- Bộ Kế hoạch và đầu tư tháng 7 năm 2011, Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020… Chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ là bộ phận quan trọng tro
Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ
Chính sách công về "Thực hiện chính sách nguồn nhân lực nữ từ thực tiễn thành phố Hà Nội" là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong
cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Võ Thị Ngọc Oanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 7
NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở VIỆT NAM 7
1.1 Lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ 7
1.2 Chính sách của Đảng, Nhà nước đối với nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay 21 Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (2008 - 2015) 30
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực nữ ở thành phố Hà Nội 30
2.2 Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ ở thành phố Hà Nội 41
2.3 Đánh giá nguyên nhân dẫn tới kết quả thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ tại thành phố Hà Nội 57
2.4 Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ tại Hà Nội hiện nay 62
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 65
3.1 Phương hướng thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội hiện nay 65
3.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội hiện nay 67
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô dân số Hà Nội giai đoạn 2008 – 2015………29 Bảng 2.2: Dân số trung bình phân theo giới tính……… 30 Bảng 2.3: Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2013…… 31 Bảng 2.4: Trình độ học vấn của lực lượng lao động nữ chia theo địa bàn sinh sống……… 34 Bảng 2.5: Cơ cấu lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và giới tính 2012………35 Bảng 2.6: Cơ cấu lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo nhóm tuổi, trình độ chuyên môn kỹ thuật và giới tính 2012……… ………… 35 Bảng 2.7: Tình trạng sức khỏe của lao động nữ hiện nay của Hà Nội……… 37 Bảng 2.8: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị và nông thôn………45 Bảng 2.9: Cơ cấu tuổi của những người thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên năm 2013…46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là một trong những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia trên thế giới Nhiều nước vốn xuất phát từ những điều kiện kinh tế thấp kém, lạc hậu, tài nguyên thiên nhiên thậm chí còn nghèo nàn hơn Việt Nam nhưng đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhờ biết phát huy và sử dụng tốt nguồn lực con người
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để phấn đấu cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để thực hiện được mục tiêu đặt ra, vấn đề xây dựng chính sách phát huy nguồn nhân lực có tầm quan trọng chiến lược Bởi vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam hiện nay được tiến hành trong điều kiện mới - cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba, một cuộc cách mạng mà động lực chủ yếu của nó là sức sáng tạo và trí tuệ của người lao động và trong quá trình ấy cần đặc biệt chú trọng đến vấn đề phát huy nội lực để phát triển nhanh và bền vững Vì thế, vấn đề chính sách phát triển nguồn nhân lực ngày càng giữ vị trí trung tâm đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới Con người được coi là động lực đồng thời là mục tiêu cuối cùng trong quá trình phát triển của các quốc gia
Phụ nữ là một bộ phận cấu thành của nguồn nhân lực, có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất vật chất, tinh thần, đặc biệt là tái sản xuất con người Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới, so với nam giới, phụ nữ vẫn phải chịu những thiệt thòi, chưa được đánh giá đúng về vai trò, vị thế trong gia đình và xã hội
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò, vị trí, chức năng của phụ
nữ, coi phụ nữ làđộng lực quan trọng của cách mạng Việt Nam Chính vì vậy, sau
30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã có những đường lối, chủ trương, chính sách phát triển và sử dụng sức mạnh to lớn của nguồn nhân lực nữ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những cơ hội và thử thách đặt ra đã và đang đòi hỏi hơn bao giờ hết mọi tiềm năng quốc gia phải được khai
Trang 8thác hợp lý, trong đó có chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ Nguồn nhân lực
nữ, bộ phận chiếm phần nửa dân cư trong xã hội, với sức lao động dồi dào, óc sáng tạo phong phú, là nguồn lực to lớn và rất quan trọng có thể khai thác và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước và là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng caovới mức tăng GDP bình quân trên 10%/năm Sự phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội đã đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước Và trong sự phát triển đó của Thủ đô không thể không kể đến vai trò quan trọng của phụ nữ - chiếm trên 50% dân số và lựclượng lao động toàn thành phố Chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tạo cơ hội cho sự phát triển của phụ nữ, song, cũng đặt ra nhiều khó khăn,thách thức cho phụ nữ trong việc tiếp cận với các cơ hội về việc làm, giáo dục - đào tạo, trong hưởng thụ các thành quả của sự phát triển Trong khi đó, sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở Thủ đô đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực nữ về trình độchuyên môn, thể lực, kỹ năng lao động
Trong những năm qua, các cấp, các ngành thành phố đã xây dựng và bổ sung nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến phụ nữ và công tác phụ nữ, từng bước đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Thủ đô, chẳng hạn như: xây dựng quy hoạch cán bộ nữ trong quy hoạch tổng thể của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở từng địa phương, đơn vị; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, đảm bảo tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ nữ để đề bạt, bổ nhiệm vào các chức danh theo quy định Do đó, việc nghiên cứu làm rõ chính sách nguồn nhân lực nữ, tìm giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện chính sách nguồn lực này là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách nguồn nhân lực nữ từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 9Cho đến nay, đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về nguồn nhân lực, chính sách phát triển nguồn nhân lực… dưới những góc độ khác nhau trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trong
đó, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
-Viện Thông tin Khoa học xã hội (1995), Con người và nguồn lực con người
trong phát triển”, Công trình KHCN cấp nhà nước KX - 07, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
- PTS Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực Kinh
nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào
CNH, HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- TS Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình CNH,
HĐH ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội
- Phạm Thành Nghị (Chủ biên) (2006), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân
lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, Hà Nội
- Bộ Kế hoạch và đầu tư (tháng 7 năm 2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát
triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020…
Chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ là bộ phận quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, vì thế đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,đặc biệt là các nhà khoa học nghiên cứu về phụ
nữ Tiêu biểu như:
- Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và pháttriển, Nhà
xuất bản Phụ nữ, Hà Nội
- Trần Thị Thu (2003), Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳcông
nghiệp hóa, hiện đại hóa (Phân tích tại Hà Nội), Nhà xuất bản Lao động - xã hội,
Hà Nội
- Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn nhân lực trí thức nữ Việt Nam trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 10- Nguyễn Đức Hạt (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữtrong
hệ thống chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Thị Kim Dung (2010), Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền
bình đẳng của phụ nữ , Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội
Một số công trình nghiên cứu của tập thể và cá nhân liên quan đến chính
sách nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội như: “Sự chuyển biến vai trò của phụ nữ nội
thành Hà Nội dưới tác động củacông nghiệp hóa trong điều kiện kinh tế thị trường”
của Đặng Kim Nhung thuộc một côngtrình nghiên cứu hợp tác giữa Việt Nam và
Hà Lan năm 1996 - 1997; Khảo sát thực trạng giới tại Hà Nội của Ban Vì sự tiến
bộ của phụ nữ Hà nội năm 2000, “Phát huy nguồn lao động nữ ở ngoại thành Hà
Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay” của Ban nữ
công Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2002… Ngoài ra, còn có một
số bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn đề nguồn lực phụ nữ và xây
dựng chính sách nguồn nhân lực nữ như:“Quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ
trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS Bùi Thị Kim Quỳ
(Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 2, 1996) “Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định
nghề đào tạo dự phòng cho phụ nữ“ của Tiến sĩ Nguyễn Tín Nhiệm và Tiến sĩ Phan
Thị Thanh (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 4,2002), “Việc làm của phụ nữ Hà
Nội” của Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, 2/2003)…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các tác giả kể tên đã đưa ra vấn đề nguồn nhân lực và chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ trên một số khía cạnh
mà các công trình đó quan tâm Tuy nhiên, cho đến nay, có thể nói rằng, chưa có một công trình nào thực sự đề cấp tới vấn đề chính sách nguồn nhân lực nữ từ thực tiễn thành phố Hà Nội một cách chuyên sâu
Vì vậy, kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả, các công trình nói trên, tác giả luận văn sẽ giải quyết, làm rõ vấn đề thực hiện chính sách nguồn nhân lực
nữ từ thực tiễn thành phố Hà Nội một cách tương đối toàn diện, có tính hệ thống trong luận văn này
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ; phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực nữtừ thực tiễn thành phố Hà Nội; để từ đó phát hiện đúng các vấn đề chính sách và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ trong thời gian tới
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định là:
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận, lý thuyết về chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ;
- Vận dụng lý thuyết về chính sách công để phân tích, khảo sát, đánh giá thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ qua thực tiễn thành phố Hà Nội
- Phân tích nhu cầu, định hướng, mục tiêu và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ ở thành phố Hà
Nội trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề thực hiện
chính sách nguồn nhân lực nữ dưới góc nhìn nguồn lao động nữ
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách
nguồn nhân lực nữ, trong đó khảo sát nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách này ở thành phố Hà Nội từ khi mở rộng địa giới hành chính cho đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, các chính sách của Nhà nước về thực hiện chính sách nguồn nhân lực nữ để phân tích và luận giải các vấn đề đặt ra
- Để đảm bảo đúng mục đích và góc độ nghiên cứu, tác giả luận văn đã vận dụng đồng bộ các phương pháp chuyên ngành và phương pháp nghiên cứu liên
Trang 12ngành như: Phương pháp lôgíc - lịch sử, Phương pháp phân tích - tổng hợp, Phương pháp thống kê - hệ thống hoá, …
- Tác giả luận văn có tham khảo, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các công trình đi trước
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hà Nội hiện nay
Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích, thiết thực trong việc nghiên cứu, giảng dạy môn lý luận chính trị và chính sách công
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách nguồn nhân lực nữ
ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ từ
thực tiễn thành phố Hà Nội (2008 - 2015)
Chương 3 Phương hướng và những giải pháp chủ yếu thực hiện có hiệu quả
chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội hiện nay
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ
1.1.1 Khái niệm về chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ
1.1.1.1 Quan niệm chung về chính sách
Có thể thấy, hiện nay còn có một số quan niệm khác nhau về chính sách và chính sách gồm nhiều chủ thể ban hành, như chính sách của Nhà nước, chính sách của các tổ chức xã hội, chính sách của tổ chức kinh tế Để quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội và thực hiện các mục tiêu về chính trị xã hội mà Nhà nước đã định ra, ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thì Nhà nước còn phải ban hành một số văn bản khác, để tác động vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, hoặc từng nhóm người cụ thể, hoặc từng cộng đồng người riêng rẽ hoặc các tổ chức pháp nhân khác nhau để định hướng các quyền và nghĩa vụ cũng như cách ứng xử của các chủ thể này Các chủ thể bị tác động có thể trên phạm vi toàn quốc, hoặc trên một vùng hoặc từng lĩnh vực khác nhau
Các văn bản này cũng định hướng trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn cách ứng xử của Nhà nước trong mối quan hệ với các đối tượng tác động Các văn bản này cũng quy định các quyền và nghĩa vụ của cán bộ công chức trong mối quan hệ với đối tượng thụ hưởng chính sách Các văn bản này thể hiện ý chí của Nhà nước,
là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội nhằm thực hiện mục tiêu mà Nhà nước đã định ra Các văn bản vừa củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước, vừa thể hiện sự thống nhất nguyện vọng của nhân dân với ý chí của
cơ quan quản lý Nhà nước
Có thể rút ra khái niệm chính sách như sau: Chính sách là một tập hợp các
quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chon mục tiêu và giải pháp thực
hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định
Các đặc điểm của chính sách:
Nghiên cứu chính sách cho thấy có các đặc điểm sau:
Trang 14- Chính sách phải thể hiện bằng các văn bản Các văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành (đại diện cho Nhà nước) Trong các văn bản có những quy định mang tính định hướng cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước và các đối tượng tác động Chính sách thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, ý chí của Nhà nước
- Chính sách chủ yếu mang lại lợi ích về vật chất, về tinh thần cho đối tượng thụ hưởng
- Chính sách có mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế giáo dục và giữ vững ổn định xã hội
- Chính sách có thể có tính vĩ mô, có thể có tính vi mô
- Chính sách được bảo đảm thực hiện bằng giáo dục thuyết phục, động viên khuyến khích
1.1.1.2 Quan niệm chung về nguồn nhân lực
Các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới đã đề cập nguồn nhân lực dưới các góc độ khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp Nhân lực là
sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực) Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố có sự liên hệ biện chứng với nhau, đó
là thể lực, trí lực, tâm lực
Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nơi cung cấp sức của con người
trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất Nguồn lực con người" hay
nguồn nhân lực" là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề,
là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm
Trang 15năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”[5.Tr,3] Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ
Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người” (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu Nguồn lực con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên ở nước ta, một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX - 07 cho rằng nguồn lực con người được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc
GS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức
độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”[19.Tr,269]
TS Nguyễn Thanh xác định, “nguồn nhân lực đó là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội”[21.Tr,70]
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Khái niệm“nguồn nhân lực”(Human Resoures) được hiểu như khái niệm nguồn lực con người Khi được sử dụng như một khái niệm công cụ để điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn
bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động
Trang 16Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung
cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Theo chúng tôi, con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển thì không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng
và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội
Vì vậy, chúng tôi cho rằng nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất
lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và
sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội 1.1.1.3 Quan niệm chung về nguồn nhân lực nữ và chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ
Nếu con người là nguồn lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội thì phụ nữ là bộ phận cơ bản cấu thành nguồn lực ấy
Hiểu theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực nữ bao gồm tổng hoà các tiêu chí của
bộ phận dân số nữ đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệ phụ nữ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội Nói cách khác, nguồn nhân lực nữ được hiểu không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh trí tuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Nguồn nhân lực nữ theo nghĩa hẹp (với tư cách là lực lượng lao động của xã
hội) bao gồm nhóm phụ nữ đến tuổi lao động trở lên có khả năng lao động Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ trong khoảng nhỏ hơn của độ tuổi lao động nam (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân số nữ thường xuyên cao hơn (thường chiếm trên 51% dân số) song, lực lượng lao động nữ lại thường chiếm tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 49% lao động xã hội)
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Trang 17Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ (rộng hay hẹp) chỉ mang tính chất
tương đối, phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực nữ phải được đề cập đến theo nghĩa rộng, có nghĩa là các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực hướng tới khả năng lao động của các thế hệ phụ nữ
Thứ hai, nghiên cứu về phụ nữ và nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương
pháp tiếp cận đúng đắn Phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu ở đây là xem xét mối quan hệ giữa cái chung (con người) và cái riêng (giới nam, giới nữ)
Đó là quan điểm tiếp cận về giới Điều này là do chính đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quy định Từ những đặc điểm sinh học, xét về mặt xã hội, phụ nữ đảm
nhiệm chức năng xã hội khác nam giới, đó là chức năng trực tiếp tái sản xuất ra con
người Từ đó nảy sinh những khó khăn, thuận lợi khác nhau giữa giới nam và giới
nữ trong học tập, làm việc, sinh sống Phụ nữ thường gắn với con cái và gia đình
Họ có những nhu cầu cấp thiết hơn nam giới về những dịch vụ y tế, dịch vụ gia đình, về điều kiện làm việc gần gia đình Sự đánh giá thấp của xã hội về khả năng, giá trị của lao động nữ trong lao động sản xuất đã giam hãm người phụ nữ ở địa vị thấp kém trong xã hội và gia đình với tất cả những bất công và thiệt thòi
Việc nghiên cứu về người phụ nữ nói chung và nguồn nhân lực nữ nói riêng không thể tách rời việc nghiên cứu về giới tính và giới, về sự bình đẳng giới và hậu quả đem lại cho sự phát triển chung khi lực lượng phụ nữ bị kìm hãm, không phát huy được đầy đủ những tiềm năng cho việc cải tạo thiên nhiên, xã hội Vấn đề đặt ra trước hết đối với việc phát huy nguồn nhân lực nữ là phải xác định được những nhân tố cơ bản tác động đến nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển
Có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực nữ là: tổng thể các chính sách, hình
thức, phương pháp và biện pháp nhằm nâng cao về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nữ; đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tạo sự bình đẳng giới
để chúng đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước
Từ cách hiểu phát triển nguồn nhân lực nữ như trên, chúng tôi quan niệm
rằng: Chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam nói chung là sự cụ thể
hoá quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ trương của Nhà nước
Trang 18về phát triển nguồn nhân lực nói chung, bao gồm tổng thể các hình thức, phương
hướng và giải pháp nhằm nhằm nâng cao về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nữ; đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng để nguồn nhân lực này đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước Xét về mục tiêu, chính
sách phát triển nguồn nhân lực nữ của Đảng và Nhà nước nhằm khai thác mọi tiềm năng của nguồn nhân lực này để phát triển đất nước trong giai đoạn mới, hướng tới mục tiêu chung, lâu dài là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Theo Tiến sĩ Đỗ Phú Hải, học viện KHXH “việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn đề đó là cảm nhận về các trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc bất hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng mất ổn định về kinh tế, xã hội, cản trở tăng trưởng kinh tế hoặc
những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chính sách” Theo quy luật vận động,
vấn đề chính sách mang cả tính hiện thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại thực
tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tương lai
Vấn đề của chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ ở Việt Nam hiện nay đó
là chưa xây dựng và phát triển được đội ngũ cán bộ, công chức nữ vững chắc có đủ
điều kiện, tiêu chuẩn, trình độ đáp ứng được yêu cầu vị trí, việc làm, chức danh đảm nhiệm, các chủ trương, quy định chính của Đảng, của Nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu mục tiêu bình đẳng giới
1.1.2 Những nhân tố tác động đến chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam
Những nhân tố tác động đến chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ bao gồm nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan chi phối
* Nhân tố khách quan
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Nguồn nhân lực nữ chịu sự tác động của CNH, HĐH và hội nhập quốc trên
cả hai phương diện là chiều thuận và chiều nghịch Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là cơ hội tốt cho đất nước nói chung và nguồn
Trang 19nhân lực nữ nói riêng, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế giúp cho NNLN có nhiều cơ hội trong việc chọn việc làm, nâng cao thu nhập và cơ hội nâng cao nhận thức Lợi ích của CNH, HĐH đối với NNLN là có thể thu hút, tiếp nhận những dòng vốn, công nghệ hiện đại để khai thác tài nguyên thiên nhiên và mở rộng hoạt động thương mại ra bên ngoài thông qua hợp tác quốc tế Từ đó, khai thác có hiệu quả nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình
độ quản lý để chuyển dịch cơ cấu kinh tế đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư giáo dục y tế nâng cao thu nhập người dân trong đó có NNLN Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho NNLN có cơ hội nâng cao hiểu biết, làm gia tăng các giá trị vô hình cho bản thân
Bên cạnh đó CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đòi hỏi NNLN phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao hơn, phát triển một lực lượng lao động có khả năng nắm bắt công nghệ tiên tiến với những chuyển biến nhanh và đa dạng về hình thái của nền kinh
tế, cũng như khả năng nắm bắt kịp với tiến bộ và chuyển đổi mang tính toàn cầu Khi hội nhập đầy đủ và sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới sự cạnh tranh trên thị trường lao động khu vực và quốc tế gay gắt hơn, lợi thế cạnh tranh do tiền công rẻ sẽ mất dần; Yếu thế của lao động Việt Nam nói chung và NNLN nói riêng trong cạnh tranh sẽ bộc lộ
rõ hơn do trình độ tay nghề, chuyên môn, ngoại ngữ, kỷ luật, tác phong công nghiệp, tính năng động xã hội, trình độ hiểu biết pháp luật và thể lực còn hạn chế
CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế có nguy cơ đẩy NNLN đến chỗ bị đào thải, nếu không tích cực cập nhật cái mới, học tập nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, không kiếm được việc làm và rơi vào tình cảnh nghèo khổ, không được tiếp cận với các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản, nước sạch vệ sinh và giáo dục Cơ chế thị trường và quá trình CNH, HĐH còn nảy sinh nhiều vấn đề xã hội liên quan trực tiếp tới NNLN Nguồn nhân lực nữ gặp nhiều khó khăn, thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của con người trong điều kiện xã hội và gia đình có nhiều thay đổi CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế có nguy cơ đẩy NNLN ra khỏi thị trường lao động do phong tục truyền thống và do tiến bộ khoa học công nghệ
- Truyền thống văn hóa, tâm lý, tập quán của dân tộc
Trang 20Truyền thống văn hoá dân tộc có tác động rất lớn đến chính sách phát triển NNLN - nhất là về mặt tinh thần Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là yếu tố quan trọng, là môi trường lành mạnh để hình thành và phát triển nguồn nhân lực Một dân tộc, một quốc gia có truyền thống tốt, tập quán lành mạnh, có nền văn hoá phát triển cao thì đó chính là cơ sở điều kiện tốt để xây dựng một nguồn nhân lực vừa có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, vừa có thái độ, tinh thần, tác phong làm việc tốt Ngược lại, nếu một dân tộc, một quốc gia có những phong tục, tập quán lạc hậu thì sẽ kìm hãm sự vươn lên của chính quốc gia, dân tộc đó Ngoài ra, những đặc trưng văn hoá - xã hội của một dân tộc còn là cơ sở cho việc sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả cao
Chúng ta thường hay nhắc tới truyền thống yêu nước, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động và những phẩm chất anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của phụ nữ Việt Nam Người phụ nữ còn được đề cao với vai trò sinh thành
ra các thế hệ tương lai để duy trì nòi giống Người phụ nữ Việt Nam còn được biết đến với phẩm chất anh hùng đấu tranh chống giặc ngoại xâm: Hai Bà Trưng đã từng đánh đuổi quân Nam Hán; Bà Triệu - tài trí hơn cả nam giới và còn một loạt các tướng lĩnh khác mà hiện nay vẫn còn đền thờ ở nhiều nơi để ghi nhận công lao đóng góp của họ cho sự sinh tồn của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau Chính những truyền thống quý báu và phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam đó đã là niềm tự hào của giới nữ, là sức mạnh, là cội nguồn, là điểm tựa tinh thần để NNLN vươn lên khẳng định mình đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước Bên cạnh đó, mọi người cần phải loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, lối tư duy theo kiểu “trọng nam, khinh nữ” của Nho giáo, đề cao vai trò của người đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội Chính những định kiến đó, đã ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội qua nhiều thời đại, làm cho NNLN có tư tưởng tự ti, cam chịu, chấp nhận định kiến, phân biệt đó như sự sắp đặt tự nhiên, mà không muốn phấn đấu vươn lên Ngoài ra, còn có các yếu tố tiêu cực của tôn giáo khác đã kìm hãm sự phát triển tài năng của NNLN
Trang 21Việt Nam cần có chính sách tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của NNLN vì mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và tiến bộ công bằng xã hội thì mọi người trong xã hội phải xóa bỏ hoàn toàn trong nhận thức và hành động những phong tục, tập quán và tâm lý lạc hậu đó
- Yếu tố di truyền sinh học
Một trong các tiền đề có tác động trực tiếp đến sự phát triển thể lực và trí lực của NNLN ở Việt Nam chính là yếu tố di truyền sinh học Do cấu tạo cơ thể và đặc điểm sinh lý, NNLN thường yếu hơn nam giới về mặt sức khỏe, nhưng lại có những lợi thế hơn nam giới nhờ sự khéo léo, kiên trì, chịu khó, nét dịu dàng, tinh tế… NNLN phải đảm nhiệm chức năng sinh con, duy trì sự tồn tại và phát triển nòi giống Chính vì vậy, chức năng tái sản xuất ra con người trước hết là một hiện tượng di truyền sinh học, song cũng là một hiện tượng xã hội Việc thực hiện chức năng sinh học đó lại luôn có mối quan hệ và chịu sự tác động của các yếu tố xã hội khác như: gia đình, môi trường kinh tế, giáo dục, phúc lợi xã hội… Do vậy, không quan tâm đến tiền đề di truyền sinh học của NNLN với tư cách là lực lượng tái sản xuất ra con người sẽ không chỉ mất mát hiện tại về năng suất, hiệu quả lao động, tác động tiêu cực đến việc phát triển NNLN mà còn ảnh hưởng đến một vài thế hệ sau
và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia dân tộc
Về mặt trí tuệ và một số phẩm chất khác, phụ nữ không thua kém nam giới, nhưng chúng ta cần thấy được sự khác biệt về giới tính để đánh giá đúng vị trí, vai trò và làm tròn chức năng giới của họ Ở đây, cần phải hiểu bình đẳng giới không có
nghĩa là cân bằng giữa nam giới và nữ giới V.I Lênin từng nhấn mạnh: Trong bất
kỳ trường hợp nào cũng không được hiểu sự bình đẳng là sự cân bằng giữa nam và
nữ về năng suất lao động, về những điều kiện lao động NNLN có thể bình đẳng với
nam giới về khả năng tư duy, về quyền hưởng thụ; nhưng thiên chức và điều kiện phát triển của mỗi giới phải khác nhau Cái khác nhau ấy sẽ bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo điều kiện cho nhau hoàn thành tốt cả chức năng gia đình và chức năng xã hội
- Gia đình
Trang 22Theo quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội, suy đến cùng là sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống xã hội Nhưng bản thân
sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt…; mặt khác là
sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội là
do hai loại sản xuất đó quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình[4.Tr,44]
Gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên, có tác động to lớn đến sự phát triển của cá nhân và xã hội Gia đình là nơi thể hiện mối quan hệ thiêng liêng sâu đậm của tình cảm vợ - chồng, cha - con, anh - chị - em máu mủ đó là những người đồng tâm, đồng cảm, chia ngọt sẻ bùi và nâng đỡ nhau suốt cuộc đời Có những vấn
đề không ở đâu có thể đáp ứng giải quyết có hiệu quả ngoài môi trường gia đình Có
lẽ nỗi bất hạnh lớn nhất của cuộc đời con người là cảnh sống “vô gia cư”, gia đình tan vỡ… Gia đình vừa là sản phẩm của xã hội, vừa tác động to lớn đến tiến trình phát triển của xã hội Việc xây dựng gia đình mới đem lại hạnh phúc cho mỗi người, đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên có khả năng tốt nhất trong việc chăm lo cho sự phát triển của mỗi con người trên cả ba phương diện: thể chất, trí tuệ và tình cảm tâm lý Sự tác động của gia đình được diễn ra ngay từ khi đứa trẻ còn trong bào thai đến khi ra đời và sự tác động này tồn tại trong suốt cuộc đời con người Do NNLN phải thực hiện chức năng sinh và nuôi dưỡng con cái nên họ luôn luôn gắn liền với gia đình Đề cập đến sự tác động của gia đình đến NNLN cần phải hiểu đây
là sự tác động hai chiều Gia đình là nơi phụ nữ thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người, nuôi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đồng thời là nơi phụ nữ tiếp nhận những nguồn lực từ gia đình và xã hội cho sự phát triển của chính mình Không thể nói đến phát triển NNLN chỉ căn cứ vào sự tham gia hoạt động xã hội
mà coi nhẹ vai trò to lớn của họ trong gia đình Cũng như không thể chỉ đề cao vai trò của NNLN trong gia đình mà quên đi trách nhiệm của gia đình trong việc chăm
lo cho sự phát triển của NNLN Gia đình phải có sự nhận thức đầy đủ và đầu tư cho mọi thành viên trong gia đình một cách công bằng không phân biệt nam nữ để họ có
Trang 23cơ hội phát triển những tiềm năng của từng cá nhân đóng góp cho xã hội Khi gia đình tái sản xuất và nuôi dưỡng để có NNLN cũng chính là điều kiện cơ bản để gia đình thực hiện tốt chức năng của mình NNLN được tạo các điều kiện phát triển toàn diện ngay từ trong gia đình thì chính gia đình cũng sẽ nhận được những đóng góp tích cực, có hiệu quả của họ cho sự phát triển của gia đình nói riêng và cả xã hội nói chung
* Nhân tố chủ quan
- Bản thân nguồn nhân lực nữ
Nhân tố chủ quan quan trọng nhất thuộc về bản thân NNLN NNLN do bị ảnh hưởng của tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” từ ngàn đời nay còn để lại, nên NNLN vẫn còn tư tưởng tự ti, an phận, cam chịu và thụ động Điều này đã trở thành lực cản bên trong kìm hãm khả năng độc lập, sáng tạo và cống hiến của chính họ
Về mặt tâm lý truyền thống, NNLN vẫn còn có xu hướng “nhường bước” nam giới
từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội Trong gia đình, người phụ nữ thường nhường việc học tập, phấn đấu công danh sự nghiệp cho nam giới Ngoài xã hội, nhiều phụ nữ có năng lực, được thụ hưởng một nền giáo dục đầy đủ, có kỹ năng cao vẫn còn có xu hướng chấp nhận địa vị thấp hơn các đồng nghiệp là nam giới Chính
vì tâm lý tự ti, mặc cảm nên rất nhiều NNLN ngại phát biểu ý kiến, ngại tranh luận với nam giới, mặc dù ý kiến của họ có thể là chính xác Tâm lý tự ti, mặc cảm này
đã làm hạn chế vai trò của chính họ
- Giáo dục - đào tạo
Ngày nay, thế giới ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và là một trong những biện pháp quan trọng nhất để thực hiện bình đẳng giới và nâng cao trình độ học vấn cho NNLN và trẻ em gái là sự đầu tư tốt và không ngoan nhất Giáo dục và xóa mù chữ cho các
em gái cũng có tác động trực tiếp đến việc giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, người
mẹ và tăng tuổi thọ
Ở Việt Nam, Đảng đã khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, đồng
thời luôn tạo ra những cơ hội và điều kiện để có chính sách phát triển NNLN được
Trang 24học đầy đủ như nam giới Nội dung và phương pháp giáo dục đúng đắn sẽ tạo điều kiện khơi dậy những tiềm năng sẵn có của NNLN Ngược lại, nó sẽ kìm hãm khả năng phát triển của NNLN, dẫn đến không khai thác được sức mạnh của một nửa dân tộc đóng góp vào mục tiêu phát triển chung của đất nước Thông qua giáo dục, trình độ, chuyên môn kĩ thuật, nhân cách, đạo đức và khả năng sáng tạo của NNLN hình thành và phát triển, nhờ đó mà chất lượng NNLN ngày càng được nâng lên không ngừng Việc đầu tư cho giáo dục đảm bảo bình đẳng giữa nam và nữ sẽ tích lũy vốn cho con người, là chìa khóa để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập Giáo dục còn góp phần vào xóa đói, giảm nghèo NNLN được giáo dục sẽ giúp họ không còn quan niệm NNLN chỉ quanh quẩn với công việc gia đình, trái lại,
họ sẽ tham gia vào các công việc ngoài xã hội, tích cực trong chuyên môn, nghiệp
vụ để tạo ra năng suất lao động cao, có thu nhập chính đáng đóng góp vào kinh tế của gia đình và xã hội
Đối với NNLN, bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, giáo dục còn giúp NNLN có hiểu biết để nâng cao sức khỏe sinh sản Nhân lực nữ có trình độ học vấn cao thường kết hôn muộn hơn, thực hiện kế hoạch hoá gia đình tốt hơn và
có quy mô gia đình nhỏ hơn so với nhân lực nữ không có trình độ học vấn hoặc trình độ học vấn thấp NNLN được giáo dục đầy đủ và ở bậc cao thì họ sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mình tốt hơn sẽ cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước NNLN được giáo dục một cách bài bản trong hệ thống giáo dục quốc dân nên sẽ có khả năng tạo ra thu nhập độc lập và giáo dục cũng đề cao vị trí của NNLN trong cộng đồng qua đó làm cho NNLN tham gia đóng góp, quyết định nhiều hơn trong hoạt động ngoài xã hội và gia đình Giáo dục sẽ tạo cho NNLN sự hiểu biết
cơ bản về quyền và trách nhiệm của mình đối với thế hệ tương lai của đất nước
Tóm lại, giáo dục và đào tạo để phát triển NNLN là chìa khóa để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia Việt Nam phải kiên trì thực hiện chủ trương coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu thì việc giảm khoảng cách giới trong giáo dục đào tạo (đặc biệt là giáo dục bậc cao) sẽ thúc đẩy sự phát triển toàn
Trang 25diện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, trong đó có NNLN trước mắt cũng như lâu dài
- Chủ trương, chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước
Trong công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lo phát triển nguồn lực con người là một yếu
tố quyết định thành công của công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN ở Việt Nam Chăm lo phát triển nguồn lực con người hướng vào cả nam và nữ với các tiêu chí: phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tình cảm và đạo đức Một trong những nhân tố chủ quan quan trọng có tác động trực tiếp đến việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt NNLN là chính sách xã hội Chính sách xã hội là một công cụ không thể thiếu của quản lý nhà nước nhằm thực hiện và điều chỉnh các mối quan hệ của con người xoay quanh mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và xã hội Chính sách xã hội đúng đắn, phù hợp đảm bảo sự phát triển bình đẳng đối với cả nam và nữ Nó là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của con người, đặc biệt của NNLN tạo điều kiện thuận lợi để họ say mê lao động phát triển khả năng sáng tạo của mình đóng góp cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội Ngược lại, nếu hệ thống chính sách xã hội không đảm bảo sự phát triển bình đẳng giới, thiếu đồng bộ thì nó sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tư duy sáng tạo của NNLN làm cho họ không có cơ hội được đóng góp sức mình cho sự phát triển của đất nước, nó tạo điều kiện cho sự phát triển thiên lệch của hai giới trong mục tiêu chung
- Quá trình sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực nữ
Sử dụng là một thuật ngữ chung để chỉ quá trình tiếp nhận, phát triển và đánh giá kết quả hoạt động thực tiễn của nguồn nhân lực Đối với chính sách NNLN, quá trình sử dụng được biểu hiện ra là quá trình thu hút và trọng dụng nhằm phát triển tối đa khả năng của lực lượng này Vấn đề sử dụng và đãi ngộ là hai vấn đề không thể tách rời nhau, nó có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại nhằm phát triển NNLN Việc sử dụng NNLN là một nhân tố rất quan trọng để phát triển tri thức, kỹ
Trang 26năng và sức sáng tạo của họ Việc sử dụng NNLN đúng với ngành nghề và trình độ đào tạo, đãi ngộ xứng đáng với năng lực, trình độ, sự đóng góp thì sẽ tạo cho họ động lực, từ đó thúc đẩy họ phát triển, nâng cao trình độ chuyên môn, tài năng, trí tuệ và ra sức phấn đấu vươn lên về mọi mặt đóng góp cho mục tiêu phát triển
Tuy nhiên, việc sử dụng NNLN không phù hợp, đãi ngộ không hợp lý sẽ làm cho họ bị hạn chế, chán nản, dẫn đến hiện tượng chảy máu chất xám, thậm chí thui chột khả năng sáng tạo và cống hiến Quá trình sử dụng và đãi ngộ NNLN hợp lý không chỉ đơn thuần dựa vào kỹ năng, trình độ chuyên môn nhằm đạt hiệu quả kinh
tế trước mắt mà còn phải đảm bảo được sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bình đẳng giới Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc sử dụng và đãi ngộ NNLN sao cho hợp lý sẽ phát huy được hiệu quả là một trong những vấn đề rất phức tạp nhưng cần được đặt ra và giải quyết thấu đáo Có ý kiến cho rằng, nền kinh tế thị trường hãy để cho thị trường lao động quyết định việc lựa chọn, sử dụng
và đãi ngộ với các trình độ khác nhau của lao động, có như vậy mới phát huy được hiệu quả cao trong quá trình sử dụng lao động Ngoài ra, còn có ý kiến đã đặt niềm tin vào sự chi phối của cơ chế thị trường trong việc tự động đem lại sự công bằng xã hội và bình đẳng nam - nữ Theo chúng tôi, quan điểm trên được hiểu máy móc, xơ cứng, khó thực hiện, vì trên thực tế bên cạnh chức năng là người lao động như nam giới thì NNLN còn đảm nhận chức năng sinh con, nuôi con “Khi thực hiện chức năng này người lao động nữ chẳng những phải tiêu hao sức vóc, một phần khả năng lao động mà còn mất hàng thập kỷ về thời gian lao động, hơn thế nữa lại là thời gian vàng ngọc, trẻ khoẻ, sung sức nhất”[21.Tr,8].Trong quá trình xây dựng, phát triển chính sách sử dụng và đãi ngộ NNLN phải chú ý đến đặc điểm của phụ nữ, vừa có chức năng lao động như nam giới, vừa có chức năng tái sản xuất dân số và nguồn lao động, phải tính đến tiêu hao sức lực và thời gian của NNLN trong việc thực hiện chức năng thứ hai một cách hợp lý để họ có điểm xuất phát ngang bằng về mặt sức lao động với nam giới trong nền kinh tế thị trường
Trong quá trình sử dụng và đãi ngộ NNLN phải tạo điều kiện thuận lợi cho
họ phát triển ngang bằng với nam giới về cơ hội đóng góp, thăng tiến và thụ hưởng
Trang 27thành quả lao động Quy trình tuyển dụng, đề bạt bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng sao cho phù hợp đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa nam và nữ NNLN khi
sử dụng phải khai thác tiềm năng sẵn có của họ tránh lãng phí cho gia đình và xã hội Việc phát triển NNLN luôn chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó phải nói đến những điều kiện khách quan và những nhân tố chủ quan cơ bản trên Mỗi điều kiện và nhân tố tác động ở những khía cạnh nhất định đến NNLN, nhưng đều ảnh hưởng đến sự phát triển của NNLN Trong đó, điều kiện khách quan có vai trò quan trọng mang tính quyết định, nhưng nhân tố chủ quan cũng có tác động lớn đến việc phát triển NNLN Vì thế, khi xem xét, đánh giá, xây dựng chiến lược phát triển NNLN cần phải phân tích và đánh giá đầy đủ tất cả các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để có chiến lược phát triển NNLN phù hợp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
1.2 Chính sách của Đảng, Nhà nước đối với nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước
Xuất phát từ vai trò to lớn của phụ nữ, Hồ Chí Minh xác định một cách nhất quán rằng giải phóng phụ nữ là một trong những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
“Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa ” [16tr,167]
Nhận thấy vai trò, tiềm năng của phụ nữ, từ khi thành lập cho đến nay, Đảng
ta đã luôn đánh giá cao sự đóng góp của phụ nữ và đề ra nhiệm vụ lãnh đạo, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy khả năng to lớn, thực hiện nam nữ bình đẳng Đảng đã
luôn quan tâm và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ về công tác vận động phụ nữ Đó là: phải
đấu tranh xoá bỏ những quan điểm phong kiến và tư sản trong việc đánh giá lực lượng
và khả năng của phụ nữ, trong việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động nữ, cán bộ
nữ, trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể về đời sống của phụ nữ và trẻ em và Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phải ra sức giáo dục, động viên phụ nữ phát huy quyền làm chủ tập thể, cống hiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc; tiếp tục đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ và xây dựng người phụ nữ mới xã hội chủ nghĩa…
Trang 28Ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1946 đã khẳng định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9, Hiến pháp 1946) Hiến pháp 1959 đã cụ thể hoá thêm một bước, theo đó “Phụ nữ
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và gia đình.” (Điều 14, Hiến pháp năm
1959) Hiến pháp năm 1992, điều 63 nhấn mạnh rõ hơn rằng Phụ nữ có quyền bình
đẳng, và quyền đó được pháp luật công nhận và bảo vệ: “Công dân nữ và nam có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ… Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” Sự tôn trọng quyền bình đẳng tham
gia và sự bảo vệ quyền đó đã được cụ thể hoá thông qua các điều luật liên quan đến phụ nữ trong một số bộ luật cơ bản như Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Giáo dục
Sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tạo ra điều kiện để phát huy tiềm năng của phụ
nữ, từ đó nâng cao vị thế của phụ nữ không thể coi chỉ là trách nhiệm của bản thân
họ, mà là của toàn xã hội, của Đảng, của Nhà nước Nghị quyết 153 NQ/TW (10/1/1967) của Ban Bí thư khẳng định trách nhiệm đối với việc phát huy vai trò phụ nữ là sự nghiệp của Đảng, là trách nhiệm của xã hội: Lực lượng phụ nữ, trong
đó có đội ngũ xung kích là lực lượng cán bộ phụ nữ ở tất cả các lĩnh vực, phải phát huy vai trò chủ động của mình Sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm chung của toàn Đảng, của Nhà nước, của xã hội
Chỉ thị 44 CT/TW (7-6-1984) đã nhấn mạnh rằng đội ngũ cán bộ nữ đã được đào tạo, bồi dưỡng ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ nữ trong mọi lĩnh vực hoạt động Chỉ thị đã yêu cầu trong
công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ cần tính đến các cán bộ nữ Chỉ thị nêu rõ: Tiếp
tục thực hiện nam nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong quản lý kinh tế, quản lý nhà nước Vấn đề cán bộ nữ phải đặt trong việc xây dựng và thực hiện chủ trương quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và nhà nước Trong suốt quá trình
Trang 29cách mạng, Ðảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Quyết định 19/2002/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/1/2002 về Phê duyệt Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010, đã nêu
rõ: Mục tiêu 4: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành Các biện pháp gồm: Quy hoạch đội ngũ cán
bộ nữ, hoàn thiện hệ thống chính sách đối với cán bộ nữ; thực hiện lồng ghép giới trong chính sách phát triển nhân lực
Quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới: Phải xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng
Bồi dưỡng, phát huy sức mạnh tiềm năng và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, luôn được thể hiện nhất quán trong chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng Nghị quyết 04-NQ/TW đã đề ra: ục tiêu
giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình đẳng ây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc ây dựng người phụ nữ Việt
Trang 30Nam có sức khỏe, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng,
Quan điểm này được duy trì và thực hiện trong suốt những năm đổi mới vừa qua, thể hiện hướng đi đúng trong công tác phụ nữ của Đảng Công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) chỉ rõ: “Nâng cao
trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo
điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai tr người công dân, người lao động, người
mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp…kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và
Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 11- NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong Nghị quyết đã khẳng định: “Phát huy
vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cần nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ cho phụ nữ, tạo việc làm cho
họ, cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn
hơn cho xã hội và gia đình
Trang 31Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng xác định: Cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp Các cơ quan Nhà nước với sự phối hợp của các đoàn thể cần có biện pháp thiết thực tạo thêm việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
nữ, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, thực hiện đúng Luật Hôn nhân gia đình Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc Luật Bình Đẳng Giới Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 21/11/2006 có ghi
“Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ” (Điều 13 Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động), “Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ” (Điều 14 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo) và các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ “cản trở nam, nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ; từ chối việc tham gia của một giới trong các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ”
Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội
và trong quản lý nhà nước và khẳng định: Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản
lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một bảo đảm để các vấn đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định, là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình
Xuất phát từ đặc điểm lao động nữ ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ lao động còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ Bởi thế, họ có những đặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) chỉ phù hợp với những điều kiện lao động nhất định Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dành hẳn chương X gồm 10 Điều (Điều 109 đến Điều 118) quy định riêng cho lao động nữ như quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới; chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ; mở rộng nhiều
Trang 32loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ để ngoài nghề đang làm người lao động
nữ cần có thêm nghề dự phòng và để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp về đặc điểm cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ; Nhà nước có chính sách ưu đãi, xét giảm thuế đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ; nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ; ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người
đó có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ… Đây là văn bản pháp lý bảo đảm quyền của lao động nữ, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy vai trò của mình trong đời sống xã hội Địa vị chính trị, kinh tế, xã hội của phụ nữ được bảo đảm, có ý nghĩa quyết định cho quyền bình đẳng và giải phóng phụ nữ trong thực tế
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII của Đảng đã xác định
“Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong 3 khâu đột phá quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó chỉ đạo các chỉ
tiêu về cán bộ nữ cần đạt được vào năm 2020 Chính phủ đã ban hành Chiến lược
quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, trong đó mục tiêu thứ nhất là
“Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị” và Chương trình quốc gia
về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, trong đó có dự án 3 về “Nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ đại biểu Quốc hội, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp; nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2020, nữ cán bộ thuộc diện quy hoạch”
Với những quan điểm và chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùng với sự phấn đấu vươn lên của phụ nữ cả nước nói chung, vị trí, vai trò của phụ nữ đó ngày càng được khẳng định trong thực tế xã hội Có thể khẳng định rằng: xuất phát từ nhu cầu khách quan về các nguồn lực, trước hết là nguồn lực con người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn coi phụ nữ là động lực quan trọng của sự
Trang 33phát triển kinh tế - xã hội Để phát huy nguồn lực phụ nữ, các chính sách của Đảng
và Nhà nước đã có một cách nhìn nhận tương đối toàn diện về các vai trò khác nhau
mà người phụ nữ gánh vác trong gia đình và ngoài xã hội Nhờ kiên trì quan điểm phát huy nguồn lực phụ nữ mà Đảng ta đã động viên được các tầng lớp phụ nữ tham gia vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Vai trò và địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam được nâng cao qua từng giai đoạn phát triển Điều này chứng tỏ rằng một trình độ mới về tiến bộ xã hội thể hiện ở mức độ bình đẳng giới có thể được tạo lập ngay trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển
1.2.2 Các giải pháp, công cụ chính sách
ột là, đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực Trong đó,
cần tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về phát triển nhân lực Cần hình thành một cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, xây dựng hệ thống thông tin về cung - cầu nhân lực trên địa bàn cả nước nhằm bảo đảm cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới các chính sách, cơ chế, công cụ phát triển nhân lực (bao gồm các nội dung về môi trường làm việc, chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh sống, định cư, chú ý các chính sách đối với bộ phận nhân lực chất lượng cao, nhân tài) Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực
Hai là, bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực Ngân sách nhà
nước là nguồn lực chủ yếu để phát triển nhân lực quốc gia đến năm 2020 Tăng đầu
tư phát triển nhân lực cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng tập trung chi để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án đào tạo theo mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội (hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực ở các vùng sâu, vùng xa, cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách,…) Nghiên cứu đổi mới cơ chế phân bổ và hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho phát
Trang 34triển nhân lực từ hỗ trợ cho các đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng và bảo đảm công bằng giữa các cơ sở công lập và ngoài công lập
Ba là, đổi mới giáo dục và đào tạo Đây là nhiệm vụ then chốt, giải pháp chủ
yếu để phát triển nhân lực Việt Nam nói chung và NNLN nói riêng trong giai đoạn
từ nay đến 2020 và những thời kỳ tiếp theo Cần quán triệt và triển khai quyết liệt Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04-11-2013 của Hội nghị Trung ương 8 khoá XI và Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09-6-2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Bốn là, chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Việt Nam Xây
dựng, thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông lệ và luật pháp quốc tế về lĩnh vực này mà Việt Nam tham gia, ký kết, cam kết thực hiện
Thiết lập khung trình độ quốc gia phù hợp với khu vực và thế giới Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo theo định hướng phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù Việt Nam; tăng cường quan hệ liên thông chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo của Việt Nam và quốc tế; thực hiên công nhận lẫn nhau chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam và của thế giới; thỏa thuận về việc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo giữa Việt Nam với các nước
Kết luận chương 1
Vấn đề chính sách phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực nữ nói riêng là vấn đề quan trọng, được nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách quan tâm Kế thừa những công trình đi trước, trong chương này, tác giả luận văn đã đưa ra quan niệm về chính sách, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực
nữ, phát triển nguồn nhân lực nữ và chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ; chúng đóng vai trò là những khái niệm công cụ của luận văn Tiếp theo, tác giả luận văn
Trang 35đã cố gắng làm rõ vấn đề chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ, chủ thể, thể chế chính sách và những nhân tố tác động đến chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ
Là bộ phận cơ bản của nguồn lực con người, nguồn nhân lực nữ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia Vấn đề phát huy nguồn nhân lực
nữ đã được Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng ngay từ ngày đầu mới thành lập Tác giả luận văn cũng đã phân tích, làm rõ chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay, những mục tiêu và các giải pháp công cụ, chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực quan trọng này
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC NỮ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (2008 - 2015)
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực nữ ở thành phố Hà Nội
2.1.1 Về số lượng và cơ cấu:
Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tổng số dân của Hà Nội tính đến ngày 1/4/2009 là 6.451.909 người và Hà Nội là thành phố đông dân thứ 2 của
cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh (7.123.340 người) Số người sống ở khu vực thành thị là 2.644.536 người chiếm 41% và khu vực nông thôn là 3.807.373 người chiếm 59% Dân số nam là 3.170.062 người chiếm 49,13% và nữ là 3.281.847 người chiếm 50,87% [9] Tính đến ngày 31/12/2012, dân số Hà Nội đã vượt mốc 7 triệu người, đạt 7.044.300 người Dân số tính đến ngày 31/12/2015 là 7.558.965 người chiếm hơn 8% dân số cả nước[1], tăng thêm 17% so với năm 2008 (năm hợp nhất) Với quy mô dân số Hà Nội năm 2015 đã vượt xa mức dân số được xác định cho năm 2015 trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội giai đoạn 2015 - 2020 (khoảng 7,2 - 7,3 triệu người)
Bảng 2.1: Quy mô dân số Hà Nội giai đoạn 2008 – 2015
Trang 37Như vậy, dân số Hà Nội trong 7 năm (2008-2015) tăng khá nhanh, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2,6% / năm Tỷ lệ tăng dân số bình quân của Hà Nội trong giai đoạn 2008-2015 cao gấp 2,5 lần so với tỷ lệ tăng dân số trung bình của cả nước Trong đó, tỷ lệ tăng dân số khu vực thành thị có xu hướng cao hơn so với tỷ
lệ tăng khu vực nông thôn, nhất là trong những năm đầu mới mở rộng địa giới hành chính Hiện nay, trên địa bàn Thành phố có trên 30 dân tộc cư trú; trình độ dân trí
và mức sống của mỗi dân tộc, mỗi vùng khác nhau Trên thực tế tại các huyện ngoại thành, tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh và tình trạng sinh con thứ ba thường khá cao Theo báo cáo về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình của Chi cục Dân số -
Kế hoạch hóa gia đình Hà Nội, những trọng điểm sinh con thứ ba cao chủ yếu rơi vào các huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Mỹ Đức, Chương Mỹ… Các đơn vị có tỷ
lệ chênh lệch giới tính khi sinh cao cũng thường rơi vào các vùng ngoại thành như: Gia Lâm, Ứng Hòa, Mê Linh…
- Cơ cấu giới tính:
Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, nữ giới chiếm 50,7% trong cơ cấu dân số Thủ đô Hà Nội Năm 2013, nữ giới chiếm 51,1% dân số Thủ đô Điều đó cho thấy tiềm lực lao động nữ luôn cao hơn so với nam giới
Bảng 2.2: Dân số trung bình phân theo giới tính
Đơn vị: người
Trang 38nghiệp nhất định Vì thế, tỉ lệ nữ ở nhóm tuổi 15 - 24 tham gia lao động không cao (12%) Sau khi đã có nghề hoặc chuyên môn, ở nhóm tuổi 25 - 34 tỷ lệ tham gia lao động nhích dần lên, đặc biệt ở nhóm tuổi 30 - 44 là giai đoạn phụ nữ thường đã hoàn thành chức năng sinh và nuôi con nhỏ nên tham gia thị trường lao động với tỉ
lệ cao (39,1%)
Bảng 2.3: Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2013
Đơn vị tính: %
(Nguồn: Điều tra Lao động và việc làm năm 2013)
- Cơ cấu dân số và lao động theo vùng của Hà Nội
Năm 2008, dân số nông thôn Hà Nội chiếm 59,6%, đô thị chiếm 40,4%, năm
2013, nông thôn chiếm 57,5%, đô thị chiếm 42,5% Số liệu đó cho thấy dân số thành thị có xu hướng tăng lên năm 2013 cao hơn 2008 khoảng 2%[14.Tr,354] Dân số vùng nông thôn giảm dần Kết cấu dân số và lao động trên đây là kết quả của quá trình đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố Xu hướng biến đổi này tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đô
Trang 39- Cơ cấu lao động nữ theo thành phần kinh tế cho thấy, từ khi chuyển sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, cơ cấu phân bố nhân lực nữ trong các thành phần kinh tế ở Hà Nội có sự thay đổi tích cực theo hướng giảm dần tỉ trọng lao động nữ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, tăng nhanh tỉ trọng lao động nữ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước Xu hướng chung là giảm dần lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước từ 16,9% (năm 2010) xuống còn 15,4%; tăng dần lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ 4,9% (năm 2010) lên 5,9% (năm 2013) Xu thế này phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, cho phép giải phóng sức sản xuất và khai thác tiềm năng của các thành phần kinh tế cho sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đô Qua thực tế cho thấy, công tác cán bộ nữ
đã có một số bước tiến mới, song tỷ lệ nữ giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo các cấp, các ngành hiện đạt rất thấp, đặc biệt là ở các vị trí lãnh đạo, cấp trưởng Cán bộ nữ chủ yếu vẫn nữ cấp phó Việc triển khai công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm luân chuyển cán bộ nữ còn chưa chủ động và chưa có chiến lược tạo nguồn lâu dài Việc thực hiện chính sách đối với cán bộ nữ vẫn tùy thuộc vào điều kiện và sự quan tâm của lãnh đạo từng đơn vị, địa phương
- Cơ cấu lao động theo ngành, theo số liệu thống kê năm 2009, nếu tính tổng
lao động có việc làm trong toàn thành phố thì lao động nữ gần như cân bằng với lao động nam (lao động nữ chiếm 49,9% tổng số lao động đang làm việc) Trong đó, một số ngành kinh tế sự lựa chọn giới tính rất rõ nét, điển hình như ngành xây dựng chỉ có 13.1% lao động là nữ, ngành vận tải kho bãi là 12,8% Ngược lại, các ngành chiếm tỉ lệ lao động nữ cao như “Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình” chiếm 93%, “giáo dục đào tạo” chiếm 71,6%, “y tế và hoạt động trợ giúp xã hội” chiếm 64,8%, “Dịch vụ lưu trú và ăn uống” chiếm 61,2%, tiếp đến là “Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 57,6%[10.Tr,100]
Trong hoạt động quản lý xã hội, phụ nữ tham gia với số lượng ngày một tăng
ở các vị trí lãnh đạo Tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp uỷ đảng, HĐND các cấp tăng liên tục với tỷ lệ cao hơn so với tỉ lệ trung bình của cả nước Đại hội Đảng bộ các cấp (nhiệm kỳ 2010-2015), có 9 cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành
Trang 40phố chiếm 12%; có 205 nữ/1229 ủy viên ban Chấp hành các quận, huyện, thị ủy chiếm 16,7%; cấp ủy viên xã, phương, thị trấn chiếm 20,9% Đại biểu HĐND các cấp (nhiệm kỳ 2011-2016), cấp thành phố có 23 đại biểu nữ đạt 24,2%; cấp quận, huyện, thị xã là 26,36% và cấp xã, phường, thị trấn đạt 25,5%[20]
Tuy nhiên, tỉ lệ phụ nữ nắm giữ các cương vị lãnh đạo còn thấp so với tỉ lệ phụ nữ trong dân cư và trong các lĩnh vực lao động sản xuất, phụ nữ tham gia quản
lý chủ yếu ở vị trí cấp phó, không giữ vai trò quyết định Phần lớn cán bộ nữ chủ chốt ở độ tuổi trên 45 (trong đó có tới 25% ở độ tuổi trên 50) tạo nên nguy cơ hẫng hụt lớn về đội ngũ nữ cán bộ quản lý trong những năm tới Như vậy, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và từ góc nhìn vai trò to lớn phụ nữ thì quy mô và mức độ tham gia của phụ nữ vào quá trình lãnh đạo quản lý, hoạch định chính sách còn rất hạn chế
2.1.2 Về chất lượng:
- Về trí lực:
Hà Nội là thành phố duy nhất đứng đầu cả nước về tất cả các chỉ số giáo dục
cơ bản Tỉ lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đều vượt khá xa so với các thành phố khác Tỷ lệ biết chữ của nữ ở
Hà Nội đã được cải thiện nhanh chóng với tỉ lệ tăng từ 92,8% năm 1989 lên 95,6% năm 1999 (nữ toàn quốc là 88,2%), trong khi tỷ lệ biết chữ của nam tăng tương ứng
từ 98,5% lên 98,9% Tuy còn có sự chênh lệch giữa tỉ lệ biết chữ của nam và nữ nhưng xét theo nhóm tuổi, trình độ học vấn của nam và nữ theo các cấp học (không có sự cách biệt lớn) đã cho thấy khoảng cách về giới trong giáo dục cơ bản ở Hà Nội đã được khắc phục đáng kể
Tỷ trọng lực lượng lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học là 38,1% (tỷ lệ trung bình của cả nước năm 2012 là 8,9% - theo Báo cáo Điều tra Lao động - việc làm Quý IV năm 2012 của tổng cục thống kê) Theo kết quả điều tra cũng cho thấy Hà Nội cũng là địa phương có tỉ lệ lao động nữ đã qua đào tạo (có chuyên môn kỹ thuật) rất cao đạt 73,6% gấp 1,5 lần so với mặt bằng chung cả nước (47,3%)
Hà Nội còn là địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ phụ nữ có học hàm, học vị