Chính những hạn chế về nội dung và phương pháp dạy học đã kìm hãm, gây khó khăn cho việc GDKNS cho HS.Bằng việc sử dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học thích hợp trong giảng dạy ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC• • • •
C huyên ngành: P hương pháp dạy học m ôn G iáo dục công dân
ở trường T rung học phổ thông
Ngưòi hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Quang Thuận
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài khóa luận, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô và bạn bè Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tói thầy giáo - ThS Nguyễn Quang Thuận, người đã định hướng cho em nghiên cứu đề tài, cung cấp cho em những kiến thức lý luận, thực tiễn cùng với những kinh nghiệm quý báu, nhiệt tình hướng dẫn, động viên khích lệ trong suốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thành khóa luận
Tôi cũng xin gửi lòi cảm ơn đến các thầy cô giáo, các em học sinh Trường THPT Cao Bá Quát, Hà Nội và tất cả các bạn sinh viên đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và khóa luận của mình
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự đóng góp của thầy cô cùng các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thảnh dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Quang Thuận, tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kì công trình nghiên cứu nào của các tác giả khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 C ơ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DẦN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 8
1.1 Cơ sở lý luận của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT 8
1.2 Cơ sở thực tiễn của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Chương 2 QUY TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THựC HIỆN GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT 33
2.1 Quy trình thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 33
2.2 Điều kiện để thực hiện tốt quy trình thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh IH PT trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD 1 0 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 44
Chương 3 THựC NGHIỆM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CAO BÁ QUÁT, HÀ N Ộ I 45
3.1 Lập kế hoạch thực nghiệm 45
3.2 Tiến hành thực nghiệm 46
3.3 Kết quả thực nghiệm 62
3.4 Một số đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho HS THPT qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” trong chương trình Giáo dục công dân lớp 10 65
TIÊU KẾT CHƯƠNG 3 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ý nghĩa cuộc sống không phải nó đem đến cho ta điều gì, mà là ở chỗ ta
có thái độ với nó ra sao; Không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta mà là ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào Nếu con người có kiến thức, có thái
độ tích cực mới đảm bảo 50% sự thành công, 50% còn lại là những kỹ năng cần cho cuộc sống mà ta thường gọi là kỹ năng sống
Không thể phủ nhận rằng kỹ năng sống đóng vai trò rất quan trọng trong thời đại ngày nay Thời đại của sự hội nhập và toàn cầu hóa trên thế giới kéo theo sự phát triển và tiến bộ vượt bậc của nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội đã và đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn đối với đội ngũ người lao động Họ không chỉ cần có kiến thức chuyên môn vững vàng mà còn phải có những kỹ năng sống cần thiết như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định Những kỹ năng này không chỉ giúp công việc hiệu quả hơn mà còn giúp họ có cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc.Thực tế cũng chỉ ra những hệ quả tiêu cực của việc thiếu kỹ năng sống của học sinh, sinh viên hiện nay Nhiều bạn cảm thấy lúng túng trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè, với xã hội, không thể ứng phó được với những
áp lực trong cuộc sống hay dễ bị lôi kéo, kích động vào những tệ nạn xã hội Nhiều người có cuộc sống khép kín với thực tại, sống chìm trong thế giới ảo,
ít tham gia vào các hoạt động tập thể, ít khám phá và thể hiện khả năng tiềm
ẩn của mình, khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng xã hội Do đó, việc giáo dục kỹ năng sống là một điều cần thiết, đặc biệt là với thế hệ trẻ, là những học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường
Chính bởi vậy, giáo dục kỹ năng sống đã và đang được cả thế giới quan tâm và bàn luận Trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi ngưòi họp tại Senegal (2000), Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó
Trang 7mục tiêu 3 nói rằng: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp
cận chương trình giáo dục kỹ năng sổng phù hợp”, còn mục tiêu 6 yêu cầu
“Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học” Giáo dục kỹ năng sống cho người học là một nhiệm vụ quan ttọng đối
với giáo dục các nước
Ở nước ta trong thòi gian gàn đây, giáo dục phổ thông đang đổi mói mạnh mẽ theo hướng tiếp cận kỹ năng sống với bốn trụ cột đó là: “Học để biết, Học để làm, Học để khẳng định mình và Học để chung sống” Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống
ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục phòng chống tai nạn thương tích Ngoài ra, các nội dung giáo dục kỹ năng sống cũng được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục có tiềm năng
Môn GDCD là một trong những bộ môn quan trọng ở trường THPT có khả năng tích họp những kỹ năng cần thiết để các em bước vào cuộc sống Nội dung môn GDCD rất đa dạng, phong phú về nhiều lĩnh vực đồng thời mang tính thực tiễn cao, đặc biệt là phàn “Công dân với đạo đức” Phần này cung cấp những kiến thức về đạo đức, về mối quan hệ của công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình, mối quan hệ với cộng đồng, với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, với những vấn đề cấp thiết của nhân loại và tự hoàn thiện bản thân Đây là những nội dung hết sức gần gũi với các em trong cuộc sống hàng ngày Nó không chỉ dạy cho các em kiến thức đúng đắn về những mối quan hệ trong cuộc sống mà các bài giảng phàn “Công dân với đạo đức” còn giúp các em phát triển các kỹ năng sống quan trọng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng họp tác, kỹ năng giải quyết xung đột Từ đó giúp các em giải đáp nhiều câu hỏi mà các em còn thắc mắc và tự nhận thức được những khả năng và nhu cầu của bản thân, đồng thời có những suy nghĩ và
Trang 8hành động tích cực trong cuộc sống.
Tuy nhiên, hiện nay việc giảng dạy môn GDCD nói chung và phần
“Công dân với đạo đức” nói riêng chưa được quan tâm đứng mức, chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của môn học này Nhiều trường phổ thông dù đã
áp dụng những phương pháp dạy học tích cực song chỉ đơn thuần là cung cấp tri thức, vẫn có sự tách rời giữa lý luận với thực tiễn HS dù học về đạo đức nhưng ít có sự thực hành đạo đức, xa rời cuộc sống hiện thực; những mối quan hệ với gia đình, thầy cô, bạn bè, mái trường và quê hương đất nước chưa được thể hiện sinh động và sâu sắc Chính những hạn chế về nội dung và phương pháp dạy học đã kìm hãm, gây khó khăn cho việc GDKNS cho HS.Bằng việc sử dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học thích hợp trong giảng dạy phàn “Công dân với đạo đức” trong chương trình GDCD, GV
có thể giáo dục những KNS cần thiết cho các em hiệu quả hơn Xuất phát từ ý
tưởng trên, tôi lựa chọn đề tài: ‘Giáo dục kỹ năng sắng cho học sinh trường trung học phổ thông Cao Bá Quát, Hà Nội thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức”môn Giáo dục công dân lớp 10 hiện nay”.
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu của các tổ chức, học giả trên thế giới và trong nước đã trình bày một cách khoa học cơ sở lý luận của vấn
đề KNS, GDKNS và các biện pháp, hoạt động GDKNS cụ thể như sau:
Trên thế giới
Trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, quan niệm về GDKNS được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế và các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu GDKNS cho HS thông qua giáo dục và đào tạo ngày càng được nghiên cứu một cách đày đủ và có hệ thống
Diane TillMan, “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” (Nxb Tổng hợp TP Hồ
Chí Minh): “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sổng ngày càng được
nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức
Trang 9hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân Nó được xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giảo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kỹ năng sổng”\ỵ i ,8].
Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên họp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực
tiễn: “Tất cả thể hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục
chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sổng và tác dụng của KNS đổi với xã hội và cá nhân ” [7, 7].
thực trạng GDKNS ở Việt Nam giúp cung cấp cho người đọc “cái nhìn tổng
quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống ở Việt Nam và thực hiện giáo dục kỹ năng sống trong các bậc học qua đổi mới giáo dục và chương trình,
dự án hàm chứa kỹ năng sổng do các tổ chức trong và ngoài nước tiến hành Qua đó có thể nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sống còn hạn chế và cần phải được quán triệt tiếp cận kỹ năng sổng trong quá trình đào tạo ”[3,63] Qua
phần thực trạng mà tác giả trinh bày, người đọc có thể hình dung một cách tổng quát về GDKNS ở Việt Nam và thấy được những hạn chế, thiếu sót trong quá trình tiếp cận này
Trang 10Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh phổ thông” cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu
bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học” [13, 26].
Có thể thấy rằng, GDKNS cho HS là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các bộ, ban ngành quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ đạo thực hiện từ năm học 2010 ở các trường phổ thông Thông qua công văn chỉ đạo như: “Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”
Như vậy có thế thấy rằng các tác giả trong nước đã kế thừa có chọn lọc
và sáng tạo các thành tựu trên thế giói phù họp với điều kiện, hoàn cảnh trong nước để từ đó GDKNS được tiếp cận ở những phương diện, khía cạnh khác nhau từ các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho đến các môn học ở trường, lớp trong đó có môn GDCD Tuy nhiên, những nghiên cứu một cách hệ thống về khả năng lồng ghép nội dung GDKNS vào môn GDCD đặc biệt là phàn
“Công dân với đạo đức” còn ít
Trên cơ sở kế thừa, tham khảo các công trình của những nhà nghiên cứu trước đó Tôi với tư cách là người bước đầu nghiên cứu khoa học muốn góp công sức của mình vào làm rõ thêm cơ sở khoa học của vấn đề GDKNS cho
HS THPT qua phần “Công dân với đạo đức” ừong chương trình GDCD lớp 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả GDKNS cho
HS THPT qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về KNS, và GDKNS cho học sinh THPT qua dạy học môn GDCD
Trang 11- Thực nghiệm sư phạm về giáo dục KNS cho HS phổ thông qua dạy học môn GDCD ở trường THPT Cao Bá Quát, Hà Nội.
- Đe xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho
HS thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GGCD 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu lý luận và phương pháp GDKNS cho HS THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc GDKNS cơ bản cho học sinh THPT trong phạm vi chương trình GDCD lớp 10 phần “Công dân với đạo đức” Quá trình thực nghiệm giáo dục được thực hiện ở trường THPT Cao Bá Quát, Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn sau:
+ Các phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích và tổng họp, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp so sánh và hệ thống
+ Các phương pháp thực tiễn: phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp điều tra khảo sát, phỏng vấn, phương pháp thống kê toán học
6 Ý nghĩa của đề tài
Trang 12tham khảo trong quá trình giảng dạy môn GDCD ở trường THPT, đồng thời góp phàn nâng cao hiệu quả GDKNS cho HS ở các trường THPT.
7 Kết cấu của khóa luân
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 13Chương 1
C ơ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 1.1 Cơ sở lý luận của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
1.1.1 Khái niệm kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm về kỹ năng sống (KNS) và mỗi quan niệm lại được diễn đạt theo cách khác nhau
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu tri thức, hình thành thái độ và kỹ năng
Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên họp quốc (UNESCO), KNS gắn vói bốn trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to know) gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả ; Học làm người (learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, ; Học để sống với người khác (Learning
to live together) gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp thương lượng, tự khẳng định, họp tác, làm việc nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm (Learning to do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như:
kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm, [7,7-8]
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì KNS là năng lực tâm lý - xã hội thể hiện khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những yêu càu và thách thức của cuộc sống KNS còn được xem như khả năng duy trì ừạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần biểu hiện qua các hành vi phù họp khi tích cực tương tác với người khác và với những người xung quanh cũng như nền văn hóa xã hội KNS được hình thành chủ yếu dựa trên những kỹ năng về mặt tinh thần
Trang 14trong đó những kỹ năng này thể hiện vai trò điều tiết cuộc sống làm cho những kỹ năng hoạt động hay những kỹ năng thể chất cũng được thực thi một cách có hiệu quả.
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng, KNS bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội càn thiết
để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác “KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với ngưòi khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống” [7; 8]
Như vậy, KNS là khả năng làm thay đổi hành vi của mình, của người khác phù họp vói cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản
lý có hiệu quả các nhu cầu trong cuộc sống, đồng thời giúp con người giải quyết có hiệu quả những khó khăn, thách thức trong cuộc sống
KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của mỗi cá nhân, KNS còn mang tính xã hội vì trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi ở mỗi cá nhân có những kỹ năng thích hợp Vì vậy, KNS không phải tự nhiên có được
mà phải hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện Quá trình đó diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục
1.1.2 Gừio dục kỹ năng sắng
Giáo dục KNS được áp dụng theo nhiều cách khác nhau và nhiều lĩnh vực khác nhau, tùy từng địa phương Ở một số nơi, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Một số nơi khác, giáo dục KNS nhằm giáo dục hành vi, cách cư xử, giáo dục an toàn ừên đường phố, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS hay giáo dục lòng yêu hòa bình
Trang 15GDKNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội.
GDKNS cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện thông qua quá trình dạy học và giáo dục vừa hướng tới mục tiêu hình thành khả năng tâm lý xã hội để người học có thể vượt qua những thách thức của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hành động, phát triển toàn diện các chỉ số thông minh và các lĩnh vực trí tuệ xúc cảm, trí tuệ xã hội
Việc GDKNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành
vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các
em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh
1.1.3 Nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
- Nguyên tẳc tương tác
KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp HS thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó Nhiều KNS được hình thành trong quá trình HS tương tác vói bạn cùng học
và những người xung quanh (kỹ năng thương lượng, kỹ năng giải quyết vấn đề, ) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, HS có dịp thực hiện ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để GDKNS hiệu quả
Trang 16- Nguyên tắc trải nghiệm
KNS chỉ được hình thành khi ngưòi học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế HS chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế
GV cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và ngưòi khác
- Nguyên tắc tiến trình
GDKNS không thể hình thành trong thời gian ngắn mà đòi hỏi phải có quá trình: nhận thức, hình thành thái độ, thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đàu của một chu trình mới Do đó, nhà giáo dục có thể tác động lên bất kỳ mắt xích nào trong tiến trình trên: thay đổi thái
độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ
- Nguyên tẳc thay đổi hành vi
Mục đích cao nhất của giáo dục là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực GDKNS thúc đẩy ngưòi học thay đổi hay định hướng lại giá trị, thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thòi Có thời điểm, người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước Do đó, các nhà giáo dục càn kiên trì chờ đọi và tổ chức các hoạt động liên tục để HS duy trì hành vi mới và có thói quen mới, tạo động lực cho HS điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây để thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mói Ví dụ GV không nhất thiết phải luôn luôn tóm tắt bài “hộ” HS mà cần tạo điều kiện cho HS tự tóm tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi giờ học, phần học
Trang 17- Điều kiện thời gian - môi trường giáo dục
GDKNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức
và kỹ năng vào các tình huống “ thực” trong cuộc sống
GDKNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên trong cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, GDKNS được thực hiện trong các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể
- xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác
1.1.4 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Có 21 nội dung GDKNS cho HS trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, trong giới hạn khóa luận tập trung làm rõ các kỹ năng như: kỹ năng hợp tác; kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng thể hiện sự tự tin; kỹ năng tư duy sáng tạo
1.1.4.1 Kỹ năng giao tiếp
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền vói sự tồn tại và phát triển của những cộng đồng xã hội nhất định Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội
v ề bản chất, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Chính bởi
vậy, nhờ có giao tiếp mà mỗi con ngưòi có thể tham gia vào các mối quan hệ
xã hội, gia nhập cộng đồng, phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội
và chuyển chúng thành tài sản riêng của mình Ngoài ra, giao tiếp cũng thỏa mãn nhu cầu của con người như: nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được những người xung quanh quan tâm, nhu cầu được hòa nhập vào những nhóm xã hội nhất định Chính bởi vậy, việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp
là không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi cá nhân con người
Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với
Trang 18hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn, cảm xúc và đề nghị sự giúp đỡ tư vấn khi cần thiết.
Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh giao tiếp một cách phù họp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ nhưng không làm hại hay tổn thương cho người khác Kỹ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình đồng thời biết cách xây dựng các mối quan hệ với bạn bè mới tạo nên niềm vui cuộc sống
1.1.4.2 Kỹ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân, tin rằng mình có thể trở thành một ngưòi có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ Tự tin trái ngược với sự hèn nhát, rụt rè, thiếu niềm tin vào bản thân và lo sợ phải thất bại, không dám theo đuổi ước mơ Sự tự tin trong cuộc sống có thể được biểu hiện ở những việc làm nhỏ nhất như tự tin thuyết trình bài học trước lớp, tự tin đóng góp phát biểu ý kiến của mình cho tập thể lớp, cho đến những việc làm lớn hơn như công bố phát minh của một nhà khoa học hay một nhà văn cho ra đời tác phẩm của mình trước công chúng
Trong thời đại của sự hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, con người luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh và những thách thức trong cuộc sống, chính bởi vậy tự tin là điều rất quan trọng giúp chúng ta khẳng định bản thân
và sẵn sàng đương đầu với những khổ khăn
Kỹ năng thể hiện sự tự tin là một trong những kỹ năng giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ của mình, quyết đoán ừong việc
ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định đồng thời giúp người
đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống Chính bởi vậy, kỹ năng
Trang 19thể hiện sự tự tin là yếu tố càn thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm.
Viêc rèn luyện kỹ năng này rất thuận lợi đối với lứa tuổi HS THPT Bởi ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các em có nhiều cơ hội để thực hành Thông qua việc trau dồi tri thức, qua giao tiếp, trình bày các vấn đề trước lớp, tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể, kỹ năng này của các em sẽ được cải thiện đáng kể và không ngừng phát triển Điều này rất hữu ích cho các em trong tương lai, khi tham gia vào các cộng đồng nghề nghiệp và cuộc sống xã hội, giúp các em khẳng định được những giá trị của bản thân và kiên định với những mục tiêu đã đặt ra
+ Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm, tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết
+ Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác trong nhóm và biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm
+ Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công, đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động, biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động
Trang 20chung, có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra.
Đồng thời, để có được sự hợp tác hiệu quả cũng cần vận dụng tốt nhiều
kỹ năng sống khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, giải quyết mâu thuẫn
Như vậy, sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả hơn cho công việc chung Ngoài ra, trong xã hội hiện đại, lọi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc nhau biến mỗi người ttở thành một chi tiết của cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ
Giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh trung học phổ thông qua các môn học rất thuận lợi, có thể thực hiện được thông qua quá trình làm việc nhóm để trình bày các vấn đề trước lớp hay tham gia vào các trò chơi tập thể Quá trình này giúp các em có thể phát triển dàn dàn khả năng phân công, tổ chức, làm việc một cách hiệu quả vói các thành viên khác trong nhóm, đồng thời cũng
có thể thông qua đó, giáo viên đánh giá được những hạn chế bộc lộ trong kỹ năng họp tác của các em để từ đó có thể điều chỉnh dần dần
1.1.4.4 Kỹ năng tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới, là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc, độc lập trong suy nghĩ Đó là kiểu giải quyết vấn
đề nhờ sự động não tối đa nhằm tạo điều kiện tìm ra phương án tối ưu dựa trên những phương án được nêu ra Điều này thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản nhưng thực ra là cả một quá trình phức tạp đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của hoạt động trí óc
Trang 21Ở những người khác nhau thì có năng lực sáng tạo khác nhau không chỉ
do khí chất tâm lý, tri thức, vốn sống, cảm xúc mà còn do tác động của môi trường xã hội, do trình độ và bản chất các nền kinh tế, văn hóa truyền thống ttong lịch sử dân tộc và nhân loại Mỗi dân tộc do vậy cũng có những khả năng và mức độ sáng tạo khác nhau cao thấp hoặc loại hình thiên về lý thuyết hay thực hành, khoa học hay nghệ thuật, công nghệ hay lý luận, khoa học tự nhiên hay xã hội
Tư duy sáng tạo là một KNS quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy
ra Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo
để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù họp Khi một người biết kết hợp tốt giữa kỹ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù họp nhất
Ở lứa tuổi HS THPT hiện nay, có nhiều em có khả năng tư duy sáng tạo tốt thể hiện ở việc các em có khả năng vận dụng các kiến thức ở trường để chế tạo ra các sản phẩm hữu ích chẳng hạn như việc tái chế rác thải để tạo ra các
đồ vật như mô hình xe máy chạy bằng dầu thực vật, những chiếc hộp bút độc đáo, mô hình Chùa Một Cột bằng que kem Ngoài ra các em cũng sử dụng những kiến thức công nghệ thông tin vào việc tạo ra những thước phim ngắn
về bảo vệ môi trường để cổ động cho phong trào này Tuy nhiên bên cạnh
đó, cũng tồn tại không ít các em HS học tập mang tính sách vở, học thuộc kiến thức một cách máy móc, thụ động chứ không có sự vận dụng, sáng tạo Các em học tập để có điểm cao chứ không phải vì mục đích vận dụng kiến thức Điều này làm giảm đáng kể hiệu quả của việc tiếp thu kiến thức của các
em, đồng thời không tạo ra sự hứng thú trong học tập Chính bởi vậy, việc giáo dục kỹ năng tư duy sáng tạo cho các em là điều không thể thiếu
Trang 221.1.4.5 Kỹ năng tìm kiểm và xử lý thông tin
Trước đây khi chưa tiếp cận với công nghệ thông tin, nguồn tư liệu mà con người có được chủ yếu thông qua những cuốn sách và sự tiếp thu kinh nghiệm của những người đi trước Tuy nhiên, ngày nay, trong thời đại phát triển của công nghệ thông tin với nhiều thành tựu rực rỡ đã tạo ra những công
cụ tìm kiếm thông tin tiện ích hơn rất nhiều Vói sự khám phá ra Internet, con người được tiếp cận với một kho tàng sách khổng lồ của cả nhân loại và việc tìm kiếm thông tin về các vấn đề, lĩnh vực trở nên dễ dàng hơn Tuy nhiên, việc tìm kiếm này nếu không có những kỹ năng cần thiết thì rất dễ dẫn đến tốn thòi gian và tràn lan mà không đạt được hiệu quả cần thiết Chính bởi vậy,
kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin trở thành một trong những KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy
đủ, khách quan, chính xác, kịp thời
HS ở lứa tuổi THPT đã có sự phát triển và trưởng thành nhất định về mặt
tư duy so với ở lứa tuổi trước đó Hơn nữa, ở các em có sự hứng thú tìm tòi và học hỏi Do đó quá trình học không chỉ dừng lại ở những kiến thức sách vở
mà đã mở rộng hơn thông qua việc tham khảo các nguồn thông tin khác nhau như sách, báo, internet, Chính bởi vậy, nếu rèn luyện được các kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin cho các em, sẽ làm cho quá trình học tập trở nên hiệu quả và chủ động hơn, kích thích được tính tự giác và sáng tạo trong học tập của các em
1.1.5 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10
Các KNS cơ bản có thể giáo dục theo từng bài như sau:
Bài 10: Quan niệm về đạo đức
Một số KNS cơ bản có thể giáo dục trong bài như:
Trang 23- Kỹ năng tư duy phê phán trong việc so sánh sự giống và khác nhau giữa đạo đức với pháp luật, giữa đạo đức với phong tục, tập quán trong việc điều chỉnh hành vi của con người.
- Kỹ năng xác định giá trị, tự nhận thức khi đánh giá việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức của bản thân
- Kỹ năng xác định sự tự tin khi trình bày vai trò của đạo đức đối với cá nhân, gia đình, xã hội
Bài 11: Một sổ phạm trù cơ bản của đạo đức học
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
- Kỹ năng tư duy sáng tạo khi xem một số tranh, ảnh hoặc băng hình) có nội dung liên quan đến bài học
- Kỹ năng tư duy phê phán, so sánh các hành vi ừong một tình huống liên quan đến một trong các phạm trù đạo đức
- Kỹ năng họp tác
Bài 12: Công dân với tình yêu hôn nhân và gia đình
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
- Kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định trong tình huống về những điều nên tránh trong tình yêu
- Kỹ năng họp tác trong thảo luận về mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viên
Bài 13: Công dân với cộng đồng
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
- Kỹ năng giao tiếp, thể hiện sự tự tin
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin về sống nhân nghĩa, hòa nhập, họp tác
- Kỹ năng tư duy sáng tạo trong việc đề xuất các biện pháp thực hiện trách nhiệm với cộng đồng
Trang 24- Kỹ năng hợp tác, đảm nhận trách nhiệm khi thực hiện kế hoạch, dự án.
Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
- Kỹ năng tư duy sáng tạo khi trình bày suy nghĩ, ý tưởng về trách nhiệm của công dân đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Kỹ năng tư duy phê phán hành vi ảnh hưởng xấu đến an ninh đất nước
- Kỹ năng giải quyết vấn đề trong tình huống về xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin về những vấn đề cấp thiết của nhân loại (ô nhiễm môi trường, bùng nổ dân số, dịch bệnh hiểm nghèo)
- Kỹ năng tư duy phê phán đối với những hành vi gây ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh hiểm nghèo
- Kỹ năng tư duy sáng tạo trong đề xuất những biện pháp góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết của nhân loại
Bài 16: Tự hoàn thiện bản thân
Một số KNS cơ bản có thể được giáo dục trong bài như sau:
- Kỹ năng tự nhận thức, xác định giá trị của bản thân (điểm mạnh, điểm yếu sở trường, tiêu chuẩn đạo đức)
- Kỹ năng giải quyết vấn đề trong những tình huống có nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của bản thân
- Kỹ năng đặt mục tiêu và xác lập kế hoạch rèn luyện hoàn thiện bản thân.Trên đây là những kỹ năng sống có thể giáo dục cho học sinh THPT quadạy học phần “Công dân với đạo đức” trong từng bài học Những phân tích này được thiết lập căn cứ vào mục tiêu chương trình, nhu cầu, khả năng thực
tế của ngưòi học
Trang 251.1.6 Một số phương pháp, kỹ thuật dạy học được sử dụng trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
1.1.6.1 Phương pháp giáo dục kỹ năng song
Phương pháp giáo dục KNS là các phương pháp tạo sự tương tác giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau và đề cao vai trò tham gia của HS trong việc học và thực hành kỹ năng
Các phương pháp này nhằm thực hiện mục đích cuối cùng của giáo dục KNS là hướng đến xây dựng hành vi hoặc thay đổi hành vi chính bởi vậy chủ yếu bao gồm các phương pháp học tập chủ yếu như động não, làm việc theo nhóm nhỏ, đóng vai, kể chuyện, kịch, ừò chơi,
* Phương pháp động não
Khái niệm: Động não là phương pháp giúp HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây là phương pháp có ích để phát hiện ra một danh sách các thông tin
Để thực hiện phương pháp động não, GV có thể tiến hành bằng việc nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm, sau khi nêu câu hỏi GV nên khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt; đồng thời, GV cần liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường họp trùng lặp và làm sáng tỏ các ý kiến chưa rõ ràng Sau khi phân tích tổng họp ý kiến HS,
GV hỏi HS còn thắc mắc hay bổ sung gì không và đưa ra kết luận
Phương pháp động não có tác dụng không nhỏ trong giáo dục KNS cho
HS, đó là: kích thích, dẫn dắt học sinh suy nghĩ, khám phá tri thức mói; kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh; hình thành và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định,
Trang 26* Phương pháp thảo luận nhóm
Thực chất của phương pháp thảo luận nhóm là để HS bàn bạc trong nhóm nhỏ Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm GV thường nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, nêu câu hỏi thảo luận và phân công vị trí thảo luận cho từng nhóm
để các nhóm tiến hành thảo luận Sau khi đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm, được các nhóm khác nghe chất vấn, ừao đổi, bổ sung
ý kiến giáo viên sẽ tổng họp các ý kiến và đưa ra kết luận
Với cách sử dụng như vậy, phương pháp thảo luận nhóm đóng vai trò quan trọng trong GDKNS cho HS thông qua môn GDCD Đó là, việc thảo luận nhóm giúp cho kiến thức của HS sẽ giảm bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm; nhờ không khí thảo luận cởi mở mà những em học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát trở nên mạnh dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình, biết cách lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn từ đó giúp HS
dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt Đặc biệt, sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong các tiết dạy GDCD sẽ góp phàn hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hợp tác - chia sẻ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tìm kiếm
và xử lý thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng thể hiện sự tự tin, kỹ năng thương lượng, kỹ năng tư duy,
* Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, làm thử một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng
Trang 27dạy nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà họ quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà hơn thế, điều quan trọng nhất là việc thảo luận sau phần diễn ấy.
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như: HS được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn; gây hứng thú và chú ý cho người học; tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của ngưòi học; khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của ngưòi học theo hướng tích cực
Phương pháp đóng vai giúp HS phát huy óc sáng tạo, khả năng phân tích, đánh giá và rèn luyện được cách ứng xử trong các hoàn cảnh khác nhau trong thực tế Đây là thước đo quan trọng hiệu quả của giáo dục KNS cho học sinh
* Phương pháp nghiên cứu tình huống
Phương pháp nghiên cứu tình huống (hay phương pháp nghiên cứu các trường hợp điển hình): nghiên cứu tình huống thường là tình huống có thật hoặc là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay nhiều vấn đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cát - sét mà không phải trên dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản
Tình huống sử dụng trong dạy học môn GDCD có thể dài hay ngắn, tuỳ vào nội dung; tình huống đó phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi như: bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?, bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật A?, nhân vật B?, vấn đề này có thể đã được ngăn chặn như thế nào? lúc này cần phải làm gì để hạn chế tính trầm trọng của vấn đề? Việc trả lời các câu hỏi này sẽ là nền tảng để khái quát một tình huống rộng hơn
Trang 28Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (hay phương pháp nghiên cứu các trường họp điển hình) trong dạy học môn GDCD sẽ giúp HS rèn luyện kỹ năng đánh giá và giải quyết vấn đề, kỹ năng xác định giá ttị, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng thể hiện sự cảm thông, kỹ năng tư duy phê phán
* Phương pháp trò chơi
Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn
đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm thông qua một trò chơi nào đó
Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn GDCD, HS không những được phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn hình thành ở các
em nhiều phẩm chất và hành vi tích cực; HS có cơ hội để thể hiện những thái
độ, hành vi của mình; hình thành ở các em niềm tin tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống; HS sẽ được rèn luyện kỹ năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù họp trong tình huống; HS được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi Việc sử dụng phương pháp trò chơi làm cho việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm chán;
HS được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS vói HS, giữa
Trang 291.1.6.2 Một số kỹ thuật dạy học trong giáo dục kỹ năng sống
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV và
HS ừong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật “đặt câu hỏi” trong đàm thoại Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “Tia chớp”, “Bể cá”, “XYZ”,
“Bản đồ tư duy”,
Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS
Các kỹ thuật dạy học tích cực được trình bày sau đây có thể được áp dụng thuận lợi trong làm việc nhóm Tuy nhiên chúng cũng có thể được kết hợp thực hiện trong các hình thức dạy học toàn lớp: Kỹ thuật "bể cá", tranh luận ủng hộ - phản đối, thông tin phản hồi trong quá trình dạy học, kỹ thuật tia chớp, kĩ thuật "Khăn trải bàn", kĩ thuật "Các mảnh ghép", kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật công đoạn, kỹ thuật “Trình bày một phút”, kỹ thuật “Hỏi Chuyên gia”, kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”, kỹ thuật “Viết tích cực”, kỹ thuật
“Đọc tích cực” (Đọc hợp tác), kỹ thuật phân tích phim Video,
1.2 Cơ sở thực tiễn của giáo dục kĩ năng sổng cho học sinh THPT
1.2.1 Những kết quả đạt được về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
THPT
Thứ nhất, GV dạy học môn GDCD ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về
tầm quan trọng của vấn đề giáo dục KNS cho học sinh thông qua môn học và hoạt động dạy học
So với thời gian đầu áp dụng giáo dục KNS vào môn GDCD, hiện nay
GV đã nhận thức đầy đủ hơn về giáo dục KNS, thường xuyên đưa KNS vào trong hoạt động dạy học của mình Đặc biệt, qua các đợt tập huấn về giáo dục
Trang 30KNS GV đã hiểu được những vấn đề cơ bản, càn thiết về KNS và GDKNS cho HS GV cũng hiểu được nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục KNS cho HS từ đó mạnh dạn, tự tin hơn trong việc thực hiện một bài dạy.
Thứ hai, đa số các GV GDCD đã kết hợp nhiều PPDH, KTDH đặc biệt
là vận dụng các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nên đã có tác động hiệu quả trong quá trình hình thành các KNS phù hợp với các em
Giáo viên GDCD đã vận dụng phối hợp linh hoạt các PPDH mới như phương pháp động não, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp trò chơi, phương pháp giải quyết vấn đề vào các tiết giảng phù họp với nội dung kiến thức và lứa tuổi học sinh Những PPDH, KTDH này không chỉ giúp học sinh hứng thú trong học tập môn GDCD mà hơn hết các em tiếp thu rất nhanh kiến thức và biết ứng dụng trong cuộc sống do được trải nghiệm trong hoạt động ở trường, ở địa phương Thông qua việc thảo luận, suy nghĩ tìm ra cách giải quyết vấn đề đã giúp học sinh phát triển ở nhiều mặt; phát triển được các
kỹ năng phán đoán, suy luận, biết đưa ra quyết định của mình Từ đó, học sinh mạnh dạn, tự tin và tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng
Thứ ba, GV GDCD đã chủ động phối hợp với các tổ chức Đoàn - Hội -
Câu lạc bộ tổ chức thành công những hoạt động ngoại khóa, các phong trào, cuộc thi trong nhà trường góp phần giáo dục và rèn luyện các KNS cho HS Thông qua các cuộc thi: học sinh thanh lịch, rung chuông vàng, tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, viết bài về các danh nhân, thi vẽ tranh, thi kịch, thi ca hát và các hoạt động như: hành trình về nguồn, đền ơn đáp nghĩa, tình nguyện nhân đạo GV GDCD và các tổ chức trong nhà trường đã lồng ghép nội dung GDKNS cho HS như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng chia sẻ kinh nghiệm học tập và rèn luyện, kỹ năng cảm thông chia sẻ, kỹ năng cùng tham gia các hoạt động tập thể,
Trang 31Thứ tư, HS ngày càng hứng thú với môn GDCD và có nhận thức đứng
đắn về tàm quan trọng của KNS trong cuộc sống hiện nay
Để tìm hiểu thực trạng sự hiểu biết và nhu cầu càn được GDKNS cho học sinh, chúng tôi đã thực hiện khảo sát (bằng hình thức phiếu khảo sát) cho
100 em HS khối 10 ở trường THPT Cao Bá Quát, Hà Nội Bảng số liệu cho thấy nhận thức của HS về KNS như sau:
Bảng 1.1 Nhận thúc của học sinh vê KNS (phụ lục 1)
1.2.2 Những hạn chế trong giáo dục kỹ năng sắng cho học sình THPT
Thực tế việc lồng ghép nội dung GDKNS tiong dạy học bộ môn GDCD nói chung và phần “Công dân với đạo đức” ưong chưong trình GDCD lóp 10 nói
Trang 32riêng cũng đã được thử nghiệm ở một số trường trong địa bàn các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh cùng một số tỉnh thành khác và đã thu hút được một
số kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều vấn đề nảy sinh càn giải quyết
Một là, việc GDKNS cho HS THPT mới chỉ dừng lại ở phạm vi nhỏ lẻ,
tức là thông qua các buổi chuyên đề, ngoại khóa hay rất ít dự án họp tác nước ngoài chứ chưa có cách thức giáo dục mang tính hệ thống, phổ biến và rộng rãi Điều này làm hạn chế hiệu quả của việc GDKNS bởi chỉ khi được rèn luyện một cách thường xuyên và qua hoạt động thực tiễn, những kỹ năng này mói trở thành thói quen và tính cách của các em Chính bỏi vậy, GDKNS cần được quán triệt một cách hệ thống từ trong chưorng trình học và mục tiêu đào tạo con người Không những thế sự cần thiết của việc GDKNS cíăng cần được phổ biến
và tuyên truyền rộng rãi tói mọi người dân để từ đó kêu gọi được sự ủng hộ và chung tay của cả cộng đồng tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho GDKNS
Hai là, việc GDKNS cho HS phổ thông còn rất ít tài liệu và chưa có
SGK được biên soạn riêng nên nội dung giáo dục còn chưa phong phú và đa dạng Điều này mâu thuẫn với khối lượng tri thức và kỹ năng mà các em học sinh ở lứa tuổi THPT cần và có khả năng tiếp nhận được Trong khi ở lứa tuổi này sự tò mò và ham hiểu biết chính là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận các KNS thì các em lại không thể tìm kiếm thông tin đầy
đủ về các kỹ năng này ở bất kỳ tài liệu hay SGK nào một cách đầy đủ, hệ thống và đáng tin cậy Mặt khác, việc thiếu tài liệu cũng gây khó khăn cho giáo viên trong GDKNS cho các em dẫn đến việc lồng ghép hay giáo dục mang tính tự phát và chủ quan, không thu được hiệu quả Do đó, việc nghiên cứu và thiết lập tài liệu, giáo trình GDKNS dựa trên các vấn đề thực tiễn cùng nhu cầu của người học là một đòi hỏi tất yếu về mặt lý luận và thực tiễn
Ba là, cách tổ chức GDKNS cho HS IHPT còn mang nặng về cung cấp
thông tin, thông điệp mà chưa chú trọng thỏa đáng đến việc đặt người học vào
Trang 33những tình huống được trải nghiệm, được lựa chọn và ra quyết định để hình thành và thay đổi hành vi mang tính tích cực Điều này một phần xuất phát từ
xu hướng truyền đạt kiến thức tư duy phương Đông còn thiên về tính học thuật
và hàn lâm mà ít chú trọng mặt thực hành, tính ứng dụng của tri thức dẫn đến
sự hạn chế trong GDKNS Theo các chuyên gia tâm lý, việc học KNS cũng giống như học bơi, phải nhảy xuống nước chứ không thể đứng trên bờ nhìn mà biết bơi được Bồi đắp KNS cho HS phải được thực hiện từ cấp tiểu học, thậm chí mầm non, phải gắn liền với hoạt động hàng ngày của các em như giao tiếp, rèn luyện bản lĩnh cá nhân, bảo vệ bản thân, có tinh thần đồng đội và biết chia sẻ Chính bởi vậy, cần thay đổi cách thức truyền đạt, phương pháp GDKNS cho các em theo xu hướng thiên về thực hành và trải nghiệm những tình huống thực tiễn hơn là cung cấp thông tin và truyền đạt thông điệp
Bổn là, việc GDKNS cũng đã được tích họp vào một số môn học có tiềm
năng ở trường THPT như môn Văn, môn Lịch sử, môn GDCD song chưa đạt hiệu quả cao, một phàn vì GV chưa được đào tạo hay hướng dẫn chính thức
về cách thức lồng ghép các nội dung GDKNS Điều này gây khó khăn không nhỏ cho việc GDKNS bởi GV là người đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và truyền cảm hứng học tập đến các em Việc không được trang
bị đày đủ về cách thức lồng ghép GDKNS dẫn đến sự lúng túng và gượng ép của GV trong việc giảng dạy Hậu quả là không những không thu được hiệu quả mà còn gây ra sự nhàm chán, áp lực trong không khí học tập cho các em
Do đó, việc tổ chức các lớp tập huấn cho GV về GDKNS là điều rất quan trọng để tạo nên hiệu quả của việc GDKNS
Năm là, GDKNS cho HS phổ thông mói chỉ được thực nghiệm ở một số
địa phương, tỉnh thành lớn chứ chưa được mở rộng ra cả nước Thực tế đã chỉ
ra rằng, chủ yếu ở các thành phố lớn học sinh mới có điều kiện để tiếp xúc, học hỏi về KNS tại các trung tâm còn ở các địa phương, các vùng nông thôn,
Trang 34vùng sâu vùng xa, KNS chưa được quan tâm và đưa vào giáo dục Chính bởi vậy, đưa GDKNS vào nội dung học tập của lứa tuổi THPT một cách rộng khắp sẽ đóng góp vào việc tạo ra sự công bằng giáo dục đồng thời hạn chế được những hậu quả của việc thiếu KNS hiện nay.
* Nguyên nhân của hạn chế
Thứ nhất, việc phân phối thời lượng chương trình GDCD lớp 10 nói riêng
và chương trình GDCD nói chung còn quá ít, chỉ có một tiếư tuần Thời gian quá
ít trong khi khối lượng tri thức phải truyền đạt nhiều đã khiến cho GDKNS gặp nhiều khó khăn Vói nhiều nội dung khó như các nội dung về triết học, chủ nghĩa
xã hội và pháp luật, GV càn phải dành nhiều thời gian để giảng giải kiến thức, do vậy, khó có thể lồng ghép GDKNS cho các em Riêng phàn “Công dân với đạo đức”, các nội dung kiến thức thường là các vấn đề gàn gũi với các em hơn như vấn đề tình yêu, hôn nhân, gia đình, vấn đề về mối quan hệ vói cộng đồng, Tổ quốc nên có phàn dễ dàng hơn Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số mội dung nặng về cung cấp khái niệm, kiến thức
Thứ hai, nội dung GDKNS cho HS ở trường THPT hiện nay vẫn chưa
được coi là môn khoa học độc lập nên vẫn chưa có SGK theo chuẩn kiến thức, kỹ năng như các môn học khác Nội dung GDKNS chủ yếu được GV tham khảo từ các tài liệu tập huấn, báo chí, nên gây nhiều khó khăn cho GV trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho HS
Thứ ba, đội ngũ GV dù có kiến thức chuyên môn vững vàng và kiến
thức thực tiễn phong phú, tuy nhiên chưa được hướng dẫn về GDKNS nên đôi khi sự lồng ghép còn mang tính chất khiên cưỡng, giáo điều Đó là một trong những vấn đề đặt ra với GDKNS cho HS THPT nói chung Bởi đội ngũ GV đóng vai trò quan ừọng trong GDKNS, là những người dẫn dắt, hướng dẫn các em tìm hiểu các nội dung kiến thức đồng thời là người theo dõi và uốn nắn kỹ năng sống ở các em, chính bỏi vậy, nếu không được hướng dẫn về
Trang 35GDKNS và cách thức giáo dục sẽ dẫn đến việc giảng dạy chỉ thiên về lý thuyết, khó có thể lồng ghép các nội dung GDKNS cần thiết.
Thứ tư, việc GDKNS là một quá trình đòi hỏi sự kết hợp giữa gia đình,
nhà trường và xã hội, tuy nhiên điều này mới chỉ dừng lại chủ yếu ở phía nhà trường, nên quá trình lồng ghép vào bộ môn còn chưa đạt hiệu quả thực sự
C.Mác đã đưa ra quan điểm “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, chính bởi vậy, việc GDKNS cũng cần
huy động sức mạnh của toàn xã hội Gia đình là nơi gần gũi nhất của mỗi con người, là nơi mỗi người có thể bộc lộ và chia sẻ những cảm xúc chân thật nhất, nhờ đó cũng là môi trường giáo dục con người tốt nhất Xã hội là nơi mà mỗi ngưòi tham gia sinh hoạt, giao tiếp với cộng đồng và từ đó khẳng định những giá trị của bản thân, đồng thời cũng chính là thước đo chân thực nhất hiệu quả của những kỹ năng sống mà mỗi người có được Sự kết họp giữa gia đình, nhà trường, xã hội một cách thống nhất và khoa học sẽ góp phàn nâng cao một cách rõ rệt hiệu quả của GDKNS cho HS THPT qua bộ môn GDCD nói chung
Thứ năm, tư tưởng xem nhẹ bộ môn GDCD trong xã hội cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả của việc GDKNS Là bộ môn đã được đưa vào chương trình học từ rất lâu, môn GDCD có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS, giúp HS hình thành những KNS cơ bản để vững bước vào đời Tuy nhiên trong nhà trường và xã hội hiện nay còn tồn tại nhiều tư tưởng cho rằng GDCD là môn phụ, đặc biệt, rất nhiều
HS, phụ huynh, các cấp quản lý tỏ ra hờ hững, thiếu nghiêm túc đối với môn học này Với suy nghĩ phiến diện, lệch lạc, phần lớn HS chỉ học tủ, học vẹt nhằm đối phó với GV, đến khi kiểm tra thì quay cóp, sử dụng tài liệu Nếu tư tưởng này không được thay đổi sẽ rất khỏ để việc lồng ghép nội dung kỹ năng sống vào môn học này thành công
Trang 361.2.3 Tính tất yếu của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD10
Xét theo yêu cầu xã hội, ngày nay, các quốc gia trên thế giới đa phần đều xem chất lượng của giáo dục được đánh giá bằng thước đo của việc hình thành và phát triển các KNS cơ bản cho ngưòi học, và Việt Nam không phải
là một ngoại lệ
Xét theo góc độ giáo dục, KNS của người học là biểu hiện của chất lượng giáo dục Cho nên trong 6 mục tiêu kế hoặc hành động Dakar về giáo dục cho mọi người, KNS được coi là một khía cạnh của chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục càn tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của ngưòi học Như vậy tiến hành GDKNS để nâng cao chất lượng giáo dục
GDKNS là thực hiện quan điểm hướng vào người học để đáp ứng nhu cầu người học tạo ra năng lực để đối mặt với những thách thức của cuộc sống
và nâng cao chất lượng cuộc sống mỗi cá nhân Mặt khác, thực hiện GDKNS thông qua những phương pháp hướng đến người học (lấy học sinh làm trung tâm) và phương pháp dạy học tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò chủ động, tự giác của người học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ có những tác động tích cực đối với mối quan hệ người dạy và người học Đồng thời, người học cảm thấy họ được tham gia vào giải quyết các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và học tập tích cực hơn
Xét từ góc độ văn hóa, chính tri, GDKNS góp phần giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế; giúp con người sống an toàn, lành mạnh
và có chất lượng trong xã hội hiện đại vói văn hoá đa dạng và vói nền kinh tế phát triển
Xét theo yêu cầu của sự phát triển bền vững, GDKNS dựa trên cách tiếp cận năng lực, giúp người học hiểu được những tác động mà hành vi và thái độ của mình có thể gây ra, có thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường, đối
Trang 37với các vấn đề của cuộc sống; biết ứng dụng những nguyên tắc phát triển bền vững vào cuộc sống của mình, giúp họ thích ứng vói cuộc sống hiện đại không ngừng biến đổi.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con ngưòi có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày Nếu được trang bị tốt KNS sẽ giúp các em học sinh tự tin trong học tập, rèn luyện và vững vàng bước vào cuộc sống tương lai Nâng cao hiệu quả GDKNS cũng chính là góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục căn bản, toàn diện cho HS
GDKNS là điều cấp thiết hiện nay GDKNS cho HS là giáo dục cho các
em cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là thay đổi ở các em hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách ngưòi học dựa trên cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù họp Do đó, trong giới hạn nghiên cứu của khóa luận, KNS mà chúng tôi lựa chọn là những kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thể hiện sự tự tin, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin
Trong các môn học ở trường THPT, môn GDCD có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục KNS cho HS Qua điều tra khảo sát thực tế ở trường THPT Cao Bá Quát GDKNS trong môn GDCD còn có những hạn chế nhất định Do vậy, môn GDCD chưa phát huy tốt được vai trò của mình trong việc GDKNS Vì thế, cần tiến hành thực nghiệm sư phạm để từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả GDKNS cho HS thông qua dạy học môn GDCD
Trang 38Chương 2 QUY TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THựC HIỆN GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG
DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GDCD LỚP 10
2.1 Quy trình thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT trong dạy học phần “Công dân vói đạo đức” môn GDCD lóp 10
2.1.1 Quy trình thiết kế bài giảng
Thiết kế bài giảng (giáo án) là khâu rất quan ttọng ttong quá trình dạy học, là bản thiết kế chi tiết các công việc sẽ diễn ra giữa GV và HS ở trên lớp trong thòi gian một tiết học Để thiết kế được bài giảng, GV phải nghiên cứu
kĩ nội dung chương trình SGK, tài liệu tham khảo, xác định mục tiêu bài học , lựa chọn phương pháp, phương tiện, thiết kế các hoạt động dạy học và trình bày chúng theo trình tự, logic của bài giảng
Quy trình thiết kế bài giảng phần “Công dân với đạo đức” theo hướng dẫn mới nhằm GDKNS cho HS được thực hiện theo tiến trình sau:
Ở TRƯỜNG THPT
Sơ đồ 2.1 Quy trình thiết kế bài giảng
Xác định mục tiêu bài học
Xác định các kỹ năng sôn£ bản được giáo dục qua bài học
Thiết kế các nudt động dạy học
Trang 39Thứ nhất: Xác định mục tiêu bài học
Xác định chính xác và cụ thể mục tiêu bài học cụ thể cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ Trong đó:
- v ề kiến thức: ghi rõ trọng tâm về kiến thức mà HS phải nắm vững.
- v ề kỹ năng: phải mô tả, phân tích được hiện tượng, ghi nhớ và vận
Thứ hai: Lựa chọn kiến thức
Cần lựa chọn những kiến thức cơ bản, trọng tâm, căn cứ vào nội dung SGK, đồng thời bổ sung thêm những kiến thức phù hợp với những vấn đề thực tiễn Với một số nội dung kiến thức mà học sinh đã biết, GV có thể hướng dẫn các em tự tìm hiểu ở nhà GV cũng càn phải hiểu sâu rộng những kiến thức cần trao đổi và thực tiễn cuộc sống đang diễn ra xung quanh, nhằm hướng các em vào mục đích xác định
Thứ ba: Xác định các KNS cơ bản được giáo dục qua bài
Việc trang bị cho HS những KNS qua quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” là hết sức cần thiết và thuận lợi, phù hợp với lứa tuổi THPT giúp các em biết sống và ứng xử phù họp trong các mối quan hệ với những người xung quanh; với cộng đồng, quê hương, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; giúp các em sống tích cực, chủ động, hài hòa, lành mạnh, có kỷ luật và
kế hoạch phù họp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật, để HS trở thành người
có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, trở thành HS tích cực của nhà trường và người công dân tốt của xã hội
Trang 40Tùy từng bài, GV có thể lựa chọn số lượng và loại KNS cho phù họp Các kỹ năng có thể giáo dục qua phàn “Công dân với đạo đức” như: kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề những kỹ năng này gắn với một nội dung giáo dục và một số phương pháp, kỹ thuật dạy học nhất định mới có thể hình thành được.
Thứ tư: Lựa chọn phương pháp, phương tiện phù hợp
Việc lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học cho bài giảng là khâu rất quan trọng Đó là yếu tố quyết định hiệu quả bài giảng Việc lựa chọn phương tiện, phương pháp dạy học phải căn cứ vào nội dung kiến thức từng bài, từng phần của bài giảng Để GDKNS cho HS thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” càn sử dụng linh hoạt các phương pháp: phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp tình huống, phương pháp đóng vai, phương pháp động não Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học phải bám sát mục tiêu, nội dung bài học, đối tượng học sinh mới đạt được hiệu quả
Thứ năm: Thiết kế các hoạt động dạy học
Đây là khâu cuối cùng trong quy trình thiết kế bài giảng học phần “Công dân với đạo đức” nhằm hình thành và phát triển KNS cho HS Thực chất là thiết kế từng bước lên lớp của GV hay nói cách khác là thiết kế hoạt động dạy
và học trên lớp Bao gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Ổn định tổ chức lớp, càn kiểm tra các điều kiện phục vụ giờ học như
sĩ số, vệ sinh lóp học, bàn ghế, bảng, các phương tiện dạy học cần chuẩn bị
Bước 2: Khám phá
Mục đích:
- Giới thiệu sơ qua bài học, kích thích HS tự tìm hiểu xem các em đã biết
gì về những khái niệm, kỹ năng, kiến thức sẽ được học Giúp HS xác định