1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn thành phố hà nội

88 344 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của ứng dụng CNTT, trong những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Ngô Thanh Thiều

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Nguyên Khánh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong Luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như

số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

về nội dung Luận văn của mình

Học viên

Ngô Thanh Thiều

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 01

Chương 1: Lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin 08

1.1 Tác động và vai trò của công nghệ thông tin 08

1.2 Lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin 13

1.3 Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay 17

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn thành phố Hà Nội 37

2.1 Vấn đề chính sách ứng dụng công nghệ thông tin của thành phố Hà Nội 37

2.2 Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin của thành phố Hà Nội 50

Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin tại thành phố Hà Nội 64

3.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin 64

3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin của thành phố Hà Nội 66

3.3 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin của thành phố Hà Nội 68

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 80

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), CNTT đang được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, CNTT xóa bỏ các rào cản về địa lý, thay đổi phương thức giao tiếp

và kết nối mọi người với nhau CNTT là nền tảng của kinh tế tri thức và là một trong những động lực quan trọng nhất cho sự phát triển

Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của ứng dụng CNTT, trong những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN trên địa bàn và trong đời sống kinh

tế xã hội thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo như: Chỉ thị số 13-CT/TU ngày 09/6/2009 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về việc ứng dụng, phát triển CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Thành phố; Kế hoạch số 54-KH/TU ngày 27/4/2012 thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW và Nghị quyết số 16/NQ-CP (trong đó có nội dung về phát triển hạ tầng thông tin)

Các nội dung chỉ đạo trên đã triển khai cụ thể hóa trong Quy hoạch phát triển CNTT đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Chương trình mục tiêu ứng dụng CNTT trong hoạt động CQNN Thành phố giai đoạn 2012-2015, chương trình phát triển công nghiệp CNTT đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và các kế hoạch triển khai hàng năm Đến nay, việc triển khai ứng dụng và phát triển CNTT

đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Ứng dụng CNTT đã từng bước tạo dựng nền tảng để xây dựng “chính quyền điện tử” của Thành phố, đã làm thay đổi phương thức điều hành, quản lý của các đơn vị, xử lý công việc của cán bộ, công chức, công khai, minh bạch, thuận lợi cho tổ chức cá nhân và góp phần giải quyết các thủ tục hành chính phục vụ công dân, tổ chức tốt hơn; Công nghiệp CNTT phát triển thành ngành kinh tế tri thức, đóng góp ngày càng lớn vào quá trình phát triển Thủ đô, đồng thời, làm nền tảng hỗ trợ cho công tác triển khai ứng dụng CNTT cũng như nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 6

2

Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT, kết quả xếp hạng ứng dụng CNTT của Thành phố đã có những bước tiến vượt bậc, cụ thể: chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT của Thành phố đã tăng từ vị trí thứ 10 (năm 2012) lên vị trí thứ 3 (năm 2014, 2015) và theo đánh giá của Bộ Thông tin và Truyền thông về Ứng dụng CNTT, mức độ ứng dụng CNTT của Thành phố đã tăng từ thứ 19 (năm 2011) lên vị trí thứ 2 (năm 2012, 2013)

Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) về

“Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội

nhập quốc tế” đã xác định quan điểm: “CNTT là một công cụ hữu hiệu tạo lập

phương thức phát triển mới, là một trong những động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế xã hội ” Đồng thời, Nghị quyết

cũng khẳng định “Ứng dụng, phát triển CNTT là nội dung bắt buộc trong từng

chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển cũng như đề án, dự án đầu tư của mỗi ngành, lĩnh vực, cơ quan đơn vị”

Để đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT thực hiện mục tiêu xây dựng, phát triển Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, xứng đáng với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 31-CT/TU ngày 16/9/2015 về việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

và hội nhập quốc tế

Với các yêu cầu rất lớn và nhiệm vụ nặng nề trong việc triển khai ứng dụng, phát triển CNTT trên địa bàn Thành phố trong giai đoạn tiếp theo, cả về phạm vi ứng dụng cũng như mức độ, qui mô triển khai Việc đánh giá đúng thực trạng và kịp thời phát hiện những tồn tại, bất cập làm cơ sở để nâng cao hiệu quả và đẩy mạnh công tác ứng dụng CNTT trong giai đoạn tới là một đòi hỏi khách quan, cần thiết

Đó chính là lý do đề tài “Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn thành phố Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu

Trang 7

3

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Ứng dụng CNTT không phải là một vấn đề mới mẻ mà được nhắc đến nhiều tài liệu nghiên cứu Sau đây là một số tài liệu được tác giả lựa chọn để tham khảo, nghiên cứu:

1 Bộ Thông tin và Truyền thông (2014), Sách trắng “CNTT và truyền

thông Việt Nam, năm 2014”, Hà Nội

2 Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội tin học Việt Nam (2015), Báo

cáo tóm tắt chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt Nam năm

2015, Đà Lạt

3 Cục Thương mại điện tử và công nghệ thông tin Bộ Công Thương (2015),

Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam năm 2015, Hà Nội

4 Trần Việt Cường (2014), Một số vấn đề về nghiên cứu xây dựng kiến trúc hệ thống thông tin quốc gia, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền

Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, tháng 10/2015 (kỳ 2), tr.16-20

8 Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

9 Đặng Hữu (2005), Công nghệ thông tin - mũi nhọn đột phá đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trang 8

4

10 Nguyễn Bắc Son (2014), Triển khai thực hiện Nghị quyết NQ/TW để biến thời cơ vàng thực sự thành “vàng”, Tạp chí Công nghệ thông

36-tin và Truyền thông, tháng 10/2014 (kỳ 2), tr.5-10

11 Nguyễn Bắc Son (2014), Nghị quyết 36-NQ/TW: Định hướng xuyên suốt cho Chiến lược ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, Tạp chí

Công nghệ thông tin và Truyền thông, tháng 10/2014 (kỳ 2), tr.11-14

Liên quan đến vấn đề này còn có Luận văn Tiến sĩ quản lý giáo dục của tác giả Lưu Lâm (bảo vệ tại Viện Khoa học giáo dục Việt Nam năm 2010),

Cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý khoa học và công nghệ của ngành giáo dục Việt Nam; luận văn

thạc sĩ quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Trung Thành (bảo vệ tại trường Đại

học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội năm 2015), Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN ở Việt Nam

Nhìn chung, các tài liệu đều có ý nghĩa thực tiễn nhất định Tuy nhiên, qua khảo cứu thì hầu hết chỉ quan tâm đề cập vào các vấn đề chủ trương, phương hướng lớn hoặc tập trung vào thực tiễn một ngành, lĩnh vực cụ thể mà vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT từ thực tiễn của thành phố Hà Nội cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến Những tài liệu vừa nêu trên sẽ giúp ích cho việc tham khảo, đối chứng trong nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin; phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn thành phố Hà Nội; và để

từ đó đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp nâng cao kết quả thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau:

Trang 9

3.3 Giả thiết nghiên cứu

Thứ nhất, chính sách ứng dụng CNTT đã được tổ chức triển khai thực hiện ở

thành phố Hà Nội nhưng chưa mang lại kết quả và hiệu quả như mong muốn của nhà nước cũng như của các đối tượng chính sách Vì vậy, chính sách ứng dụng CNTT nếu được tổ chức thực hiện một cách khoa học, hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tiễn ở thành phố Hà Nội thì kết quả mang lại sẽ cao hơn so với hiện tại

Thứ hai, việc thực hiện những chính sách ứng dụng CNTT, chưa thật sự tạo

ra được động lực mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội cho thành phố Hà Nội Vấn đề này có thể do việc thực hiện chính sách chưa phù hợp và nếu

có các giải pháp phù hợp thì sẽ nâng cao được kết quả cũng như hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT ở thành phố Hà Nội Do vậy, nếu việc thực hiện chính sách này được tiến hành với những cơ chế phù hợp trên cơ sở sử dụng nguồn lực hợp lý thì việc thực hiện chính sách sẽ thu được kết quả cao hơn và bền vững hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách ứng dụng CNTT, cụ thể là nghiên cứu giải pháp và công cụ chính sách ứng dụng CNTT trong từ thực tiễn thành phố Hà Nội dưới góc độ khoa học chính sách công

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay

- Không gian nghiên cứu: Tại thành phố Hà Nội

Trang 10

6

- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài này chủ yếu nghiên cứu chính sách

ứng dụng CNTT, trong đó tập trung vào nghiên cứu chính sách ứng dụng CNTT trong các CQNN tại thành phố Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và luận văn triệt để vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về thực hiện chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn giúp hình thành

lý luận về chính sách chuyên ngành

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để

thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT của thành phố Hà Nội

- Phương pháp phân tích hệ thống: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích

hệ thống, vận dụng tổng hợp các kiến thức về khoa học quản lý như khoa học quản

lý nhân lực, quản lý công nghệ, quản lý dự án, quản lý hoạt động tác nghiệp, hệ thống thông tin quản lý,… trên cơ sở sử dụng các số liệu của Thành phố Hà Nội để tổng hợp, phân tích đánh giá, làm sáng tỏ các vấn đề cốt lõi ảnh hưởng đến quá trình triển khai ứng dụng CNTT

- Phương pháp phân tích so sánh: Vận dụng phương pháp tổng hợp, phân

tích so sánh đối tượng nghiên cứu với một chuẩn mực nhất định, trên cơ sở điều tra, khảo sát, đánh giá thực tế và các số liệu thống kê thu thập thông tin từ các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành có liên quan, các báo cáo tổng kết trong lĩnh vực ứng dụng và phát triển CNTT trong các cơ nhà nước, làm cơ sở để phân tích so sánh và đưa ra các nhận xét, đánh giá phù hợp với tình hình triển khai tại thành phố Hà Nội

Trang 11

- Luận văn tập trung hệ thống một cách cơ bản, có cơ sở khoa học các khái niệm, nội hàm về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Hệ thống hóa và làm sáng

tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT ở thành phố Hà Nội

- Luận văn đã cung cấp thông tin về thực trạng ứng dụng CNTT ở thành phố

Hà Nội đồng thời tổng hợp quan điểm và yêu cầu của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT đạt được kết quả và hiệu quả

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT ở thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp để tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với đặc thù của thành phố Hà Nội góp phần thực hiện thành công chính sách ứng dụng CNTT vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1: Lý luận về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin tại thành phố Hà Nội

Trang 12

8

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Tác động và vai trò của công nghệ thông tin

1.1.1 Sự hình thành và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta

Việc sử dụng máy tính điện tử vào thực tiễn ở Việt Nam được bắt đầu từ rất sớm, vào giữa thập niên 60 của thế kỷ trước Ở phía Bắc chủ yếu là các ứng dụng nghiên cứu khoa học, thống kê, ở phía Nam là các ứng dụng quản lý kinh tế và dự báo trên các máy lớn Đến năm 1993, thông qua Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993 của Chính phủ về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 1990, ngành CNTT mới có những định hướng phát triển rộng trên quy mô quốc gia Theo đó những mục tiêu chính cho ứng dụng CNTT được xác định là “Xây dựng hệ thống máy tính

và phương tiện truyền thông được liên kết với nhau trong các mạng với những công

cụ phần mềm đủ mạnh và các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu có khả năng phục

vụ các hoạt động quản lý nhà nước và các hoạt động huyết mạch của nền kinh tế; phát triển rộng rãi việc ứng dụng CNTT góp phần tăng năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, hiện đại hóa dần các ngành sản xuất, dịch vụ quan trọng

và an ninh quốc phòng; Tăng cường ứng dụng CNTT trong các hoạt động điều tra

cơ bản, thăm dò khảo sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác; phổ cập văn hóa thông tin trong xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một xã hội thông tin”

Sau khi có Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993, Chính phủ công bố Chương trình quốc gia về CNTT Đây là kế hoạch phát triển CNTT toàn diện của nước ta giai đoạn 1995-2000, trong giai đoạn này, CNTT thế giới đã những có bước phát triển đại nhảy vọt làm thay đổi về cơ bản cách thức mà con người làm việc, học tập

Trang 13

9

“CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu

tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng” Để triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị, Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW”; đề án “Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005”; kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến 2005 Trong giai đoạn này, ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN tập trung vào việc triển khai rộng rãi các phần mềm dùng chung trong các CQNN, xây dựng và nâng cấp mạng diện rộng của Chính phủ, đào tạo về CNTT cho cán bộ công chức và bắt đầu xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia

1.1.2 Tác động của công nghệ thông tin vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội

- Trong đời sống hàng ngày: CNTT đã trở nên phổ biến, có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, trở thành phương tiện không thể thiếu cho con người trong công việc, học tập, sinh hoạt hàng ngày CNTT tạo ra môi trường thông tin thuận lợi cho mọi hoạt động của xã hội Không có máy tính, hệ thống mạng và những cơ sở

dữ liệu, chúng ta không thể tạo ra bước đột phá trong quá trình phát triển Ngành CNTT đã và đang trở thành phương tiện hữu hiệu và quan trọng nhất đối với mọi lĩnh vực: Quản lý nhà nước, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng,…

- Trong quản lý xã hội: Việc dự báo được nhu cầu phát triển của toàn xã hội, khai thác được tối đa các nguồn lực trong xã hội, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân vì sự phát triển,… không thể thực hiện được trong cơ chế quản lý thủ công mà phải dựa vào CNTT Khai thác một cách sáng tạo năng lực của CNTT để giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội là vấn đề trọng tâm của kỷ nguyên thông tin Việc mà các quốc gia phát triển chú trọng trước tiên là sử dụng CNTT làm phương tiện hỗ trợ bộ máy chính quyền điều hành quản lý xã hội Ở nước ta, ứng dụng CNTT trong các CQNN có tên gọi khác là chương trình xây dựng Chính phủ điện

tử cũng đã được chú trọng triển khai trong những năm vừa qua Tuy chưa đạt kết quả mong muốn nhưng những gì đã đạt được hoàn toàn khẳng định tính đúng đắn

và sự cần thiết của chương trình

Trang 14

10

- Trong sản xuất, kinh doanh: Ứng dụng CNTT trong kinh tế có 2 hướng chính là sử dụng các phương tiện CNTT trong hiện đại hóa dây chuyền sản xuất và ứng dụng CNTT phục vụ quản lý kinh doanh Do tạo ra được những thay đổi về chất đối với toàn bộ quá trình sản xuất (thiết kế, tự động hóa quy trình sản xuất,…)

và quản lý kinh doanh (quản lý các nguồn lực, thương mại điện tử,…), CNTT thực

sự trở thành động lực phát triển của nền kinh tế

1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế - xã hội

- CNTT là hạ tầng cơ sở cho kinh tế tri thức: Kinh tế tri thức là nền kinh tế

mà ở đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với

sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Một định nghĩa khác, cụ thể hơn về hàm lượng tri thức là “Kinh tế tri thức là nền kinh tế tạo

ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị tri thức chiếm ít nhất 70% giá trị của từng sản phẩm, dịch vụ đó” Như thế, mọi nỗ lực đều tập trung về 1 điểm là “làm thế nào

để giàu tri thức?” Câu trả lời duy nhất là: “phải dựa vào CNTT” vì CNTT vừa là phương tiện giúp con người tập hợp được nhiều thông tin nhất vừa là công cụ xử

lý thông tin hữu hiệu nhất nhằm tìm ra cái mới Đây là lý do vì sao CNTT làm thay đổi toàn bộ xã hội còn các ngành công nghệ khác chỉ có thể tác động lên hay làm thay đổi được một phần của nó Cũng vì lẽ này mà người ta ví CNTT là hạ tầng của kinh tế tri thức

- CNTT trong phát triển kinh tế, quản lý xã hội:

+ CNTT biến đổi cách thức giao tiếp: Hàng tỷ người trên thế giới có thể truy cập Internet cùng một lúc và tham gia vào những cuộc gặp gỡ điện tử theo thời gian thực, tiếp nhận tin tức hàng ngày, tiến hành các giao dịch thương mại hoặc trò chuyện với bạn bè, người thân trên khắp thế giới Hàng rào ngôn ngữ được giảm thiểu bởi những công cụ hỗ trợ dịch tự động

+ CNTT biến đổi cách thức khai thác, sử dụng thông tin: Ai cũng có thể tiếp cận, yêu cầu hoặc sao chép mọi tài liệu, tạp chí, băng, đĩa,… được xuất bản bằng bất kỳ ngôn ngữ nào để tham khảo chỉ bằng thao tác truy cập đơn giản qua Internet

Trang 15

11

+ CNTT biến đổi cách thức học tập: Bất cứ cá nhân nào cũng có thể tham dự những chương trình học tập trên mạng bất chấp vị trí địa lý, tuổi tác, những hạn chế thể chất hoặc thời gian biểu cá nhân Mọi người đều có thể tiếp cận những kho dữ liệu chung để học tập, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tri thức một cách dễ dàng và tiết kiệm Hàng loạt các trường đại học điện tử (virtual universities) với các chương trình đào tạo chất lượng cao mang lại nhiều sự lựa chọn cho các học viên trên toàn cầu

+ CNTT biến đổi phương thức thương mại: Khách hàng có thể tiếp xúc với các doanh nghiệp dễ dàng dù đang ở đâu Doanh nghiệp sẽ nhanh chóng điều chỉnh chiến lược tiếp thị hoặc danh mục hàng hóa trên cơ sở phân tích những phản hồi từ phía khách hàng Người tiêu dùng có thể yêu cầu những những mặt hàng, những dịch

vụ hoặc giá cả phù hợp nhất một cách thuận lợi từ nhà riêng hay văn phòng Việc mua bán điện tử sẽ được thực hiện an toàn, cho phép nhà cung cấp và người bán lẻ nhận được tiền bán hàng qua thanh toán điện tử còn người tiêu dùng nhận được các xác nhận tự động chi tiết về việc mua bán thông qua thư điện tử hay tin nhắn

+ CNTT biến đổi phương thức làm việc: Nơi làm việc không còn bị hạn chế

ở một vị trí địa lý nhất định vì có thể dễ dàng giao/nhận nhiệm vụ và tiếp xúc với cấp dưới hay các đồng nghiệp dù đang ở bất kỳ nơi nào trên thế giới Người ta có thể lựa chọn chỗ ở cho phù hợp với mình và vẫn có thể dựa trên nhu cầu muốn gần gũi gia đình hoặc do sở thích riêng nếu tính chất công việc cho phép giao tiếp từ xa như thiết kế, tư vấn, nghiên cứu khoa học, …

+ CNTT biến đổi cách thức chăm sóc y tế: Những ứng dụng khám, tư vấn chữa bệnh từ xa ngày càng trở nên thông dụng Các chuyên gia sử dụng phương pháp hội chẩn từ xa để xác định nguyên nhân gây bệnh và đưa ra những khuyến nghị phù hợp Phẫu thuật với sự trợ giúp của máy tính cùng với hình ảnh truyền qua Internet cho phép những người khác quan sát được quá trình phẫu thuật từ xa Những hệ thống phục vụ người sử dụng dịch vụ y tế cung cấp lời khuyên của các chuyên gia dựa trên cơ sở phân tích chi tiết khối lượng thông tin y tế của cả xã hội Người bệnh có thể tự chăm sóc y tế cho chính họ nhờ có những mô hình mới về giao tiếp với bác sỹ qua mạng và sự tiếp cận với thông tin y sinh từ các thư viện số

về y học và từ mạng Internet

Trang 16

12

+ CNTT biến đổi cách thức thiết kế và xây dựng: Những sản phẩm và cấu trúc phức tạp được thiết kế bằng chương trình mô phỏng trên máy tính biểu diễn chính xác các đặc thù của hệ thống sẽ được xây dựng Công nghệ tính toán tốc độ cao sẽ được sử dụng, quá trình phân tích, giám sát, kiểm tra, truy tìm và xử lý dữ liệu sẽ được tiến hành một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo chất lượng thiết kế Nhà cung cấp và người dùng sẽ tham gia thảo luận trực tuyến về quá trình thiết kế thông qua Internet

+ CNTT biến đổi phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu khoa học trở nên thuận tiện hơn nhiều nhờ sự trợ giúp các các hệ thống mô phỏng, các phòng thí nghiệm ảo và công nghệ hội nghị truyền hình qua Internet Sự hỗ trợ mạnh mẽ của các thư viện điện tử cũng mang lại cho các nhà nghiên cứu những lợi thế hơn hẳn so với phương pháp nghiên cứu truyền thống

+ CNTT đổi mới phương thức hoạt động của chính phủ: CNTT tạo ra khả năng xây dựng một hệ thống thông tin thống nhất trong toàn bộ bộ máy nhà nước nơi mọi thông tin xuất hiện ở bất cứ cơ quan nào của bộ máy chính quyền từ các bộ, ngành đến các cấp chính quyền từ đều được cập nhật và lưu giữ trong hệ thống Điều đó cho phép người dân có cơ hội tiếp cận với bộ máy chính quyền thông qua

cơ chế “một cửa điện tử” (theo nghĩa “chỉ cần vào 1 cửa là được đáp ứng mọi yêu cầu từ bộ máy chính quyền”), các CQNN có thể phối hợp với nhau một cách dễ dàng để thực thi các quy trình nghiệp vụ quản lý nhà nước và phục vụ người dân Các hệ thống “thông minh” sẽ hướng dẫn các công dân nhanh chóng định vị thông tin cần thiết Người dân và doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ thống chính phủ điện tử.CNTT làm cho chính quyền có khả năng thu được nhiều dữ liệu hơn từ các hệ thống đang hoạt động do đó làm tăng chất lượng thông tin phản hồi tới các cấp ban hành chính sách và quản lý Chính phủ cũng có thể đảm bảo có nhiều thông tin hơn được cung cấp cho công chúng và hỗ trợ những loại hình liên lạc trên mạng mới giữa các nhà hoạch định chính sách, các đại biểu dân cử đến từng cá nhân công dân Thông qua phương thức này, CNTT giúp nâng cao năng lực điều hành trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện đại

Trang 17

13

+ CNTT hỗ trợ các khu vực kinh tế của quốc gia và địa phương nhờ khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp giữa chính phủ với doanh nghiệp Điều này có thể mang lại các dịch vụ được cải thiện cho các vùng nông thôn xa xôi

và tăng cường các dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp

1.2 Lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

* Khái niệm công nghệ thông tin:

Thuật ngữ "công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt

và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ

gọi là công nghệ thông tin” Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: công nghệ

thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin

Tại Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và xác định trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/8/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam, như sau:

“CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Theo định nghĩa của Luật CNTT

số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam thì “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ

kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” Đây có thể coi là một khái niệm khá hoàn chỉnh và đầy đủ về CNTT

* Ứng dụng CNTT: Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt

động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này[20]

Trang 18

14

* Ứng dụng CNTT hoạt động của CQNN: là việc sử dụng CNTT vào các

hoạt động của CQNN nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của CQNN và giữa các CQNN, trong giao dịch của CQNN với tổ chức và các nhân,

hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính vào bảo đảm công khai, minh bạch[6]

* Một số khái niệm khác[8]:

- Trang thông tin điện tử: là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin

trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin

- Cổng thông tin điện tử: là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môi

trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin

- Dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực

thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do CQNN có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực

mà CQNN đó quản lý Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân

- Dịch vụ công trực tuyến: là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác

của CQNN được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường

* Khái niệm chính sách

Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,

mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”

Chính sách là những đường hướng hành động, ứng xử cơ bản của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định[38]

* Khái niệm về chính sách công:

Thomas R.Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công: “Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm”[12]

Trang 19

15

Chính sách công là những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội[30]

Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định[12]

Qua nghiên cứu, ta có thể nhận định: Chính sách ứng dụng CNTT là tổng thể

những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Đảng và Nhà nước với mục tiêu, các giải pháp, công cụ cụ thể nhằm sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này

1.2.2 Quy trình thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

Quá trình tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế để chính sách ứng dụng CNTT mạng lại kết quả và hiệu quả như mong muốn của Nhà nước và các đối tượng chính sách thì quá trình tổ chức thực hiện cần phải được thực hiện theo một quy trình khoa học, hợp lý và phù hợp với những điều kiện khách quan của quá trình chính sách Cụ thể như sau:

Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT được xây dựng trước khi đưa chính sách vào thực tiễn Kế hoạch thực hiện chính sách ứng dụng CNTT ở cấp nào sẽ do cơ quan chủ trì của cấp đó xây dựng Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện chính sách sẽ mang giá trị pháp lý, được các chủ thể có triển khai thực hiện chính sách và cả đối tượng của chính sách nghiêm chỉnh thực hiện

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền về chính sách

Trang 20

16

Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách

và mọi người dân hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách ứng dụng CNTT được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực hiện,

để mọi đối tượng cần tuyên truyền luôn được củng cố lòng tin vào chính sách

và tích cực tham gia vào thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng, qua các phương tiện thông tin đại chúng v.v Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên truyền, vận động cho phù hợp với điều kiện hiện có của cơ quan, đơn vị mình

Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Chính sách ứng dụng CNTT khi được tổ chức thực hiện nó đòi hỏi và cần có sự chung tay thực hiện của nhiều cấp, nhiều ngành ở nhiều lĩnh vực khác nhau Vì thế, các chủ thể tham gia vào quá trình này rất phong phú bao gồm các đối tượng của chính sách, các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, nghiệp đoàn, hiệp hội thậm chí là

cả các nhà khoa học và các đối tượng khác trong xã hội…

Bước 4: Duy trì chính sách

Duy trì chính sách là làm cho chính sách sống được trong môi trường thực tế và phát huy tác dụng Do đó, phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách; tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Bên cạnh đó cần chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sự dụng các biện pháp hành chính

Trang 21

17

để duy trì chính sách, tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn tham gia quản lý xã hộ, trong đó tự giác chấp hành chính sách và tham gia tìm kiếm, đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách

Bước 5: Điều chỉnh chính sách

Là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách nhằm đảm bảo cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Các cơ quan nhà nước chủ động điều chỉnh công cụ, giải pháp để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách

Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chính sách

Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực hiện chính sách vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp nâng cao kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương Chủ thể kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan và chính xác về kết quả kiểm tra, đánh giá quá trình này còn cần có sự tham gia của các tổ chức đoàn thể nhân dân, thậm chí là của chính đối tượng chính sách Có như vậy mới bảo đảm được tính dân chủ trong quá trình thực hiện chính sách

Bước 7: Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm

Trên cơ sở các kế hoạch và những nội quy, quy chế đề ra cần đánh giá thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp va gián tiếp của chính sách

1.3 Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay

1.3.1 Vấn đề chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

Trong những năm qua, Đảng, Chính phủ luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng CNTT, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong các CQNN Ứng dụng CNTT

Trang 22

18

trong hoạt động của CQNN các cấp góp phần nâng cao năng suất lao động, tốc độ

xử lý công việc, tăng hiệu quả, tăng cường mức độ tương tác giữa các CQNN cũng như giữa CQNN với cá nhân và tổ chức Bên cạnh đó, quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN còn một số tồn tại, hạn chế:

- Hạ tầng kỹ thuật CNTT trong các CQNN đã được cải thiện đáng kể nhưng mức độ triển khai và hiệu quả sử dụng còn hạn chế Tỉ lệ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai mạng diện rộng (WAN) kết nối các đơn vị trực thuộc cũng còn rất ít và hiệu quả sử dụng chưa cao Hạ tầng bảo đảm an toàn, an ninh, bảo mật thông tin hầu như chưa đáp ứng yêu cầu Hệ thống phòng chống virus chủ yếu mới chỉ triển khai ở mức đơn lẻ tại các máy trạm, chưa xây dựng được các hệ thống phòng chống virus, chống thư rác tổng thể và hầu như chưa triển khai ứng dụng chữ ký số và chứng thực số Đặc biệt hạ tầng CNTT tại các cấp quận, huyện, phường, xã tại các tỉnh còn khó khăn vẫn còn rất thiếu thốn chưa đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT

- Ứng dụng CNTT trong nội bộ CQNN chủ yếu quy mô nhỏ, chưa phát huy hết hiệu quả của ứng dụng CNTT Các hệ thống thông tin chuyên ngành, quy mô quốc gia tạo nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử chưa được triển khai trên diện rộng Các ứng dụng CNTT cơ bản hiện được triển khai ở mức độ nhỏ lẻ, tính kết nối chưa cao Việc sử dụng chủ yếu hạn chế trong các đơn vị đơn lẻ, chưa kết nối rộng, tỉnh, chưa hình thành môi trường trao đổi và tác nghiệp trên mạng Phần lớn các dự án chuyên ngành chưa được hoàn thiện, chủ yếu mới ở giai đoạn bắt đầu triển khai, hoặc triển khai thí điểm trên diện hẹp Điều này gây cản trở rất lớn đến phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp còn hạn chế, các trang thông tin điện tử chủ yếu mới chỉ cung cấp thông tin, còn ít trường hợp người dân có thể nộp hồ sơ xin cấp phép, đăng ký qua mạng Khoảng cách số giữa các khu vực còn lớn, đặc biệt giữa nông thôn và thành thị, điều này gây khó khăn cho việc triển khai đồng bộ, trên diện rộng các ứng dụng CNTT

Trang 23

19

- Trình độ, thói quen ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức và người dân còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận các dịch vụ của các CQNN thông qua ứng dụng CNTT Số lượng và trình độ các cán bộ chuyên trách về CNTT còn hạn chế, đặc biệt là tại các địa phương, nhiều cán bộ đang làm việc theo hình thức kiêm nhiệm Một trong các khó khăn lớn nhất mà các đơn vị đưa ra là chưa có chính sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho các cán bộ chuyên trách về CNTT, nên khó có thể thu hút đủ các cán bộ chuyên trách CNTT có trình độ phù hợp về công tác

- Mức độ cấp phát kinh phí cho các dự án chưa đủ, tiến độ cấp phát chậm; sự phối hợp giữa các cơ quan trong triển khai giữa các dự án lớn chưa được chú trọng, dẫn đến sự kết nối giữa các hệ thống thông tin chuyên ngành lớn còn hạn chế

1.3.2 Mục tiêu của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

Ngày 27/8/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1605/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2011-2015 Theo đó, mục tiêu đến năm 2015 là xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử; ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong nội bộ CQNN; cung cấp các dịch vụ công trực tuyến sâu rộng phục vụ người dân và doanh nghiệp, hướng tới làm cho hoạt động của CQNN minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn

* Các mục tiêu cụ thể của chương trình là:

- Phát triển và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm cho các hoạt động ứng

dụng CNTT trong các CQNN trên môi trường mạng an toàn, hiệu quả

- Phát triển và hoàn thiện các hệ thống thông tin, các cơ sở dữ liệu lớn, trước hết tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về con người, tài nguyên và môi trường, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại, bảo đảm tính cấu trúc, hệ thống, tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp giữa các CQNN

- 60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các CQNN được trao đổi hoàn toàn dưới dạng điện tử

- Hầu hết cán bộ, công chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc

Trang 24

20

- Bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật cho 100% các cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể được thực hiện trên môi trường mạng

- Bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật để 100% hồ sơ quản lý cán bộ, công chức các cấp có thể được quản lý chung trên mạng với quy mô quốc gia

- Triển khai Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc tới 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong CQNN;

- 100% các CQNN từ cấp quận, huyện, Sở, Ban, ngành hoặc tương đương trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin theo Điều 28 của Luật Công nghệ thông tin, cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tối thiểu mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp

- 50% hồ sơ khai thuế của người dân và doanh nghiệp được nộp qua mạng

- 90% cơ quan hải quan các tỉnh, thành phố triển khai thủ tục hải quan điện tử

- 100% hộ chiếu được cấp cho công dân Việt Nam phục vụ công tác xuất, nhập cảnh là hộ chiếu điện tử

- Tất cả kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, kết quả đấu thầu, danh sách nhà thầu tham gia được đăng tải trên mạng đấu thầu quốc gia; khoảng 20% số gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn sử dụng vốn nhà nước được thực hiện qua mạng; thí điểm hình thức mua sắm chính phủ tập trung trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

- 30% công dân Việt Nam đủ độ tuổi theo quy định được cấp chứng minh nhân dân sản xuất trên dây chuyền hiện đại, với một số chứng minh nhân dân duy nhất không trùng lặp, chống được làm giả

- 30% số hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng được nộp qua mạng

1.3.3 Giải pháp và công cụ của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

* Giải pháp về tổ chức, điều hành

Trang 25

21

- Tăng cường hoạt động của Ban Điều hành triển khai công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN Nâng cao vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo công nghệ thông tin ở các cấp, các ngành

- Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải kiểm điểm trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu không hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong Chương trình này

- Người đứng đầu các cơ quan phải chủ động, có quyết tâm chính trị cao, theo sát và ủng hộ quá trình ứng dụng CNTT vào cơ quan mình

- Triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN phải theo thứ tự ưu tiên dựa trên nhu cầu thực tế cần tăng năng suất lao động, bảo đảm tính hiệu quả, khả thi khi triển khai

- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý CNTT các cấp, đặc biệt là cấp quận, huyện trở xuống

- Kết hợp chặt chẽ việc triển khai Chương trình này với Chương trình cải cách hành chính để ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN có tác dụng thực

sự thúc đẩy cải cách hành chính, quá trình cải cách hành chính đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi cho ứng dụng CNTT Tăng cường công tác cải tiến quy trình làm việc, chuẩn hóa nghiệp vụ để có thể ứng dụng CNTT

* Giải pháp về giám sát, đánh giá

- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình ứng dụng CNTT trong các CQNN để có những giải pháp thúc đẩy kịp thời Xem xét đưa tiêu chí hiệu quả ứng dụng CNTT vào các phong trào thi đua, bình xét khen thưởng

Trang 26

22

- Xây dựng các phương pháp đánh giá khoa học về ứng dụng CNTT phù hợp điều kiện thực tế tại các CQNN và định hướng ứng dụng CNTT của Quốc gia

* Giải pháp về nâng cao nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực

- Tổ chức tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức về các lợi ích trong việc xây dựng Chính phủ điện tử cho cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp Đẩy mạnh và xã hội hóa việc bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ năng sử dụng máy tính, khai thác Internet cho người dân

- Tăng cường đào tạo kỹ năng về ứng dụng CNTT cho cán bộ, công chức

- Bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho giám đốc CNTT;

- Bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức chuyên trách về CNTT các cấp

- Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về ứng dụng CNTT cho lãnh đạo các CQNN

- Đẩy mạnh hình thức đào tạo trực tuyến cho cán bộ, công chức

* Giải pháp về bảo đảm môi trường pháp lý

- Xây dựng các quy định về an toàn, an ninh thông tin, đẩy mạnh sử dụng chữ ký số trong các hoạt động ứng dụng CNTT của CQNN

- Xây dựng quy định về quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử trên toàn quốc Bảo đảm tận dụng triệt để hạ tầng kỹ thuật được trang bị để trao đổi các văn bản điện tử giữa các CQNN

- Xây dựng các chính sách thu hút, phối hợp với doanh nghiệp trong công tác triển khai các ứng dụng CNTT của CQNN Phát triển các hình thức thuê, khoán trong triển khai ứng dụng CNTT

- Xây dựng các quy định nhằm giảm văn bản giấy, tăng cường chia sẻ thông tin trong hoạt động của CQNN

- Xây dựng các quy trình, chuẩn nội dung tích hợp thông tin từ cấp xã, huyện, tỉnh về các Bộ và Văn phòng Chính phủ

- Xây dựng, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn về ứng dụng CNTT quốc gia

- Xây dựng, ban hành các chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử giữa các CQNN

Trang 27

23

- Xây dựng quy định ưu tiên biên chế cán bộ CNTT cho các CQNN

- Xây dựng chính sách ưu đãi thích hợp cho cán bộ, công chức chuyên trách

về CNTT trong CQNN, nhằm duy trì và thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao

- Hoàn thiện các văn bản quy định về tài chính phù hợp đặc thù ứng dụng CNTT, trước hết là các văn bản hướng dẫn Nghị định số 102/2009/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm: Bảo đảm nguồn kinh phí cho ứng dụng CNTT trong kế hoạch ngân sách hàng năm của CQNN; Hướng dẫn quản lý đầu tư cho ứng dụng CNTT; Xây dựng và ban hành định mức kinh tế kỹ thuật về CNTT; Xây dựng danh mục, cơ chế mua sắm các phần mềm dùng chung cho các CQNN

* Giải pháp về học tập kinh nghiệm quốc tế

- Triển khai các hoạt động tìm hiểu thực tế mô hình phát triển Chính phủ điện tử thành công tại các nước

- Đào tạo chuyên gia phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam

- Phát triển các hệ thống thông tin lớn trong Chính phủ điện tử ở Việt Nam

1.3.4 Chủ thể chính sách ứng dụng CNTT

Chính sách ứng dụng CNTT tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người, có liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT, cần huy động sự tham gia của các bên vào quá trình thực hiện chính sách

Chủ thể triển khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là các cơ quan trong

bộ máy nhà nước từ trung ương xuống tới địa phương, trong đó chủ yếu là các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước cùng với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước có thẩm quyền Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, các

cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước giữ vai trò điều tiết, định hướng các hoạt động thực hiện chính sách bằng những công cụ quản lý của mình, giúp cho quá trình này luôn bám sát mục tiêu của chính sách Các CQNN tham gia vào quá trình thực hiện chính sách bao gồm:

Thứ nhất là Chính phủ: Chính phủ với vai trò là cơ quan hành chính nhà

nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội,

Trang 28

24

Chính phủ vừa là cơ quan ban hành chính sách nhưng cũng đồng thời là cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách ở cấp Trung ương

Thứ hai là Ủy ban Quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin: Ủy ban có vai

trò và nhiệm vụ tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chủ trương, chiến lược, cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển và ứng dụng CNTT trong các CQNN, các ngành, lĩnh vực trọng điểm và trong toàn xã hội; chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương trong việc phát triển và ứng dụng CNTT nhằm đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội; cho ý kiến về các cơ chế, chính sách, các chương trình, dự án lớn về phát triển và ứng dụng CNTT; giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều phối, đôn đốc việc thực hiện các chiến lược, chương trình, dự án quan trọng có tính chất liên ngành về phát triển và ứng dụng CNTT

Thứ ba là Bộ Thông tin và Truyền thông: Bộ Thông tin và Truyền thông là

cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; CNTT, điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tấn; thông tin đối ngoại; thông tin cơ sở và hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Trong đó, nhiệm vụ về CNTT là:

- Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch, chương trình, đề án, dự

án về CNTT, điện tử; các cơ chế, chính sách, các quy định quản lý hỗ trợ phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp phần cứng, công nghiệp điện tử, công nghiệp nội dung số, dịch vụ CNTT; danh mục và quy chế khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia; quy chế quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ tin sử dụng nguồn vốn nhà nước;

- Ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách quản lý, các quy định liên quan đến sản phẩm, dịch vụ CNTT, điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia;

- Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ và thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ về CNTT, điện tử; thực hiện quản lý chất lượng trong các hoạt động ứng dụng CNTT, cung cấp dịch vụ, mạng máy tính và sản phẩm, thiết bị công nghệ tin, điện tử;

Trang 29

25

- Chủ trì, phối hợp xây dựng chính sách hỗ trợ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT; chuẩn nhân lực CNTT, các chứng chỉ, chứng nhận chuyên ngành liên quan về CNTT;

- Tổ chức xây dựng hạ tầng CNTT phục vụ ứng dụng CNTT tạo nền tảng phát triển chính phủ điện tử gắn kết với chương trình cải cách hành chính;

- Quản lý chương trình ứng dụng và phát triển CNTT, điện tử; khung tương hợp Chính phủ điện tử và kiến trúc chuẩn hệ thống thông tin quốc gia;

- Thực hiện chức năng tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT trong các CQNN, tổ chức, doanh nghiệp;

- Quy định và quản lý về an toàn thông tin; bảo đảm an toàn thông tin cho các hệ thống thông tin và Internet; bảo đảm an toàn thông tin cho các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT; phòng, chống thư rác; tổ chức thực hiện chức năng quản

lý, điều phối các hoạt động ứng cứu sự cố máy tính trong toàn quốc;

- Quy định và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ an toàn thông tin theo quy định của pháp luật; tổ chức kiểm định, đánh giá cấp chứng nhận về an toàn thông tin;

- Xây dựng và tổ chức thực vận hành các hệ thống đảm bảo an toàn thông tin; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về an toàn thông tin

1.3.5 Thể chế chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

Đảng và Nhà nước ta đã xác định CNTT và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước Ứng dụng rộng rãi CNTT-TT là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động

Ngày 29/06/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Công nghệ thông tin

Có thể nói đây là văn bản pháp lý vô cùng quan trọng, cụ thể hóa chủ trương của Đảng đã được nêu ra tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về

Trang 30

26

đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khoản 1 Điều 5 của Luật Công nghệ thông tin đã quy định rõ “Ưu tiên ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Luật CNTT đóng vai trò hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển CNTT của cả nước, trong đó có phần quan trọng là ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN

Một số văn bản pháp lý định hướng ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước như sau:

Thứ nhất là: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 246/2005/QĐ-TTg

ngày 06/10/2005 về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020, đã chỉ ra một số nội dung định hướng phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước Trong đó mục tiêu đến năm 2015: Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và tri thức trong tất cả các ngành Xây dựng và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, Chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử, giao dịch và thương mại điện tử để Việt Nam đạt trình độ khá trong khu vực Asean; hình thành xã hội thông tin

Thứ hai là: Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng

Chính phủ về định hướng ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam đến 2015 và tầm nhìn đến 2020, đưa ra một số nội dung chủ yếu: Đến năm 2015, cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tới người dân và doanh nghiệp ở mức độ 2 và 3 (nhận mẫu hồ sơ trên mạng và trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ qua mạng) 80% doanh nghiệp và tổ chức xã hội ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành, sản xuất kinh doanh Phổ cập ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục, y tế Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quốc phòng, an ninh Bước đầu ứng dụng CNTT để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, bao gồm ứng dụng CNTT trong quản lý giao thông đô thị, trong công tác vệ sinh, an toàn thực phẩm, trong công tác dự báo thời tiết, v.v…

Trang 31

27

Thứ ba là: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày

10/04/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN Nội dung Nghị định không chỉ bao gồm các quy định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN

mà còn cả các điều kiện bảo đảm cho việc ứng dụng CNTT trong CQNN bao gồm

tổ chức, cơ sở hạ tầng, đầu tư và nhân lực cho ứng dụng CNTT Có thể nói Nghị định 64/2007/NĐ-CP đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi hơn rất nhiều để triển khai công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN sau khi Luật Công nghệ thông tin được ban hành

Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý cho việc thúc đẩy ứng dụng CNTT Cụ thể như:

- Luật Giao dịch điện tử của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005;

- Luật Công nghệ cao của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 21/2008/QH12 ngày 13/11/2008;

- Luật Viễn thông của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của CQNN;

- Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của CQNN;

Trang 32

28

- Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08/6/2012 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về việc Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

Ngoài ra, nhằm tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách để thúc đẩy, quy định, hướng dẫn và tháo gỡ các khó khăn trong triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại các CQNN đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cùng các Bộ, ngành có liên quan nỗ lực thực hiện ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về công nghệ thông tin - truyền thông nói chung và những văn bản điều chỉnh hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin nói riêng được ban hành đã tạo nên khung pháp lý cơ bản cho việc ứng dụng công nghệ thông tin

1.3.6 Những nhân tố tác động đến chính sách ứng dụng CNTT

* Chủ trương chính sách

Chủ trương chính sách là nhân tố quyết định và đóng vai trò quan trọng nhất trong các nhân tố tác động để thúc đẩy quá trình ứng dụng CNTT.Nó bao gồm hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước hay của ngành, từ định hướng chiến lược cho đến các khía cạnh cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng CNTT Chính sách đảm bảo tính pháp lý cho các văn bản, các thủ tục khi triển khai ứng dụng CNTT như: tính pháp lý của văn bản điện tử, chữ ký số, chính sách công nhận các giao dịch qua mạng, thanh toán điện tử, v.v Chính sách thu hút và khuyến khích các hoạt động CNTT rất quan trọng, nó đảm bảo cho sự chuẩn bị đầy đủ về mặt nhân lực để triển khai ứng dụng CNTT Bên cạnh đó chính sách ứng dụng CNTT cần sự nhất quán và định hướng lâu dài, có định hướng rõ ràng, khoa học, kịp thời cập nhật sự biến động nhanh chóng của công nghệ Vấn đề này rất quan trọng đối với các tổ chức nhà nước khi thay đổi người quản lý cấp cao thường dẫn đến việc thay đổi chính sách

* Hạ tầng nhân lực

Trang 33

29

Hạ tầng nhân lực là nhân tố then chốt của việc triển khai ứng dụng CNTT Nếu đánh giá hạ tầng kỹ thuật là phần xác thì đây được coi là phần hồn trong quá trình ứng dụng CNTT

Nhân tố con người có vai trò rất quan trọng đối với quá trình ứng dụng CNTT, một quốc gia, địa phương, hay một tổ chức có nguồn nhân lực, nền tảng tri thức khoa học cao thì việc triển khai tin học hóa sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn rất nhiều

so với các quốc gia, địa phương hay tổ chức có nền tảng thấp hơn bởi vì với nền tảng tri thức ở mức cao có thể rút ngắn được thời gian trong quá trình tiếp thu và ứng dụng tri thức đó vào thực tế

Nhân lực trong hoạt động ứng dụng CNTT bao gồm đội ngũ lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, chuyên gia CNTT, đội ngũ nhân viên Để tiến hành ứng dụng CNTT đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có chất lượng

Nhận thức, khả năng hoạch định chiến lược và đưa ra những quyết sách đúng đắn của nhà lãnh đạo, quản lý là sự hỗ trợ tốt nhất cho công tác ứng dụng CNTT của tổ chức CNTT là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, do vậy cơ cấu về tuổi tác của cán bộ, nhân viên là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ nhanh hay chậm và chiều sâu của quá trình tổ chức ứng dụng CNTT

Ứng dụng và phát triển CNTT rất cần đến khả năng của đội ngũ chuyên gia trong việc triển khai và phát triển ứng dụng Để xây dựng nền tảng tri thức và nhân lực CNTT đòi hỏi cần phải có chiến lược đúng đắn để tích lũy, nâng cao tri thức và

có kế hoạch sử dụng, củng cố nguồn nhân lực đó

Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực CNTT sẽ dẫn đến việc ứng dụng CNTT

có hiệu quả Ngoài vấn đề về khả năng của đội ngũ cán bộ, cần nâng cao ý thức và định hướng kỹ năng làm việc cho họ

* Hạ tầng kỹ thuật

Hạ tầng kỹ thuật là nhân tố quan trọng đặc biệt đối với công tác ứng dụng CNTT, do yếu tố đặc trưng của CNTT là phải có phương tiện để thực hiện, không thể ứng dụng CNTT khi không có những yêu cầu đáp ứng tối thiểu về trang bị cơ sở vật chất

Trang 34

30

Các hoạt động ứng dụng CNTT bị ảnh hưởng, chi phối trực tiếp từ các yếu tố liên quan đến sự phát triển của hạ tầng kỹ thuật CNTT Hạ tầng kỹ thuật phát triển tốt thì việc áp dụng CNTT được thuận lợi, ngược lại, hạ tầng kỹ thuật kém, lạc hậu thì việc ứng dụng CNTT sẽ khó triển khai, việc thực hiện cần có sự lựa chọn và bước đi phù hợp

Tình trạng hạ tầng kỹ thuật về CNTT ảnh hưởng đến hiệu quả của việc triển khai ứng dụng CNTT Tổ chức có tình trạng cơ sở vật chất tiên tiến, phân bổ hợp lý

sẽ thuận lợi để triển khai ứng dụng CNTT, ngược lại, nếu vật chất lạc hậu hoặc phân bổ không hợp lý sẽ dẫn đến không đáp ứng được các yêu cầu khi triển khai, hiệu quả sẽ thấp

Quá trình triển khai ứng dụng CNTT cũng bị chi phối rất lớn bởi yếu tố chi phí mà tổ chức sẵn sàng bỏ ra Quốc gia, địa phương có sự phát triển tốt về KTXH

sẽ hỗ trợ tốt cho việc đảm bảo kinh phí cho hoạt động ứng dụng CNTT, ngược lại, KTXH kém phát triển, có rất nhiều hoạt động cần quan tâm đầu tư, do vậy hoạt động ứng dụng CNTT cũng bị ảnh hưởng ít nhiều

Yếu tố đánh giá sự quyết tâm ứng dụng CNTT là mức độ sẵn sàng chi trả kinh phí cho mục tiêu ứng dụng CNTT Các loại chi phí chính cho hoạt động ứng dụng CNTT bao gồm chi phí duy trì hệ thống, chi phí hoạt động, đầu tư thiết bị và ứng dụng phụ trợ, phí đào tạo và đãi ngộ, v.v Hoạt động ứng dụng CNTT là liên tục vì vậy việc duy trì nguồn kinh phí, tiến độ đầu tư cũng như đảm bảo và cân đối kinh phí cho phù hợp với quy mô và mục tiêu ứng dụng CNTT là rất quan trọng

Quy mô đầu tư cho các hoạt động CNTT ảnh hưởng đến kết quả của việc ứng dụng CNTT một cách rộng rãi hay trong phạm vi hẹp, chiều sâu của ứng dụng CNTT Đây là yếu tố quyết định sự đồng bộ và tốc độ triển khai của dự án đầu tư ứng dụng CNTT

* Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức là một nhân tố tác động khá nhiều đối với quá trình ứng dụng CNTT Nếu coi hạ tầng kỹ thuật là phần xác, hạ tầng nhân lực là phần hồn thì cơ cấu tổ chức là việc sắp xếp, phối hợp và trao đổi qua lại giữa 2 nhân tố trên để có

Trang 35

Tổ chức có bộ máy càng tinh giản, gọn nhẹ thì việc triển khai ứng dụng CNTT sẽ thuận lợi hơn những tổ chức có bộ máy cồng kềnh, phức tạp.Việc bố trí rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, điều hành tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới sẽ tạo ra cách tiếp cận mang tính tổng quát và các quy trình phối hợp chặt chẽ, rõ ràng, gắn trách nhiệm cụ thể cho từng đối tượng giúp cho việc triển khai các hệ thống CNTT mà tổ chức xây dựng trở nên đơn giản, dễ triển khai áp dụng

* Mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT của doanh nghiệp và cộng đồng

Cơ quan nhà nước có mọi sự sẵn sàng ứng dụng CNTT vào cung cấp các dịch vụ công đến người dân, doanh nghiệp, nhưng nếu người dân, doanh nghiệp chưa sẵn sàng sử dụng hoặc sử dụng ít, khi đó được coi là không hiệu quả Chính vì vậy, mức độ sẵn sàng sử dụng dịch vụ của cơ quan nhà nước cung cấp thông qua ứng dụng CNTT của người dân, doanh nghiệp là một yếu tố tác động đến hiệu quả ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước

1.3.7 Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay

Ở Việt Nam, ứng dụng CNTT trong xã hội được tập trung vào 3 mảng chính

là ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, trong phát triển kinh tế và trong phát triển xã hội

Việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước đã được chú trọng ngay từ đầu thập niên trước với Đề án 112 (2001- 2005) Sau khi đề án này kết thúc, ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước vẫn được duy trì với nỗ lực nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Ngày 27/8/2010, chính phủ đã ban hành Quyết định số 1605/QĐ-Ttg phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước Chương trình xác định rõ mục tiêu và lộ trình thực hiện hiện

Trang 36

vụ CNTT được cung cấp (như dịch vụ điện toán đám mây, dịch vụ dữ liệu, ) chắc chắn việc ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp sẽ được đẩy lên rất mạnh

Ứng dụng CNTT trong xã hội vốn là mục đích cuối cùng hướng đến người dân Kết quả quan trọng nhất phải kể đến là sự hiện diện của Internet trong đời sống

xã hội ngày càng mang lại nhiều lợi ích cho từng cá nhân và cả cộng đồng Ngày nay Internet đã trở nên quen thuộc với tất cả mọi người Việc ứng dụng CNTT trong Giáo dục - Đào tạo, trong Y tế, phát triển cộng đồng, ngày càng sâu rộng với xu hướng phát triển chính là đáp ứng quy luật cung - cầu Chính người dùng (học sinh, người dân, ) đang đặt ra yêu cầu thay đổi và đó là nền tảng để phát triển một xã hội học tập, xã hội thông tin một cách bền vững

Nhận thức được lợi ích và tầm quan trọng của CNTT và truyền thông trong việc duy trì và thúc đẩy sự phát triển bền vững, trong những năm vừa qua lĩnh vực CNTT nói chung và hoạt động ứng dụng CNTT nói riêng đã phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ và ngày càng sâu rộng trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2011-2015 được ban hànhvới các nội dung:

1.3.7.1 Phát triển hạ tầng kỹ thuật

- Phát triển Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng sẵn có của các doanh nghiệp viễn thông, kết nối tới cấp đơn vị trực thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các CQNN khác trong hệ thống chính trị, tới cấp xã, phường trên phạm vi toàn quốc, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin

Trang 37

33

- Phát triển Trung tâm thông tin dữ liệu điện tử Chính phủ

- Phát triển hệ thống xác thực quốc gia

- Xây dựng, triển khai hệ thống chứng thực điện tử và chữ ký số trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị

- Xây dựng Trung tâm kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương, hướng tới bảo đảm liên thông giữa các hệ thống thông tin của

cơ quan, cung cấp dịch vụ công hiệu quả, linh hoạt cho người dân và doanh nghiệp

- Trang bị hạ tầng bảo đảm truy cập thuận tiện tới các dịch vụ công qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử; trung tâm chăm sóc khách hàng; điện thoại cố định; điện thoại di động; bộ phận một cửa và các hình thức khác

- Tích hợp các hệ thống thông tin điện tử của các cơ quan Đảng ở Trung ương, phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo cấp cao của Đảng

- Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm ứng dụng CNTT trong nội bộ CQNN, bao gồm: máy tính, mạng máy tính, các giải pháp an toàn, an ninh thông tin,

1.3.7.2 Phát triển các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu lớn

* Các hệ thống thông tin

Quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc tới CQNN các cấp, bảo đảm an toàn, an ninh, tính pháp lý của văn bản trao đổi; Thư điện tử quốc gia; Giao ban điện tử đa phương tiện giữa Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trên Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước; Quản lý, theo dõi chương trình công tác của Chính phủ; Mạng thông tin điện tử phục vụ trao đổi thông tin giữa Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Cổng thông tin điện tử Chính phủ; Tài chính tích hợp, Giám sát thị trường tài chính; Nộp

tờ khai thuế qua mạng Internet; Triển khai thủ tục hải quan điện tử; Ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm Chính phủ; Quản lý thông tin đầu tư nước ngoài; Kinh tế - xã hội; Phân tích và dự báo kinh tế - xã hội; Theo dõi và đánh giá thực

Trang 38

34

hiện kế hoạch 5 năm và hàng năm; Theo dõi, giám sát và đánh giá các dự án đầu tư

sử dụng vốn của Nhà nước; Hộ chiếu điện tử; Cấp và quản lý chứng minh nhân dân; Bệnh án điện tử và quản lý hệ thống khám chữa bệnh; Tư vấn y tế, khám chữa bệnh

từ xa; Văn bản quy phạm pháp luật thống nhất từ Trung ương tới địa phương; Thống kê về xây dựng; Liệt sĩ và thương bệnh binh; Kiểm toán nhà nước; Quản lý các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải; Văn hóa - xã hội; Quản lý án hình sự; Mạng giáo dục và ứng dụng CNTT trong giáo dục; Tin học hoá quản lý giáo dục; Kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; Quản lý, thống kê án kinh

tế, lao động, hành chính, án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình ngành Tòa án nhân dân; Quản lý và hiện đại hóa Ngân hàng; Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam

* Các cơ sở dữ liệu

Thủ tục hành chính trên Internet; Cán bộ, công chức, viên chức; Kinh tế công nghiệp và thương mại; Tài nguyên và môi trường; Biên giới lãnh thổ; Các dự án đầu tư; Doanh nghiệp; Dân cư; Tài chính

1.3.7.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan nhà nước

- Nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành của các cấp

- Phát triển hệ thống quản lý thông tin tổng thể

- Xây dựng mới, nâng cấp và hoàn thiện các ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu công tác tại mỗi cơ quan

- Nâng cấp, hoàn thiện các hệ thống ứng dụng CNTT khác trong công tác nội

bộ theo hướng hiệu quả hơn, mở rộng kết nối

1.3.7.4 Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp

- Cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 Cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu và được thông báo tình trạng xử lý các thủ tục hành chính của các CQNN qua mạng

- Cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tối thiểu mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp Cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Trang 39

35

- Triển khai ứng dụng CNTT hiệu quả, toàn diện tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông theo hướng: Bảo đảm khả năng kết nối giữa các hệ thống thông tin tại bộ phận một cửa với cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của CQNN, tạo điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp qua mạng Internet; bảo đảm tính liên thông giữa các đơn vị trong quy trình

xử lý thủ tục; bảo đảm tin học hóa tối đa các hoạt động trong quy trình thủ tục hành chính

- Xây dựng các hệ thống thông tin thiết yếu cho công tác ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp tại các địa phương, đặc biệt là các hệ thống thông tin về dân cư, tài nguyên và môi trường

- Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong hoạt động của CQNN bằng cách nâng cao hiệu quả kênh tiếp nhận ý kiến góp ý của người dân trên môi trường mạng, tổ chức đối thoại trực tuyến, chuyên mục hỏi đáp trực tuyến

về hoạt động của các CQNN

Trang 40

36

Kết luận Chương 1

CNTT đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người, làm cho thói quen làm việc, giải trí hay ngay cả các hình thức kinh doanh cũng thay đổi theo.Chính phủ trong thời đại hiện nay cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của CNTT, các ứng dụng CNTT hứa hẹn việc trao đổi thông tin trong hoạt động các cơ quan nhà nước cũng như cung cấp các dịch vụ và dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp sẽ trở nên tốt hơn, hiệu quả hơn, từng bước nâng cao tính minh bạch và bình đẳng Việc ứng dụng CNTT gắn với cải cách hành chính trong các cơ quan nhà nước đã nhận được sự quan tâm đặt biệt của các cấp chính quyền, sự đồng thuận của doanh nghiệp và nhân dân

Nội dung của chương 1 khái quát những vấn đề cơ bản mang tính lý luận về chính sách ứng dụng CNTT, vấn đề chính sách ứng dụng CNTT, mục tiêu của chính sách ứng dụng CNTT, giải pháp và công cụ của chính sách ứng dụng CNTT, xác định rõ chủ thể chính sách ứng dụng CNTT, thể chế chính sách ứng dụng CNTT, nhận diện được những nhân tố tác động đến chính sách ứng dụng CNTT và nội dung chính sách ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước ở Việt nam hiện nay

Từ những nghiên cứu lý luận về chính sách ứng dụng CNTT ở chương này

sẽ là cơ sở, nền tảng và điều kiện quan trọng để nghiên cứu, phân tích về thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng CNTT từ thực tiễn thành phố Hà Nội ở chương sau

Ngày đăng: 05/10/2016, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w