1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

107 466 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 910,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng các hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu… .... Trong những năm qua, Hồ Thầu được sự

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

TỪ THỰC TIỄN XÃ HỒ THẦU, HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI- 2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ THỰC TIỄN

XÃ HỒ THẦU HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM TIẾN NAM

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Phát triển cộng đồng đối với

người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các

kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Nga

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 13

1.1 Khái niệm và đặc điểm về người dân tộc Dao 13

1.2 Khái niệm và các tiêu chí đo lường nghèo đói 18

1.3 Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo 25

1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo 36

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ HỒ THẦU, HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU 40

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 40

2.2 Thực trạng các hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu… 49

Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TÔC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ HỒ THẦU, HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU 65

3.1 Các quan điểm, định hướng, mục tiêu giảm nghèo người dân tộc Dao xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 65

3.2.Một số giải pháp đối với người nghèo 67

3.3 Các giải pháp đối với cộng đồng 73

3.4 Các giải pháp đối với cấp Trung ương và chính quyền địa phương 73

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Hình 1.1: Sơ đồ đo lường nghèo đa chiều 24

Bảng 2.1 Thống kê đặc điểm của các hộ nghèo 43

Biểu 2.1: Thời gian trở thành hộ nghèo 44

Bảng 2.2 Lý do rơi vào hộ nghèo 45

Bảng 2.3: Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ nghèo xã Hồ Thầu 46

Bảng 2.4: So sánh mức thu nhập và chi tiêu của hộ bình thường và hộ nghèo 48

Bảng 2.5: Bảng số liệu nghiên cứu thực trạng dịch vụ hỗ trợ xã hội 50

Bảng 2.6 Đánh giá kết quả thực hiện các tiểu dự án thuộc Chương trình giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 (2010-2015) khoản tín dụng từ ngân hàng thế giới của nhóm phụ nữ xã Hồ Thầu: 54

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách

về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân

cư Trong những năm qua với chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 (gọi tắt là chương trình 30a) và Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 đã thu được những kết quả khả quan, góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện được công bằng xã hội, số hộ nghèo giảm nhanh Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc; tỷ lệ hộ nghèo hàng năm còn cao; đời sống người nghèo còn nhiều khó khăn, đặc biệt là

ở khu vực miền núi, những xã vùng cao, vùng người dân tộc thiểu số

Có nhiều nguyên nhân làm cho kết quả công tác xóa đói giảm nghèo chưa đạt kết quả cao như cơ chế chính sách còn bất cập, chưa đồng bộ; nguồn lực đầu tư của Nhà nước và Xã hội chưa đáp ứng; công tác tổ chức thực hiện chưa hiệu quả Ngoài ra, một bộ phận người nghèo, một số cộng đồng thôn bản còn có tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo, hay nói cách khác là năng lực của cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo chưa được phát huy

Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực

Trang 8

tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo,

do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ

3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.[10, tr 8]

Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản

về y tế, giáo dục, thông tin Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách

hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng

xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo

Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển

từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn chế Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ nghèo vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội [9, tr 19]

Chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch

Trang 9

vụ xã hội cơ bản [7, tr 11] Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập

Hồ Thầu là xã thuộc diện khó khăn của huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, gồm 10 bản với 602 hộ, 3041 nhân khẩu Trong đó dân tộc Dao có

2808 khẩu chiếm 92,34% (Theo thống kê của huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, 2014) Trong những năm qua, Hồ Thầu được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của Huyện Ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các ban ngành đoàn thể của huyện nên Hồ Thầu đã có những bước phát triển tốt, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện nhưng vẫn là xã nghèo, kém phát triển của huyện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm; sự tham gia của người dân để cùng giải quyết những vấn đề nghèo đói của cộng đồng chưa được phát huy… do vậy đời sống của một bộ phận nhân dân các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn cần được giải quyết Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng các hoạt động PTCĐ & các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng là hết sức cần thiết Từ đó, đề xuất các giải pháp để các hoạt động PTCĐ theo hướng chuyên nghiệp hơn và khẳng định vai trò của nghề CTXH trong xóa đói giảm nghèo bền vững tại xã Hồ Thầu là một việc làm thiết thực vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa là vấn đề cấp thiết đối với thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

Trong chương trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu Thanh niên năm

2016 (cơ quan tôi đang công tác) đã chọn Hồ Thầu là địa bàn nghiên cứu về vai trò của tổ chức Đoàn đồng hành với thanh niên trong nghề nghiệp và việc làm nên rất thuận lợi cho việc lồng ghép với đề tài nghiên cứu luận văn Xuất

phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển cộng đồng trong xóa

đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu” làm luận văn thạc sĩ

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện dưới nhiều góc

độ khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo dưới góc độ công tác xã hội mới được đề cập đến trong một số công trình

Xóa đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Poverty eradication and the role for social workers) của Nairobi (tháng 1 năm 2010)

chỉ ra tác động của nghèo đói tới đời sống của người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương; đồng thời đưa ra 3 phương pháp tiếp cận để xóa đói giảm nghèo là:

- Tham vấn và sự tham gia của các cá nhân, gia đình và các nhóm dân

cư trong các tình huống nghèo Đây được coi là những yếu tố quan trọng trong xóa đói giảm nghèo

- Lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp, các dự án thoát nghèo, hỗ trợ họ tăng sự tự tin là phương pháp phổ biến mà nhân viên xã hội đã được sử dụng trong quá khứ

Nhấn mạnh đến vai trò của các phương pháp và hợp tác quốc tế, nhấn mạnh đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo Ở cấp độ vi mô, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo, đánh giá rủi ro, phải làm việc một cách sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi, môi trường của họ Phát triển cộng đồng đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hội, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội giữ một vai trò quan trọng

Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo và chứng kiến hành

vi của họ thay đổi Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp với làm việc với các cá nhân, gia đình và có công việc cộng đồng, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát

Trang 11

hiện ra các nguyên nhân nghèo đói của họ Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo hiệu quả

Vai trò của công tác xã hội trong các chương trình xóa đói giảm nghèo

ở Philippines: tư tưởng, chính sách và các ngành nghề ( The role of social work in Philippines poverty – reducation program: ideology, policy, and the profession): bài viết (Châu Á Thái Bình Dương Tạp chí Công tác xã hội và

Phát triển, tập 23, số 1, năm 2013, trang 35-47) xem xét vai trò của công tác

xã hội trong 3 chương trình xóa đói giảm nghèo ở Philipppines, nhấn mạnh đến việc kiểm tra tập trung vào các giá trị và nguyên tắc làm cơ sở cho việc thực hiện và mối quan hệ với quan niệm cụ thể của công tác xã hội Có ý kiến cho rằng, vai trò của công tác xã hội trong các chương trình này phản ánh tư tưởng thống trị trong chính sách xã hội Philippines Tính hợp tác nhận thức của phương pháp tiếp cận có liên quan đến mức độ mà họ thể hiện quan niệm chủ đạo của các vấn đề xã hội và công tác xã hội, đặc trưng bởi sự tham gia của nhân viên và khách hàng tập trung với mục đích thực sự thay đổi trong các cá nhân và môi trường trực tiếp của mình

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nước ta là vấn đề được Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành, các nhà khoa học quan tâm Trong đó đáng chú ý có một

số công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến xóa đói nghèo và phương pháp phát triển cộng đồng ở nước ta như:

Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), “Kinh tế thị trường và

sự phân hóa giàu – nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Các tác giả đã đánh giá

những thành tựu về kinh tế - xã hội hơn 10 năm thực hiện đổi mới đất nước ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc Đồng thời đã chỉ ra những nguyên nhân

và bài học kinh nghiệm trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng người dân

Trang 12

tộc thiểu số, nhưng không đề cập nhiều tới sự tham gia của cộng đồng, vai trò của cộng đồng trong việc giảm khoảng cách giàu – nghèo và công cuộc xóa đói giảm nghèo

Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), “Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo

ở Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp, 2001 Các tác giả đã phân tích khái quát tình

hình nghèo đói của các nước trên thế giới; tình hình nghèo đói ở Việt Nam hiện nay; đưa ra các quan điểm, các giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Tuy nhiên, những vấn đề nghèo đói ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số với những đặc trưng riêng, khó khăn riêng chưa được các tác giả đi sâu phân tích Trong đó có việc hõ trợ như thế nào? Hỗ trợ cái gì giúp cho cộng đồng tự thoát nghèo với sự trợ giúp, hỗ trợ của Nhà nước và Xã hội

Phạm Lệ Thu “Những giải pháp thiết thực thúc đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015” Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận

về nghèo đói; phương pháp xác định chuẩn nghèo; thực trạng nghèo đói và giải quyết công tác đói nghèo của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015; đề ra được một số giải pháp thiết thực trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Điện Biên trong giai đoạn tiếp theo, trong đó có các giải pháp tổng thể (quy hoạch)

và cụ thể (các giải pháp can thiệp đối với hộ nghèo, người nghèo) Tuy nhiên, vẫn thiếu các giải pháp hỗ trợ đối với người nghèo, hỗ trợ cộng đồng tham gia nhận diện, lập kế hoạch các hoạt động xóa đói giảm nghèo của người dân tộc thiểu số Điện Biên Đối với các công trình, bài viết liên quan đến phương pháp phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo có các bài:

Phan Huy Đường, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo” Tác

giả đã nêu khái quát vai trò của phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo ở nước ta; các nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng; các phương thức của phát triển, trong đó nhấn mạnh phương thức tăng cường năng lực

Trang 13

của cộng đồng thông qua tăng cường năng lực cho người dân tham gia nhận diện vấn đề của người nghèo; lập kế hoạch; huy động nguồn lực cộng đồng

Nguyễn Mạnh Đôn, có bài viết trao đổi trên diễn đàn của Liên hiệp các

Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (đăng ngày 20/02/2005) “Một số suy nghĩ về hoạt động phát triển cộng đồng và xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc”, đã khái quát nêu 6 nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, trong

đó có các giải pháp chủ yếu và cần được ưu tiên như: Nâng cao nhận thức và năng lực của người dân và cộng đồng; chuyển giao công nghệ theo hướng ưu tiên phù hợp đặc thù địa lý và dân tộc; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục

vụ đời sống, sản xuất và lưu thông Đặc biệt tác giả nhấn mạnh các hoạt động trên phải dựa trên nguyên tắc phát huy tối đa sự tham gia của người dân và cộng đồng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của các chương trình, dự án; cần sử dụng phương pháp tiếp cận cho phù hợp; xây dựng khả năng hợp tác giữa người dân và cán bộ phát triển…

Sơ bộ phân tích một số công trình, bài viết trên cho thấy, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đói nghèo và gợi mở hướng giải quyết những vấn

đề đói nghèo bằng phương pháp cộng đồng Thành quả của những công trình nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn và hướng vận dụng giải quyết vấn đề này theo nhiều phương pháp, góc độ khác nhau, trong đó có phương pháp phát triển cộng đồng Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo áp dụng đối với đối tượng dân tộc thiểu

số vùng cao như người Dao thuộc xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu vẫn là một khoảng trống chưa có công trình nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng

trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu,

Trang 14

huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng theo hướng công tác xã hội chuyên nghiệp tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài thông qua các văn bản pháp luật, các tài liệu liên quan đến phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo

Đánh giá thực trạng các hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao xã Hồ Thầu nói riêng và đóng góp cho sự phát triển của nghề công tác xã hội trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

4.1.2 Khách thể nghiên cứu

- Các hộ nghèo trong xã

- Đại diện chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể có liên quan

Trang 15

- Phương pháp luận duy vật lịch sử: Đối tượng đòi hỏi khi nghiên cứu vấn đề nghèo, phải đặt chúng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể và trên những địa bàn, vùng lãnh thổ cụ thể Nghèo chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi chúng được đặt trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể với những địa phương nhất định Qua đó, các vấn đề và yếu tố liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu theo các thời kỳ lịch sử, đảm bảo tính xác thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu văn bản: Tổng hợp và phân tích thông tin thứ cấp về nghèo đói (các công trình đã nghiên cứu, xuất bản và công bố; báo

Trang 16

cáo của chính quyền địa phương liên quan đến nghèo đói và phát triển kinh tế

- xã hội địa phương) Lập mẫu phiếu thống kê để hiểu biết cộng đồng (Thống

kê về kinh tế, văn hóa và xã hội, tình hình lao động và việc làm của xã)

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Để nhận diện được tình hình nghèo đói của người dân tộc Dao tại xã Hồ Thầu, tác giả đã thực hiện nghiên cứu tổng thể 229 hộ nghèo trong toàn xã, trong đó, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (phiếu hỏi) Phiếu hỏi được tập trung khai thác những thông tin chung về số lượng hộ nghèo, đặc điểm của hộ nghèo, biến động về hộ nghèo, nguyên nhân nghèo đói, hoạt động kinh tế và vấn đề việc làm của các

hộ nghèo, thu nhập và mức độ chi tiêu của các hộ nghèo

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trong quá trình nghiên cứu phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, ngoài nghiên cứu định lượng tác giả đã thực hiện 03 cuộc thảo luận nhóm với các đối tượng: Phụ nữ nghèo, nhóm thanh niên nghèo và đại diện lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể của xã bằng các công cụ thu thập thông tin để hiểu biết cộng đồng, các hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tại địa phương Từ đó, xây dựng các giải pháp can thiệp góp phần nâng cao hiệu quả phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo Để hiểu sâu hơn những vấn đề liên quan đến giảm nghèo, đặc biệt là các giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về công tác giảm nghèo, các hoạt động hỗ trợ sinh kế và hoạt động hỗ trợ dịch vụ xã hội Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 7 người với các đối tượng: 2 trưởng bản (bản Phô và bản Rừng Ổi), Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ xã, Bí thư đoàn thanh niên xã

Hồ Thầu, 2 hộ nghèo và 1 hộ thanh niên thoát nghèo

- Quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát tham dự và quan sát không tham dự để có nhìn nhận đánh giá đầy đủ về tình trạng nghèo đói của địa

Trang 17

phương; tác động tích cực và tiêu cực của vấn đề phát triển công đồng tới giải quyết đói nghèo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn “Phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”sẽ góp phần bổ sung thêm cơ sở lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo như: khái niệm và đặc điểm về người dân tộc Dao, khái niệm và các tiêu chí đo lường nghèo đói, các hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo và các yếu tố ảnh hưởng Đề tài cũng làm rõ thêm vai trò của Nghề công tác xã hội trong việc giải quyết những vấn đề đói nghèo của dân tộc thiểu số vùng cao trong điều kiện hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần thúc hoạt động phát triển cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề nghèo đói ở địa phương vùng cao nói chung và xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu nói riêng

- Là tài liệu tham khảo đối với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội, đặc biệt là phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo

- Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm tài liệu thực tiễn cho hoạt động phát triển cộng đồng dân tộc Dao tại xã vùng cao nhằm giải quyết đói nghèo

- Là tài liệu tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức hữu quan để thực hiện có hiệu quả phát triển cộng đồng trong vấn đề xóa đói giảm nghèo ở miền núi, vùng cao và vùng dân tộc thiểu số

Trang 18

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo

Chương 2: Thực trạng phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1 Khái niệm và đặc điểm về người dân tộc Dao

1.1.1 Khái niệm

Người dân tộc Dao còn có các tên gọi khác là Mán, Ðông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Ðại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Ðầu Tên thường tự gọi là Kìm Miền, Kìm Mùn Dân tộc này có các nhóm địa phương khác nhau như Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy, Dao Ðại Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô Gang (Dao Thanh Phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo Tiền, Dao Tiểu Bản), Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài) Họ sử dụng nhóm ngôn ngữ Mông-Dao

Người dân tộc Dao cư trú dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào; một số tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ Họ sống tập trung ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ Ngoài ra, còn có một

số di chuyển vào các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Phước

Tại Việt Nam, dân tộc Dao theo điều tra dân số năm 1999 có 620.538 người Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Dao ở Việt Nam có dân số 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh Hà Giang 109.708 người, chiếm tỷ lệ 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam; tỉnh Tuyên

Trang 20

Quang 90.618 người, chiếm tỷ lệ 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam; tỉnh Lào Cai 88.379 người, chiếm tỷ lệ 14,4% dân

số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam; tỉnh Yên Bái 83.888 người, chiếm tỷ lệ 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt Nam; tỉnh Quảng Ninh 59.156 người, chiếm tỷ lệ 5,2% dân số toàn tỉnh; tỉnh Bắc Kạn 51.801 người, chiếm tỷ lệ 17,6% dân số toàn tỉnh; tỉnh Cao Bằng 51.124 người, chiếm tỷ lệ 10,1% dân số toàn tỉnh; tỉnh Lai Châu 48.745 người, chiếm tỷ lệ 13,2% dân số toàn tỉnh; tỉnh Lạng Sơn 25.666 người; tỉnh Thái Nguyên 25.360 người

1.1.2 Đặc điểm

1.1.2.1 Về đặc điểm lịch sử

Người dân tộc Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX Họ tự nhận mình là con cháu của Bàn Hồ (Bàn Vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng của người dân tộc Dao

1.1.2.2 Về đặc điểm kinh tế

Người dân tộc Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và lúa nước với kỹ thuật canh tác khá tiến bộ Họ vừa làm nương vừa làm ruộng Xưa kia họ chuyên du canh, du cư; sau năm bảy năm canh tác trên vùng đất

cũ, họ bỏ làng, bỏ bản đi tìm vùng đất mới Ngày nay người dân tộc Dao đã

bỏ phong tục đó, xây dựng cuộc sống mới định canh, định cư; vừa phát triển nương rẫy, vừa bảo vệ và khai thác rừng hợp lý

Nương rẫy, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến của người dân tộc Dao Tuỳ từng nhóm dân tộc, từng vùng; hình thức canh tác này hoặc hình thức canh tác khác nổi trội lên như: người Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước; người Dao Ðỏ thường thổ canh hốc đá Phần lớn các nhóm dân tộc Dao khác làm nương rẫy,

Trang 21

du canh hay định canh Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và ở vùng cao còn nuôi ngựa, dê Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm dân tộc Dao Họ ưa dùng vải nhuộm chàm

Hầu hết các xóm bản người Dao đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng

cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật

1.1.2.3 Về phong tục tập quán

Người dân tộc Dao thờ tổ tiên là Bàn Hồ Qua tên đệm xác định dòng

họ và thứ bậc Trong hôn nhân gia đình, sau khi cưới người con trai phải đến

ở rể nhà vợ Thời hạn ở rể có thể một vài năm hoặc có thể vĩnh viễn Việc ma chay thường theo tục lệ xa xưa Vài vùng có tập tục hoả táng cho người chết

từ 12 tuổi trở lên

Về văn hoá, người dân tộc Dao có nền văn hoá lịch sử lâu đời và tri thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học cổ truyền Họ không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ Nôm Dao

Người dân tộc Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre Cối giã có nhiều loại như cối

gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước

Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua Khi

ăn xong, người dân tộc Dao kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu

Trang 22

trong nhà có người chết Thức uống phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua chưng cất, có vị chua và ít cay Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu

Về trang phục, người nam mặc quần, áo Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn Các nhóm dân tộc Dao thường có cách đội khăn khác nhau Áo có hai loại, áo dài

và áo ngắn Người phụ nữ dân tộc Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần áo ngắn hay dài màu chàm và đầu đội khăn Y phục rất sặc sỡ Hiện nay trang phục người Dao vẫn giữ được các nét hoa văn truyền thống với những trang trí hoa văn truyền thống Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên trên mặt phải Nhiều loại hoa văn được sử dụng như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây Cách in hoa văn trên vải bằng sáp o-ng của người Dao rất độc đáo Muốn hình gì, họ dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp o-ng không bị thấm chàm

Về nơi ở, người dân tộc Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi tại hầu khắp các tỉnh miền núi phía Bắc Tuy nhiên, có một số nhóm dân tộc như Dao Quần Trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, có năm bảy nóc nhà Nhà của người Dao rất khác nhau tuỳ theo nơi, họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất Kiến trúc nhà ở của người Dao cũng rất phong phú, tuỳ nhóm dân mà dựng nhà trệt hay nửa sàn, nửa đất Hiện nay tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, ngôi nhà nửa sàn nửa đất được chọn để trưng bày và giới thiệu Loại nhà nửa sàn nửa đất là loại kiến trúc nhà cửa của riêng người Dao, gắn liền với cuộc sống du canh, du cư trước đây Điều đặc biệt là toàn bộ ngôi nhà của người Dao đều được làm bằng tranh, tre, nứa, lá; không bao giờ có một chút gạch ngói 8 cột cái trong

Trang 23

nhà được làm bằng những cây gỗ quí, có tuổi rất già từ 80 đến 90 năm Mỗi lần chuyển nhà, họ có thể bỏ phên, tranh, tre, nứa, lá; còn những cột cái bằng gỗ quí

có sức bền với thời gian thì họ chuyên chở đi để làm ngôi nhà nơi ở mới

Phương tiện vận chuyển của người dân tộc Dao ở vùng cao thường dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp thì gánh bằng đôi dậu Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng

Trong quan hệ xã hội, ở thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ Người dân tộc Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có

hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau

1.1.2.4 Các tập tục sinh hoạt

Về sinh đẻ, phụ nữ người Dao thường đẻ ngồi, đẻ ngay tại trong buồng ngủ Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng Nhà có người ở cữ thường treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ

Về cưới xin, trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem

có hợp nhau không Có tập tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai

Về ma chay, Thày tào có vị trí quan trọng trong việc cúng ma và làm chay Nhà có người chết, con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt Họ kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ; ở một số nơi có tập tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với

lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình Lễ tổ chức

Trang 24

ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết; ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà; ngày thứ ba lễ cấp sắc Người chết được cúng đưa hồn về quê

cũ ở Dương Châu

Trong tập tục làm nhà mới, muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi của chủ gia đình Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt Sáng hôm sau ra xem

hố, các hạt gạo vẫn giữ nguyên vị trí là có thể làm nhà được

Trong thờ cúng, người dân tộc Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp; vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo Bàn Vương được coi là thủy tổ của người dân tộc Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình Theo truyền thống, tất

cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc, một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những nét của lễ thành đinh xa xưa

Người dân tộc Dao thường quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất

và sinh hoạt Hầu hết các xóm thôn của người dân tộc Dao đều có người biết chữ Hán, chữ Nôm Dao Người Dao học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ Họ có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ

ca Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, sự tích Bàn Vương rất phổ biến của người Dao Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo Người dân tộc Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo

1.2 Khái niệm và các tiêu chí đo lường nghèo đói

1.2.1 Khái niệm

Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang được các quốc gia thừa nhận;

Trang 25

Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua)

Theo Ngân hàng Thế giới (WB 2000), "Đói nghèo là sự mất đi tình trạng ấm no", ấm no có thể được đo bằng việc sở hữu của cá nhân về thu nhập, sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, tài sản, nhà ở và các quyền nhất định trong xã hội như quyền tự do ngôn luận Đói nghèo là sự thiếu các cơ hội, thiếu quyền lực và khả năng dễ bị tổn thương; Đói nghèo thực sự là là hiện tương do rất nhiều nguyên nhân như vậy và cần có chính sách toàn diện và chương trình can thiệp nhằm thúc đẩy sự ấm no, và giúp họ ra khỏi đói nghèo

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm

1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế

xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận."Những nhu cầu cơ bản ấy bao gồm: ăn mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội

Tuy vậy nghèo đói là một khái niệm động theo thời gian và không gian,

do vậy việc phát triển hoàn thiện khái niệm về nghèo đói là một vấn đề tất yếu khách quan;

Trang 26

Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn

Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống

Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH đang

đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam

Việc đánh giá và cách nhìn nguồn gốc dẫn đến nghèo khác nhau, nên cónhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau Nếu hiểu nghèo là dạng đình đốn của phương thức sản xuất đã lạc hậu song vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo

là quá trìnhchuyển đổi sang phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn Nếu hiểu nghèo là do tình trạng thất nghiệp gia tăng hoặc xã hội rơi vào khủng hoảng kinh tế thì giảm nghèo là tạo ra nhiều việc làm, xã hội ổn định và phát triển

1.2.2 Các tiêu chí đo lường nghèo đói

Chuẩn nghèo là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác định ai là người nghèo (hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước; nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo, Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển KT –

XH, từ năm 1993 đến năm 2016, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã 7 lần công bố tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo

Chuẩn nghèo lần thứ nhất: Ban hành năm 1993:

Trang 27

- Hộ đói: là hộ có thu nhập lương thực quy ra gạo bình quân dưới 13kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 8kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn

- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập quy ra gạo bình quân dưới 20kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 15kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn

Chuẩn nghèo lần thứ hai: Ban hành năm 1995:

- Hộ đói: là hộ có thu nhập lương thực quy ra gạo bình quân dưới 13kg/người/tháng, tính cho mọi vùng

- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập lương thực quy ra gạo bình quân dưới 15kg/người/tháng đối với khu vực miền núi và hải đảo, dưới 20kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng trung du, dưới 25kg/người/tháng đối với khu vực thành thị

Chuẩn nghèo lần thứ ba: Ban hành năm 1997 (Công văn số 1751/LĐTBXH ngày 20/5/1997):

- Hộ đói: là hộ có thu nhập bình quân quy ra gạo bình quân dưới 13kg/người/tháng, tương đương 45.000 đồng tính cho mọi vùng

- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân quy ra gạo bình quân dưới 15kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng tính cho khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dưới 20kg/người/tháng, tương đương 70.000 đồng tính cho khu vực nông thôn đồng bằng, dưới 25kg/người/tháng, tương đương 90.000 đồng tính cho khu vực thành thị

Chuẩn nghèo lần thứ tư: Ban hành năm 2000 (Quyết định số LĐTBXH ngày 01/11/2000), bỏ tiêu chí xác đinh hộ đói, giữ lại tiêu chí xác định hộ nghèo, không dựa vào lương thực quy ra gạo mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt Nam Theo đó, hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới 80.000 đồng/người/tháng tính cho khu vực nông thôn miền núi và hải

Trang 28

1143/QĐ-đảo, dưới 100.000 đồng/người/tháng tính cho khu vực nông thôn đồng bằng

và dưới 150.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị

Chuẩn nghèo lần thứ năm, ban hành năm 2005 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ), quy định chuẩn nghèo giai đoạn này được nâng lên cho phù hợp với mức sống của người dân và để gần với chuẩn nghèo đói của quốc tế Theo đó, hộ nghèo là

hộ có mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng tính cho khu vực nông thôn và dưới 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị

Chuẩn nghèo lần thứ sáu ban hành ngày 30 tháng 01 năm 2011 theo Quyết định số 09/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định:

- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống Hộ nghèo ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống

- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

Chuẩn nghèo lần thứ bảy theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.Với tiêu chí về thu nhập, Quyết định quy định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn

là 700.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng Quy định chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 1.300.000 đồng/người/tháng Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và

vệ sinh, thông tin

Trang 29

Các tiêu chí đo lường nghèo đói này cho phép nhận dạng người nghèo với các mức độ khác nhau và điều quan trọng của nó là hàm ý chính sách của nhà nước cho việc giải quyết các chiều nghèo, tính đa dạng của nghèo ở nước

ta trong giai đoạn tới đặc biệt là giai đoạn 2016-2020

Tiếp cận và đo lường nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới và nó sẽ hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều khác hay dễ bị tổn thương khác bởi các chiều khác, điều quan trọng là cần xã định các chiều nghèo cho phù hợp và xác định các trọng

số cho phù hợp Đây là những khó khăn trong việc triển khai thực hiện chuẩn nghèo mới hiện nay Quá trình triển khai thực hiện chuẩn mới nghèo đa chiều

đã cho thấy một số khó khăn, vướng mắc khi chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường từ nghèo đơn chiều sang nghèo đa chiều ở Việt Nam Đó là:

- Cách tiếp cận nghèo đa chiều còn mới mẻ, khác hẳn quan niệm về nghèo thu nhập/chi tiêu, đòi hỏi cần có thời gian để chuyển đổi và thích ứng

- Khi tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, khái niệm hộ nghèo sẽ khác về nội dung so với xác định chuẩn nghèo thu nhập như hiện nay Trong khi đó,

hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành vẫn dựa trên quy định tiêu chí hộ nghèo dựa vào thu nhập

- Việc xác định các chiều nghèo, chỉ số đo lường, mức độ thiếu hụt đòi hỏi việc dựa trên cơ sở dữ liệu cập nhật và đầy đủ, song hiện nay các số liệu này còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng

- Một số chính sách hiện hành sẽ cần phải thay đổi cùng với yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, do đó đòi hỏi phải có thời gian,

lộ trình, bước đi cụ thể

- Cần tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao giữa các cấp, các ngành

và cộng đồng, người dân trong tiếp cận nghèo đa chiều

Trang 30

Hình 1.1: Sơ đồ đo lường nghèo đa chiều

Theo sơ đồ trên thì sẽ có 4 chiều nghèo và 10 tiêu chí con: (i) về thu nhập và sinh kế, (ii) Y tế, (iii) Giáo dục, (iv) Điều kiện sống hay còn gọi là môi trường sống Do tính chất quan trọng của thu nhập và sinh kế nên chiều này có trọng số 50%; điều kiện sống 20%, hai chiều còn lại là y tế và giáo dục mỗi chiều 15% Riêng về điều kiện sống thì 2 tiêu chí con sẽ được chi tiết thêm thành 7 tiêu chí phụ để dễ nhận dạng đánh giá cho điểm;

Tổng điểm 10 và mức thiếu hụt sẽ chạy từ 1- 10; và sẽ có các ngưỡng nghèo khác nhau tương ứng với các dạng nghèo khác nhau bao gồm:

- Nghèo đa chiều (có thể hiểu là nghèo cùng cực): nghèo về thu nhập

và thiếu hụt ở các chiều nghèo xã hội với ngưỡng thiếu hụt là 6 trở lên

Giáo dục 1,5

Hộ GĐ có người chưa có thẻ BHYT 0,5

Hộ GĐ có người

ốm đau không tiếp cận được dịch vụ khám chữa bệnh 0,5

Hộ GĐ có trẻ

em trong độ tuổi đi học bỏ học 1,0

Hộ GĐ có người trong độ tuổi lao động không biết đọc, không biết viết 0,5

- Nhà ở, nước sạch, vệ sinh : 1,0

- Tường nhà bằng tấm che: 0,2

- Mái nhà bằng tấm lá:0,2

- Nền nhà đất: 0,2

- Nước ko hợp vệ sinh : 0,2

- Công trình về sinh chưa phù hợp : 0,2

Tiếp cận thông tin, đi lại : 1,0

- Ko có tài sản, thiết bị tiếp cận thông tin: 0,5 -Ko có phương tiện đi lai: 0,5

Trang 31

- Nghèo về thu nhập: Chỉ nghèo về thu nhập, không nghèo về các

chiều xã hội khác, ngưỡng thiếu hụt là 5 đến dưới 6

- Nghèo xã hội (nhóm dễ bị tổn thương): Không nghèo về thu nhập,

nhưng nghèo về các chiều xã hội (y tế, giáo dục điều kiện sống), ngưỡng thiếu hụt là 1,5 đến dưới 5

Có thể có nhiều cách xác định các dạng nghèo và ngưỡng nghèo, điều quan trọng là phụ thuộc vào nguồn lực để xác định đối tượng cho phù hợp; nghèo về thu nhập theo truyền thống chúng ta đang làm lần này chúng tôi đề xuất bổ sung thêm vấn đề về sinh kế là việc làm, Vì sinh kế ý nghĩa rất quan trọng đến thu nhập của hộ gia đình;bên cạnh đó là nghèo về các chiều xã hội như

Y tế, giáo dục, môi trường hay điều kiện sống; Tiếp cận thông tin và đi lại cũng

là vấn đề mới đặt ra sau khi có nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chính sách an sinh xã hội, đó là vấn đề cần cân nhắc đưa vào

1.3 Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói, giảm nghèo

1.3.1 Một số khái niệm:

1.3.1.1 Cộng đồng:

Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy (Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ, 1997)

Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất; Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm; Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó (Tự điển Đại học Oxford, 1999)

Trang 32

an sinh xã hội cũng như bảo vệ môi trường”

1.3.1.3 Phát triển cộng đồng:

Khái niệm PTCĐ được Chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940: “PTCĐ

là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”

Murray G Ross, 1955: “PTCĐ là một diễn tiến qua đó CĐ nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của CĐ, biết sắp xếp các nhu cầu ưu tiên và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng,biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài CĐ để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong CĐ”

Theo định nghĩa chính thức của LHQ, 1956: “PTCĐ là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện KT, XH, VH của các CĐ và giúp các CĐ này hội nhập và đóng góp vào đời sống quốc gia”

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh, 1995: “PTCĐ là một tiến trình làm chuyển biến CĐ nghèo, thiếu tự tin thành CĐ tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát triển”

Trang 33

Càng ngày người ta càng thừa nhận rằng phương pháp phát triển cộng đồng có khả năng giải quyết vấn đề phát triển và những thách thức mà những cộng đồng ở nông thôn và thành thị ở các nước đang phát triển gặp phải cũng như những vấn đề của các nhóm bị mất quyền lợi, bị thiệt thòi và bị gạt ra bên

lề xã hội ở các nước đã phát triển Phương pháp phát triển cộng đồng là phương pháp lấy con người làm trung tâm của sự phát triển, và quan tâm trước tiên đến việc nâng cao nhân phẩm và tiềm năng của họ Phương pháp này giả định rằng để dân chúng có thể tự kiểm soát và quyết định tương lai của họ thì trước hết họ phải tự nhận ra được giá trị và tiềm năng của mình Phương pháp này tạo điều kiện cho các thành viên trong cộng đồng được tham gia vào mọi phương diện liên quan đến quá trình phát triển Thời kỳ đầu người ta lấy toàn bộ cộng đồng làm đối tượng cho thấy lợi ích phát triển ít đến trong nhóm người nghèo nhất vì vậy ngày nay đối tượng của chiến lược phát triển đó là những nhóm xã hội bị thiệt thòi Mục đích làm nhằm tăng quyền lực, nâng cao nhận thức và phát huy khả năng lãnh đạo của cộng đồng Điều thiết yếu là quá trình này phải được chính cộng đồng khởi xướng, với sự giúp

đỡ của các nhân viên công tác xã hôi Ở Việt Nam, phát triển cộng đồng được xem xét như một phương pháp công tác xã hội

Tóm lại, phát triển cộng đồng là một tiến trình phát triển làm chuyển biến từ cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực bằng chính tiềm năng của họ và với sự khởi xướng, đỡ đầu và khuyến khích bởi nhiều tổ chức khác nhau: Chính quyền, đoàn thể, tổ chức phát triển trong và ngoài nước v.v…

1.3.1.4 Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo

Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo là một tiến trình phát triển làm chuyển biến từ cộng đồng nghèo, thiếu

Trang 34

tự tin thành cộng đồng tự lực, làm cho bộ phận dân cư nghèo của người dân tộc Dao nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống

1.3.2 Mục đích của phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu

số trong xóa đói giảm nghèo

Phương pháp phát triển cộng đồng được hình thành nhằm tạo ra những điều kiện cải thiện về kinh tế và xã hội cho cộng đồng, đẩy mạnh công bằng

xã hội, củng cố thiết chế xã hội và tổ chức xã hội, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của quần chúng và tăng quyền lực cho cộng đồng Như vậy, mục đích chung của phát triển cộng đồng là:

- Cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân tộc Dao với sự cân bằng cả vật chất và tinh thần qua đó tạo sự chuyển biến trong việc tự chủ trong thoát nghèo, thoát dần sự phụ thuộc vào trợ giúp của Nhà nước

- Củng cố các thiết chế để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển biến xã hội và sự tăng trưởng Trong đó tăng cường vai trò vị trí của các tổ chức đoàn thể xã hội như Hội liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân… trong xóa đói giảm nghèo Thực tế cho thấy ở các xã đều có các tổ chức chính trị xã hội, tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng phát huy tốt vai trò vị trí của mình đặc biệt là trong công tác xóa đói giảm nghèo

- Người nghèo thường có tâm lý tự ti, ngại giao tiếp, ngại tham gia các sinh hoạt đoàn thể, do vậy cần tạo điều kiện để người nghèo trong cộng đồng được bình đẳng trong sự tham gia, đặc biệt là nhóm thiệt thòi để họ có quyền nêu lên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển qua đó đẩy mạnh công bằng xã hội như là việc đề xuất các nguyện vọng tham gia các tiểu dự án hỗ trợ sinh kế để thoát nghèo, nguyện vọng đề xuất sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện sản xuất, giống cây trồng…

Trang 35

- Bảo đảm tối đa sự tham gia của người dân vào tiến trình phát triển Thực tế cho thấy những người nghèo thường là có trình độ học vấn thấp nên

họ ngại tham gia đóng góp ý kiến Không ít các cuộc trưng cầu ý kiến của người nghèo về các giải pháp thoát nghèo chỉ có tính hình thức, người nghèo

ít được bày tỏ các ý kiến, sáng kiến của mình trong công tác xóa đói giảm nghèo Phần lớn họ tham dự các cuộc họp nhưng không đóng góp ý kiến

1.3.3 Nguyên tắc hành động của phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong xóa đói giảm nghèo

Trong phát triển cộng đồng khi thực hiện tiến trình cần lưu ý một số nguyên tắc hành động sau:

- Phát triển cộng đồng phải xuất phát từ chính nhu cầu của người dân

Cần chú ý đôi khi nhu cầu của người dân rất khác với nhu cầu của nhà tài trợ, hoặc của chính quyền địa phương Do đó phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp tiếp cận từ dưới lên: phải xuất phát từ nhu cầu đích thực của người dân Ví dụ: người dân được trực tiếp đề xuất các nhu cầu của mình như nhu cầu lựa chọn các giải pháp bảo vệ và nâng cao độ phì đất (nơi có điều kiện thuận lợi về nguồn nước thì chọn giải pháp làm ruộng bậc thang; nơi có điều kiện thuận lợi về khí hậu thời tiết thì lựa chọn các loại cây ăn quả để trồng trên các băng chắn vừa góp phần hạn chế tốc độ dòng chảy và xói mòn đất, vừa đem lại thu nhập cho người sử dụng đất, v.v…) hoặc nhu cầu lựa chọn phát triển các loại/giống cây, con phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương (nơi người dân có kinh nghiệm trong sản xuất có thể lựa chọn các loại giống lai có tiềm năng năng suất cao, trong khi đó ở những địa phương mà trình độ người dân còn hạn chế, người dân có thể lựa chọn các giống cây, con truyền thống, tiềm năng năng suất có thể không cao nhưng trước mắt phù hợp với trình độ cũng như khả năng đầu tư vốn của họ), v.v

Trang 36

- Sự tham gia của người dân là rất quan trọng Một yếu tố chính trong

chiến lược phát triển cộng đồng là sự tham gia của người dân Phương pháp phát triển cộng đồng đặt nền tảng trên sự giả định rằng phát triển bắt đầu ở cấp thấp nhất với sự đóng góp của quần chúng từ sáng kiến, nhân lực, vật lực huy động để thực hiện chiến lược phát triển Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy rằng có một mối liên hệ quan trọng giữa mức độ và cường độ tham gia của người dân với sự thành công của những hoạt động phát triển Mức độ tham gia của cộng đồng thường tập trung cao độ vào thời điểm đầu của chiến lược phát triển cộng đồng và giảm dần tới chỗ chỉ còn hình thức Mức độ tham gia của quần chúng phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của dự án phát triển và các yếu tố khác như: Mô hình phát triển, phong cách quản lý, mức độ nâng cao quyền lực, bối cảnh văn hóa xã hội, phong tục tập quán của từng địa phương Ví dụ: Sự tham gia của người dân xã Hồ Thầu trong dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 (2010 - 2015) Người dân được tham gia trong quá trình lập kế hoạch và hành động của dự án (có ít nhất

2 cuộc họp tổ chức tại mỗi thôn bản trong chu kỳ kế hoạch hàng năm với sự tham gia ít nhất 51% số hộ gia đình trong thôn bản trở lên tham gia thì mới được tổ chức; các hoạt động của dự án huy động lao động tại chỗ để tạo việc làm cho người dân cộng đồng như làm đường giao thông, xây dựng hệ thống cấp nước…); người dân tham dự các cuộc họp để thảo luận việc sử dụng ngân sách của dự án một cách hợp lý, người dân có đóng góp gì (tiền, công hoặc hiện vật) nếu cần và thấy phù hợp

- Phát triển năng lực trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” người dân Người dân không thể hành động tốt nếu thiếu năng lực Muốn cho người

dân tự làm thì tổ chức các hoạt động thông qua việc đào tạo, huấn luyện là hết sức cần thiết Hơn nữa cần làm cho người dân hiểu rằng họ thực hiện các hoạt động phát triển là nhu cầu của chính họ, họ đang làm cho họ và vì lợi ích của

Trang 37

họ chứ không phải “làm cho dự án”, làm cho xã hoặc huyện Phát triển chỉ có thể thành công trên cơ sở xuất phát từ ý chí và nội lực từ bên trong “Làm thay”, “nghĩ hộ” là những tư duy và hành động xa lạ với phát triển cộng đồng Tuy nhiên trong thực tế cho thấy, các địa phương ít quan tâm tới việc bồi dưỡng năng lực cho người dân có những kiến thức cần thiết giúp họ nhận diện vấn đề, giải quyết vấn đề một cách hiệu quả Không ít các tiểu dự án trong các hợp phần ngân sách phát triển xã có quy mô nhỏ, người dân không được tư vấn những kiến thức cần thiết để lập tiểu dự án nên khi họ đăng ký có tính chất phong trào (cùng đăng ký nuôi thỏ hoặc chim bồ câu… mà không biết mình có khả năng nuôi được hay không) nên kết quả thực hiện các tiểu dự án rất thấp

- Đảm bảo công bằng xã hội: công bằng phải dẫn đến sự tái phân phối tài nguyên bao gồm cả tiền bạc, kiến thức, quyền lực, v.v Điều này rất quan

trọng vì không ít chương trình phát triển đã tạo thêm khoảng cách giàu – nghèo Ví dụ: Việc giúp các hộ nghèo thông qua các tiểu dự án quy mô nhỏ phát triển sinh kế như nuôi chim bồ câu, nuôi dê, nuôi thỏ với mục đích góp phần tăng thu nhập cho các hộ nghèo tiến tới xóa nghèo bền vững, tuy nhiên

do người nghèo không có kiến thức chăn nuôi nên số dê, chim bồ câu, thỏ của tiểu dự án thiệt hại, họ phải chuyển số gia súc trên cho hộ khá, hộ giàu đảm nhận Do đó hộ nghèo vẫn nghèo, mặc dù Nhà nước đã có sự trợ giúp để họ thoát nghèo

- Tin tưởng vào khả năng thay đổi và phát triển của người dân và cộng đồng Người dân dù nghèo hoặc khó khăn nhưng họ đều có óc sáng tạo và

tính gắn bó, mong muốn thay đổi cuộc sống cộng đồng tốt hơn Ví dụ một thanh niên nghèo, trình độ học vấn thấp, hàng ngày đi làm thuê cho hiệu sửa chữa xe máy nhưng thông qua lớp dạy nghề và lớp bồi dưỡng kiến thức sử dụng vốn vay ngân hàng chính sách xã hội nên sau khi tham gia khóa học

Trang 38

nghề bản thân đã tự tin vay vốn mở cửa hiệu sửa chữa xe máy, đến nay đã tự chủ thoát nghèo

- Khuyến khích người dân cùng thảo luận, lấy quyết định chung, hành động chung để họ đồng hóa mình với những chương trình hành động Điều

này nhằm xây dựng, củng cố năng lực cộng đồng, đồng thời giúp cộng đồng làm chủ những hoạt động của mình ngay từ đầu tiến trình giải quyết vấn đề

- Bắt đầu từ những hoạt động nhỏ để dẫn đến các thành công nhỏ Như

thành lập những nhóm tín dụng tiết kiệm với số thành viên khoảng 5-7 người/nhóm, phát vay tín dụng với số vốn vừa phải khoảng vài trăm ngàn cho một thành viên Với những hoạt động nhỏ, người dân được tập dần cách điều hành và quản lý các hoạt động để đạt được thành công Tuy nhiên điểm hạn chế của chương trình tín dụng tiết kiệm này là người nghèo ngại tham gia vì

lý do không có tiền góp vào quỹ tín dụng

- Vận động thành lập nhóm nhỏ để thực hiện dự án, không chỉ để giải quyết được một vấn đề cụ thể, mà còn để củng cố, làm vững mạnh tổ chức tự nguyện của người dân Để phát huy hành động chung trong cộng đồng, tất cả các hoạt động nên thông qua hình thức nhóm nhỏ, khoảng 7-10 thành viên/một nhóm Ví dụ ban đại diện cộng đồng, nhóm thiếu niên bảo vệ môi trường, nhóm chăn nuôi gia súc, gia cầm…

- Cung cấp nhiều cơ hội để người dân tương trợ lẫn nhau và phát sinh các hoạt động chung, qua đó các thành viên vừa đạt được cảm xúc tự hoàn thành nhiệm vụ vừa góp phần cải thiện an sinh cho nhóm Cả hai điều này

đều quan trọng như nhau Ví dụ phân công những người có tay nghề sẽ hướng dẫn những người học nghề trong một nhóm, hoặc tổ chức các buổi họp để người dân cùng bàn cách giúp đỡ những người già neo đơn, hoặc phụ nữ đơn thân trong cộng đồng

Trang 39

- Quy trình “Hành động – Suy ngẫm rút kinh nghiệm – Hành động mới” cần áp dụng để tiến đến những chương trình hành động chung lớn hơn, trình độ quản lý cao hơn Bất kỳ hoạt động nào cũng nên áp dụng quy trình

này, cho dù là tổ chức một buổi sinh hoạt cho trẻ em nghèo, hay ứng dụng kỹ thuật mới trong sản xuất, hoặc làm một công trình như xây nhà văn hóa thôn bản, và thực hiện những tiểu dự án hỗ trợ sinh kế…

- Thiết lập mối liên kết với các tổ chức khác để có thêm hỗ trợ và hợp tác với nhau Phương pháp này được gọi là “tạo mạng lưới” (net- working),

thí dụ liên kết giữa những nhóm trong cộng đồng như nhóm giáo dục xoá mù chữ; nhóm truyền thông môi trường; nhóm chăn nuôi, trồng trọt; nhóm thể thao, văn nghệ Hoặc liên kết với các nhóm khác ngoài cộng đồng như các nhóm tiết kiệm-tín dụng của cộng đồng X sẽ liên kết với cộng đồng Y để tạo thành các cụm hoặc trung tâm Việc liên kết này sẽ tạo thêm hiệu quả, sức mạnh vì các nhóm có thể trao đổi, sử dụng nguồn lực của nhau Đồng thời tăng thêm tiếng nói cho các cộng đồng, nếu có vấn đề cần đề xuất chính

1.3.4 Các hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo

1.3.4.1 Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức

Tuyên truyền là việc nêu ra các thông tin (vấn đề) với mục đích cung cấp cho người dân những hiểu biết nhằm giúp họ thay đổi nhận thức, thái độ

và hành vi theo chiều hướng nào đó mà người nêu thông tin mong muốn Trong luận văn này hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân

về công tác giảm nghèo là các hoạt động truyền thông giúp cho người dân có những hiểu biết về các chủ trương, chính sách của Đảng, các chương trình can thiệp của Chính phủ và địa phương đối với công tác xóa đói giảm nghèo nhằm giúp cho người dân thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi, tự chủ vươn lên thoát nghèo bền vững

Trang 40

Hầu hết người nghèo (đặc biệt là người dân tộc thiểu số như dân tộc Dao) đều không nhận thức đầy đủ được rằng chính bản thân họ mới là nhân tố quan trọng nhất giúp họ thoát nghèo và phát triển kinh tế bền vững Do đó cần phải tổ chức các hoạt động tuyên truyền tới người nghèo để họ hiểu rằng: Người nghèo là một bộ phận cấu thành của bộ máy xóa đói giảm nghèo, chỉ

có họ mới làm cho họ thoát khỏi đói nghèo một cách nhanh chóng và bền vững nhất Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người nghèo về chính sách xóa đói giảm nghèo qua các hình thức chủ yếu sau:

- Tuyên truyền miệng: là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền, được tiến hành thông qua sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền, chủ yếu bằng lời nói trực tiếp Tuyên truyền miệng thông qua các buổi trao đổi, tư vấn, tham vấn, thảo luận trực tiếp với người nghèo

và gia đình của họ

- Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: báo đài, băng rôn, tờ rơi, bản tin, sách, khẩu hiệu… với hình thức phù hợp với trình độ nhận thức và phong tục tập quán tại địa phương

Những yếu tố gây cản trở trong quá trình tuyên truyền:

- Yếu tố chủ quan đối với người làm công tác tuyên truyền: kiến thức

về vấn đề tuyên truyền; sử dụng ngôn ngữ trong quá trình tuyên truyền; kỹ năng tuyên truyền; lựa chọn các thông điệp tuyên truyền

- Yếu tố chủ quan đối với người dân được tuyên truyền: Trình độ văn hóa; ngôn ngữ của người dân bản địa; sự khác biệt về truyền thống văn hóa; các định kiến; quan điểm, cảm xúc, kinh nghiệm cá nhân của người được tiếp nhận thông tin tuyên truyền

- Yếu tố khách quan: Các yếu tố liên quan đến điều kiện phát triển kinh

tế, mức thu nhập của người dân địa phương; ảnh hưởng của các dịch vụ xã hội như y tế, văn hóa, giáo dục

Ngày đăng: 05/10/2016, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bùi Xuân Đính (2012), Các tộc người ở Việt Nam, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2012
1. Lê Xuân Bá (2001), Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Trần Bình (2009), Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Đại học Văn hoá Hà Nội Khác
3. Nông Quốc Chấn (2003), Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Khác
4. Chính phủ, Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Khác
5. Bế Viết Đẳng (Chủ biên) (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội miền núi, NXB CTQG và NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Mạnh Đôn, Một số suy nghĩ về hoạt động phát triển cộng đồng và xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc, Diễn đàn của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (đăng ngày 25/02/2005) Khác
8. Phan Huy Đường, Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác
9. Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa (1999), Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Ngọc Sơn (2012) Chính sách giảm nghèo ở nước ta hiện nay: Thực trạng và định hướng hoàn thiện. Tạp chí Kinh tế và Phát triển Khác
11. Phạm Lệ Thu, Những giải pháp thiết thực thúc đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015 Khác
12. Trường Đại học Lao động – Xã hội (2008), Giáo trình phát triển cộng đồng, Nxb Lao động – Xã hội Khác
13. UBND xã Hồ Thầu (2013), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội xã Hồ Thầu năm 2013 Khác
14. UBND xã Hồ Thầu (2014), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội xã Hồ Thầu năm 2014 Khác
15. UBND xã Hồ Thầu (2015), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội xã Hồ Thầu năm 2015 Khác
16. UBND xã Hồ Thầu (2016), Báo cáo kết quả thực hiện Dự án giảm nghèo ở các tỉnh miền Bắc giai đoạn 2 (2010-2015) Khác
17. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Văn hóa, dân tôc, tôn giáo, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
18. Viện nghiên cứu Thanh niên (2014), Báo cáo kết quả điều tra về đánh giá dịch vụ công tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Khác
19. Viện dân tộc học (2007), Sổ tay về các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ đo lường nghèo đa chiều - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Hình 1.1 Sơ đồ đo lường nghèo đa chiều (Trang 30)
Bảng 2.1 Thống kê đặc điểm của các hộ nghèo - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Bảng 2.1 Thống kê đặc điểm của các hộ nghèo (Trang 49)
Bảng 2.2. Lý do rơi vào hộ nghèo  STT  Lý do rơi vào hộ nghèo  Tỷ  lệ  %  số  hộ - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Bảng 2.2. Lý do rơi vào hộ nghèo STT Lý do rơi vào hộ nghèo Tỷ lệ % số hộ (Trang 51)
Bảng 2.3: Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ nghèo xã Hồ Thầu - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Bảng 2.3 Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ nghèo xã Hồ Thầu (Trang 52)
Bảng 2.4: So sánh mức thu nhập và chi tiêu của hộ bình thường và hộ nghèo   Thu nhập và chi tiêu  Hộ không nghèo  Hộ nghèo - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Bảng 2.4 So sánh mức thu nhập và chi tiêu của hộ bình thường và hộ nghèo Thu nhập và chi tiêu Hộ không nghèo Hộ nghèo (Trang 54)
Bảng 2.5: Bảng số liệu nghiên cứu thực trạng dịch vụ hỗ trợ xã hội - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Bảng 2.5 Bảng số liệu nghiên cứu thực trạng dịch vụ hỗ trợ xã hội (Trang 56)
Bảng 2.6. Đánh giá kết quả thực hiện các tiểu dự án thuộc Chương trình  giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 (2010-2015) khoản tín - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Bảng 2.6. Đánh giá kết quả thực hiện các tiểu dự án thuộc Chương trình giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 (2010-2015) khoản tín (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w