1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh

87 502 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm 2010 đến nay, Chính phủ và các bộ ban nghành đã xây dựng, ban hành hệ thống các bộ luật, các văn bản dưới luật, tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình phát tri

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VÀO SẢN XUẤT, KINH DOANH

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60.34.04.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN QUANG TUẤN

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Quang Tuấn Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

NGUYỄN BÁ HÙNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ỨNG DỤNG, NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN, SẢN XUẤT KINH DOANH 7

1.1 Các khái niệm cơ bản 7

1.2 Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu 23

1.3 Các yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu 27

Kết luận chương 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÀO SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 32

2.1 Giới thiệu chung về Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 32

2.2 Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu tại một số viện lớn của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 40

2.3 Đánh giá chung về thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh 50

Kết luận chương 2 55

Chương 3 MỘT SỐ GẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VÀO SẢN SUẤT KINH DOANH 57

3.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước 57

3.2 Đề xuất nhóm giải pháp tại Đại học Bách Khoa Hà Nội 64

Kết luận chương 3 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

ĐH BKHN Đại học Bách Khoa Hà Nội

KH&CN Khoa học và Công nghệ

KQNC Kết quả nghiên cứu

NCCB Nghiên cứu cơ bản

NCƯD Nghiên cứu ứng dụng

NCTK Nghiên cứu triển khai

PTCN Phát triển công nghệ

R&D Nghiên cứu và triển khai

SHTT Sở hữu trí tuệ

TLO Technology License Offce

(Văn phòng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ) TTO Techology Transfer Office

(Văn phòng chuyển giao công nghệ) TTC Techology Transfer Center

(Trung tâm chuyển giao công nghệ)

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Hình/Bảng biểu Trang

Hình 1.1 Chuyển đổi một ý tưởng khoa học thành sản phẩm sử dụng công nghệ 23

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động trường ĐHBK Hà Nội 33 Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả hoạt động KH&CN của trường 2011-2015 36 Bảng 2.3 Thống kê các công trình công bố trong 5 năm gần đây 37

Hình 2.5 Mô hình tổ chức của viện kỹ thuật hóa học 48 Bảng 2.6 Kết quả hoạt động nghiên cứu 49

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng trong phương hướng và nhiệm vụ có nêu rõ (đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững)

Phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, nhất là các máy điều khiển kỹ thuật số, hệ thống tự động hoá, có khả năng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, nâng cao tỉ lệ nội địa hoá sản phẩm ; nhanh chóng hình thành một số viện công nghệ công nghiệp, viện công nghệ thăm dò và khai thác khoáng sản nước ta có thế mạnh, viện công nghệ

nông nghiệp, đủ sức nghiên cứu, phát minh, sáng chế kỹ thuật, công nghệ; gắn kết chặt chẽ các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo với các đơn vị sản xuất kinh doanh

Từ năm 2010 đến nay, Chính phủ và các bộ ban nghành đã xây dựng, ban hành hệ thống các bộ luật, các văn bản dưới luật, tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước nói chung và sự phát triển của nghành Khoa học và Công nghệ nói riêng như: Luật khoa học và công nghệ số: 29/2013/QH13 (Luật này quy định về tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ; việc tổ chức thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ; biện pháp bảo đảm phát triển khoa học và công nghệ; quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ); nghị định 120/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ…Thực trạng các kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây thực tế ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà Nước

Sứ mạng của Đại học Bách khoa Hà Nội là đem lại cho xã hội và cộng đồng các lợi ích với chất lượng tốt nhất từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và dịch vụ, góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển Hệ thống Giáo

Trang 7

dục Đại học Việt Nam Mục tiêu phát triển: Xây dựng trường Đại học Bách khoa

Hà Nội thành trường đại học đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực; một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu của đất nước, với một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; một địa chỉ tin cậy, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư phát triển công nghệ, giới doanh nghiệp trong và ngoài nước

(nguồn: http://www.hust.edu.vn)

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong quá trình xây dựng và phát triển đã

có những mối liên kết đáng kể trong việc chuyển giao công nghệ với các doanh nghiệp và xã hội.Với các công trình NC trong các lĩnh vực như vật liệu mới, cơ khí, điện tử, tự động hoá, nhiệt-lạnh, các sản phẩm hoá học vô cơ, hữu cơ, các chế phẩm sinh học, các sản phẩm phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, phục vụ môi trường

Bên cạnh đó hệ thống doanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ cho thành tích của nhà trường trong các lĩnh vực:

Đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết, ươm tạo các doanh nghiệp; Huy động và quản lý vốn phục vụ cho quá trình ươm tạo và thương mại hoá các sản phẩm khoa học công nghệ từ trường Đại học Bách Khoa Hà Nội;

Cung cấp các dịch vụ đào tạo thích nghi và cập nhật kiến thức theo yêu cầu xã hội; Cung cấp các dịch vụ: tư vấn và chuyển giao công nghệ, tư vấn đầu tư, tư vấn

về quản lý, tư vấn về tài chính, nhận uỷ thác các nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh

Mặc dù từ chủ trương của Đảng và những chính sách của Nhà nước có rất nhiều thuận lợi với các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ nói chung và trường Đại học Bách Khoa Hà Nội nói riêng chưa có chính sách

và biện pháp tốt để huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nước đầu tư cho khoa học và công nghệ; thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu khoa học và công nghệ với hoạt động sản xuất, kinh doanh; chưa phát huy tác dụng tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội Thị trường khoa học và công nghệ chậm được hình thành, hiệu quả ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học thấp; thiếu chính sách và biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm đầu tư nghiên cứu và đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh

Trang 8

Xuất phát từ những thực tế nêu trên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “ Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh ” để viết luận văn thạc sỹ với mong muốn

cung cấp cái nhìn tổng quát từ cơ sở lý luận đến thực tiễn ứng dụng các đề tài nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Đề tài sẽ phân tích và trả lời cho một số câu hỏi lớn sau: (1) thế nào là một đề tài nghiên cứu được xem như là ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, (2) hiện nay việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đang gặp những khó khăn vướng mắc nào; và làm thế nào để thúc đẩy và ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh?

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển Khoa học Công nghệ, trong những năm gần đây, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã có bước phát triển vượt bậc về quy mô chất lượng đào tạo cũng như các đề tài NCKH

“Hiện nay Trường đã và đang nỗ lực hơn nữa đem lại cho xã hội và cộng đồng các lợi ích với chất lượng tốt nhất từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học,

và một phần vô cùng quan trọng là chuyển giao công nghệ và dịch vụ, góp phần

đắc lực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển Hệ thống Giáo dục Đại học Việt Nam”

(nguồn: http://www.hust.edu.vn)

Tuy nhiên tình hình thực tế hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội hiện nay cho thấy phần lớn kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng đánh giá và đưa ra các giả pháp tăng cường ứng dụng kết quả nghiên cứu (KQNC) vào sản xuất kinh doanh

là thực sự cần thiết

Tình hình chuyển giao công nghệ và thương mại hóa KQNC là những vấn đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu, cơ quan nghiên cứu trong nước và quốc tế quan tâm Các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực ứng dụng kết quả nghiên cứu hay chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã có rất nhiều tác giả, công trình nghiên cứu liên quan đến CGCN và Thương mại hóa KQNC; nghiên

Trang 9

cứu về chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đặc biệt từ trường đại học

vào doanh nghiệp như “Chính sách nhà nước thúc đẩy thương mại hóa KQNC khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước” (Nguyễn Quang Tuấn, 2014);”Đại học Quốc gia Hà Nội thương mại hóa sản phẩm KH&CN” (Hồng Hạnh, Dân trí ngày 02/12/2013); Đề tài cấp Bộ “Thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa các kết quả R&D” (Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2014) Các công trình nghiên cứu liên quan đến CGCN và Thương mại hóa KQNC như:“Khoa học và công nghệ hướng tới thế kỷ XXI – Định hướng và chính sách” (Vũ Đình Cự, 2000) và nhiều công trình khác Tuy nhiên, các công

trình nghiên cứu này mới đề cập đến một số chính sách cơ bản thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chưa đi sâu vào thúc đẩy hoạt động thúc đẩy thương mại hóa KQNC của một tổ chức KH&CN cụ thể vào Doanh nghiệp Các chính sách đưa ra mang tính vĩ mô, khó áp dụng cho một tổ chức KH&CN cụ thể như Đại học Bách Khoa Hà Nội

Ngoài ra còn có các bài viết trên tạp trí như: “Đẩy mạnh thương mại hóa KQNC trong trường đại học” (Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo – IPP, 2012);

“Thúc đẩy thương mại hóa KQNC và phát triển ở Việt Nam” , Nguyễn Quang Tuấn (2010), Tạp chí Cộng sản); “Thương mại hóa công nghệ, đại học - doanh nghiệp còn nhiều hạn chế” (Truyền thông Khoa học và Công nghệ, cập nhật 21/02/2014);

“Đẩy mạnh ứng dụng KQNC trong trường đại học” (Báo Đất Việt) Các công trình

nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong CGCN ở Việt Nam nói chung và hoạt động CGCN, Thương mại hóa KQNC từ trường ĐH vào DN nói riêng Một số nghiên cứu đã đề suất một số giải pháp và chính sách thúc đẩy hoạt động thương mại hóa và CGCN từ nơi nghiên cứu vào doanh nghiệp sản xuất Tuy nhiên, các hoạt động CGCN, thương mại hóa KQNC đó vẫn tồn tại nhiều hạn chế và chưa đồng bộ, chưa có chính sách thích hợp, đặc biệt các chính sách thúc đẩy thương mại hóa KQNC từ Trường đại học vào Doanh nghiệp

Do đặc thù của mỗi đơn vị khảo sát là khác nhau, vì vậy những giải pháp thúc đẩy ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất kinh doanh được

Trang 10

đưa ra phân tích tại Đại học Bách Khoa Hà Nội trong luận văn này là chưa từng được thực hiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên

Đề xuất được các giải pháp tăng cường ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

- Một là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh

- Hai là phân tích thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong năm năm trở lại đây

- Ba là đề xuất giải pháp tăng cường ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiện cứu

- Trong năm năm trở lại đây, do số lượng các đề tài nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội rất lớn Nhiều đề tài nghiên cứu là những nghiên cứu mang tính chất của nghiên cứu cơ bản Vì vậy, đề tài chỉ tập trung phân tích các KQNC của các đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp nhà nước, cấp trường đã nghiệm thu và quá trình ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh

4.2 Đối tượng khảo sát

- Một số chủ nhiệm đề tài, khoa viện bộ môn, tổ chức khoa học trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong năm năm gần đây

- Công ty Đầu tư và Phát triển công nghệ Bách Khoa Hà Nội – Bkholdings

- Các doanh nghiệp thuộc trường và các tổ chức trung gian trong quá trình chuyển giao công nghệ

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Các hoạt động nghiên cứu khoa học từ các đề tài cấp bộ, cấp nhà nước, cấp trường trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã ứng dụng các kết quả nghiên

Trang 11

cứu và phát triển vào sản xuất kinh doanh

- Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến nay

- Địa bàn nghiên cứu trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và một số doanh nghiệp thuộc trường

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích và tổng kết các tài liệu liên quan đến nội dung của đề tài (các báo cáo tổng hợp của phòng Khoa học Đại học Bách Khoa Hà Nội về hoạt động KH&CN trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các

đề tài trong năm năm trở lại đây đã ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất kinh doanh)

- Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động và xu hướng chuyển đổi

- Phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học: Tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về đối tượng

nghiên cứu và vai trò của các đơn vị quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Tìm hiểu và tổng hợp lại những thuận lợi và khó khăn,

tìm ra các nguyên nhân còn hạn chế trong ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh (trong 5 năm qua) Từ đó tìm ra các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả trong NCKH và CGCN tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

7 Cơ cấu của luận văn

Sau phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo tổng hợp của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận ứng dụng, nghiên cứu phát triển, sản xuất kinh doanh

Chương 2 Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh của Đại học Bách Khoa Hà Nội

Chương 3 Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN ỨNG DỤNG, NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN,

SẢN XUẤT KINH DOANH 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Các khái niệm về khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học

Khoa học, tiếng Latin là “Scientia”, có nghĩa là “kiến thức” hoặc “hiểu biết”,

là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật, hiện tượng Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm bằng mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích luỹ được Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch

sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học

- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống

hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học

- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống

nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên

Trang 13

kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…

Ngày nay, khi khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, năng suất lao động không ngừng được nâng cao, cơ cấu kinh tế của các quốc gia có sự chuyển biến mạnh mẽ, mọi mặt của đời sống xã hội loài người thay đổi sâu sắc Tuy nhiên, khi bàn về thuật ngữ khoa học, công nghệ, vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau:

Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 “Khoa học là hệ thống tri thức

về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và

tư duy.” [Luật khoa học và công nghệ 29/2013/QH13, khoản 3 điều 3]

Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực [Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.526]

Theo ý kiến của các nhà triết học: Khoa học (Science) là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết

Theo đối tượng nghiên cứu, khoa học bao gồm: (1) khoa học tự nhiên, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên; (2) khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu hiện tượng, quá trình, quy luật vận động, phát triển của xã hội và bản thân của con người

- Phân loại khoa học theo mục tiêu nghiên cứu: Có khoa học cơ bản; khoa học ứng dụng

- Phân loại khoa học theo UNESCO: Thì bao gồm khoa học tự nhiên; khoa học kinh tế; khoa học nông nghiệp; khoa học y học; khoa học kỹ thuật; khoa học xã hội và nhân văn…

Trang 14

Tóm lại, khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp xã hội có tính đặc thù nhằm tìm kiếm, sắp xếp một cách có hệ thống các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy trên cơ sở tổng hợp, khái quát những tri thức kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình lịch sử, từ thực tiễn hoạt động sản xuất và đời sống để định hướng, dẫn dắt hoạt động thực tiễn của con người

Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức mang tính quy luật Nó có vai trò đặc biệt quan trọng: nhận thức và cải tạo thế giới

tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người

Như vậy, về thực chất khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội, là sự khám phá của con người đối với các hiện tượng và thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan, từ đó làm thay đổi nhận thức của con người và biến chúng thành hiện thực Phạm vi ảnh huởng của khoa học rất lớn, cả bề rộng lẫn bề sâu Xã hội loài người càng phát triển thì khoa học cũng ngày càng phát triển và phân ngành của khoa học càng chi tiết hóa và phức tạp hóa hơn

Công nghệ là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Technologia” hay

“vexvonopơ” “Techne” có nghĩa là “thủ công” và “logia” là “châm ngôn”;

“Technologia” là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người Trong tiếng Anh, công nghệ là “Technology” có nghĩa là “tài nghệ học”, sự tinh xảo của tay nghề, một nghệ thuật hay một kỹ năng, bí quyết… để đạt tới sản phẩm chất lượng cao của nghề thủ công trước đó Tùy theo ngữ cảnh và góc độ nghiên cứu mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:

Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề

Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề

Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau

Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường đặc trưng bởi các phát minh và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát hiện ra gần đây nhất

Các nhà kinh tế học thì xem công nghệ như là trạng thái hiện tại của kiến thức của con người trong việc kết hợp các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm

Trang 15

mong muốn (và kiến thức của con người về sản xuất như thế nào?) Như vậy, công nghệ có thể thay đổi khi kiến thức kỹ thuật của con người tăng lên

Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO): “Công

nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp” Định nghĩa này chỉ xét ở một khía cạnh nào đó của khoa học trong việc sử dụng nó một cách có hiệu quả (như trong lĩnh vực công nghiệp mà thôi)

Tổ chức Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thì đưa

ra định nghĩa: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin” Sau đó định nghĩa được mở rộng, “nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin” [“Khái niệm công nghệ” (2000), Công tác khoa giáo, tr.43] Định nghĩa này được mở rộng hơn trên các lĩnh vực chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin và

đã đi sâu nghiên cứu khía cạnh công nghệ thực thụ

Theo khoa học luận: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ

năng, bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Đây là khái niệm mang tính khái quát tương đối đầy đủ

Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Công nghệ là

tổng thể nói chung các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp tổ chức, quản lý được sử dụng vào quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ [Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.270]

Tóm lại, công nghệ là toàn bộ hệ thống các công cụ, phương tiện kỹ thuật, bí quyết, phương pháp tổ chức, quản lý nhằm khai thác, biến đổi nguồn lực tự nhiên thành các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Công nghệ là bàn tay của con người được nối dài ra trong quá trình cải tạo tư nhiên

1.1.2 Tìm hiểu các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và các hình thức nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học bao gồm "hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách

có hệ thống nhằm làm giàu tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới."[1] Hoạt động

Trang 16

nghiên cứu được dùng để thiết lập hay xác nhận các dữ kiện, tái xác nhận kết quả của công trình trước đó, giải quyết những vấn đề mới hay đang tồn tại, chứng minh các định lý, hay phát triển những lý thuyết mới Mục đích chính yếu của nghiên cứu

cơ bản (khác với nghiên cứu ứng dụng) là thu thập dữ kiện, phát kiến, diễn giải, hay nghiên cứu và phát triển những phương pháp và hệ thống vì mục tiêu thúc đẩy sự phát triển tri thức nhân loại Các hình thức nghiên cứu bao gồm: khoa học, nhân văn, nghệ thuật, kinh tế, xã hội, kinh doanh, thị trường Cách tiếp cận nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau có thể rất khác nhau

Nghiên cứu khoa học có nhiều định nghĩa khác nhau Martyn Shuttleworth cho rằng: "Theo nghĩa rộng nhất, định nghĩa của nghiên cứu bao hàm bất cứ sự thu thập dữ liệu, thông tin, và dữ kiện nào nhằm thúc đẩy tri thức."[2] Creswell định nghĩa: "Nghiên cứu là một quá trình có các bước thu thập và phân tích thông tin nhằm gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về một chủ đề hay một vấn đề." Nó bao gồm ba bước: Đặt câu hỏi, thu thập dữ liệu để trả lời cho câu hỏi, và trình bày câu trả lời cho câu hỏi đó.[3] Từ điển Trực tuyến Merriam-Webster thì chi tiết hơn: Nghiên cứu là "một truy vấn hay khảo sát cẩn thận; đặc biệt: sự khảo sát hay thể nghiệm nhắm đến việc phát hiện và diễn giải dự kiện, sự thay đổi những lý thuyết hay định luật đã được chấp nhận dựa trên những dữ kiện mới, hay sự ứng dụng thực tiễn những lý thuyết hay định luật mới hay đã được thay đổi đó."[4]

Về các hình thức nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học dựa vào việc ứng dụng các phương pháp khoa học, khai thác trí tò mò Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới Nó có thể giúp tạo ra những ứng dụng thực tiễn Hoạt động nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ, và các nhóm tư nhân, bao gồm nhiều công ty Hoạt động nghiên cứu khoa học có thể được phân loại tùy theo lĩnh vực học thuật và ứng dụng Nghiên cứu khoa học là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của một cơ sở học thuật

Nghiên cứu trong các ngành nhân văn liên quan đến những phương pháp khác nhau, chẳng hạn chú giải văn bản cổ và ký hiệu học, và một nhận thức luận

Trang 17

khác, mang tính chất tương đối luận hơn Các học giả trong các ngành nhân văn thường không tìm một câu trả lời đúng tối hậu cho một câu hỏi, mà khảo sát những vấn đề và đặc điểm liên quan đến câu trả lời đó Bối cảnh ở đây rất quan trọng, và

nó có thể mang tính xã hội, lịch sử, chính trị, văn hóa, hay chủng tộc Một ví dụ về nghiên cứu trong các ngành nhân văn là nghiên cứu lịch sử, bao hàm trong phương pháp sử học Các nhà sử học sử dụng những tài liệu gốc và những bằng chứng khác

để khảo sát một cách hệ thống một chủ đề, và từ đó viết ra lịch sử theo hình thức kể lại quá khứ

Nghiên cứu nghệ thuật, còn gọi là "nghiên cứu dựa trên thực hành", có thể diễn ra khi công trình sáng tạo được xem vừa là một sự nghiên cứu vừa là một đối tượng của nghiên cứu

Lịch sử: Thomas Kuhn, trong cuốn sách của ông Cấu trúc của cách mạng khoa học, tìm ra một lịch sử thú vị và phân tích quá trình phát triển của nghiên cứu

Phần lớn các nhà khoa học cho rằng những hiểu biết một cách cơ bản, nền tảng về tất cả các khía cạnh của khoa học là thiết yếu cho phát triển Nói một cách khác, nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp bước Nếu coi Nghiên cứu cơ bản là bước đi trước thì sự tiếp nối ứng dụng có thể chính là từ kết quả nghiên cứu này

Trong quản lý các hoạt động nghiên cứu, theo tính chất của sản phẩm, nghiên cứu được phân loại thành: Nghiên cứu cơ bản (NCCB); nghiên cứu ứng dụng (NCƯD) và nghiên cứu triển khai (NCTK)

Phân biệt các dạng nghiên cứu:

NCCB và NCƯD tuy có khác nhau về mục tiêu sản phẩm, nhưng đều là tìm kiếm tri thức mới, chưa xác định rõ việc ứng dụng vào thực tế như thế nào nên để chỉ hai loại nghiên cứu này, người ta dùng chung khái niệm là “NCKH” (Research scientific – R) như trong Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 của Việt Nam đã ghi: NCKH là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn NCKH bao gồm NCCB và NCƯD

Trang 18

NCTK là giai đoạn nghiên cứu có gắn với việc hình thành công nghệ và được hiểu là giai đoạn nghiên cứu nhằm sáng tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới (Prototype) NCTK bao gồm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Sáng tạo sản phẩm mẫu, trong đó vận dụng các tri thức khoa học, là kết quả của giai đoạn “NCKH” để hình thành, sáng tạo ra các hình mẫu mới (Prototype) Hình mẫu này bản thân nó có thể là một sản phẩm tiêu dùng theo đúng nghĩa của từ này hay là một công nghệ để chế tạo ra sản phẩm tiêu dùng Trong giai đoạn này, người ta sơ bộ hình thành thiết kế và quy trình công nghệ chế tạo ra hình mẫu mới đó

Giai đoạn 2: Giai đoạn làm pilot hay còn gọi là sản xuất pilot Trong giai đoạn này, người ta thực hiện các nội dung: Hoàn thiện thiết kế, hoàn thiện công nghệ chế tạo hình mẫu; sản xuất (không trên dây chuyền công nghệ chính thức có tính công nghiệp) một số lượng nhỏ các hình mẫu và đưa các snr phẩm này vào hoạt động thực tiễn nhằm khẳng định lại tính năng của sản phẩm hay công nghệ mới như tính ổn định; kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật của công nghệ, của sản phẩm…; kiểm tra các chỉ tiêu khác như tính kinh tế, tác động đến môi trường, ảnh hưởng đến văn hóa,

xã hội,…

Rõ ràng so với NCCB, NCƯD thì NCTK có tính định hướng sản phẩm phục

vụ xã hội, tới công nghệ và sản xuất một cách rõ rệt

Khái niệm Phát triển và Triển khai

Khái niệm phát triển:

Nội hàm: Tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, làm thay đổi về căn bản cái đã có

để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể

có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng

Ngoại diên: Là tất cả các hoạt động tìm kiếm

Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai

Khái niệm triển khai:

Trang 19

Nội hàm: Tiến hành thực hiện một công việc, một nội dung nào đó hay đưa một nội dung vào cuộc sống

Ngoại diên: Tất cả việc làm

Nói cách khác, triển khai là việc làm nhằm thực hiện hay đưa một nội dung công việc nào đó vào cuộc sống Người ta thường nói: Triển khai nghị quyết, triển khai dự án, triển khai kỹ thuật, triển khao hoạt động nghiên cứu… Đó chính là việc thực hiện cái đã được định sẵn, theo ý đồ đã có từ trước mà không có sáng tạo hay phát triển thêm cái mới (không hàm ý nghiên cứu)

Trong hoạt động KH&CN, các khái niệm phát triển và triển khai thường gắn với khái niệm công nghệ Đó là PTCN và triển khai công nghệ

Phân biệt PTCN và Triển khai công nghệ

PTCN: Là sáng tạo ra sản phẩm hay công nghệ mới hoặc đổi mới một cách căn bản công nghệ đã có

Phân loại PTCN:

PTCN theo chiều sâu hay phát triển về chất lượng công nghệ (Intensive Development of Technology hay Upgrading of Technology) nhằm sáng tạo ra công nghệ mới hay làm cho công nghệ cũ trở thành có tính năng tốt hơn, sản phẩm của công nghệ có chất lượng tốt hơn bằng cách thay đổi có tính căn bản công nghệ đã

PTCN theo chiều rộng hay phổ cập công nghệ (phát triển về lượng – Extensive Development of Technology): mở rộng công nghệ, nhân bản công nghệ

để có số lượng nhiều hơn

Triển khai công nghệ: Là đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất hay nhân bản công nghệ để có nhiều công nghệ cùng loại

Quan hệ giữa PTCN với triển khai công nghệ

Do khái niệm PTCN và triển khai công nghệ trong tiếng Việt đều chỉ tương ứng với một từ tiếng Anh là Development of Technology nên với ý nghĩa của khái niệm phát triển và triển khai trong tiếng Việt như trên thì phát triển theo chiều rộng (về số lượng) thuộc về triển khai công nghệ Vì lẽ đó, chữ Development của tiếng Anh dịch sang tiếng Việt với nghĩa là phát triển thì chỉ nên dùng nghĩa phát triển

Trang 20

theo chiều sâu (về chất lượng) Với nghĩa phát triển theo chiều rộng (nhân bản về lượng) thì dịch là triển khai Ngoài ra, khái niệm triển khai của tiếng Việt còn có nghĩa là thực hiện hay đưa một nội dung nào đó vào cuộc sống

Xác định vị trí của từng khái niệm trong hệ thống các khái niệm

Qua các phân tích trên đây cho thấy sự giao thoa giữa lĩnh vực nghiên cứu và lĩnh vực PTCN như sau:

Nói cách khác, từ giác độ quản lý các hoạt động KH&CN chỉ nên tồn tại 3 khái niệm chính:

NCKH, gồm NCCB và NCƯD

NCTK và PTCN theo chiều sâu, nếu đứng trên giác độ nghiên cứu xin khuyến nghị gọi chung là NCTK thực nghiệm Nếu đứng trên giác độ công nghệ thì gọi là PTCN Như vậy, về bản chất khoa học thì NCTK thực nghiệm hay PTCN chỉ

là một Phương thức quản lý cũng sẽ chỉ là một

Triển khai công nghệ: Chỉ PTCN theo chiều rộng

Thực tế ở nước ta, công tác quản lý KH&CN từ trước đến nay đều coi PTC theo chiều sâu là nghiên cứu và được quản lý theo chế độ đề tài nghiên cứu Lĩnh vực PTCN theo chiều rộng được hiểu là mở rộng công nghệ theo cách mua, bán công nghệ, lắp đặt hay nhân bản công nghệ đã định hình và được quản lý theo Luật Thương mại, Luật Đầu tư và Luật Chuyển giao công nghệ

(Theo: TC Hoạt động Khoa học, 4.2011)

+ Nghiên cứu và phát triển

Theo cục thông tin khoa học quốc gia thì Nghiên cứu và phát triển là: bất kỳ một công việc có tính hệ thống và sáng tạo được tiến hành nhằm gia tăng nguồn tri thức, bao gồm tri thức nhân loại, văn hóa và xã hội và sử dụng những tri thức này

để phát minh ra những ứng dụng mới

Công tác nghiên cứu và phát triển cũng nhằm khám phá những tri thức mới

về các sản phẩm, quá trình, và dịch vụ, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra sản phẩm, quá trình và dịch vụ mới, có tính cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc của thị trường tốt hơn Bao gồm việc đầu tư, tiến hành và/hoặc mua bán

Trang 21

các nghiên cứu, công nghệ mới phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

R&D và cải tiến công nghệ, quy trình công nghệ luôn là mục tiêu và chức năng quan trọng của các công ty tiên tiến, công ty đa quốc gia (TNTCs) tiên phong, lớn trên thế giới “Để trở thành công ty luôn dẫn đầu thị trường không còn cách gì khác là luôn phải đi trước đối thủ một bước về phát triển sản phẩm và công nghệ để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng với giá cả phải chăng và chi phí tối ưu”

Nghiên cứu và phát triển là một trong những chìa khóa thành công của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản là 3 quốc gia chi tiêu cho NC và phát triển nhiều nhất, trong khi đó Việt nam đứng thứ 54 trong tổng

sô 72 quốc gia có số liệu được công bố (theo dữ liệu của Worldbank năm 2010)

1.1.3 Kết quả nghiên cứu khoa học

Kết quả nghiên cứu là tác phẩm khoa học

Tác giả của tác phẩm khoa học có các quyền nhân thân, đó là quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên đối với tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả Các quyền nhân thân này vĩnh viễn thuộc về tác giả, kể cả trường hợp tác giả không là chủ sở hữu tác phẩm khoa học

Nếu tác phẩm sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình

để sáng tạo ra tác phẩm khoa học thì tác giả là chủ sở hữu tác phẩm này Trong thực

tế nghiên cứu khoa học, người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật phần lớn là

tổ chức (có thể dùng ngân sách Nhà nước) hoặc cá nhân khác, bởi vậy những người này mới là chủ sở hữu tác phẩm khoa học Chủ sở hữu có quyền công bố tác phẩm khoa học, đồng thời có toàn bộ nhóm quyền tài sản được quy định tại điều 20 của Luật SHTT

Chúng ta có thể đã gặp trường hợp, tác giả kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước (hoặc do người khác đầu tư tài chính) đã ký hợp đồng cho phép một nhà xuất bản phát hành tác phẩm khoa học do mình sáng tạo nên, cho phép người nào đó dịch tác phẩm khoa học ra tiếng nước ngoài các hành vi vừa nêu của tác

Trang 22

giả thực chất là đã cho phép người khác công bố tác phẩm, làm bản sao tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh, như vậy tác giả đã vi phạm các quyền mà chỉ chủ sở hữu kết quả nghiên cứu mới có

Nếu nhiều người cùng đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho nghiên cứu thì họ đồng sở hữu kết quả nghiên cứu, có thể chia ra 2 trường hợp:

Trường hợp 1: đồng sở hữu chung duy nhất, kết quả nghiên cứu không thể phân chia, dẫn đến bất kỳ một người nào trong số đồng sở hữu cũng không có quyền thực hiện một quyền tài sản nào đối với kết quả nghiên cứu nếu không có sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu còn lại

Trường hợp 2: đồng sở hữu theo phần, kết quả nghiên cứu có thể phân chia, dẫn đến mỗi người là chủ sở hữu một phần kết quả nghiên cứu căn cứ theo phần đóng góp tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình cho nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu là sáng chế

Tác giả sáng chế có các quyền nhân thân, đó là được ghi tên là tác giả trong bằng độc quyền sáng chế, được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế Như vậy, khác với tác giả của tác phẩm khoa học, tác giả sáng chế không có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của sáng chế, hay nói cách khác, tác giả sáng chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữu sáng chế hoặc người sử dụng sáng chế cải tiến sáng chế

Nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình

để nghiên cứu tạo nên giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì tác giả là chủ

sở hữu sáng chế Trong thực tế thì người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật phần lớn là tổ chức hoặc cá nhân khác, do đó chính những người này mới là chủ sở hữu sáng chế Một trong những quyền quan trọng của chủ sở hữu sáng chế là được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (license sáng chế) cho người khác, vì sáng chế

là một dạng tài sản vô hình, bởi vậy chủ sở hữu có thể đồng thời chuyển license (không độc quyền) sáng chế cho nhiều người khác nhau

Việc phân định quyền lợi vật chất đối với sáng chế giữa tác giả sáng chế và chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp vừa nêu không khó, nó căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên hoặc theo luật định Mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu phải trả cho

Trang 23

tác giả là 10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do license sáng chế

Trong lĩnh vực quản lý SHTT, có một thuật ngữ chuyên môn, đó là thuật ngữ

“sáng chế công nghệ” (Employee Invention) dùng để chỉ trường hợp sáng chế được tạo tạo ra trong quá trình tác giả của nó thực hiện công vụ

Nếu nhiệm vụ chính của tác giả trong quá trình thực hiện công vụ là phải nghiên cứu để tạo ra sáng chế thì tác giả (người lao động) không là chủ sở hữu sáng chế,

mà chủ sở hữu sáng chế giữa tác giả sáng chế và chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp này như đã nói ở trên

1.1.4 Chuyển giao công nghệ

Khái niệm chuyển giao công nghệ phụ thuộc vào khái niệm công nghệ nên cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:

Chuyển giao công nghệ là việc có được công nghệ nước ngoài và là một quá trình vật chất (trí tuệ), là một quá trình về cơ bản một mặt đi liền với việc đào tạo toàn diện và mặt khác là sự hiểu biết và học hỏi

Theo UNCTAD (1972) “Chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ” Theo định nghĩa này bản chất chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển giao kiến thức để sản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ

Nawaz Shaif (1983) cho rằng “Chuyển giao công nghệ thường là cách gọi việc mua công nghệ mới, nó thường xảy ra do có sự tồn tại của người mua và người bán Người bán thường được gọi là người giao và người mua thường được gọi là người nhận của quá trình công nghệ” Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra:

Trang 24

bao gồm bất kỳ hình thức chuyển giao một công nghệ giữa các hình thái tổ chức hoặc trong nội bộ một tổ chức” Theo định nghĩa này bản chất của chuyển giao công nghệ là phương thức thu nhận công nghệ hoặc khả năng công nghệ giữa các địa điểm hoặc chủ thể khác nhau

Các định nghĩa trên đưa ra khái niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ, cách hiểu bản chất và phạm vi của từng định nghĩa có khác nhau nhưng trong đó nổi lên hai nhóm thuật ngữ về đối tượng chuyển giao và mục đích của chuyển giao (1) Đối tượng của chuyển giao: có thể là kiến thức (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo, bồi dưỡng ); thông tin; thiết bị (2) Mục đích của chuyển giao: để sản xuất, áp dụng các quy trình và thực hiện dịch vụ; giải quyết các vấn đề

xã hội và thương mại nhấn mạnh đến việc thay đổi môi trường công nghệ sang một địa điểm khác, một môi trường khác

Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra: Từ một ngành công nghiệp sang ngành khác; từ một tổ chức này sang tổ chức khác; bên cạnh bản chất của chuyển giao, trong các định nghĩa còn thấy xuất hiện hai loại nhóm thuật ngữ đối tượng của chuyển giao và mục đích của chuyển giao

Đối tượng của chuyển giao (chuyển giao cái gì) có thể thấy: Kiến thức; Thông tin; Thiết bị (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo, học hỏi ) Thực ra việc nêu ra các đối tượng chuyển giao trong các định nghĩa là không cần thiết vì có thể nêu thẳng thuật ngữ “công nghệ” và đương nhiên hiểu nó ứng với các khái niệm về công nghệ đã được thống nhất từ trước Đến đây, chúng ta thấy rõ ràng là khái niệm “chuyển giao công nghệ” sẽ có nội dung tùy thuộc vào cách hiểu thuật ngữ “công nghệ” đã được quy ước trước

Mục đích của chuyển giao (chuyển giao để làm gì) chúng ta thấy: để sản xuất, áp dụng quy trình và thực hiện dịch vụ; Giải quyết vấn đề xã hội và thương mại Qua ba loại vấn đề được xem xét trên, trong một định nghĩa hợp lý về chuyển giao công nghệ có thể sẽ chỉ cần nhấn mạnh đến hai ý: bản chất của chuyển giao và mục đích của chuyển giao

Trên khía cạnh pháp luật, Luật chuyển giao công nghệ (2006) quy định:

“Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một

Trang 25

phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”

Quan điểm của tác giả Luận văn:

Chuyển giao công nghệ là quá trình mở rộng công nghệ từ một môi trường này sang một môi trường khác từ khu vực này sang khu vực khác bằng các hình thức khác nhau để tạo ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ giữa bên có công nghệ cho bên nhận công nghệ phục vụ các mục đích khác Với cách hiểu này của tác giả sẽ rộng hơn cách hiểu cho rằng chuyển giao công nghệ thực chất chỉ là việc giao dịch hay mua bán công nghệ

Hình thức chuyển giao công nghệ:

Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ;

Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ (còn gọi là license công nghệ);

Chìa khóa trao tay (Turn-key, Cle’ en main): chủ sở hữu công nghệ chỉ cam kết chuyển giao công nghệ vận hành được cho doanh nghiệp sử dụng Sản phẩm trao tay (Product en main): chủ sở hữu công nghệ cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có loạt sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó

Thị trường trao tay (Marché en main): chủ sở hữu công nghệ cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sử dụng và đảm bảo rằng có sản phẩm được sản xuất bằng cách áp dụng công nghệ đó, đồng thời chia sẻ thị phần tiêu thụ chính sản phẩm đó

Các hình thức độc quyền trong license công nghệ:

License độc quyền (Exclusive License): là loại license được thể hiện bởi hợp đồng độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền được độc quyền sử dụng công nghệ, bên chuyển quyền không được ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được sử dụng công nghệ đó nếu được phép của bên được chuyển quyền

License không độc quyền (Non Exclusive License): Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng không độc quyền, đó là hợp đồng mà theo dó trong phạm vi và

Trang 26

thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền vẫn có quyền sử dụng công nghệ, quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác

Phân loại chuyển giao công nghệ:

Sự cần thiết phải phân loại chuyển giao công nghệ là do hoạt động chuyển giao có tính đặc tính, đặc thù và hết sức đa dạng phức tạp Mặt khác để thuận lợi hơn trong quá trình quản lý cũng như thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ nên người ta cũng tìm cách phân loại chúng

Do tích chất đặc thù và phức tạp nên có nhiều quan điểm, nhiều cách phân loại CGCN Sau đây là một số cách phân loại thường gặp trong giao dịch công nghệ trong giai đoạn hiện nay

 Theo hình thái công nghệ được chuyển giao

Chuyển giao theo chiều dọc: là quá trình di chuyển công nghệ từ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm qua các giai đoạn triển khai và cuối cùng là công nghệ hoàn thiện (có nghĩa là công nghệ chưa được đưa vào sản xuất đại trà)

Chuyển giao theo chiều ngang: là quá trình di chuyển công nghệ đã được hoàn thành chế tạo, từ một môi trường hoạt động này tới một môi trường hoạt động khác (có nghĩa là công nghệ đã được sản xuất đại trà)

 Theo chủ thể CGCN

CGCN nội bộ: Là sự chuyển giao các kết quả nghiên cứu của bộ phận nghiên cứu phát triển cho bộ phận sản xuất trong nội bộ nhà máy, xí nghiệp hoặc cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

CGCN trong nước: Là sự chuyển giao các thành tựu công nghệ giữa tổ chức,

cá nhân có đủ quyền CGCN đến tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp nhận CGCN trong phạm vi một quốc gia (giữa nhà máy và nhà máy, giữa xí nghiệp và xí nghiệp, giữa

cơ sở NCKH và nhà máy, giữa trường đại học với nhà máy, xí nghiệp )

CGCN từ trong nước ra nước ngoài: là sự CGCN các thành tựu công nghệ giữa các tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền CGCN với các tổ chức, cá nhân trong nước có nhu cầu tiếp nhận công nghệ trong phạm vi giữa các quốc gia

 Theo nội dung công nghệ

Trang 27

Công nghệ chế tạo: chỉ sự CGCN về các phương diện như thiết bị, vật liệu sản xuất mục đích là chế tạo sản phẩm

Công nghệ thiết kế: chỉ sự CGCN về các phương diện như đồ án thiết kế khai thác phát triển sản xuất, ứng dụng công nghệ, tài liệu thuyết minh công nghệ,

số liệu tính toán và tư liệu ban đầu

Công nghệ quản lý: Chỉ sự chuyển giao quản lý về các phương diện như quản lý đặc biệt mà xí nghiệp hoặc các cơ quan nghiên cứu khoa học triển khai thành công, hoặc công nghệ quản lý về tài vụ, vật tư, nhân sự, tư vấn, buôn bán

 Theo dòng công nghệ được lưu chuyển

CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển: chủ yếu là mua bán thiết bị, công nghệ, các bí quyết kỹ thuật, các sáng chế, phát minh, các sản phẩm KH&CN

CGCN giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển: phần lớn là CGCN đã tương đối lạc hậu

CGCN giữa các nước đang phát triển với các nước kém phát triển: chủ yếu khai thác nguyên liệu thô, tận dụng nhân công lao động rẻ, thu hồi vốn nhanh

 Theo loại hình công nghệ chuyển giao

CGCN sản phẩm: Bao gồm các công nghệ thiết kế sản phẩm (chủ yếu là các phầm mềm thiết kế, các kỹ thuật mô phỏng, các số liệu để thiết kế sản phẩm), công nghệ sử dụng sản phẩm (chủ yếu là các phầm mềm sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa khi có sự cố, các thông tin liên quan đến vận hành tối ưu)

CGCN quá trình: bao gồm các quy trình công nghệ để chế tạo, sản xuất sản phẩm đã được thiết kế (công nghệ sản xuất) và công nghệ dịch vụ

 Theo các vật mang công nghệ được chuyển giao

Chuyển giao thông qua tài liệu kỹ thuật (các kiến thức CN dưới dạng giải pháp kỹ thuật, bí quyết, phầm mềm máy tính, công thức, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật)

Chuyển giao thông qua con người (các chuyên gia, các nhà KH&CN; công nhân kỹ thuật lành nghề)

Chuyển giao thông qua công cụ, phương tiện kỹ thuật (máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất đồng bộ, nhà máy dạng chìa khóa trao tay)

Trang 28

1.2 Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu

1.2.1 Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được định nghĩa là kết quả hay sản phẩm của một chương trình nghiên cứu, một đề tài hoặc dự án KQNC cũng được xem như là sản phẩm của mỗi công đoạn trong quá trình R&D theo chiều xuôi hay ngược

Quá trình R&D xuôi trải qua các công đoạn sau:

Ý tưởng => Nghiên cứu => Thử nghiệm => Hoàn thiện và nhân rộng

Quá trình R&D ngược trải qua các quá trình sau:

Công nghệ hoàn thiện => Phân tích để tìm ra bí quyết công nghệ => Thử nghiệm => Hoàn thiện và nhân rộng

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu được hiểu là quá trình chuyển hóa kết

quả R&D vào sản xuất, đời sống (Siegel et al, 1995, Goyal, 2006) Thương mại hóa

là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ hình thành ý tưởng cho đến việc đưa ra thị trường thành công Nếu khâu cuối cùng này không được thực hiện thì hoạt dộng R&D không có ý nghĩa thực tiễn

Như vậy, theo quan điểm của tác giả luận văn, thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình mà qua đó những kiến thức hay ý tưởng của các công trình nghiên cứu từ các trường đại học và các Viện nghiên cứu hay các tổ chức KH&CN được đưa ra thị trường và được thương mại hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng (Hình 1.1) Quá trình thực hiện đó đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ, hài hòa, thống nhất và có sự tương tác giữa Nhà nước, Chính phủ, cơ quan quản lý, các trường đại học và các Viện nghiên cứu, các tổ chức KH&CN với các doanh nghiệp, công ty, nhà đầu tư và tậm chí với các cá nhân

Hình 1.1 Chuyển đổi một ý tưởng khoa học thành sản phẩm sử dụng công nghệ (Nguồn: Đề tài thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa các kết quả R&D – Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ Khoa học Công nghệ)

Sản phẩm, thị trường

Trang 29

Để thương mại hóa thành công, tất cả các giai đoạn của quá trình thương mại hóa cần phải thành công, thất bại ở bất kỳ một giai đoạn nào đó cũng có thể dẫn đến thất bại chung của cả quá trình Tuy nhiên, một ý tưởng tốt không nhất thiết dẫn đến

sự thành công của thương mại hóa

Thương mại hóa thành quả hay một ý tưởng khoa học mang tính đột phá về

cơ bản cũng giống như thương mại hóa bất kì thứ gì trong đời sống xã hội, ngoại trừ việc thực hiện khó khăn hơn nhiều Nhiều khi việc này còn khó khăn bởi vì chúng

ta phải xây dựng thị trường cho một sản phẩm mới, chứ không phải là thiết kế một sản phẩm cho phù hợp với một thị trường hiện hữu

1.2.2 Đặc điểm của thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trong môi trường kinh doanh hiện nay, người ta vẫn thường nhắc đến hai khái niệm, thương mại hóa KQNC và thương mại hóa sản phẩm Vậy sự khác nhau

ở đây là gì? Giữa thương mại hóa KQNC và thương mại hóa sản phẩm có sự khác nhau cơ bản Thương mại hóa KQNC thường gắn liền với các giai đoạn NC&TK, hoạt động phổ biến hay lan truyền và CGCN trong nền kinh tế thị trường Trong khi

đó, thương mại hóa sản phẩm lại gắn liền với việc phân công lao động, sản xuất hàng hóa và trao đổi theo cơ chế thị trường Khi có sự ra đời của sản xuất hàng hóa

và có sự phân công lao động rõ ràng trong xã hội thì khi đó có sự ra đời của thương mại hóa

Tuy nhiên có một số quan điểm cho rằng, thương mại hóa KQNC là quá trình chuyển hóa các KQNC khoa học thành các quy trình công nghệ công nghiệp

và các sản phẩm được bán trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Quá trình chuyển hóa đó được thực hiện thông qua hai loại hình hoạt động sau:

Các hoạt động thương mại hóa KQNC của trường ĐH và của các Viện NC hay tổ chức KH&CN như “bán” hoặc “chuyển giao” các hoạt động đào tạo, hợp đồng nghiên cứu, KQNC và sở hữu trí tuệ

Các hoạt động chuyển hóa tri thức khoa học và KQNC khoa học thành sản phẩm thương mại và các quy trình công nghệ sản xuất, sản xuất thử nghiệm

Hiện nay các Viện NC, trường ĐH, tổ chức KH&CN hay các DN đã bắt đầu tiến hành thương mại hóa KQNC dưới tác động của môi trường chính sách trong

Trang 30

nước, một số chính sách như chính sách đào tạo, thương mại, KH&CN, công nghiệp, đổi mới, CGCN,… và thế giới Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, để cơ chế hóa hoạt động thương mại hóa KQNC thì trước hết các bên tham gia cần phải có đủ năng lực, khả năng để tạo ra các công nghệ phù hợp và hỗ trợ đắc lực cho quá trình chuyển giao, phổ biến hay lan truyền công nghệ đó

1.2.3 Quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Bản chất của quá trình thương mại hóa KQNC chính là quá trình chuyển hóa khoa học/tri thức thành công nghệ thương phẩm Việc chuyển hóa tri thức khoa học thành tri thức công nghệ được xem là quá trình tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu/nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng/khách hàng Và quá trình này người ta

gọi là quá trình sản xuất ra hàng hóa KH&CN để bán trên thị trường

Sau giai đoạn nghiên cứu là giai đoạn triển khai và tạo ra sản phẩm mẫu đầu tiên (serie 0) và đồng thời cũng xác định thị trường cho sản phẩm Tiếp sau giai đoạn triển khai và tạo sản phẩm mẫu đầu tiên là giai đoạn kiểm tra sự thích hợp hay

sự phù hợp của sản phẩm với thị hiếu/yêu cầu khắt khe của thị trường người tiêu dùng Tiếp theo đó là giai đoạn đưa sản phẩm thâm nhập vào thị trường và cuối cùng là giai đoạn bán hàng và chiếm lĩnh thị trường Thông qua các giai đoạn đó, ta nhận thấy rằng, trong cơ chế thị trường luôn tồn tại vai trò cũng như trách nhiệm về tài chính của nhà nước, DN và các thành phần khác trong xã hội đối với quá trình chuyển hóa tri thức khoa học thành công nghệ hay sản phẩm

Xét mối quan hệ giữa trường ĐH, Viện NC hay các tổ chức KH&CN với các

DN trong quá trình chuyển hóa khoa học thành công nghệ thương phẩm (sản phẩm), thì về bản chất, hoạt động NC&TK chỉ có thể thương mại hóa được (hay nói theo một cách nôm na là đem bán được) khi trong giai đoạn triển khai tạo ra được sản phẩm mới hay quy trình công nghệ mới sau khi đã trải qua giai đoạn nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng và thử nghiệm trước khi bước vào giai đoạn sản xuất thử và sản xuất hàng loạt

Song song với quá trình chuyển hóa khoa học thành công nghệ thương phẩm

đó thì tri thức của con người cũng được chuyển hóa từ khoa học sang công nghệ cơ

Trang 31

bản, rồi sau đó từ công nghệ cơ bản sang sản phẩm mới/quy trình công nghệ mới và cuối cùng chuyển hóa sang quy trình sản xuất và dịch vụ

Như vậy, để thương mại hóa thành công được KQNC thì quá trình hình thành sản phẩm này phải được Nhà nước hỗ trợ không chỉ bằng các nguồn lực công ích mà còn phải thông qua các chính sách ngay từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi thúc đẩy việc chuyển hóa tri thức thành các sản phẩm có thể mua bán được trên thị trường và đáp ứng nhu cầu công nghệ của DN

và của người tiêu dùng

1.2.4 Vai trò của thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong khối viện, trường và

tổ chức khoa học và công nghệ

Hiện nay, nhiều các trường đại học, các Viện nghiên cứu hay các tổ chức KH&CN đang rất tích cực trong việc thúc đẩy quá trình thương mại hóa các KQNC của mình để tạo ra thu nhập và gắn với sản xuất Lợi ích thu được từ việc thương mại hóa KQNC này sẽ là sự trả công thỏa đáng cho các nhà nghiên cứu khoa học và chính điều đó sẽ khuyến khích họ hăng say nghiên cứu, đóng góp tri thức của mình cho sản xuất, cho sự phát triển phồn vinh của xã hội Trường ĐH cũng được coi là một trong những nơi tập trung nhiều tiềm lực KH&CN nhất của đất nước, coi đây là nơi tâp trung đông đảo đội ngũ trí thức khoa học có trình độ cao

Để thương mại hóa KQNC thành công thì cần phải có một cơ sở hạ tầng để thực hiện quá trình thương mại hóa, nhân lực trình độ cao, phải có chiến lược và cả chính sách đổi mới, tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng các quỹ nghiên cứu, xác định các khám phá có khả năng thương mại hóa và vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) Trường đại học, các Viện nghiên cứu hay tổ chức KH&CN là một thành phần hay một bộ phận quan trọng trong hệ thống đổi mới quốc gia và nó cũng là nguồn cung công nghệ chủ yếu trong nước

Bên cạnh đó, việc thương mại hóa KQNC còn được thực hiện thông qua việc thành lập các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp KH&CN nói riêng (start-ups, spin-offs) Tuy nhiên, các doanh nghiệp mới được thành lập hiện nay chủ yếu theo mô hình spin-outs, đó là các doanh nghiệp được hình thành do sự liên doanh, liên kết giữa các Viện, trường ĐH với các công ty hay doanh nghiệp do giảng

Trang 32

viên/cán bộ của trường ĐH, Viện NC hay thậm chí cả các nghiên cứu sinh thành lập, tách khỏi trường, Viện và dần trở thành cơ sở sản xuất – kinh doanh độc lập với Viện, trường Do đó, các doanh nghiệp thường được thành lập trên cơ sở các SHTT hoặc bí quyết (know-how) xuất phát từ các nghiên cứu của Viện, trường

1.3 Các yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu

1.3.1 Thị trường, quy luật vận hành của thị trường công nghệ

Thị trường là khái niệm phổ biến trong các nghiên cứu về kinh tế và phát triển, được hiểu và diễn giải khác nhau Ngoài ra thị trường còn là thuật ngữ thường xuyên được sử dụng trên nhiều diễn đàn khác nhau Để phục vụ cho các phân tích

về thị trường công nghệ luận văn xin trích dẫn một số diễn giải khái niệm về thị trường Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (NISTPASS, 2003)

đã đưa ra một loạt các khái niệm về thị trường: từ thị trường là chợ, là tập hợp người mua, là cơ chế phân bố nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh, cho đến là một thể chế kinh tế để thực hiện các giao dịch kinh tế

Thị trường cũng có thể xem như là phương tiện phân bố các nguồn tài nguyên (means of allocating resources) Cách hiểu về thị trường này thường được

sử dụng trong các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững (e.g., pearce& Jeremy, 1993) mà ở đó trọng tâm là sự quan tâm về phân bố hiệu quả và bình đẳng các nguồn tài nguyên nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững

Thị trường vận hành có sự tham gia của hai lực lượng cơ bản đó là những người mua và những người bán Quyền lợi của những người mua – bán trên thị trường được phản ánh thông qua tương tác giữa cung – cầu; trên cơ sở đó giá cân bằng hay giá thị trường được xác lập (Hình1.2) Ở đây, “cầu” được xác định là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua sẵn long mua (willing to purchase) ở một mức giá cụ thể; còn cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có thể sẵn lòng bán (willing to sell) ở một mức giá cụ thể (Subarata, 2003) Trong quan

hệ cầu – cung thể hiện trong (Hình 1.2), đường cầu có xu hướng đi xuống do người mua sẽ mua càng ít khi giá cả càng cao; còn đường cung có xu thế tăng lên do khi giá cả càng cao; còn đường cung có xu thế tăng lên do khi giá cả càng cao người

Trang 33

bán sẽ sẵn long cung cấp càng nhiều hàng hóa dịch vụ Cung cầu tạo ra giá cân bằng (giá thị trường) mà giá cân bằng này có thể tối đa các lợi ích thu được từ việc mua bán Khi nhu cầu tăng (Hình 1.2 đường cầu dịch chuyển sang phải) giá cân bằng tạo kích thích cho các nhà sản xuất (cung cấp hàng hóa và dịch vụ) gia tăng lượng hàng hóa và dịch vụ Ngược lại khi nhu cầu giảm dẫn đến sự cắt giảm việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ Chính vì tầm quan trọng của cầu, mà chính phủ nhiều nước trên thế giới áp dụng các chính sách kích cầu cho phát triển kinh tế

P (giá) Hình 1.2 Cung cầu trên thị trường

Trang 34

thương mại hóa KQNC của các trường ĐH, Viện NC và các tổ chức KH&CN, cụ thể như sau:

Luật KH&CN quy định:

-Thực hiện nhiệm vụ KH&CN thông qua tuyển chọn, giao trực tiếp

-Được nhận tài trợ từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia để thực hiện hoạt động R&D, ứng dụng kết quả R&D vào sản xuất và đời sống;

-Khi chuyển nhượng, chuyển giao kết quả R&D được tạo điều kiện để quảng cáo, giới thiệu, trình diễn kết quả R&D, được tham gia triển lãm, hội chợ và đặc biệt được chia lợi nhuận từ việc chuyển nhượng, chuyển giao kết quả R&D;

-Được thưởng khi có kết quả R&D được ứng dụng vào đời sống

Luật chuyển giao công nghệ quy định:

-Nhà nước giao quyền chủ sở hữu công nghệ đối với kết quả R&D công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và triển khai công nghệ đó;

-Tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối tượng sở hữu công nghiệp nhưng đã hết thời hạn bảo hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam có quyền chuyển giao quyền

sử dụng công nghệ đó;

-Chủ sở hữu CN có quyền chuyển giao sở hữu, quyền sử dụng công nghệ; -Tác giả đã được cấp văn bằng bảo hộ được hưởng mức thù lao theo quy định của Luật SHTT;

-Tập thể, cá nhân tạo ra công nghệ được hưởng tỷ lệ phần trăm trên giá bán của sản phẩm do công nghệ đó tạo ra trong thời hạn tối đa là 10 năm nếu tổ chức chủ trì R&D công nghệ sử dụng công nghệ đó để sản xuất;

-Tập thể, cá nhân tạo ra công nghệ được hưởng từ 20% đến 35% số tiền thu được từ hợp đồng CGCN

Luật sở hữu trí tuệ quy định:

-Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký;

Trang 35

-Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí mạch tích hợp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ, đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên

cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;

-Chủ thể quyền SHTT được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ quyền theo quy định của Luật SHTT;

-Tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để

tự bảo vệ quyên SHTT của mình và có trách nhiệm tôn trọng quyền SHTT của tổ chức, cá nhân khác

Nghị định 115 quy định:

-Căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển KH&CN của Nhà nước, nhu cầu xã hội, nhu cầu của DN, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của mình, các tổ chức KH&CN tự xác định nhiệm vụ KH&CN và biện pháp tổ chức thực hiện; -Căn cứ vào danh mục các nhiệm vụ KH&CN do Bộ KH&CN, các Bộ, ngành

và địa phương công bố hàng năm, các tổ chứ KH&CN tự quyết định việc tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ KH&CN của Nhà nước và biện pháp tổ chức thực hiện;

-Các tổ chức KH&CN tự quyết định biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN do các cơ quan Nhà nước giao hoặc đặt hàng, đảm bảo chất lượng và tiến

độ theo yêu cầu

Nghị định số 80 quy định:

-Các tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các KQNC khoa học và phát triển công nghệ có nhu cầu được thành lập doanh nghiệp KH&CN;

-Hoạt động chính của DN KH&CN là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hóa hình thành từ KQNC khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN…

Kết luận chương 1

Khoa học và nghiên cứu khoa học đóng vai trò rất quan trọng trong mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của mỗi Quốc gia Đặc biệt trong môi trường viện, trường đại học thì công tác nghiên cứu khoa học được đặt ngang

Trang 36

với công tác đào tạo: một trong hai nhiệm vụ chính yếu của bất kỳ một đơn vị đào tạo nào Sở dĩ như vậy vì khoa học, nghiên cứu khoa học cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp luận, những tri thức hữu ích phục vụ hoạt động giảng dạy Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu phát triển vào sản xuất kinh doanh cũng mang lại nguồn thu cho cán bộ nghiên cứu nói chung và cho nhà trường nói riêng không những về giá trị kinh tế mà còn giá trị về tri thức, SHTT…

Trong chương 1, tác giả luận văn đã đưa ra hệ thống lý thuyết về: khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học, các khái niệm hình thức nghiên cứu, nghiên cứu

và phát triển công nghệ Hay các khái niệm về chuyển giao công nghệ, chủ sở hữu kết quả nghiên cứu, để làm rõ hơn về ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh hay thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Luận văn đã đưa ra các

khái niệm về: thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đặc điểm của thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu và vai trò của thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong khối viện, trường và tổ chức KH&CN Để phân

tích và làm rõ các yếu tố cần và đủ trong công tác thương mại hóa KQNC

Tác giả luận văn cũng làm rõ thêm về thị trường KH&CN và các quy luật vận hành của thị trường công nghệ từ môi trường pháp lý, đến cơ chế, chính sách của Nhà nước về hoạt động thương mại hóa KQNC nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu phát triển vào sản xuất kinh doanh, góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÀO SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

2.1 Giới thiệu chung về Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là trường đại học đa ngành về kỹ thuật được thành lập ở Hà Nội được thành lập theo Nghị định số 147/NĐ ngày 6-3-1956

do Bộ trưởng Bộ Giáo Dục Nguyễn Văn Huyên ký Trường luôn là một trong những trường đại học kỹ thuật hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam với bề dày lịch

sử Với nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Trường đã được Đảng và Nhà nước tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý cho các cá nhân và tập thể được thể hiện qua những trang vàng truyền thống của trường

 Đội ngũ cán bộ:

Tổng số cán bộ hiện nay, công chức gồm 1950 cán bộ, với 1192 giảng viên

và 394 cán bộ phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học Nhà giáo nhân dân và Nhà giáo ưu tú: 154; Giáo sư và Phó giáo sư: 399; Tiến sỹ khoa học và Tiến sỹ: 703; Thạc sỹ: 1200

Đây là đội ngũ cán bộ có uy tín, kinh nghiệm, nhiệt huyết trong hoạt động đào tạo nghiệp vụ và quản lý, trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

 Cơ sở vật chất kỹ thuật:

+ Cơ sở vật chất kỹ thuật của Trường phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và sinh hoạt đa dạng, đồng bộ, gồm hàng chục toà nhà cao tầng với tổng diện tích sử dụng hơn 20 vạn m2

+ Hơn 200 giảng đường, phòng học, hội trường lớn cùng một hệ thống các phòng hội thảo Gần 200 phòng thí nghiệm, trong đó có 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và tương đương; khoảng 20 xưởng thực tập và thực hành

+ Trường có mạng thông tin nội bộ kết nối với mạng Internet Thư viện điện

tử của trường là thư viện lớn và hiện đại nhất Việt Nam

+ Quần thể thể thao của trường khép kín, đa chức năng gồm Sân vận động, Nhà thi đấu, Bể bơi, Sân tennis

Trang 38

Cơ cấu tổ chức

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động trường ĐHBK Hà Nội

Hiện nay Nhà trường có 46 chuyên ngành đào tạo đại học bậc kỹ sư, 29 chuyên ngành đào tạo đại học hệ cử nhân; 30 chuyên ngành đào tạo cao học; 38 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ; 3 khoa và 19 viện chuyên môn

Sau gần 60 năm xây dựng và trưởng thành, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã đào tạo phục vụ ở các ngành kinh tế, công nghiệp, quốc phòng, an ninh, bộ máy quản lý của các bộ, ban, ngành Nhiều người đã trở thành các nhà khoa học đầu ngành, cán bộ quản lý cao cấp, các tướng lĩnh, các chủ doanh nghiệp và cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

 Các lĩnh vực tham gia nghiên cứu

- Cơ khí - Công nghệ chế tạo máy - Cơ khí - Động lực

- Điện - Tự động hoá - Điện tử & Viễn thông

- Công nghệ Thông tin - Công nghệ Vật liệu

- Công nghệ Hoá học - Công nghệ Nhiệt - Lạnh

- Công nghệ Dệt May & Thời trang - Kinh tế - quản lý

8 Viện và 5 TT nghiên cứu

PTN Trọng điểm quốc gia

17 Viện chuyên ngành

Các Phòng Ban chức năng

Các chương trình

ĐT, NCKH

CÔNG ĐOÀN TRƯỜNG

BAN GIÁM HIỆU

ĐOÀN TNCS HCM, HỘI SV

ĐẢNG ỦY TRƯỜNG

HỘI ĐỒNG

KHOA HỌC ĐÀO TẠO

3 Khoa đào tạo cơ bản

Các Bộ môn Các PTN

Các quan hệ: Lãnh đạo: Phối hợp: Tư vấn:

Trang 39

- Công nghệ Môi trường - Năng lượng mới

- Toán Ứng dụng & Tin học - Vật lý

Tuy nhiên, so với tiềm lực hiện có của nhà trường cũng như so sánh trong mối tương quan với các nước trong khu vực và trên thế giới, hoạt động NCKH-CGCN của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội còn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế, khả năng ứng dụng vào đời sống xã hội Chính vì vậy, để có được một cái nhìn khách quan, bao quát về hoạt động NCKH-CGCN của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, từ đó tìm ra được những nguyên nhân, phương hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động này, trước hết luận văn xin phân tích thực trạng hoạt động KH&CN của nhà trường theo những nội dung dưới đây:

Giai đoạn 2011-2015 vừa qua, hoạt động khoa học công nghệ đã đạt được

một số thành tựu đáng kể, phát triển KHCN theo định hướng chiến lược của trường,

đã hoàn thành tốt các công việc được giao, tổ chức triển khai thực hiện kịp thời công tác chuyên môn của mình, góp phần tích cực vào thành tích chung của tập thể, của Trường Duy trì hoạt động KHCN thông qua các đề tài, dự án các cấp, ổn định, cải tiến và phát triển số lượng cũng như chất lượng, từng bước cải tiến công tác quản lý phù hợp với tình hình thực tế trước mắt và có chiến lược cho lâu dài Tập thể cán bộ công chức của Phòng, Ban đã hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của đơn vị mình, hoàn thiện kế hoạch và định hướng chiến lược trong NCKH, ổn định

Trang 40

hoạt động của các Hội đồng khoa học liên ngành trong việc đề xuất, xét duyệt các

đề tài và chủ trì việc xây dựng các chương trình nghiên cứu khoa học

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống doanh nghiệp thuộc trường hỗ trợ các hoạt động chuyển giao công nghệ cũng như nghiên cứu khoa học Hệ thống doanh nghiệp gồm Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách khoa Hà Nội, các công ty thành viên, trường cao đẳng nghề và trường Trung học chuyên

Đa dạng hóa các loại hình NCKH, khai thác hiệu quả nguồn đầu tư từ NSNN

và hợp tác quốc tế Nhiều sản phẩm của các đề tài NCKH đã được triển khai thành công và tìm được nhiều địa chỉ ứng dụng cũng như đăng ký nhiều bằng sáng chế/GPHI và nhãn hiệu hàng hóa Tăng cường hợp tác khai thác các đề tài dự án từ các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố khác Tích cực triển khai các đề tài hợp tác quốc tế theo Nghị định thư nhằm tạo điều kiện để các nhóm nghiên cứu có điều kiện vừa triển khai trong nước, vừa có cơ hội học hỏi Công nghệ của các đối tác tiên tiến

Về lĩnh vực nghiên cứu cơ bản (đề tài Nafosted) luôn được chú trọng và đạt

số lượng ổn định

Số lượng bài báo được công bố tăng hằng năm đặc biệt là các công bố quốc

tế (gần 200 bài) và chất lượng ngày càng cao Luôn luôn quan tâm và đẩy mạnh công tác bảo hộ thành quả nghiên cứu, đã đưa hoạt động tổ Sở hữu trí tuệ thường xuyên nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ thành quả NCKH của cán bộ và sinh viên trong toàn trường;

Hoạt động NCKH đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, thể hiện qua sự tham gia đông đảo của CBGD, các sinh viên, học viên cao học

và NCS vào các đề tài NCKH Hàng năm quy mô và chất lượng sinh viên NCKH tăng rõ rệt Nhiều công trình của sinh viên đã mang tính học thuật và thực tiễn cao (năm 2014, trong số các đề tài của trường gửi đi tham gia thi Tài năng KH trẻ, trường đoạt 1 giải nhất và 1 giải nhì)

Nâng cao chất lượng tạp chí khoa học của trường Trong thời gian qua công tác xuất bản tạp chí KH&CN các trường Đại học kỹ thuật (số trường tham gia: 6 trường) đã được cải tổ: đã duy trì 3 số bằng tiếng Anh hàng năm và phân thành các serie theo chuyên ngành Chất lượng và uy tín của tạp chí đã được nâng lên rõ rệt

Ngày đăng: 05/10/2016, 11:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động trường ĐHBK Hà Nội - Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động trường ĐHBK Hà Nội (Trang 38)
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả hoạt động KH&CN của trường 2011-2015: - Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả hoạt động KH&CN của trường 2011-2015: (Trang 41)
Hình 2.4  Đường chuyển giao công nghệ - Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh
Hình 2.4 Đường chuyển giao công nghệ (Trang 46)
Hình 2.5 Mô hình tổ chức của viện kỹ thuật hóa học  Viện  KTHH  là  một  trong  những  Khoa,  Viện  đứng  đầu  nhà  trường  về  thành  tích nghiên cứu khoa học - Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh
Hình 2.5 Mô hình tổ chức của viện kỹ thuật hóa học Viện KTHH là một trong những Khoa, Viện đứng đầu nhà trường về thành tích nghiên cứu khoa học (Trang 53)
Bảng 2.6 Kết quả hoạt động nghiên cứu - Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh
Bảng 2.6 Kết quả hoạt động nghiên cứu (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w