- Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh: Các phương pháp này được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có s
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn “Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là kết quả nghiên cứu độc lập của tôi Các thông tin có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn tài liệu Nghiên cứu hoàn toàn trung thực và chưa hề được công bố ở công trình đề tài nào
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9
1.1.Các khái niệm: Trẻ em, bảo vệ trẻ em, chính sách bảo vệ trẻ em 9
1.2 Vấn đề thiết kế chính sách bảo vệ trẻ em 11
1.3 Giải pháp chính sách và công cự chính sách 18
1.4.Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em 20
1.5 Trách nhiệm thực hiện của chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em 25
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em 31
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34
2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách bảo vệ trẻ em 34
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Hà Nội 39
2.3 Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Hà Nội 56
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM 62
3.1 Mục tiêu thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em 62
3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em 63
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan
Sinh thời Bác Hồ đã dành cho các em thiếu nhi những điều tốt đẹp nhất Các em là tương lai của đất nước Nên Người đã đặt trọn niềm tin cũng
là giao trọng trách lớn lao cho thế hệ măng non của đất nước: “Non song Việt Nam có vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” cho nên Bác mong:
“Mong cháu ra công mà học tập Mai sau cháu giúp nước non nhà”
(Tặng cháu Nông Thị Trưng)
Hay:
“Mong các cháu cố gắng Thi đua học và hành”
(Thư Trung Thu 1952)
Có thể nói, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Truyền thống đó ngày càng được nhân dân ta giữ gìn, tôn trọng và phát huy Sự quan tâm đến trẻ em được thể hiện rõ ràng hơn khi Việt Nam phê chuẩn công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990, theo đó trẻ em phải được chăm sóc trong điều kiện tốt nhất, đảm bảo được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, nhằm làm cho mọi trẻ em đều được hưởng các quyền cơ bản và làm tròn bổn phận của trẻ em Đây không phải là nhiệm vụ của riêng các cấp hay các ngành nào mà chính là nhiệm vụ của toàn xã hội Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nước và mỗi địa
Trang 6vụ của các cấp ủy Đảng, chính quyền đoàn thể, gia đình và toàn xã hội”[11]
Nhận thức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về công tác bảo vệ trẻ em được nâng lên, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mô côi, khuyết tật ngày càng được xã hội quan tâm chăm lo
Hà Nội là trung tâm văn hóa chính trị của cả nước, là nơi đón đầu mọi tiến bộ xã hội nên công tác bảo vệ trẻ em luôn được Đảng bộ và chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo và nỗ lực thực hiện Tuy nhiên, trên thực tế bên cạnh rất nhiều thành tựu đáng ghi nhận thì những hạn chế yếu kém của công tác bảo vệ trẻ em cũng bộc lộ Đó là vấn đề về đạo đức và lối sống xuống cấp, lệch chuẩn của một số trẻ em đang trở thành nối lo của gia đình và xã hội Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực, bị lạm dụng sức lao động có
xu hướng gia tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng Tính trạng trẻ em phạm tội, trẻ em lang thang bị tai nạn, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn là những vấn đề xã hội bức xúc Các điểm vui chơi và các hình thức giải trí phù hợp với trẻ em còn thiếu, không gian vui chơi thì ngày càng thu hẹp Nguồn lực trong xã hội dành cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em chưa đáp ứng được yêu cầu Huy động cộng đồng vào chăm sóc, giáo dục và bảo
vệ trẻ em, nhất là ở nông thôn còn thiếu
Đặc biệt từ năm 2008 Hà Nội mở rộng địa giới hành chính Dẫn đến việc chăm sóc trẻ em chưa có sự đồng bộ giữa các khu vực trong Hà Nội
Trang 7Từ những lí giải trên, lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ
trẻ em từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn chính sách công là xuất
phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ trẻ em hiện nay vẫn luôn được các ngành các cấp và địa phương quan tâm và chú trọng Đã có nhiều bài viết trên sách báo, tạp chí, bài luận văn, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về vấn đề bảo vệ trẻ em Dưới đây là một số bài viết có liên quan đến đề tài:
Ấn phẩm “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
ở Việt Nam”/Bộ lao động - thương binh và xã hội và UNICEF – Hà Nội
2009 Tài liệu nhằm xem xét rà soát lại một cách toàn diện hệ thống pháp luật chính sách bảo vệ trẻ em ở Việt Nam Sau khi Việt Nam tham gia kí kết công ước quốc tế về Quyền trẻ em đã được ban hành Tài liệu phân tích và đánh giá những văn bản quy phạm pháp luật đó trong mối tương quan với cộng đồng quốc tế về quyền trẻ em cũng như các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ trẻ em khác Tài liệu cũng nhằm mục đích xác định các khoảng cách giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế cũng như dự báo về những diễn biến mới về việc xây dựng các chính sách và chương trình liên quan đến lĩnh vực bảo vệ trẻ em
Trang 84
Ấn phẩm “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2012 - các kết quả chính”/Tổ chức lao động quốc tế, chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ
em của tổ chức lao động quốc tế (ILO-IPEC); Bộ lao động – thương binh và
xã hội (BLĐTBXH) và tổng cục thống kê Việt Nam – Hà Nội: ILO,2014 Tài liệu đã đưa ra cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động trẻ em, góp phần thực hiện mục tiêu toàn cầu về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất vào năm
2016
Bài viết của Mai Thị Quế trong hội thảo khoa học: chất lượng cuộc sống của người thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh kinh tế hiện nay (2012), “Vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh”, viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh Bài viết đã nêu được thực trạng chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh và những nguyên nhân khách quan và chủ quan Bên cạnh đó bài viết cũng đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Bài viết chuyên đề của Lê Thị Oanh “Một số giải pháp cho trẻ em lang thang trên địa bàn Hà Tĩnh” Bài viết đưa ra quan điểm: trẻ em lang thang là một thực tế khách quan của một xã hội và là sản phẩm của nền kinh tế thị trường Tình trạng này khiến các em không được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu thiết yếu, gây ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình hình thành nhân cách và phát triển toàn diện của trẻ em Vì vậy những trẻ em này rất cần được quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ thường xuyên của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội Giải quyết vấn đề trẻ em lang thang là việc bảo đảm quyền được chăm sóc giúp đõ đặc biệt của trẻ em Mặt khác còn góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội đất nước, và nhằm bổ sung cơ sở lí luận trong việc quản lí xã hội về trẻ em
Nguyễn Hữu Quân (2013), “Hoạt động thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong hệ thống an sinh xã hội tại Ngọc Hồi – huyện Thanh Trì – thành phố Hà Nội hiện nay”, luận văn thạc sĩ công
Trang 95
tác xã hội, đại học khoa học xã hội và nhân văn, Luận văn đã rà soát, đánh giá các chính sách trợ giúp trẻ em và nghiên cứu thực trạng hoạt động chính sách trợ giúp tập trung vào hai nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Trẻ
em nghèo và trẻ em khuyết tật trên địa bàn Ngọc Hồi – huyện Thanh Trì – thành phố Hà Nội
Luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
từ thực tiễn Đà Nẵng” của Võ Thị Bích Trâm (2016) Luận văn đã đưa ra những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện chính sách bảo vệ quyền trẻ em ở thành phố Đà Nẵng Cũng như chỉ rõ các yếu kém, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào việc thực hiện chính sách bảo vệ quyền trẻ em Từ đó luận văn đề xuất những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của thành phố Đà Nẵng
Tuy nhiên, vấn đề thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại Hà Nội chưa
có đề tài nào đi sâu nghiên cứu Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình, luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các đề tài liên quan trước đó để đánh giá, phân tích
từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của thành phố
3 Mục đích nhiệm vụ và nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em, đồng thời đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố Hà Nội Từ đó, đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở nước ta và tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 106
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách bảo vệ trẻ em; tổng quan và nhận xét thực hiện chính sách hiện hành về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam, tìm hiểu kinh nghiệm điển hình của các nước về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố
Hà Nội, phát hiện những vấn đề, nguyên nhân, những ưu điểm và hạn chế
Đề xuất hoàn thiện các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo
vệ trẻ em tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em cụ thể là nghiên cứu giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu tại thành phố Hà Nội Ở một số quận, huyện
của Hà Nội ( Quận Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Đông Anh, Long Biên, Cầu Giấy, Hà Đông, Huyện Gia Lâm, Thanh Trì)
- Nội dung: Nghiên cứu giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo
vệ trẻ em
- Thời gian: nghiên cứu từ năm 2010 cho đến 2015
- Nguồn thông tin dữ liệu: Dựa trên các báo cáo tổng kết của Sở
Thương binh, Lao động và Xã hội của thành phố Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận đa ngành, liên ngành
Trang 117
Cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng và thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát trực tiếp bằng các bảnh hỏi cho các đối tượng là: Các nhóm trẻ em ở hai khu vực nội và ngoại thành thành phố Hà Nội
- Phương pháp phỏng vấn sâu dành cho đối tượng là: Các lãnh đạo, cán
bộ chuyên trách của 9 quận, huyện kể trên Đặc biệt là các nhà quản lí của Trung tâm Bảo trợ trẻ em huyện Thanh trì Các em lang thang tại quận Hoàn Kiếm, Học sinh trường tiểu học Trần Quốc Toản trên phố Hàng Than, quân Hoàn Kiếm; Các em huyện Thường Tín
- Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh: Các phương pháp này được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, nghị quyết của Đảng, nhà nước, bộ ngành ở trung ương và địa phương; các tài liệu công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các vấn đề thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở nước ta nói chung và từ thực tiễn thành phố Hà Nội nói riêng Đồng thời thu thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn
Trang 128
Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em nhằm phát huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành
Ý nghĩa thực tiễn:
Cung cấp những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn trong việc vận dụng các
lý thuyết và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố Hà Nội Từ đó nêu ra những đề xuất có giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý
để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trong thực tiễn năm tiếp theo
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em nước ta
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sach bảo vệ trẻ em tại thành phố
Hà Nội
Chương 3: Định hướng, giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo
vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Trang 139
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ
TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Các khái niệm: Trẻ em, bảo vệ trẻ em, chính sách bảo vệ trẻ em
1.1.1 Trẻ em
Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi” [3]
Còn theo Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Luận này quy định về quyền, bổn phận của
trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện
quyền và bổn phận của trẻ em [24]
Đối tượng áp dụng là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ sở giáo dục, gia đình, công dân Việt Nam, cơ quan tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam
Giải thích từ ngữ trong luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1.1.2 Bảo vệ trẻ em
được sống an toàn; lành mạnh; phòng ngừa; ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt [25]
Trẻ em không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi; con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám
hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật
Trang 1410
“Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là: Trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc thinh thần, không đủ điều kiện để thược hiện các quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng” [24]
Trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình cá nhân ở trong và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Qua đó các quyền trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện Mọi hành vi
vi phạm quyền trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật
1.1.3 Chính sách bảo vệ trẻ em
Dựa trên quan điểm của chính sách công, chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lí với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lí sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền [17]
Từ quan niệm về “chính sách công” và “bảo vệ trẻ em” nêu trên,
chúng ta có thể định nghĩa về chính sách bảo vệ trẻ em như sau: Chính sách
bảo vệ trẻ em là tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề bảo vệ trẻ em theo mục tiêu tổng thể đã xác định
Trang 1511
Việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em là việc thực hiện hóa các quyết định chính trị về bảo vệ trẻ em Đây là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách bảo vệ trẻ em Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách bảo vệ trẻ em của nhà nước, đưa chính sách bảo vệ trẻ em của nhà nước vào cuộc sống
1.2 Vấn đề thiết kế chính sách bảo vệ trẻ em
1.2.1 Vấn đề của chính sách
Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện chính sách bảo
vệ trẻ em Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) quy định khá đầy
đủ các quyền trẻ em, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Một số các chương trình đã được xây dựng và triển khai nhằm giúp đỡ một số đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó phải kể đến Chương trình ngăn ngừa
và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ
em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn
2004 – 2010 (được phê duyệt bởi Quyết đinh 19/2004/QĐ-TTG, ngày 12/02/2004) và Chương trình hành động quốc gia đấu tranh phòng chống buôn bán người; Quyết định 312/2005/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt các đề án thuộc chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2005 đến năm 2010; Quyết định số 17/2007/QĐ-TTG ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ và trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về Và kế hoạch quốc gia về phòng, chống tội phạm giai đoạn 2005 – 2010 (bao gồm các điều khoản về các hành vi phạm tội do trẻ em thực hiện và tội phạm chống lại trẻ em), Quyết định 65/2005/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em
Trang 16Hằng năm cả nước có từ khoảng 1.000 đến 1.400 em bị xâm hại tình dục, 2.000 đến 3.900 em bị bạo lực Tỉ lệ trẻ em bị xâm hại tình dục có xu
hướng tăng nhanh (Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội 2015) Đây là số trẻ em bị xâm hại tình dục được trình báo, trên
thực tế con số này còn cao hơn nhiều vì người dân không muốn trình báo vấn
đề nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến con cái họ, hoặc tự thỏa thuận đền bù với người xâm hại trẻ
Đối với nhóm trẻ vi phạm pháp luật, hàng năm cả nước có khoảng 12.000 đến 18.000 em, trong đó có khoảng 15% phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (Nguồn: số liệu thống kê của bộ lao động, thương binh và xã hội năm 2015) Tính chất vi phạm cũng phức tạp hơn, xu hướng băng nhóm, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng như cướp của, giết người gia tăng Khi các em hoàn thành việc chấp hành án trở về cộng đồng cũng gặp nhiều rào cản trong quá trình hòa nhập cộng đồng
Điều tra quốc gia về lao động trẻ em công bố năm 2014 cho thấy khoảng 1,75 triệu trẻ em đang làm việc dưới độ tuổi tối thiểu mà pháp luật cho phép Con số này tương ứng với gần 10% số trẻ từ 15-17 tuổi trên toàn quốc Đa phần nhóm trẻ em này đã bỏ học vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó
Trang 1713
khăn và không có điều kiện vui chơi giải trí như bạn bè cùng trang lứa và nguy cơ bị ngược đãi, bạo lực và bóc lột sức lao động từ rất cao Đặc biệt số lượng trẻ em bị đuối nước không ngừng ra tăng, để lại nỗi đau lớn cho gia đình; nhà trường và xã hội
Hà Nội mặc dù là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị và xã hội của cả nước vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em luôn được các lãnh đạo các cấp của thành phố quan tâm Nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan (Sẽ được đề cập trong mục 1.2.2.) mà việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em của thành phố còn nhiều hạn chế và chưa có sự đồng bộ giữa các quận huyện của thành phố Theo thống kê của Bộ Thương binh, lao động và Xã hội, giai đoạn 2010-2015 Hà Nội đứng thứ 3 trên toàn quốc về số trẻ em bị
đuối nước [10]
Những điều trên cho thấy, vấn đề chính sách bảo vệ trẻ em chính là giải quyết tình trạng trẻ em chưa được sống trong môi trường sống an toàn, thân thiện; trẻ em chưa được bảo vệ toàn diện, tập trung chủ yếu vào bốn nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt có xu hướng ngày càng gia tăng nghiêm trọng cụ thể là trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị vi phạm pháp luật, trẻ em bị lao động sớm trong điều kiện nặng nhọc; trẻ em ở những vùng ngoại thành, nông thôn chưa được bổ sung kĩ năng sống của thành phố Hà Nội
1.2.2 Nguyên nhân của những vấn đề chính sách
Nguyên nhân của những vấn đề chính sách nêu trên đây là:
Trang 1814
em còn hạn chế, trẻ em dễ thành nạn nhân của hành vi bạo lực, xâm hại tình dục dễ bị lôi kéo vào con đường phạm tội Tình trạng gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em bỏ học, lang thang kiếm sống
Môi trường xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại và vi phạm pháp luật: những ấn phẩm, internet, phim ảnh bạo lực, khiêu dâm, cùng các hiện tượng tiêu cực khác ngoài xã hội đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, lối sống của trẻ em Bên cạnh đó việc tạo môi trường thân thiện, các khu vui chơi, giải trí lành mạnh chưa được quan tâm đúng mức Các khu vui chơi thiếu, tạm bợ, thiếu người quản lí (như các sân chơi ở nhà văn hóa các phường, xã, thôn) đã và đang hư hỏng gây lãng phí trong khi trẻ em vẫn thiếu khu vui chơi, sinh hoạt tập thể Cùng với sự quản lí lỏng lẻo của cha mẹ mang đặc trưng vùng nông thôn dẫn đến các em tìm đến những khư vực nguy hiểm (ao, hồ, sông,…) Theo thống kê của sở Thương binh, Lao động và Xã hội Hà Nội, trong giai đoạn 2010-2015 số trẻ em bị tai nạn thương tích(đặc biệt là số trẻ em bị đuối nước không ngừng tăng lên ) Đấy là đối với khu vực ngoại thành, còn đối với khu vực nội thành thì thiếu không gian học tập, vui chơi tự nhiên cho các em nổi cộm là một số quận như Thanh Xuân, Hoàng Mai, Cầu Giấy Nhiều trường các em phải tập thể dục trên vỉa
hè Không gian tự nhiên thiếu, trật hẹp, không an toàn khiến các bậc cha mẹ không an tâm nên thay vì để trẻ được sinh hoạt, vui chơi trong không gian tự nhiên thì cha mẹ các em lại đảm bảo an toàn cho các em bằng các hoạt động như vào các trung tâm thương mại, xem mạng, TV Tậm lí phụ huynh( đặc biệt là trong những tháng hè) để quản lí các em các bậc phụ huynh đang kí cho con mình theo học nhiều môn học khác nhau( đàn, hát, múa, vẽ, …) Dẫn đến trẻ em ngày nay hết sức thụ động, lười vận động, ít suy nghĩ, nặng hơn nhiều là trẻ em còn mắc phải một số bệnh liên quan đến thần kinh như: tự kỉ,
Trang 1915
tăng động,… Ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của các em và mang đến gánh nặng cho gia đình và xã hội Ở Thủ đô Hà Nội (nhất là khu vực nội thành), công viên được xem là khu vưc sinh hoạt chung cho người dân trong đó có trẻ
em Tuy nhiên mấy năn gần đây nhiêu công viên đã bị lấy xây trung tâm thương mại, các chung cư đã thu hẹp không gian vui chơi tự nhiên của các em điều này đã tác động không nhỏ đến tuổi thơ của các em
đồng bộ đầy đủ, thiếu hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên
Một số quy định về cơ sở trợ giúp trẻ em và cơ sở bảo trợ xã hội đang thiếu hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn về đối tượng, chức năng hoạt động giữa hai loại hình trợ giúp này Hiện nay luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em chưa quy định cụ thể cơ quan hưởng ứng tổ chức bộ máy cho quỹ bảo trợ trẻ em, do vậy hoạt động của hệ thống quỹ này ở địa phương các cấp gặp nhiều khó khăn Cơ chế chính sách trợ giúp trẻ em vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, trong đó mới chú ý đến trợ giúp, hòa nhập mà chưa chú trọng việc phòng ngừa, can thiệp và phát triển Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm quyền trẻ em chưa đủ mạnh Một số nhóm đối tượng trẻ em đặc biệt chưa được đưa vào luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị ảnh hưởng từ các
vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị buôn bán, trẻ em sống trong các hộ nghèo, trẻ em có biểu hiện khác về giới tính Thiếu các số liệu đáng tin cậy liên quan đến trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt Thiếu các quy trình tư pháp thân thiện với trẻ em
Công tác phối hợp liên ngành trong việc thực hiện quyền trẻ em vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: trách nhiệm phối hợp liên ngành chưa đầy đủ; phối hợp trong tổ chức các hoạt động kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về trẻ em đôi khi vẫn còn bị động; hoạt động phối hợp cụ thể vẫn còn
Trang 2016
mang tính hình thức Năng lực cán bộ tham gia phối hợp còn hạn chế và điều kiện để tham gia phối hợp chưa đầy đủ
chưa đạt hiệu quả sâu rộng, chưa thường xuyên liên tục
Truyền thông chưa đạt hiệu quả cao, hậu quả là các phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em chưa được thực hiện rộng rãi, sự tham gia của trẻ
em chưa thực sự được phát huy Còn có hiện tượng lợi dụng xã hội hóa công tác bảo vệ trẻ em để trục lợi từ việc gây ngân quỹ từ thiện, buôn bán trẻ em dưới hình thức nuôi con nuôi Ý thức chấp hành pháp luật cũng như nhận thức
về bảo vệ trẻ em, quyền trẻ em của một bộ phận cán bộ, cha mẹ, giáo viên và công dân chưa cao; kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em của nhiều gia đình và kỹ năng tự bảo vệ của trẻ em chưa đầy đủ và cập nhật Tâm lí sợ điều tiếng mà nhiều gia đình đã không tố cáo các hành vi xâm hại trẻ em Bản thân các em lại thiếu hiểu biết, không có kĩ năng tự bảo vệ đã bị bọn xấu lạm dụng Bên cạnh đó sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các trang mạng xã hội các em dễ dàng tiếp cận các nội dung phim ảnh đồ truỵ Chưa kể các em cũng chính là nạn nhân của một nhóm tội phạm có suy nghĩ lệch chuẩn làm cho tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, bị lạm dụng, xâm hại đang có chiều hướng gia tăng
chính và con người)
Thời gian qua, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã quan tâm bố trí kinh phí thực hiện công tác bảo vệ trẻ em tuy nhiên nguồn lực đầu tư cho sự nghiệp này vẫn còn nhiều hạn chế và phân tán, ngân sách chi cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em quá thấp, chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế và đầu tư cho các lĩnh vực khác ở cả cấp độ trung ương và địa phương Tổng kinh phí chi cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em giai đoạn
2006 – 2010 khoảng 2.416 tỷ đồng, trong đó chi cho trợ cấp xã hội hàng
Trang 2117
tháng cho trẻ em khoảng 1.406 tỷ đồng; chi cho việc thực hiện các chương trình đề án thuộc ngành lao động, thương binh và xã hội khoảng 260 tỷ đồng; ngân sách địa phương bố trí cho các hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em khoảng 250 tỷ đồng; huy động từ cộng đồng và tổ chức quốc tế khoảng 500 tỷ
đồng [30] Song song với đó, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc
trẻ em vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng lại luôn có sự biến động
do thay đổi cơ cấu tổ chức Tính đến năm 2014, tổng số cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em cấp tỉnh là 315 người, số cán bộ kiêm nghiệm hoặc trực tiếp làm công tác này ở cấp huyện là 1.117 người, cấp xã có 11.708 cán bộ (kiêm nghiệm là 10.598 người, chuyên trách là 1.110 người) Tuy nhiên vẫn còn nhiều địa phương chưa bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ trẻ em
ở cấp huyện; chính sách hỗ trợ cho đội ngụ cán bộ và cộng tác viên làm công tác bảo vệ trẻ em ở cơ sở còn rất eo hẹp và mới chỉ có 16/63 tỉnh, thành phố (25%) bố trí nguồn ngân sách địa phương để chi trả thù lao cho đội ngũ cộng tác viên thôn, bản với mức thù lao từ 50.000đ – 830.000đ/tháng [15]
1.2.3 Mục tiêu chính sách bảo vệ trẻ em
Mục tiêu tổng quan của chính sách bảo vệ trẻ em là:
- Tạo dựng được môi trường sống mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo
vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ có nguy cơ cao
- Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ tổn hại, tạo cơ hội để các em tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển, thông qua phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em đồng bộ và hoạt động có hiệu quả
Mục tiêu cụ thể phải đạt được:
- Giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt xuống dưới 5,5% so với tổng
số trẻ em
Trang 2218
- Giảm hàng năm 10% số trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực; 100% trẻ em được phát hiện bị xâm hại tình dục, bị bạo lực được can thiệp, trợ giúp; giảm tỷ lệ trẻ em lang thang xuống 7/10.000 trẻ em; 90% trẻ em bị bỏ rơi, trẻ
mồ côi, không nơi nương tựa được chăm sóc
- 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc từ cộng đồng và nhà nước để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển
- 70% trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt có nguy cơ bị tổn hại được phát hiện sớm và can thiệp để giảm thiểu và bỏ nguy cơ
- 50% tỉnh, thành phố xây dựng được hệ thống bảo vệ trẻ em, trong đó có trung tâm công tác xã hội trẻ em, văn phòng tư vấn, điểm tư vấn, mạng lưới cộng tác viên, nhóm trẻ nòng cốt và hoạt động hiệu quả
1.3 Giải pháp chính sách và công cự chính sách
Từ những vấn đề chính sách trên cho thấy chính sách bảo vệ trẻ em hướng đến một số nhóm giải pháp cơ bản sau:
Một là, nhóm giải pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa, công tác bảo vệ
trẻ em theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình và nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị xã hội Các công cụ là tổ chức dựa vào cộng đồng và kết hợp với các tổ chức chính trị xã hội để thực hiện giải pháp trên Giải pháp này góp phần nâng cao trách nhiện của các cấp, các ngành đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác bảo vệ trẻ của Nhà nước với nhân dân, của gia đình với nhà trường Từ đó xây dựng được môi trường sống
an toàn cho trẻ em
Hai là, nhóm giải pháp tăng cường sự quản lý nhà nước, củng cố kiện
toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em các cấp; tăng cường công tác xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa các bộ ngành, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em nhằm phát huy các nguồn lực của Nhà nước và xã hội để chăm lo, bảo vệ trẻ
Trang 2319
em phù hợp với hoàn cảnh đất nước; xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp với đội ngũ cộng tác viên bảo vệ trẻ em, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật chính sách liên quan đến trẻ em và thực hiện quyền trẻ em Các công cụ có thể được sử dụng là công cụ được dựa vào tổ chức là công cụ hành chính, tổ chức như hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, mô hình tổ chức,
bộ máy các bộ công chức tham gia hoạch định, triển khai chính sách bảo vệ trẻ
em Bên cạnh đó, nhóm công cụ dựa vào quyền lực là các quy định, mệnh lệnh
và kiểm soát, quy định xử phạt hành chính, xử lý trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng buôn bán trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em
Ba là, nhóm giải pháp đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông, trên cơ
sở hình thành chiến lược truyền thông với sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức quốc tế để tạo dư luận xã hội quan tâm hơn đến công tác bảo vệ trẻ em, đặc biệt là lên án các hành vi xâm hại, ngượcđãi và bạo lực đối với trẻ em Chủ động huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực có thể được cho nhiệm vụ bảo vệ trẻ em đồng thời
mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ và phúc lợi xã hội dành cho trẻ em Công cụ truyền thông trực tiếp và gián tiếp sẽ được sử dụng cho giải pháp này: là các chiến dịch truyền thông, tuyên truyền, tư vấn trực tiếp cho sự tham gia của cộng đồng Đặc biệt là sự vào cuộc của hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên,…tuy nhiên để công cụ chính sách này có hiệu lực thì các tổ chức này phải được trao cho những quyền nhất định và được trang bị đầy đủ về cả trí lực và vật lực Các tổ chức cần phối hợp với các tổ chức truyên thông để mang tiếng nói, nguyện vọng đến những người có trách nhiệm và thẩm quyền Là hàng rào vô hình góp phần bảo vệ các em
Bốn là, nhóm giải pháp đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế trong
việc huy động nguồn lực xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, dự
án trợ giúp, bảo vệ trẻ em, thực hiện quyền tham gia của trẻ em; hỗ trợ kỹ
Trang 2420
thuật, kiến thức và kinh nghiệm cho công tác xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện chính sách, hướng dẫn thực hiện cũng như xây dựng kế hoạch giám sát, đánh giá thực hiện mục tiêu bảo vệ trẻ em Nhóm công cụ mạng lưới (cho phép) với các tổ chức quốc tế, kết hợp tổ chức xã hội trong nước, và các tổ chức dựa vào cộng đồng thực hiện giải pháp này
Năm là, nhóm giải pháp phát triển hệ thống quỹ bảo trợ trẻ em cũng
như huy động các nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ trẻ em; nhà nước đầu
tư ngân sách đảm bảo cho công tác bảo vệ trẻ em; khuyến khích và huy động
sự đóng góp của các nguồn lực xã hội, các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động và công trình dành cho trẻ em Nhóm công cụ tài chính được sử dụng như ngân sách nhà nước, các quỹ bảo trợ, các hoạt động khuyến khích và huy động sự đóng góp của các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức quốc tế khác
1.4 Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ
trẻ em
1.4.1 Cách tiếp cận thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và vận dụng phương pháp nghiên cúu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng chính sách, thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia của các bên chủ thể chính sách
Có một số phương pháp tiếp cận khi thực hiện chính sách trong đó phương pháp tiếp cận “từ trên xuống, từ dưới lên” được xem là phương pháp truyền thống nhất khi thực hiện chính sách:
- Phương pháp từ trên xuống:
Trang 2521
* Ưu điểm: Cách tiếp cận này đảm bảo được tính thống nhất khi ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn và tránh được
sự chồng chéo, mất tập trung khi thực hiện chính sách
* Nhược điểm: Tuy nhiên phương pháp này không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và chưa thực sự phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế xã hội của từng địa phương thực hiện
- Phương pháp từ dưới lên:
Khắc phục được nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” nhưng vẫn phải gặp một số vấn đề khi thực hiện bởi vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ chuyên trách
Ngoài ra phương pháp tiếp cận trên chưa thực sự có sự tham gia của người dân Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng tới cộng đồng phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo hàng đọc (cách tiếp cận mang tính hai chiều)
Tiếp cận theo chiều ngang có sự phối hợp giữa cán bộ, các cơ quan ban ngành: Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp và sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế
Như vậy, cách tiếp cận đối với chính sách bảo vệ trẻ em đó là Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã hội, chính trị thông qua các chương trình, chiến lược, chính sách, nghị quyết và chỉ thị
về mặt chính trị Quốc hội thực hiện vai trò giám sát tối cao các hoạt động của nhà nước Trong các cơ quan của Quốc hội, có một số ủy ban trực tiếp liên quan đến trẻ em như Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng (UBVH-GD-TTN&NĐ), Ủy ban các vấn đề xã hội, Ủy ban kinh tế, Ủy ban tài chính và ngân sách
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTB&XH) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các vấn đề trẻ em, cùng với các bộ ngành liên
Trang 26Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội bảo
vệ quyền trẻ em Việt Nam xây dựng và tổ chức phong trào “Toàn dân chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em” gắn liền với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chỉ đạo và thực hiện tốt các hoạt động thanh thiếu niên và nhi đồng Ngoài ra còn có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; trong đó có gia đình có tránh nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ trẻ em, cùng với nhà trường giáo dục hình thành nhân cách và trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết cho trẻ em phát triển toàn diện
Các cơ quan truyền thông tham gia vào việc cải thiện truyền thông liên quan đến quyền trẻ em, bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề trẻ em
1.4.2 Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Để đưa chính sách công nói chung và chính sách bảo vệ trẻ em nói riêng vào cuộc sống cần phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ Hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch thực hiện chính sách Cần phải đầu tư thời gian và công sức để xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em cần được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan có
Trang 2723
nhiệm vụ triển khai thực thi chính sách bảo vệ trẻ em từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em bao gồm các nội dung sau:
- Kế hoạch tổ chức thực hiện
- Kế hoạch cung cấp các nguyên liệu (nhiên liệu, vật liệu, tài liệu)
- Kế hoạch thời gian thực hiện
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc, thực thi đưa chính sách bảo vệ trẻ em vào cuộc sống Ngoài ra trong kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em cần phải xây dựng về nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách; về nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức tham gia
tổ chức điều hành chính sách; về biện pháp, giải pháp khen thưởng, kỉ luật đối với cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em Việc lập kế hoạch chính sách tốt sẽ giúp cho việc thực thi chính sách được khả thi
và không phải qua điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện
Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em của Nhà nước
là một hoạt động quan trọng trong thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ trẻ em không chỉ giúp đối tượng thụ hưởng chính sách như trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, toàn thể gia đình
và nhà trường cũng như cộng đồng tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách bảo vệ trẻ em còn giúp các cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách được nhận thức đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, trình độ, quy mô của chính sách đối với các đối tượng thụ hưởng Cần phải lựa chọn hình thức, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ trẻ em khác nhau như tổ chức các chiến dịch truyền thông bảo vệ trẻ em nhằm tạo mối quan tâm thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ trẻ em, nghiên cứu
Trang 2824
xây dựng, phát triển các chương trình, sản xuất các sản phẩm truyền thông về bảo vệ trẻ em cho các kênh truyền thông tin đại chúng, hoạt động tư vấn, truyền thông tin trực tiếp hay tổ chức các hoạt động tư vấn, truyền thông trực tiếp thông qua các cuộc thi, diễn đàn, hội nghị, hội thảo, mít tinh, tập huấn sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt ngoại khóa, các câu lạc bộ tại cộng đồng, trường học về bảo vệ trẻ em có sự tham gia cửa cộng đồng, các thành viên gia đình, giáo viên và trẻ em
- Phân công phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ, hợp lí giữa câc cơ quan, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [19] Đảng đã thể hiện sự quan tâm sâu
sắc tới công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Tháng 6/2006, chỉ thị 55/CT-TW về việc “tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong các hoạt
động chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em” [12] đã được ban hành Thông qua
chỉ thị này, ĐCSVN mong muốn có một sự cải thiện tích cực về mặt nhậ thức
và hành động về trẻ em tại các chi bộ Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, các gia đình và xã hội ở cấp cơ sở
- Duy trì thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Là hoạt động bảo đảm cho chính sách tồn tại và phát huy tác dụng trong
môi trường thực tế của xã hội cần phải có đội ngũ cán bộ, công chức, nguồn lực
và công cụ quản lý đủ để thực hiện và duy trì chính sách bảo vệ trẻ em
Trong quá trình thực hiện chính sách nếu găp khó khan do sự biến động hính sách cho phù hợpcông cự quản lí tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
- Điều chỉnh chính sách bảo vệ trẻ em
Là một hoạt động cần thiết điễn ra thường xuyên trong tiến trình thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em nhằm mục đích phù hợp với yêu cầu quản lý và
Trang 2925
tình hình thực tế của đất nước Theo quy định, các cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh cơ chế và biện pháp chính sách diễn ra khá linh hoạtvì thế các
cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em của từng địa phương cần chủ động điều chỉnh cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hôi từng địa phương mình, miễn không làm thay đổi mục tiêu của chính sách bảo vệ trẻ em
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính ách giúp kịp thời bổ sung và hoàn thiện chính sách bảo vệ trẻ em
Chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện nâng cao năng lực, hiệu quả thực hiện mục têu chính sách bảo vệ trẻ em
- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Đánh giá chính sách là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách “Đánh giá chính sách công là hoạt động kiểm tra chính sáchbawngf các tiêu chí cụ thể như sự phù hợp, đày đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính
sách giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai” [18] Như vậy, đánh giá việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em là cách kiểm
định xem liệu các mục tiêu của chính sách bảo vệ trẻ em đã triể khai được hay không nhờ cách đánh giá dựa vào các bên tham gia, cụ thể là các tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, đánh giá dựa vào cộng đồng, gia đình và nhà trường, các cơ quan phi chính phủ và cơ quan báo chí
1.5 Trách nhiệm thực hiện của chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Trong tổ chức và thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em thì phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Muốn tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan
Trang 3026
quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học
sẽ phát huy được những nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng
Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định
rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội” [10] Đảng lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức chính trị và xã hội, các đoàn thể quần chúng thông qua các chương trình, chiến lược, chính sách, nghị quyết và chỉ thị mang tính chính trị, và thông qua theo dõi giám sát việc thực hiện của các tổ chức này Đảng đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Tháng 6/2000, chỉ thị 55/CT-TW về việc “ Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong các hoạt động chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em”[12] đã được ban hành Thông qua chỉ thị này, ĐCSVN mong muốn có sự cải thiện tích cực về mặt nhận thức và hành động
vì trẻ em tại các chi bộ Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, các gia đình và xã hội cấp cơ sở
Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao mọi hoạt động của Nhà nước Theo Luật tổ chức Quốc hội thì các cơ quan của Quốc hội gồm có Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và
9 ủy ban trong đó 5 ủy ban sau chức năng liên quan đến quyền trẻ em:
- Ủy ban Văn hóa, giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng
- Ủy ban các vấn đề xã hội
- Ủy ban Kinh tế
- Ủy ban Tài chính và Ngân sách
Trang 3127
- Ủy ban Pháp luật
Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 quy định “Chính phủ Việt Nam là
cơ quan hành pháp của Quốc Hội và do vậy là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước”[26] Chính phủ do Thủ thướng lãnh đạo có thẩm quyền ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật như nghị định, Quyết định, Pháp lệnh Các Bộ chủ quan ban hành các quyết định, thông tư nhằm hướng dẫn cụ thể việc thực hiên các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp cao hơn Các cơ quan nhà nước liên quan đến quyền trẻ em cụ thể là:
- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH)
- Bộ Y tế ( Bộ YT)
- Bộ Giáo dục và Đào tạo ( Bộ GD-ĐT)
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VH-TT&DL)
- Bộ Công an (Bộ CA)
- Bộ Tư pháp
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT)
-Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT)
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT)
Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể trên cụ thể như sau:
Trang 32- Ủy ban Các vấn đề xã hội chịu trách nhiệm thẩm tra các dự luật về các lĩnh vực lao động, chăm sóc sức khỏe, tôn giáo, và các khía cạnh xã hội khác Tới thời điểm hiện tại Ủy ban đã xem xét nội dung một số dự luật có liên quan đến quyền trẻ em như Bộ Luật lao động, Luật phòng chống HIV/AIDS, luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình
- Ủy ban Kinh tế có các chức năng liên quan đến quyền trẻ em, chịu trách nhiệm xem xét và giám sát các Chương trình của Chính phủ, giám sát việc thực hiện các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý tiền tệ và kinh tế
- Ủy ban Tài chính và Ngân hàng chịu trách nhiệm xem xét các dự toán, phân bổ ngân sách, giám sát và quyết toán Ngân sách Nhà nước
- Ủy ban Pháp luật chịu trách nhiệm thẩm tra tất cả dự luật, bao gồm các luật liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em thí dụ như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phòng chống buôn bán người
Các cơ quan quan trọng thuộc hệ thống hành pháp liên quan cụ thể là:
- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hộ có chức năng quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực việc làm, dạy nghề, lao động, lương và trợ cấp, bảo hiểm
xã hội, an toàn lao động, bảo trợ xã hội, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bình đẳng giới, ngăn chặn và đấu tranh với tệ nạn xã hội trên toàn quốc; Bộ cũng có trách nhiệm quản lý nhà nước về các dịch vụ công thuộc lĩnh vực của Bộ Bộ LĐ-TB&XH có vai trò trách nhiệm hàng đầu trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam
Trang 3329
- Bộ Y tế có các chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế, y tế điều trị dự phòng, và tất cả các dịch vụ công do Bộ quản lý Bộ Y tế chịu trách nhiệm cải thiện chất lượng các dịch vụ y tế nhằm đảm bảo trẻ em được chăm sóc đầy đủ về mặt sức khỏe từ khi sinh ra cho đến khi trở thành người lớn, và quan tâm đặc biệt tới trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Theo Nghị định 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007, Bộ Y tế đã được giao thêm nhiệm vụ quản lý về các vấn đề dân số và kế hoạch hóa gia đình, vốn thuộc trách nhiệm của Ủy ban Dân số Gia đình và trẻ em trước kia
- Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm hàng đầu là xây dựng chương trình chính sách nhằm đảm bảo quyền được học tập của trẻ em, thông qua các chính sách và phương pháp giáo dục nhằm hỗ trợ trẻ em bị thiệt thòi để các em
có thể hòa nhập với hệ thống giáo dục; và xác định rõ công tác cải cách chương trình giáo dục, sách giáo khoa, chương trình học, đào tạo cho giáo viên
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm điều phối quá tình xây dựng chính sách và chương trình nhằm ngăn chặn tình trạng bạo lực trong gia đình; xây dựng và phát triển khái niệm “gia đình văn hóa”, tổ chức việc thu thập và lưu trữ thông tin liên quan tới gia đình, và đưa ra các hướng dẫn
và xem xét những kinh nghiệm thực tế trong quá trình mở rộng các “gia đình văn hóa”; và giáo dục cộng đồng về phong cách sống và cách ứng xử trong gia đình truyền thống của Việt nam Các vấn đề liên quan đến gia đình vốn là trách nhiệm của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em trước kia, nay thuộc bộ VH-TT&DL đảm nhận
- Bộ Công an chịu trách nhiệm áp dụng các biện pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm các quyền trẻ em, giáo dục và cải tạo thanh thiếu niên làm trái pháp luật
- Bộ Tư pháp: Theo Nghị định 93/2008/NĐ-CP, Bộ Tư pháp có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực soạn thảo và thực thi các văn bản pháp
Trang 3430
luật; kiểm tra các văn bản pháp lý; phổ biến và giáo dục các văn bản pháp lý; cung cấp trợ giúp pháp lý cho trẻ em; quản lý hoạt động cho nhận con nuôi; định hướng nhận thức và giáo dục về pháp luật bảo vệ trẻ em
- Bộ Kế hoach Đầu tư (Bộ KH&ĐT): Có trách nhiệm quản lý nhà nước trong các lĩnh vực lập kế hoạch đầu tư, bao gồm cả công tác cố vấn toàn diện cho các chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và dài hạn; huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
- Bộ Tài chính (Bộ TC): Chịu trách nhiệm hướng dẫn các Bộ ngành khác và ủy ban nhân dân lập dự toán ngân sách hàng năm và dài hạn dành cho trẻ em, và đề xuất các chính sách nhằm huy động nguồn lực tài chính để phục
vụ các hoạt động vì quyền trẻ em
- Ủy ban dân tộc (UBDT): Tham mưu về các vấn đề dân tộc thiểu số, phối hợp thự hiện với các Bộ ngành và các cơ quan khác xây dựng và thực hiện các chính sách, chiến lược, kế hoạch và chương trình hành động liên quan tới các vấn đề dân tộc thiểu số, Ủy ban cũng là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia dành cho các xã đặc biệt khó khăn ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi trong giai đoạn 2006 -2010 (chương trình
135 giai đoạn II)
- Tổng cục thống kê (TCTK): Có chức năng thống kế quốc gia và quản
lý hoạt động thống kê của các Bộ ngành
Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã chịu trách nhiệm phân
bổ nguồn tài chính tới các trường học, tram y tế, trùng tâm thể thao, các nhà văn hóa, các khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em Tất cả các Bộ được nêu trên đây đều có các sở ngành tương ứng tại địa phương hoạt động dưới sự quản lý của Ủy ban Nhân dân Các sở ngành tại địa phương thực sự là những đơn vị thực hiện chính sách về bảo vệ trẻ em tại địa bàn
Trang 35Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
Việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em còn chịu ảnh hường bởi nhiều nhân tố khác nhau Như phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, Trình độ học vấn, kinh tế và giai đoạn cự thể của đất nước Chính vì thế mà ở các địa phương khác nhau thì cũng có sự khác biệt về các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chính sách bảo vệ trẻ em Các nhóm nhân tố này có thể thúc đẩy tốt quá trình thực hiện chính sách nhưng cũng có thể gây kìm hãm quá trình thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em Có thể tổng kết một số yếu tố nhất định cụ thể là:
- Yếu tố bên trong:
Trang 36hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách của nước ta về bảo vệ trẻ em tuy khá toàn diện nhưng nhiều nội dung lại chưa quy định cụ thể, chi tiết và thiếu những biện pháp bảo đảm nên việc thực hiện gặp nhiều khó khăn
- Yếu tố bên ngoài:
Môi trường xã hội: Đây là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em Xuất phát từ nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em thì chính sách xã hội và chính sách an ninh xã hội của nhà nước phải đảm bảo cho trẻ em mức sống đầy đủ, môi trường sống tốt, vui chơi giải trí phù hợp Môi trường xã hội còn được thể hiện trên các yếu tố thành phần đó
là trật tự an toàn xã hội Nếu môi trường tốt thì trẻ em cũng được bảo vệ, ngược lại nếu môi trường xã hội không ổn định, tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro thì việc bảo vệ trẻ em cũng gặp nhiều khó khăn Trật tự xã hội không được duy trì tốt thì nguy cơ trẻ em phạm tội, bị người lớn xâm hại, bạo lực, ngược đãi, sao nhãng trẻ em cũng rất cao
Môi trường gia đình và cộng đồng: Gia đình và cộng đồng có vai trò rất lớn đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Nếu một gia đình không thuận hòa, một cộng đồng yếu kém thì sẽ tồn tại nhiều nguy cơ rủi ro gây tổn hại cho trẻ em Gia đình không chỉ phải thuận hòa mà còn phải có nhận thức
và năng lực bảo vệ trẻ em, đó là sự hiểu biết về pháp luật, chính sách về bảo
Trang 37Chương 1 Luận văn đã hệ thống và bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn
về vấn đề, mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách bảo vệ trẻ em Từ những khái quát về khái niệm, đặc điểm và đặc biệt là làm rõ các các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trong điều kiện quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ, đặt đất nước ta phải
có những chiến lược phát triển lâu dài và bền vững đặc biệt là nguồn nhân lực
má trẻ em chính là tương lai của đất nước Về phương diện lý luận, luận văn đưa ra được khái niệm trẻ em, chính sách bảo vệ trẻ em và đã nêu được cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em Những nội dung trên là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách
bảo vệ trẻ em trong chương 2 của luận văn
Trang 38
34
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách bảo vệ trẻ em
Ngay từ khi Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015, căn cứ tình hình cụ thể của địa phương, thực hiện chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015, UBND thành phố Hà Nội đã đưa ra các mục tiêu cụ thể như sau:
* Mục tiêu chung:
Đảm bảo cho mọi trẻ em được bảo vệ, được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh giảm nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, chú trọng bảo vệ trẻ em để không bị xâm hại, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp kịp thời, chăm sóc để phục hồi, hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển
* Mục tiêu cụ thể:
- Giảm tỉ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và đảm bảo ít nhất 90% trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và có
cơ hội phát triển
- 70% trẻ em được phát hiện có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được can thiệp để giảm thiểu, loại bỏ nguy cơ này
- Xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả hệ thống cung cấp dịch
Trang 3935
- Mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ CTV 100% cán bộ công tác bảo vệ trẻ em các cấp và cộng tác viên được đào tạo, bồi dưỡng năng lực
- 90% số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được bảo vệ, chăm sóc
- 502 xã phường đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em
- 100% trẻ em trong các hộ nghèo và cận nghèo được hỗ trợ mua bảo hiểm y tế, gắn với việc thực hiện chương trình xây dựng trường học an toàn, thân thiện và xây dựng cộng đồng vững mạnh
* Kết quả thực hiện các chỉ tiêu
- 95% trẻ em có hoang cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi hòa nhập và vượt 5% kế hoạch
- 100% trẻ em được phát hiện có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được tư vấn, can thiệp để giảm thiểu loại bỏ nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt: đạt 100% kế hoạch
95% gia đình, nhà trường, công đồng xã hội và trẻ em được nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về bảo vệ trẻ em vượt kế hoạch 15%
- 584/584 xã phường đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em
- 100% cán bộ công tác bảo vệ trẻ em các cấp và 90% công tác viên được đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực đạt 100%kế hoạch [5]
Theo thống kê rà soát trẻ em (theo Quyết định số 1253/QĐ-TCTK ngày 22/11/2013 của Tổng cục trưởng cục Thống kê) tính đến năm 9/2015:
- Toàn thành phố Hà Nội trẻ em 1-16 tuổi khoảng 1,6 trệu em (2013)
;1,8 triệu (2015) trong đó trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chiếm khoảng 95% khoảng 12.936 em năm 2013 và 13.800 năm 2015 trong đó cụ thể:
- Tỉ lệ biết đọc biết viết chiếm 98.1% dân số
- Trẻ em chưa từng đi học chiếm 1.5% thấp nhất cả nước
Trang 402015 của TP
Kết quả thực hiện mục tiêu tỉnh/thành phố
Ước đạt mục tiêu
2015 (đạt/khô