệ thực vật rất đa dạng Đây được xem là địađiểm thuận lợi cho việc nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên, xây dựng các mô
hình phục hồi rừng Với những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tình Điện Biên.
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá năng lực tái sinh tự nhiên của các kiểu thảm thực vật phục hồi tựnhiên trong vùng nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ỷ nghĩa khoa học: Góp phàn bổ sung dẫn liệu về đặc điểm tái sinh tự
nhiên của thảm thực vật rừng ở khu vực nghiên cứu nói riêng và vùng Tây Bắcnói chung
Ỷ nghĩa thực tiễn: Ket quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc lựa
chọn giải pháp xúc tiến tái sinh rừng nhằm thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế vànâng cao chất lượng rừng phục hồi tự nhiên ở xã Mùn Chung, huyện Tuần
Trang 15Giáo, tỉnh Điện Biên
4 Đóng góp mói của đề tài
Một số dẫn liệu cập nhật về cấu trúc rừng tái sinh phục hồi tự nhiên tạikhu vực nghiên cứu
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một sổ khái niệm về tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái tạo,hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí cảmột quần lạc sinh vật trong tự nhiên Cùng với thuật ngữ này, còn có nhiềuthuật ngữ khác đang đươc sử dụng rộng rãi hiện nay Jordan, Peter và Allan(1998) sử dụng thuật ngữ “Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại củatoàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên.Schereckenbeg, Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ: “Rehabitilatic” đểchỉ sự phục hồi lại bằng biện pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhàkhoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng.Căn cứ vào nguồn giống, người ta chia thành 3 mức độ tái sinh như sau:
- Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo
giống trực tiếp
- Tái sinh bán nhân tạo: nguồn giống được con người tạo ra bằng cách
trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ tạo ra nguồn hạt choquá trình tái sinh tiếp theo
- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên.
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], tái sinh là một quá trình sinh họcmang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng
là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnhrừng Theo tác giả thì vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗgià cỗi Vì vây, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thànhphàn cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tác giả cũng khẳng định tái sinh
Trang 17rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng.
Bàn về vai trò của lớp cây tái sinh, Trần Xuân Thiệp (1996) [29] cho rằngnếu thành phần loài cây tái sinh giống với thành phần cây đứng thì đó là quátrình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác Ngược lại, nếu thànhphàn loài cây tái sinh khác với thành phần cây đứng thì quá trình diễn thế xảyra
Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình thiết lậplớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây conđược thiết lập đều có nguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường họptái sinh nhân tạo thì cây con cũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieotrước đó Nó được phân biệt với các khái niệm khác như trồng rừng là sự thiếtlập lớp cây con bằng việc trồng cây giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm
Vì đặc trưng đó nên tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của các
30 của thế kỷ XX trở lại đây
Từ những năm giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của ngành công nghiệphoá giấy, cho phép sử dụng một cách tổng họp các sản phẩm gỗ tự nhiên, nênnhiều diện tích rừng đã bị khai thác trắng để làm nguyên liệu Để phục hồi lạithảm thực vật và đáp ứng nhu cầu về gỗ đang ngày càng gia tăng, trong Lâmnghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng nhân tạocho năng xuất cao Nhưng sau thất bại trong tái sinh nhân tạo ở Đức và một sốnước ở vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu: “Hãy quay trở lạivới tái sinh tự nhiên” (Nguyễn Văn Thêm, 1992) [27]
Trang 18Đã có nhiều nghiên cứu hướng vào phân tích ảnh hưởng của các nhân tốsinh thái đến quá trình tái sinh rừng như: ánh sáng, độ ẩm đất, thảm mục, độdầy rậm của thảm tươi, khả năng phát tán hạt Trong đó ánh sáng (thông qua
độ tàn che của rừng) là nhân tố được đề cập nhiều nhất và được coi là nhân tốchủ đạo đóng vai trò điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên [8], [32], [38]
p w Richards [24] đưa ra nhận xét rằng ở rừng nhiệt đới có sự phân bố
số lượng cây trong các tầng rất khác nhau Phần lớn các loài cây ưu thế ở tầngtrên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít, thậm chí vắng mặt ở những tầngthấp hay cấp thể tích nhỏ Ngược lại, ở những rừng đơn ưu như rừng Moragongiũ ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và Trinidat, rừng Eusdezoxylon ởBomeo lại có đầy đủ đại diện ở các lớp kích thước Theo tác giả thì sự phân bốnày là do đặc tính di truyền của các loài cây, được thể hiện ở khả năng sinh sản
và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển Ông cũng cho rằng, sựthiếu hụt ánh sáng ừong rừng mưa nhiệt đới ảnh hưởng chủ yếu đến sự pháttriển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của mầm non thườngkhông rõ
H Lamprecht (1989) [41] căn cứ vào nhu cầu sử dụng ánh sáng ừong suốtđời sống của các loài cây, ông đã phân chia rừng nhiệt đới thành các nhóm cây
ưa sáng, nhóm cây nửa chịu bóng và nhóm cây chịu bóng
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta đều nhận thấy rằng: tầng cỏ vàcây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nhân tố dinh dưỡng khoáng củatầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Nhữngquần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, do đó thảm cỏ và thảmcây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh là khôngđáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ cóđiều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trởngại rất lớn cho tái sinh rừng (Nguyên Văn Thêm, 1992) [27]
Trang 19Phân chia các giai đoạn trong tái sinh tự nhiên đã được đa số các nhànghiên cứu thống nhất cho rằng, càn phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng vàcác nhân tố ảnh hưởng từ khi hình thành cơ quan sinh sản, sự hình thành hoa,quả, các nhân tố phát tán hạt, sự phù hợp của mùa vụ hạt giống với điều kiệnkhí hậu và sự phá hoại của động vật, côn trùng cho đến khi cây con phát triển
ổn định Đa số các nhà Lâm học của Liên Xô cũ đề nghị trong Lâm học chỉnghiên cứu quá trình tái sinh rừng bắt đầu từ khi cây có hoa, quả, thậm từ giaiđoạn cây mạ trở đi (Đinh Quang Diệp, 1993) [11]
Đối với rừng nhiệt đới, quá trình tái sinh tự nhiên có nhiều điểm khác biệt.Căn cứ vào đặc điểm tái sinh Van Steenis (1956) [42] đã phân biệt hai kiểu táisinh tự nhiên phổ biến: đó là tái sinh phân tán liên tục dưới tán của các loài câychịu bóng và kiểu tái sinh theo vệt ừên các lỗ trống của các loài cây ưa sáng.Ông gọi những loài cây tiên phong là các loài cây tạm cư, còn những loài câymọc sau là những loài cây định cư hay định vị
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới,đáng chú ý là công trình nghiên cứu của p w Richards (1964) [24], tác giảcuốn “Rừng mưa nhiệt đới” Nhận định về khả năng phục hồi rừng tự nhiên ôngcho rằng tất cả các quần xã thực vật do rừng mưa nhiệt đới sinh ra, từ thảm cỏ,thảm cây bụi, đến rừng thứ sinh nếu được bảo vệ, không chặt phá, đốt lửa vàchăn thả, theo thời gian, qua một số giai đoạn trung gian, chúng đều có thểphục hồi lại rừng cao đỉnh Các tác giả khác: G Baur [1], Trần Ngũ Phương(1970) [22], Thái Văn Trừng (1978) [35], A Bratawinata (1994) [39], M c.
Godt và M Hadley (1991) [40], cũng đã đưa ra nhận xét tương tự
Những kết quả nghiên cứu về thảm thực vật tái sinh trong đất sau nucmgrẫy cũng như trên đất rừng sau khai thác đều cho thấy tiềm năng tái sinh tựnhiên ừên đất rừng nhiệt đới là rất lớn và khả năng phục hồi tự nhiên thảm thựcvật là hiện thực [25], [26], [32], [38]
Trang 20Bernard Rollet (1974) có nhận xét: trong các ô tiêu chuẩn có kích thướcnhỏ (lm X lm, 1 m X 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít
có phân bố Poisson
Zlobin (1970) [43] đề ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn phân loại chất lượng và
dự báo khuynh hướng phát triển của cây con Aubreville A (1951), đưa ra lýthuyết tái sinh tuần hoàn thành bức khảm: tại một địa điểm và trong thời giannhất định xã họp của loài ưu thế sẽ được thay thế bằng xã hợp có thành phànkhác với xã họp cũ
Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955)xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, càn thiết bổ sungbằng ừồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh rừngnhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhậnđịnh dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trịkinh tế, do vậy phải đề ra các biện pháp lâm sinh cần thiết để bảo vệ và pháttriển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [7]
Trong nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới, nhiều nhà Lâm học cònđặc biệt quan tâm tới các phương thức tái sinh của các loài cây mục đích Thứ
tự của các bước xử lý cũng như hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinhrừng tự nhiên được G Baur (1976) tổng kết khá đày đủ trong tác phẩm “Cơ sởsinh thái học của kinh doanh rừng mưa” [1]
Trang 21báo cáo tài nguyên rừng hoặc báo cáo lâm học, khi điều tra thuộc miền BắcViệt Nam đã được Nguyễn Vạn Thường, 1991 [33] tổng kết và bước đầu đưa rakết luận hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liêntục, không mang tính chu kỳ Sự phân bổ cây tái sinh rất không đồng đều, sốcây mạ (cấp H < 20 cm) chiếm ưu thế rõ rệt so với số cây ở các cấp tuổi khác.Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh khuynh hướng lan ừàn và chiếm
ưu thế trong lớp cây tái sinh Trong các loài cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chỉchiếm một tỷ lệ rất thấp và phân bố tản mạn Thậm chí một số loài hoàn toànvắng bóng ở thế hệ sau những ừạng thái tự nhiên Trong thành phàn cộng tác táisinh, tác giả cho rằng bất kỳ ở đâu có hiện tượng tái sinh tự nhiên thì ở đó có sựsống chung của những cá thể khác loài, khác chi, thậm chí cả khác họ Dựa vàothành phàn loài cây mục đích chất lượng cây con, tác giả đã xây dựng biểuđánh giá tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới theo tiêu chuẩn 5 cấp dựa theo số câynon/ha: rất tốt (>12.000 cây/ha), tốt (8.000-12.000 cây/ha), trung bình (4.000-8.000 cây/ha), xấu (2.000-4.000 cây/ha), rất xấu (< 2.000 cây/ha)
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], tái sinh là một quá trình sinh họcmang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện của tái sinh là sự xuất hiệnmột thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng Cáccây con này dần dần sẽ thay thế vị trí của cây già cỗi (theo thời gian) hay đâychính là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây
gỗ Đồng thời, trong quá trình tái sinh tự nhiên các kiểu phụ, kiểu ừái không cónhiều biến đổi cụ thể ừong hình thái cấu trúc nhưng lại có biến đổi về tỷ lệ vàthành phàn cá thể các loài cây ừong quần xã thực vật do mỗi loài cây có chu kỳphát dục riêng biệt, có thời gian ra hoa, kết quả, có tập tính truyền giống và lantruyền khác nhau
Đã có rất nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về sự tái sinhcủa thảm thực vật David T A w và Richards p w (1961) khi nghiên cứu
Trang 22về thảm thực vật rừng nhiệt đới khẳng định: Tình hình tái sinh rất thưa thớtdưới tán rừng của những loài cây đang chiếm ưu thế ở các tầng ừên Các côngtrình nghiên cứu của Richards p w (1952); Barnard, Rollet (1974, 1996), vềphân bố cây tái sinh rừng nhiệt đới, đã cho rằng: trong các ô có kích thước nhỏ(lm X lm) và (lm X l,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít códạng phân bố Poisson Zlobin (1970) [43] đề ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn phânloại chất lượng và dự báo khuynh hướng phát triển của cây con Aubreville A.(1951), đưa ra lý thuyết tái sinh tuần hoàn thành bức khảm: tại một địa điểm vàừong thời gian nhất định xã hợp của loài ưu thế sẽ được thay thế bằng xã hợp
có thành phàn khác với xã hợp cũ
Việc phân chia các giai đoạn trong quá trình tái sinh rừng, nhiều nhà khoahọc cho rằng cần phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng từ khi hình thành cơquan sinh sản cho đến khi cây con phát triển ổn định Một số tác giả khác lại đềnghị nên nghiên cứu từ giai đoạn ra hoa, mùa vụ hạt giống, sự phù họp của mùa
vụ hạt giống với điều kiện khí hậu
Trần Đình Lý và cộng sự (1995) [19], đánh giá năng lực tái sinh thảmthực vật rừng Việt Nam Những năm gần đây, diện tích rừng bị thu hẹp và suythoái do nhiều nguyên nhân, nên những công trình nghiên cứu về quá trình táisinh phục hồi rừng rất phong phú Hầu hết các công trình nghiên cứu đều chorằng số lượng và chất lượng của lớp tái sinh tự nhiên trong giai đoạn đầu củaquá trình phục hồi thảm thực vật rừng, các trạng thái IB, Ic, IIA, IIB đều có thểxếp vào đối tượng có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng
Vũ Tiến Hỉnh (1991) [12], nghiên cứu đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiêncho thấy quá trình tái sinh là liên tục và tuổi rừng càng nhỏ thì số cây càngtăng
Thái Văn Trừng (1998) [36], cho rằng: quá trình tái sinh tự nhiên phụthuộc rất nhiều vào yếu tố ánh sáng chiếu xuống trái đất, đặc biệt giai đoạn cây
Trang 23mạ, cây con trong các trạng thái thảm thực vật Những cây mạ, cây non chịuđược bóng trong giai đoạn còn nhỏ dưới tán rừng thì mới có đủ các cấp tuổi củaloài đó.
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1994) [16], đánh giá quá trình tái sinh tựnhiên phụ thuộc vào 3 yếu tố chính sau đây: 1 Nguồn hạt giống, khả năng pháttán hạt giống ừên một đon vị diện tích; 2 Điều kiện để hạt nảy mầm bén rễ(nhiệt độ, độ ẩm ); 3 Điều kiện để cây mạ và cây con sinh trưởng và phát triển(đất, nước, ánh sáng )
Trong quá trình nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới, nhiều nhàLâm học còn đặc biệt quan tâm tới phương thức tái sinh của các loài cây mụcđích Nguyễn Văn Thêm (1992) [27], nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên của
Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) trong rừng kín ẩm thường xanh và nửa
rụng lá nhiệt đới mưa mùa ở Đồng Nai khẳng định: Tái sinh theo lỗ trống làkiểu phổ biến của Dầu song nàng Bên cạnh đó còn có nghiên cứu của PhạmĐình Tam (1987) về tái sinh các lỗ trống ở rừng thứ sinh vùng Hương Sơn (HàTĩnh) cũng nhận xét: số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗtrống khác nhau, lỗ ữống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn nhữngnơi kín tán
Nguyễn Thế Hưng (2003) [14], nghiên cứu tái sinh của thảm thực vật câybụi tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) có đánh giá tái sinh trong các trạng thái thảmthực vật: Còn hầu hết các trạng thái thảm thực vật có năng lực tái sinh ở mứctrung bình đến khá, trừ thảm cây bụi thấp Cây gỗ tái sinh có mật độ 4513-5401cây/ha Chủ yếu là cây gỗ tái sinh bằng chồi, thành phàn loài và cấu trúc đơngiản, ít loài có giá trị kinh tế
Phạm Ngọc Thường (2002) [32], đánh giá quá trình tái sinh trên đất saunương rẫy cho rằng: Mỗi khoảng thời gian phục hồi, thảm thực vật tái sinh cóđặc trưng về tổ thành loài cây, mật độ, độ che phủ và chất lượng cây tái sinh
Trang 24khác nhau Chỉ tiêu để đánh giá chất lượng cây tái sinh thể hiện trên 3 phươngdiện: kỹ thuật, kinh tế và sinh vật học.
Lê Đồng Tấn và cộng sự (2005), nghiên cứu về tái sinh tự nhiên dưới tánrừng thứ sinh ở VQG Tam Đảo, đã thống kê được 53 loài cây tái sinh, trong đó
có 26 loài là cây gỗ, đạt chiều cao sinh trưởng 6 cm trở lên; 17 loài cây bụi và
gỗ nhỏ Thành phàn loài chủ yếu gồm: Trọng đũa (Ảrdisia crenata), Lấu (Psychotrìa rubra), Ba chạc (Euodỉa lepta), Trám (Canarium album), Re (Phoebe ), Chẹo {Engelhartia roxburghiana), Bời lời (Litsea umbellata) Mật
độ cây tái sinh khá cao, dao động ừong khoảng từ 16230-21030 cây/ha, trungbình 18165 cây/ha Tỷ lệ cây chồi dao động trong khoảng 17,39-46,15% thấphơn so với tỷ lệ cây hạt 53,85-82,61% Đồng thời cũng chỉ ra rằng, do thànhphần chủ yếu là cây bụi và cây tiên phong ưa sáng, nhưng lại bị sinh trưởngừong điều kiện bị che bóng nên chất lượng tái sinh không cao Tỷ lệ cây tốt32,11%, cây trung bình 26,58% và cây xấu 41,31%
Nhiều tác giả khác cũng có những nghiên cứu về đặc điểm lớp tái sinh tựnhiên trong các trạng thái thực bì khác nhau ở một số vùng sinh thái đồi núi củaViệt Nam như: Nguyễn Duy Chuyên (1995) [7], Nguyễn Hồng Quân (1984)[23], Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1995) [31], Hà Văn Tuế & nnk (1995) [38].Đinh Quang Diệp (1993) [11] nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp vùngEasup - Đắc Lắc kết luận độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dày đặc của thảmtươi, điều kiện lập địa, lửa rừng là những nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến sốlượng và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng, trong đó lửa rừng là nguyênnhân gây nên tái sinh cây đời chồi, về qui luật phân bố cây trên mặt đất, tác giảnhận định khi tăng diện tích lên thì lớp cây tái sinh có phân bố theo cụm
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1994) [16] cho rằng nghiên cứu quá trìnhtái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để hướng sự canthiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tuỳ thuộc vào mức độ tác
Trang 25động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh, với mức cao nhất làtái sinh nhân tạo Theo tác giả thì quá trình tái sinh tự nhiên tuỳ thuộc vào 3 yếu
tố chính sau:
- Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt trên một đơn vị diện tích
- Điều kiện để hạt có thể nảy mầm, bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm, thảm tươi)
- Điều kiện để cây mạ, cây con sinh trưởng và phát triển: đất, nước, ánhsáng
Nguyễn Duy Chuyên (1995) [7] cho thấy nhiều loài cây tái sinh tự nhiêndưới tán rừng có thể được biểu diễn bằng hàm toán học Qua nghiên cứu chothấy ở diện tích nhỏ (lm X lm), (2m X 2m) phần lớn cây tái sinh tự nhiên ở khuvực sông Hiếu (Hà Tĩnh) có phân bố cụm, ở trạng thái rừng trung bình (IHA2)cây tái sinh có phân bố Poisson
Trần Đình Lý và các cộng sự (1995) nghiên cứu tái sinh tự nhiên thảmthực vật rừng tại đảo Kế Bào, Lâm trường Hoành Bồ (Quảng Ninh) Nghiêncứu khả năng tái sinh tự nhiên, diễn thế của thảm thực vật trên đất sau nươngrẫy tại Chiềng Sinh (Sơn La) Kết quả nghiên cứu đã đề xuất quy phạm khoanhnuôi phục hồi rừng tự nhiên Kết quả đề tài xây dựng quan niệm về phục hồirừng và cơ sở lựa chọn đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng dựa trên kết quảnghiên cứu ở các vùng sinh thái
Trần Xuân Thiệp (1996) [29] căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xâydựng bảng đánh giá tái sinh cho các ừạng thái rừng (theo hệ thống phân loạicủa Loschau 1961-1966): tốt, trung bình, xấu Phân cấp chiều cao cây tái sinh
để điều tra gồm 8 cấp, về phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao có sựtương đồng giữa các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Mayer từ cấp I- V(< 300 cm), cấp VI có chiều cao > 300 cm do tính cộng dồn đến các cây cóchiều cao tương ứng với đường kính dưới 10 cm nên không thể hiện quy luậtnày nữa
Trang 26Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1995) [31] cũng đã đưa ra kết luận tương tự vềquy luật phân bố này đối với lớp cây tái sinh tự nhiên ở vùng núi cao Phan SiPan.
Lâm Phúc Cố (1996) [8] nghiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở PúngLuông, Mù Căng Chải, tinh Yên Bái đã phân chia thành 5 giai đoạn và kết luậndiễn thế thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông theo hướng đi lên tiến tới rừngcao đỉnh Tổ thành loài tăng dần theo các giai đoạn phát triển, từ 4 loài ở giaiđoạn I (dưới 5 năm), tăng lên 5 loài ở giai đoạn (trên 25 năm) Rừng phục hồi
có 1 tàng cây gỗ giao tán ở giai đoạn 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4
Lê Đồng Tấn (2000) [25] nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên saunương rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lượng cây/ô tiêu chuẩn, mật độ câygiảm dần từ chân đồi lên sườn và đỉnh đồi Mật độ cây giảm khi độ dốc tăng
Tổ họp loài cây ưu thế trên cả 3 vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau, sựkhác nhau chính là hệ số tổ thành của các loài trong tổ họp đó, tính chất nàycàng thể hiện rõ ừên cùng một địa điểm (một khu đồi) Độ cao có ảnh hưởnglên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm thực vật Thoái hoá đất
có ảnh hưởng đến: mật độ cây, số lượng loài cây và tổ thành loài cây
Phạm Ngọc Thường (2002) [32] nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên và
đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở TháiNguyên và Bắc Kạn Tác giả đã rút ra một số kết luận: Quá trình phục hồi rừngsau nương rẫy chịu tác động tổng họp của các nhân tố sinh thái: nguồn giống,địa hình, thoái hoá đất và con người Khoảng cách rừng tự nhiên gieo giống đếnđám nương càng gần thì khả năng gieo giống càng thuận lợi Ở chân đồi sốloài, mật độ cây gỗ tái sinh là lớn nhất và ít nhất là ở đỉnh, độ dốc càng lớn thìquá trình phục hồi rừng càng khó khăn Mật độ cây gỗ giảm dần theo thời gianphục hồi rừng
Lê Ngọc Công (2002) [10] trong nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng
Trang 27khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho rằng ở đoạn đàu củaquá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1-6 năm) mật độ cây tăng lên, sau
đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập
cư và quá trình đào thải của các loài cây Nhận xét được rút ra từ kết quảnghiên cứu cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu của các tác giả Lê ĐồngTấn [25], Phạm Ngọc Thường [32]
Tóm lại, ừong quá trình tái sinh tự nhiên của các xã họp tự nhiên nguyênsinh hay thứ sinh có hai phương thức:
+ Thứ nhất, đó là phương thức tái sinh liên tục dưới tán rừng kín rậm củanhững loài cây chịu bóng mọc chậm Phương thức tái sinh này thường thưa thớt
và yếu ớt vì thiếu ánh sáng Chỉ một số ít cây thoát khỏi giai đoạn đầu còn lại
đa số phải qua giai đoạn ức chế kéo dài chờ cơ hội vươn lên tầng cao khi cóđiều kiện sinh thái thích họp
+ Thứ hai là phương thức tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ ừống ừong tánrừng của các loài cây ưa sáng mọc nhanh Dưới tán kín hay thưa của chúng,những loài cây định vị trong thành phần xã họp cũ thường đòi hỏi bóng trong 1-
2 năm đầu, sẽ mọc sau và dần dần vươn lên thay thế những loài cây tiên phongtạm thời có tuổi thọ ngắn Những cây tiên phong sẽ tự tiêu vong, hoặc sẽ bị tiêudiệt bởi tán kín rậm của các loài cây định vị mọc sau, chỉ trừ một số ít loài câytiên phong định cư có tuổi thọ dài có thể tồn tại ừong thảnh phần của các xãhọp đã tái sinh tự nhiên
Yếu tố chủ đạo đối với quá trình tái sinh dưới tán rừng là ánh sáng, cònđối với quá trình tái sinh trên các lỗ ừống là mức độ thoái hoá của đất
Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lýrừng bền vững theo mục tiêu đề ra, tiết kiệm được thời gian, tiền của khi có sựhiểu biết đầy đủ về bản chất qui luật của hệ sinh thái rừng, trước hết là quá trìnhtái sinh tự nhiên [28], [31]
Trang 28Qua tổng quan nghiên cứu được trích dẫn ở trên cho thấy:
Hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu tình hình tái sinh dưới cácừạng thái rừng tự nhiên (số lượng, mật độ cây tái sinh, đặc điểm lớp cây tái sinh
và vai trò của ánh sáng đối với quá trình tái sinh tự nhiên) mà chưa đề cập đếntái sinh ở các ừạng thái thực bì khác nhau như: thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứsinh nhân tạo (rừng sau nương rẫy, sau khai thác kiệt) Đây là vấn đề càn đượctiếp tục nghiên cứu
Những kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng ừênthế giới cho chúng ta những hiểu biết về các phương pháp nghiên cứu, quy luậttái sinh tự nhiên ở một số vùng Đặc biệt là sự vận dụng các hiểu biết về quyluật tái sinh tự nhiên để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lýtài nguyên rừng bền vững Tuy thiên, thảm thực vật rừng nhiệt đới rất đa dạng
và phức tạp, đời sống của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên ở từng vùng địa lý
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của các hệ sinh tháirừng ở các vùng địa lý khác nhau là cần thiết
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
2.1 Đổi tượng nghiên cứu
Một số thảm thực vật rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Trang 292.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm thành phàn loài cây tái sinh
- Nghiên cứu đặc điểm tổ thành loài cây tái sinh
- Nghiên cứu chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh
- Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
+ Nghiên cứu phân bố số cây theo cấp chiều cao
+ Nghiên cứu phân bố cây tái sinh trên mặt đất
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố địa hình: vị trí địa hình, độ dốc,hướng phoi
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của sự thoái hoá đất
+ Nghiên cứu vai ừò của động vật và ảnh hưởng của sự chăn thả
+ Nghiên cứu ảnh hưởng do tác động của con người
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp phục hồi rừng
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập các dữ liệu vềphân loại (thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm củamẫu vật ở trạng thái tươi, và các đặc điểm khác); thu thập số liệu về đa dạngsinh học (số lượng, chất lượng, diễn biến về số lượng và chất lượng), tình trạngsuy thoái trong những vùng tiểu sinh thái cụ thể về các loài ở nơi nghiên cứu
Để làm tốt công tác điều ừa thực địa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theophương pháp của Thái Văn Trừng (1978) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) đểđiều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC); Xác định độ tàn che theo phươngpháp của Nguyễn Văn Thêm (2002); nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo côngthức của Nguyễn Hải Tuất (1990); đo chiều cao cây tái sinh theo 8 cấp chiều
Trang 30cao của Trần Đình Lý (2003).
Lập tuyển điều tra và thu thập dữ liệu: Điều tra theo tuyến để xác định sự
phân bố của các đối tượng nghiên cứu, dự kiến địa điểm bố trí ô tiêu chuẩn.Tuyến điều tra được thiết lập dựa trên các thông tin về thảm thực vật (bản đồhiện trạng rừng, bản đồ qui hoạch các phân khu chức năng), các thông tin từban quản lý và cán bộ chuyên môn của khu vực nghiên cứu, Các tuyến điềutra đi qua tất cả các trạng thái rừng, các dạng địa hình, đai độ cao, các trạng tháirừng bị phá huỷ hay suy thoái do tác động của con người Tuyến điều tra đượcxác định theo 2 hướng: song song và vuông góc với đường đồng mức; chiềurộng tuyến là 10 m; chiều dài tuyến tùy thuộc vào địa hình cho phép nhưng ítnhất là 500 m; số lượng tuyến điều tra cho mỗi đối tượng ít nhất là 3 tuyến;khoảng cách giữa các tuyến là 50-100 m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần
xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí các ô tiêu chuẩn và ô dạng bản để thu thập sốliệu, số liệu càn phải được thu thập ừên một diện tích đủ lớn gọi là ô tiêu chuẩn(OTC) Việc áp dụng phương pháp điều tra theo OTC đang được áp dụng rộngrãi ừên thế giới cũng như ừong nước [14], [18], [25]
Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới, để xác định diện tích OTC,H.Lamprecht (1989) [41] đã tiến hành điều ừa số lượng loài cây trên diên tích ô
cơ sở 400 m2, sau đó ghép dàn các ô cho đến khi không có loài cây mới xuấthiện Tổng diện tích của các ô là diện tích tối thiểu của OTC Phương pháp nàycho phép xác định diện tích của OTC một cách chính xác, đặc biệt là đối vớinhững kiểu thảm thực vật có thảnh phàn loài cây và địa hình đơn giản, còn đốivới những kiểu thảm có thành phần loài và điều kiện địa hình phức tạp nhưrừng nhiệt đới thì sẽ khó áp dụng hơn
Từ năm 1930, ở Malaysia người ta đã áp dụng phương pháp điều ừa OTCvới diện tích đo đếm là 4 m2 (2 m X 2 m) Đen năm 1948, London đã phát triểnphương pháp này, sau đó là Barnard (1950) tiếp tục hoàn thiện cho đến 1960
Trang 31Wyatt - Smith bổ sung có sửa đổi thành phương pháp điều tra chuẩn đoán.Phương pháp này được áp dụng một cách rộng rãi trong việc đánh giá hiệu quảcác phương thức xử lý lâm sinh trong kinh doanh rừng ở vùng nhiệt đới, ừong
đó đối tượng chính là đánh giá lớp cây tái sinh Theo phương pháp này, để đánhgiá hiện trạng lớp cây tái sinh cần phải mở các tuyến điểu tra Trên tuyến điểutra đặt các OTC theo cự ly nhất định (thường là 100 m) để thu thập số liệu.Trên tuyến điều tra, thống kê tất cả cây gỗ có đường kính > 5 cm số liệuđược ghi chép theo biểu 1
Biêu 1 Điêu tra thực vật theo tuyên
Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và thu thập dữ liệu: Mỗi ừạng thái thảm thực vật
đặt ngẫu nhiên 10 OTC; mỗi OTC có diện tích 400 m2 (20m X 20m), trong mỗiOTC thiết lập các ô dạng bản có diện tích 4 m2 (2 m X 2 m) Trong mỗi ô dạngbản, đo đếm các chỉ tiêu ở tất cả các cá thể có đường kính ngang thân từ 5 cmtrở xuống và đánh giá chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo hình thái vàsinh lực phát triển rồi phân chia theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu số liệu đượcghi chép theo biểu 2
Trang 32các phương pháp thống kê sinh học.
Xác định cây chồi dựa vào vết sẹo trên gốc cây
Chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo hình thái và sinh lực pháttriển và phân chia theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu Cây tốt là cây có thânthẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng, phát triển tốt, không sâu bệnh Cây trungbình là cây không cong queo, không sâu bệnh, không gẫy cành, cụt ngọn nhưngkhả năng sinh trưởng kém hơn, có thể còn đang bị chén ép bởi tầng cây bụi vàthảm tươi Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng, phát triểnkém, sâu bệnh, bị chèn ép bởi cây bụi và thảm tươi
Xác định hệ số tổ thành loài cây tái sinh được tính theo công thức:
Xác định mật độ cây: Được tính trung bình trên OTC sau đó quy ra sốcây/ha theo công thức:
N= -X 10.000
s Trong đó: n là số lượng cây
Trang 33s là diện tích ô điều tra.
Xác định sự phân bố cây tái sinh theo các cấp chiều cao: số cây tái sinhđược tính cho các cấp chiều cao sẽ phân chia theo 8 cấp như sau:
Cấp I: chiều cao < 20 cm
Cấp II: chiều cao từ 21 -50 cm
Cấp III: chiều cao từ 51 -100 cm
Cấp IV: chiều cao từ 101-150 cm
Cấp V: chiều cao từ 151 -200 cm
Cấp VI: chiều cao từ 201-250 cm
Cấp VII: chiều cao từ 251 -300 cm
Cấp VIII: chiều cao >300 cm
Kết quả được thể hiện bằng đồ thị
Xác định phân bố cây tái sinh ừên mặt đất: Nghiên cứu phân bố cây táisinh theo mặt phẳng nằm ngang (phân bố khoảng cách từ một điểm chọn ngẫu
nhiên đến các cây lân cận) Áp dụng tính chất bằng nhau giữa số bình quân (X)
và phương sai (S”2) để xác định kiểu phân bố Theo phương pháp này càn phảitính:
Trang 34Chương 3 ĐIỀU KIỆN Tự NHIÊN - XÃ HỘI
CỦA KHU Vực NGHIÊN cứu
3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu [21]
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích
Xã Mùn Chung là 1 trong 18 xã của huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên cótọa độ địa lý là 21°45’28” độ vĩ Bắc và 103°23’28” độ kinh Đông
Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 592 m
+ Diện tích 42,4 km2
+ Ranh giới cụ thể :
- Phía Tây Bắc giáp Huyện Tủa Chùa
- Phía Đông, Đông Bắc giáp Xã Phình Sáng
- Phía Đông giáp Xã Pú Nhung
- Phía Nam giáp xã Mường Thín và Quài Nưa
- Phía Tây giáp xã Mường Mún
Khu vực nghiên cứu có các loại đất chủ yếu sau: Đất pheralit vàng đỏ và
đỏ vàng phát triển trên nền phiến thạch, đá vôi thuộc nhóm đá mẹ Macma axít;đất đen là sản phẩm phong hóa của đá vôi hoặc tích đọng ở địa hình bằng,trũng, đất có độ phì, tập trung ở những xã vùng thấp của huyện Loại đất nàyrất thích hợp trồng cây lưorng thực, thực phẩm (ngô, đậu, đỗ, lạc) và các câycông nghiệp ngắn ngày (bông, gai), cây công nghiệp (chè, cà phê, quế, hồi,trẩu, thảo quả)
Trang 35Địa hình xã Mùn Chung hiểm trở và đa dạng, đa số núi chạy theo hướngTây Bắc - Đông Nam độ dốc trung bình 12-20°.
Độ cao trung bình so với mặt biển là 592 m
3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
3.1.3.1 Khi hậu
Khí hậu khu vực nghiên cứu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa Mùa hèchịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam (gió Lào) khô và nóng, không có bãolớn Hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô từtháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình 18,2°c, cao nhất là 36-
37°c, thấp nhất xuống đến 0°c Độ ẩm không khí trung bình trong năm87%, độ ẩm thấp nhất trong năm 22%, lượng bốc hơi cả năm 514 mm Lượngmưa phân phối không đều ừong năm, mùa mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 7.Lượng mưa trung bình cả năm là 1.805 mm, có ngày lượng mưa lớn nhất 272mm
Giông là hiện tượng tương đối phổ biến ở khu vực nghiên cứu, thường tậptrung nhiều từ tháng 4 đến tháng 8, nhất là các tháng đầu mùa mưa Mưa giông
có cường độ khá lớn, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho cây trồng Mưagiông đầu mùa mang một lượng Amoniac và Nitơrat cung cấp nguồn phân bóncho cây trồng song mưa giông cũng có những mặt bất lợi, cường độ mưa giônglớn làm tăng độ xói mòn, sạt lở đất tại các đồi núi, cuốn trôi những lớp phù samàu mỡ, hơn nữa trong cơn giông thường đi kèm theo lốc xoáy, có tốc độmạnh làm đổ cây cối, nhà cửa, gây thiệt hại nặng nề cho tài sản của nhân dântrong khu vực xảy ra giông
Ở khu vực nghiên cứu sương muối xuất hiện không nhiều song đã ảnhhưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là gây tác hại cho các loại câynhiệt đới ưa nóng và khó khăn cho sản xuất vụ đông xuân Ở những nơi có độcao 1.500 m tần suất xuất hiện sương muối lớn, trung bình từ 9-10 ngày/năm
Trang 36Ở những nơi thấp hơn, tần suất xuất hiện sương muối nhỏ, khoảng từ 1-2 ngày/năm Ngoài ra ở khu vực nghiên cứu thường có nhiều ngày sương mù, trungbình từ 80-110 ngày/năm Sương mù ở Tuần Giáo chủ yếu là dạng sương mùbức xạ, thường xảy ra ương các tháng thu đông (từ tháng 10 đến tháng 3 nămsau) Tháng có mật độ sương mù dày nhất là tháng 1 hoặc tháng 12, trung bình10-19 ngày/tháng Tháng có mật độ thấp nhất là tháng 5 hoặc tháng 6 (khoảng3,5 ngày).
Khu vực nghiên cứu thuộc lưu vực sông Đà, gồm có sông Nậm Mức làmột nhánh của sông Đà chảy cách vùng khoảng 6 km về phía Tây, các suốitrong vùng đều là chi lưu của sông Nậm Mức Suối Nậm Mu là dòng suối lớnnhất và là miền thoát nước chính của vùng Suối có lòng rộng hàng chục mét,phía hạ nguồn nước khá sâu, ừong mùa khô cũng đạt 1-2 m, bè mảng nhỏ cóthể hoạt động được Phía thượng nguồn, đoạn từ Rạng Đông trở lên, nước nông0,2-0,5 m Suối Nậm Pay là một nhánh lớn của Nậm Mu, suối bắt nguồn từPhương Mun ở phía đông điểm quặng Hán Chờ, chảy theo hướng Nam - TâyNam qua Pá Tòng khoảng 2 km thì nhập vào dòng Nậm Mu Suối khá dốc,nhiều thác cao, lòng rộng 5-10 m, về mùa khô ít nước có thể lội qua, mùa mưathường có lũ lớn nước sâu và chảy xiết rất nguy hiểm khi vượt suối Hiện naytrên các sông và suối này đều đã có các công trình thủy điện
3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
Trang 37+ Đất phi nông nghiệp : 124,17 ha trong đó:
- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp : 0,03 ha
- Đất phát triển hạ tầng, cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã : 32,8ha
- Đất ở tại nông thôn : 49,65 ha
- Đất xây dựng trụ sở, cơ quan : 0,31 ha
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng : 8,56 ha
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối: 27,12 ha
- Đất phi nông nghiệp khác : 5,70
Trang 38Hình 3.1 Bản đổ thảm thực vật lưu vực đầu nguồn sông Đà,
BẢN ĐÓ THẢM THỰC VẬT Lưu vực ĐẨU NGUỒN SÕNG ĐÀ XÃ MỦN CHUNG - H TUẤN
GIAO - T ĐIỆN BIÊN
Trang 393.2 Điều kiện xã hội khu yực nghiên cứu [21]
Theo số liệu thống kê năm 2013 ở xã Mùn Chung có 11 thôn/bản với tổng
số dân là 3.619 người trong đó có 1.786 nam và 1.833 nữ sống trong 867 hộ giađình Noi đây tập trung 8 dân tộc cùng chung sống Dân tộc Thái chiếm tỷ lệnhiều nhất với 62,95%, tiếp đến là dân tộc Mông 20,01%; dân tộc Khơ Múchiếm 13,44% ; dân tộc Kinh chiếm 3,49% ; dân tộc Kháng chiếm 0,05% ; dântộc Mường chiếm 0,02%, XTiêng chiếm 0,02%, Hà Nhí chiếm 0,02% Trongnhững năm qua, do thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình nên mức độgia tăng tự nhiên đã ở mức 1,55% Mật độ dân số bình quân đạt 85,14người/km2
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính chiếm vị trí quan ừọngtrong cơ cấu kinh tế của xã Mùn Chung, trong nông nghiệp trọng tâm là trồngtrọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm
3.2.2.2 Chăn nuôi
Chăn nuôi đang ngày càng được đầu tư phát triển cả về số lượng và chấtlượng theo hướng sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, phương pháp chăn nuôi chưamang tính công nghiệp, chưa có quy mô trang trại mà chủ yếu vẫn theo hình
Trang 40thức hộ gia đình là chủ yếu để giải quyết sức kéo cho sản xuất nông nghiệp vànhu cầu thực phẩm cho nhân dân địa phương Cụ thể: theo số liệu năm 2013 thì
số lượng trâu là 982 con, bò là 147 con, lợn là 1847 con, dê là 226 con, gia cầm
là 31,520 nghìn con trong đó gà là 26,560 nghìn con
3.2.3 Văn hóa, y tế, giáo dục
3.2.3.1 Văn hóa
Trên toàn bộ địa bàn xã đã được phủ sóng đài truyền thanh, truyền hình,điện lưới quốc gia Mạng lưới viễn thông cũng từng bước phát triển, mở rộngđến các xã đã tạo điều kiện trao đổi thông tin, cập nhật tin tức được thuận lợi,nhanh chóng
Đặc điểm văn hóa trong xã là văn hóa mang tính cộng đồng, bản sắc địaphương của một vùng núi ở Tây Bắc Đe phát triển cũng như duy trì bản sắcvăn hóa của địa phương, thời gian qua, chính quyền các cấp cũng như ngànhvăn hóa đã quan tâm đầu tư cho các hoạt động văn hóa thông tin
3.2.3.2 Ytể
Hiện tại, trạm y tế đã có đầy đủ các phòng chức năng, mạng lưới y tếdần dần được bổ sung hầu hết đã có bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ sinh và các cộng tácviên thôn bản Trang thiết bị để phục vụ cứu chữa bệnh nhân còn thiếu và chưađồng bộ Trạm xá chỉ đáp ứng được các bệnh nhân nhẹ và các bệnh thôngthường còn các bệnh nhân nặng chỉ sơ cứu ban đầu và chuyển lên bệnh việntuyến trên
Công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình đã có hiệu quả đến nay tỉ lệtăng dân số tự nhiên là 1,55%
3.2.3.3 Giáo dục
Xã Mùn Chung có đủ các loại trường học từ mầm non đến THPT Hầu hếtcác trường được xây dựng kiên cố và bán kiên cố