Lập luận được đưa ra trong quan điểm phản đối này xuất phát từ các lý do như: quan hệ hôn nhân giữa những người đồng tính không thể sinh con để duy trì nòi giống; làm tăng quan hệ tình d
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI (QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA QUỐC GIA VỀ QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI HÔN NHÂN CÙNG GIỚI NĂM 2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI (QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA QUỐC GIA VỀ QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI HÔN NHÂN CÙNG GIỚI NĂM 2013)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Vinh
HÀ NỘI, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Đức Vinh
Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực do chính bản thân thu thập, phân tích và xử lý từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ngọc Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Vinh – người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và góp ý giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các quý thầy cô giáo của Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình học tập để tôi có được kết quả như ngày hôm nay
Dù đã rất cố gắng xong nghiên cứu này chắc chắn vẫn còn những thiếu sót nhất định Kính mong tiếp tục nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các quý thầy cô để công trình nghiên cứu của tôi hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn./
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI 17
1.1 Một số khái niệm nghiên cứu 17
1.2 Lý thuyết và hướng tiếp cận 20
1.2.1 Lý thuyết kỳ thị xã hội 20
1.2.2 Lý thuyết xã hội hóa vai trò giới 22
1.3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu và các quan điểm chính sách 23
1.3.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 23
1.3.2 Hôn nhân cùng giới và các quan điểm đa chiều 26
Chương 2 NHẬN THỨC VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI DÂN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI 34
2.1 Thông tin chung về mẫu nghiên cứu 34
2.2 Nhận thức về người đồng tính và hôn nhân cùng giới 36
2.3 Quan điểm của người dân về những tác động của hôn nhân cùng giới 44
2.3.1 Tác động đến cá nhân 45
2.3.2 Tác động đến gia đình 47
2.3.3 Tác động đến xã hội 49
2.4 Quan điểm của người dân về việc hợp thức hóa hôn nhân cùng giới 52 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Khuyến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ơ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tỷ số giới tính và tuổi 35 Bảng 2: Mức độ biết về việc hai người cùng giới sống chung như vợ chồng phân theo trình độ học vấn và nhóm tuổi (%) 41 Bảng 3: Quan điểm của người dân về tác động của hôn nhân cùng giới lên cá nhân họ phân theo mức độ quen biết người đồng tính (%) 46 Bảng 4: Quan điểm của người dân về tác động của hôn nhân cùng giới lên xã hội phân theo mức độ quen biết người đồng tính (%) 50 Bảng 5: Tỷ lệ ủng hộ pháp luật công nhận HNCG tương quan với mức độ biết
về việc hai người cùng giới sống chung với nhau (%) 53 Bảng 6: Quan điểm của người dân về việc pháp luật nên có những quy định nào về kết hôn cùng giới phân theo nhóm tuổi và mức độ quen biết người đồng tính (%) 54 Bảng 7: Quan điểm của người dân về việc pháp luật nên có những quy định nào về kết hôn cùng giới phân theo trình độ học vấn (%) 57
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tỷ lệ người dân biết về người đồng tính và hai người cùng giới có quan hệ tình cảm (%) 37 Biểu đồ 2: Tỷ lệ người dân biết việc hai người cùng giới sống chung như vợ chồng phân theo khu vực (%) 40 Biểu đồ 3: Nguồn thông tin về hiện tượng hai người cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng (%) 41 Biểu đồ 4: Quan điểm của người dân về tác động của hôn nhân cùng giới đến bản thân họ ở nông thôn và đô thị (%) 47 Biểu đồ 5: Quan điểm của người dân về tác động của hôn nhân cùng giới đến gia đình phân theo khu vực (%) 48 Biểu đồ 6: Quan điểm của người dân về tác động của hôn nhân cùng giới lên
xã hội phân theo nhóm tuổi (%) 51 Biểu đồ 7: Quan điểm của người dân về việc pháp luật nên có những quy định nào về kết hôn cùng giới phân theo vùng miền (%) 56 Biểu đồ 8: Quan điểm của người dân về việc pháp luật nên công nhận những quyền nào của các cặp đôi cùng giới (%) 58 Biểu đồ 9: Quan điểm của người dân về việc pháp luật nên công nhận những quyền nào của các cặp đôi cùng giới phân theo nhóm tuổi (%) 59 Biểu đồ 10: Quan điểm của người dân về việc pháp luật nên công nhận những quyền nào của các cặp đôi cùng giới phân theo trình độ học vấn (%) 60
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo một số nghiên cứu khoa học trên thế giới,hiện tượng người đồng tính, song tính, chuyển giới là những xu hướng tính dục, bản dạng giới tự nhiên của loài người (chiếm số ít) bên cạnh xu hướng dị tính (phổ biến) [25] Kết quả nghiên cứu từ các quốc gia khác nhau trên thế giới cho thấy tỷ lệ người đồng tính, song tính hiện dao động trong khoảng từ 1% - 9% Chưa có
số liệu thống kê chính thức nào tại Việt Nam về người đồng tính, song nếu lấy
tỷ lệ trung bình, “an toàn” mà nhiều nhà khoa học thừa nhận là 3% thì số người đồng tính và song tính tạm tính ở Việt Nam trong độ tuổi từ 15-59 vào khoảng 1,65 triệu người [9]
Hôn nhân cùng giới là hình thái hôn nhân của hai người có cùng giới tính sinh học hoặc giới tính đã được công nhận trong giấy chứng sinh hoặc khai sinh Tính đến thời điểm tháng 6/2015 đã có 21 quốc gia trên thế giới công nhận hôn nhân cùng giới, bao gồm cả Mexico và Hoa Kì
Nhiều người đồng tính đang mong muốn và đấu tranh để được pháp luật công nhận hôn nhân hợp pháp cho các cặp cùng giới Theo kết quả cuộc điều tra của Trung tâm ICS năm 2012 thực hiện với hơn 2000 người đồng tính tham gia thì có 71% mong muốn được pháp luật cho phép kết hôn cùng giới, 25% muốn được sống chung có đăng ký, 4% muốn được sống chung không
đăng ký [9] Những năm gần đây, cùng với những thay đổi trong đời sống xã
hội, việc công khai xu hướng tính dục thật đang trở nên ngày càng phổ biến ở Việt Nam Mặc dù không được pháp luật thừa nhận nhưng việc các cặp đôi cùng giới sống chung như vợ chồng là hiện tượng xã hội đang diễn ra ở nước
ta hiện nay và đang nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng Xung quanh
Trang 10vấn đề sống chung và có hay không nên hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới là các luồng ý kiến trái chiều của dư luận xã hội
Một bộ phận người dân đánh giá quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính là không phù hợp với chức năng xã hội của hôn nhân Đây cũng là một trong những vấn đề xã hội nhạy cảm, liên quan đến quan niệm truyền thống về hôn nhân và gia đình, làm ảnh hưởng đến thiết chế gia đình truyền thống, có thể gây rối loạn cuộc sống, khó khăn trong công tác quản lý Lập luận được đưa ra trong quan điểm phản đối này xuất phát từ các lý do như: quan hệ hôn nhân giữa những người đồng tính không thể sinh con để duy trì nòi giống; làm tăng quan hệ tình dục đồng giới – một loại quan hệ tình dục được coi là không an toàn; ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của trẻ em; vi phạm các chuẩn mực đạo đức trong xã hội; đi ngược với quy luật tự nhiên, không phù hợp với đa số dân số trong xã hội [15]
Nhóm khác nhìn nhận vấn đề này trên phương diện quyền con người và cho rằng hôn nhân là quyền cơ bản, việc kết hôn giữa hai người cũng giới cũng không ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội và quan hệ gia đình [13] Theo quan điểm của nhóm này, quyền con người của người đồng tính phải được Nhà nước, xã hội và gia đình tôn trọng và bảo đảm thực hiện Cần chấp nhận hôn nhân đồng giới đầy đủ và ngang bằng với hôn nhân của những người khác giới vì đồng tính luyến ái là hiện tượng bẩm sinh, nhu cầu kết hôn của người đồng tính là một nhu cầu tự nhiên giống như những người dị tính (có
xu hướng tính dục khác giới) Việc cấm kết hôn có thể tiếp tục dẫn tới sự kỳ thị, người đồng tính dễ có những suy nghĩ hoặc hành động tiêu cực cho chính bản thân họ, gia đình và xã hội
Nhiều người khác lại có quan điểm trung lập, họ hiểu và không kì thị người đồng tính cũng như mối quan hệ cùng giới và thừa nhận quyền chung
Trang 11sống của hai người cùng giới nhưng để đi đến hôn nhân theo pháp luật thì cần
có quá trình xem xét kĩ
Pháp luật Việt Nam từ chỗ “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” đã chuyển sang “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (Theo khoản 2, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014)
Nhìn nhận hôn nhân cùng giới ở góc độ nhân quyền hay ở giá trị truyền thống là vấn đề vẫn còn đang gây tranh cãi Dù có nhiều quan điểm trái chiều nhưng tất cả đều phản ánh nhận thức của xã hội về hôn nhân cùng giới rất quan trọng Việc người dân suy nghĩ về vấn đề này như thế nào có tác động trực tiếp đến quyền bình đẳng của người đồng tính, chất lượng cuộc sống của
họ Tìm hiểu nhận thức của người dân về hôn nhân cùng giới, những yếu tố tác động tới quan điểm thái độ của người dân về vấn đề này để có thể tìm ra hướng đi công bằng, tiến bộ nhất cho xã hội chính là mục tiêu của đề tài nghiên cứu này
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đánh giá về quan điểm, nhận thức, thái độ của xã hội đối với cộng đồng người đồng tính nói chung và hôn nhân cùng giới nói riêng vẫn là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng đã được quan tâm khá nhiều trên thế giới trong mấy thập kỷ qua Những nghiên cứu này ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận cũng như của các nhà làm chính sách trên thế giới Nhìn chung, hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới là vấn đề còn đang gây tranh cãi với nhiều quan điểm khác nhau
Trên thế giới, hôn nhân cùng giới là vấn đề liên quan nhiều đến quyền công dân và các khía cạnh chính trị, xã hội, đạo đức và tôn giáo Những người ủng hộ hôn nhân đồng giới dựa trên quyền chung của con người và sự bình đẳng trước pháp luật của tất cả các nhóm người Những người phản đối đặt ra
Trang 12vấn đề rằng “hôn nhân” có thực sự bao gồm các cặp cùng giới không? Các lý
do khác được đưa ra là vấn đề con cái, giá trị truyền thống và những tác động trực tiếp và gián tiếp của hôn nhân đồng giới đến cá nhân, gia đình, xã hội
Ấn bản “Same-sex marriage and the constitution” của tác giả Evan
Gerstmann (2008) đề cập đến sự bảo hộ về mặt pháp lý lâu dài đối với quyền kết hôn của các cặp đôi đồng tính ở Mỹ Theo đó, Hiến pháp Mỹ sẽ đảm bảo cho hôn nhân đồng tính của các cặp đôi bởi “độc tôn dị tính” trong hôn nhân
là một lập luận không hợp lý Nhóm đồng tính nam hay đồng tính nữ là những nhóm nên được bảo vệ cao vì họ là nhóm thiểu số, nếu vì khuynh hướng tính dục mà bị kì thị thì đây thực sự là một hình thức trá hình của sự phân biệt giới tính Tác giả cũng đã chỉ ra và phân tích lịch sử các quyền cơ bản để kết hôn
và cho thấy kết hôn là một trong những quyền được công nhận lâu đời nhất Tác giả đã tổng hợp lý do giải thích cho việc loại trừ hôn nhân đồng tính ra khỏi quyền kết hôn, đó là: (1) Việc kết hôn trong một mô hình gia đình truyền thống bao gồm sinh sản và nuôi dạy con cái, (2) Con cái là vấn đề cốt lõi của cuộc hôn nhân, (3) Hôn nhân được định nghĩa trên cơ sở hai giới Mặc dù vẫn
có rất nhiều người có thể không đồng ý với những giá trị của hôn nhân đồng tính và có những phản ứng thô bạo với những tuyên bố của các cặp đồng tính, song điều đó không thay thế được cho lý tưởng tất cả đều bình đẳng trước
pháp luật [22]
Nghiên cứu “Same-sex marriage and negative externalities” của Laura
Langbein và Mark Yost (2009) nhằm mục đích đánh giá xem việc công nhận
về mặt pháp lý hoặc cấm hôn nhân đồng tính có bất kỳ ảnh hưởng xấu nào đến xã hội, đặc biệt là tới các giá trị gia đình truyền thống hay không Sử dụng dữ liệu từ năm 1990-2004 tại các tiểu bang của Hoa Kỳ, nhóm tác giả
đã kiểm định giả thuyết của Hội đồng Nghiên cứu Gia đình rằng hôn nhân đồng tính sẽ có tác động tiêu cực đến tỷ lệ kết hôn, ly hôn, phá thai, tỷ lệ trẻ
Trang 13sinh ra ở các bà mẹ đơn thân và tỷ lệ có con trong các hộ gia đình mà người phụ nữ là chủ hộ Kết quả của kiểm định cho thấy việc cho phép kết hôn đồng giới không có ảnh hưởng bất lợi đáng kể về mặt thống kê Do đó lập luận rằng hôn nhân đồng tính gây ra tác động tiêu cực đối với xã hội là không hoàn toàn hợp lý [23] Tuy nhiên đã có một bài viết của hai tác giả Douglas Allen và Joseph Price phản đối kết luận của nghiên cứu trên, cho rằng những căn cứ mà nghiên cứu này đưa ra là chưa hoàn toàn chính xác và
đủ sức thuyết phục Lập luận phản đối đã chỉ ra những bất cập trong dữ liệu nghiên cứu và cho rằng nghiên cứu về mối quan hệ đồng tính là rất phức tạp, nếu chỉ dựa vào một nghiên cứu thực nghiệm là chưa đủ để đi đến kết luận
Tại Việt Nam, các nghiên cứu, các xuất bản phẩm về người đồng tính nói chung mới được tiến hành và gia tăng mạnh trong khoảng 10 năm trở lại đây với sự tham gia của khá nhiều tổ chức và các cơ quan nghiên cứu.Các quan điểm về kết hôn cùng giới tại Việt Nam khá đa dạng với nhiều mức độ khác nhau Thời gian qua, các khảo sát xã hội học về quan điểm liên quan đến quyền kết hôn của người đồng tính đã được thực hiện khá nhiều dưới nhiều hình thức
Năm 2008, trung tâm phòng chống SHAPC với sự tài trợ của quỹ Ford
đã tiến hành nghiên cứu “Tình dục đồng giới nam ở Việt Nam, sự kì thị và hệ
Trang 14quả xã hội” tại 6 thành phố Hà Nội, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Nha Trang, TP
Hồ Chí Minh và Cần Thơ với mục tiêu nhận diện thực trạng kì thị và hậu quả của sự kì thị đối với nhóm đồng tính nam (ĐTN) Qua phân tích số liệu định tính và định lượng của nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự kì thị với người ĐTN là do gia đình người ĐTN và người dân trong cộng đồng hầu hết thiếu thông tin, kiến thức về tình dục đồng giới nam Chỉ có khoảng 1/3 người được hỏi (bao gồm người dân và cán bộ địa phương) trả lời là có biết mặt hoặc biết tên một người ĐTN nào đó Phần lớn người dân và cán bộ chính quyền ban ngành có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân của tình dục ĐTN dựa trên sự cảm nhận và suy luận thiếu căn cứ của mình Nhìn chung, đa số người dân và cán bộ địa phương coi đồng tính nam là trái với tự nhiên (68%) và gần một nửa coi đó là “bệnh hoạn” (48%)
Có 36% người được hỏi cho rằng tình dục đồng giới là “tệ nạn xã hội” cần xóa bỏ, 27% coi đó là kết quả của sự đua đòi, hư hỏng; khoảng 1/3 người được hỏi tin rằng có thể “lây” ĐTN nếu chơi với họ Song đối với những người có quen biết ai đó là ĐTN thì họ thường thông cảm hơn với nhóm này
và cho ý kiến về nguyên nhân của ĐTN gần với ý kiến của những người ĐTN hơn so với những người chỉ được nghe thông tin mà chưa có dịp tiếp xúc Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự kì thị với người ĐTN là do gia đình và cộng đồng còn có nhiều định kiến về giới và vai trò giới mà sâu xa là từ quan niệm về khuôn mẫu giới với hai hệ thống giá trị trong đó các đặc điểm nam tính nữ tính được đặt ở hai thái cực riêng biệt Quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào trong tư tưởng, mặc định vai trò duy trì nòi giống, nối dõi tông đường cũng như là trụ cột trong gia đình của nam giới Gia đình và cộng đồng nhìn thấy sự tồn tại của tình dục đồng giới nam nhưng lại không chấp nhận nó, coi đó là một điều trái với tự nhiên và trái với thuần phong mỹ tục [18]
Trang 15Năm 2009, Viện Nghiên cứu Kinh tế - Xã hội và Môi trường (ISEE) đã tiến hành một nghiên cứu định tính về 40 cặp đồng tính nữ tại Hà Nội với một mục tiêu khá mở: tìm hiểu về cuộc sống của những cặp nữ yêu nữ, những khó khăn của họ, cách họ đối phó với khó khăn và khả năng tự thu xếp cho cuộc sống Kết quả nghiên cứu cho thấy, một trong những khó khăn đối với nhóm
nữ yêu nữ là sự phản đối từ phía cha mẹ, mà nguyên nhân chính là do cha mẹ nhìn nhận quan hệ yêu đương cùng giới cũng như quan niệm về đồng tính luyến ái một cách tiêu cực Những phụ huynh này quan niệm đồng tính luyến
ái là bệnh, là xấu xa, là trào lưu hoặc ngộ nhận Kể cả khi được cung cấp thông tin và những tài liệu khoa học giải thích đây không phải là bệnh thì họ vẫn khó chấp nhận quan niệm này Có thể thấy quan niệm của cha mẹ về đồng tính luyến ái phần nào phản ánh quan niệm phổ biến trong xã hội về những người đồng tính và quan hệ tình cảm cùng giới hiện nay [7]
Nghiên cứu “Tác động của truyền thông về đồng tính luyến ái trên một
số báo in và báo mạng” (ISEE, 2011) được thực hiện trên cơ sở tập hợp 502
bài báo về người đồng tính và các vấn đề liên quan đăng trên 4 báo in gồm Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Tiền Phong, Công An Nhân dân và 6 báo mạng Đây
là những bài báo được đăng trên các báo vào 3 năm: năm 2004, 2006 và 2 quý đầu năm 2008 Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các cộng đồng đồng tính gồm những ai; các khái niệm liên quan đến xu hướng tình dục bị sử dụng nhầm lẫn; khắc họa chân dung người đồng tính trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là mức độ kỳ thị trong các bài báo Theo đó có khoảng 40% các bài báo đăng trong năm 2004, 2006 và 2008 của 10 tờ báo lớn mang tính kì thị với người đồng tính và khoảng 40% không mang tính kì thị Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân của nhận thức và thái độ xã hội về vấn đề đồng tính có thể nằm ở thông điệp mà các phương tiện truyền
Trang 16thông đại chúng đem lại Những thông điệp mang tính định kiến sẽ tạo ra hay củng cố những nhận thức sai lệch và thái độ kỳ thị [8]
Nghiên cứu “Sống chung cùng giới” do Viện Kinh tế, Xã hội và Môi
trường thực hiện năm 2013 đi sâu tìm hiểu thực trạng mối quan hệ đồng giới
ở Việt Nam, bản chất mối quan hệ chung sống của người đồng giới và nhu cầu hôn nhân của họ Dựa trên những thông tin thu thập được từ phỏng vấn sâu và điều tra trực tuyến trên các diễn đàn dành cho người đồng tính ở Việt Nam, nghiên cứu đã khắc họa một bức tranh về cuộc sống của những cặp đôi cùng giới Theo đó, về nhu cầu của các cặp đôi cùng giới và cộng đồng đồng tính – song tính – chuyển giới nói chung đối với việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới có 66% người trả lời trực tuyến cho biết sẽ lựa chọn hình thức kết hôn với người cùng giới nếu được pháp luật công nhận Có 97,4% người tham gia trả lời mong muốn pháp luật có những hình thức công nhận sự tồn tại và cung cấp bảo hộ đối với quan hệ cùng giới Điều này xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, đó là nhu cầu cuộc sống thực tế của rất nhiều người đồng tính khi họ muốn được chung sống, công khai cặp đôi của mình và được bảo đảm mọi quyền lợi và nghĩa vụ trong hôn nhân Thứ hai, luật hóa hôn nhân đồng giới mang ý nghĩa đem lại sự bình đẳng cho mọi cá nhân trước pháp luật [11]
Tuy nhiên một số kết quả nghiên cứu thực địa lại cho thấy nhìn chung, quan niệm của xã hội về đồng tính cũng như hôn nhân cùng giới vẫn chưa được thay đổi một cách đáng kể
Cuốn sách tổng luận các nghiên cứu “Người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam” của Phạm Quỳnh Phương (2013) nêu lên những
quan niệm khác nhau về hiện tượng đồng tính và nguyên nhân của đồng tính Theo tác giả, thái độ của cộng đồng xã hội với vấn đề này đều tỏ ra khoan dung, không kì thị và phân biệt đối xử Tuy nhiên có nhiều ý kiến tỏ ra quan
Trang 17ngại việc kết hôn của những cặp đồng giới có thể làm nảy sinh một số vấn đề
xã hội Thứ nhất, hôn nhân đồng giới có thể đe dọa thiết chế hôn nhân truyền
thống Một số quan điểm lo ngại về khả năng xuất hiện xu hướng chán ghét hôn nhân dị tính nếu người dân biết đến cộng đồng đồng tính và mong muốn trở thành người đồng tính để tránh những xung đột mâu thuẫn đang diễn ra
trong một số gia đình dị tính khác Thứ hai, hôn nhân đồng giới không đảm
bảo chức năng gia đình Pháp luật về gia đình được xây dựng và thực thi nhằm bảo vệ và duy trì các chức năng cơ bản của gia đình: kết hôn, sinh con
để duy trì nòi giống và bổ sung nguồn nhân lực, cố kết văn hóa và huyết thống Việc chấp nhận nhu cầu tạo dựng gia đình của người đồng tính không
đảm bảo được nguyên tắc này, có thể đe dọa phá vỡ cấu trúc gia đình Thứ ba,
sự phát triển của trẻ em trong các gia đình dị tính có thể bị ảnh hưởng Quan điểm này cho rằng chức năng xã hội hóa trẻ em trong gia đình của các cặp đồng tính không thể ưu việt như các gia đình bố mẹ dị tính bởi nhân cách con cái phụ thuộc vào sự hiện diện của giới nam và nữ trong vai trò là bố là mẹ Thực tế hiện nay, trẻ dễ bị xã hội kì thị khi bố mẹ đẻ hay người nuôi dưỡng chúng là người đồng tính [15]
Tác giả Lê Thi (2004) trong cuốn sách Hỏi đáp về hôn nhân và gia đình
ở Việt Nam đã đưa ra quan điểm phản đối hôn nhân đồng giới Theo tác giả,
hôn nhân là một thể chế xã hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai người thuộc hai giới tính khác nhau (nam và nữ) Pháp luật của Nhà nước, phong tục tập quán truyền thống của người Việt Nam không thừa nhận sự chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới như một
số nước châu Âu bởi đó là sự đe dọa phá vỡ thiết chế và chức năng của gia đình Việt Nam [19,tr.7-8]
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng (2014) trong bài viết Đồng tính luyến ái trong giới trẻ hiện nay cho rằng nên có một cách nhìn nhận cảm thông, khoan
Trang 18dung nhưng không nên có thái độ và hành động mang tính chấp nhận hay khích lệ cho các quan hệ đồng tính luyến ái nói chung và hôn nhân đồng tính nói riêng Theo tác giả, đứng về phương diện luật pháp không thể cho phép hôn nhân đồng tính Hôn nhân đồng tính là bước đi xa hơn rất nhiều so với quan hệ đồng tính Chưa nói tới khía cạnh thuần phong mỹ tục, văn hóa xã hội và truyền thống gia đình Việt Nam, hôn nhân đồng tính là điều khó chấp nhận được vì các khía cạnh luật pháp và hậu quả xã hội mà nó để lại là rất phức tạp [5, tr.78-79]
Báo cáo quốc gia Là người đồng tính, song tính và chuyển giới ở châu
Á (UNDP,USAID 2014) đã chỉ ra rằng quan điểm truyền thống về giới tính
và tính dục trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa Á Đông nói chung vẫn còn nặng nề và bảo thủ Phần lớn cha mẹ của người đồng tính vẫn quan niệm rằng giới tính, hôn nhân gia đình cần phải tuân thủ theo các giá trị truyền thống Vì vậy họ rất khó chấp nhận khi con cái mình có xu hướng tính dục và biểu hiện lệch lạc so với chuẩn mực xã hội, từ đó có những hành động phản đối gay gắt [20, tr.48] Gia đình và xã hội nói chung thường không được tiếp cận với thông tin đúng về cộng đồng người đồng tính-song tính-chuyển giới (LGBT) hoặc tiếp cận những thông tin tiêu cực từ truyền thông giải trí, vì thế họ không hiểu về xu hướng tính dục và bản dạng giới nên khó thể đồng cảm và chấp nhận
Bài viết Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống gia đình của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai
(2013) cho biết, đối với người Công giáo “Hôn nhân là sự kết hợp bất khả tháo gỡ giữa một người nam và một người nữ, là nói đến sự kết hợp chặt chẽ giữa hai người với nhau đã được chính tạo hóa se kết” Đây có thể coi là một chuẩn mực trong hôn nhân đối với những tín đồ Thiên Chúa giáo, họ quan niệm hôn nhân là sự kết hợp giữa chỉ một người nam và một người nữ, “đồng
Trang 19tính luyến ái là sự mù quáng của nhân loại” [12] Quan điểm về tính đơn nhất của hôn nhân, tức là chỉ chấp nhận hôn nhân một vợ một chồng trong cộng
đồng Công giáo cũng được khẳng định trong bài viết Tương đồng và khác biệt giữa hôn nhân của người Công giáo với người ngoài Công giáo ở Việt Nam
của tác giả Đỗ Thị Ngọc Anh (2013) Điều này đã loại bỏ những hình thức sống mới đang xuất hiện trong thời đại ngày nay: gia đình đồng tính luyến ái, gia đình độc thân Người Công giáo xem quan hệ tình dục với người cùng phái là một hành động đi ngược lại với chương trình mà Thiên chúa đã kiến tạo khi dựng nên con người [1]
Năm 2013, Viện Xã hội học, Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Viện Nghiên cứu Xã hội-Kinh tế và Môi trường đã phối hợp thực hiện một cuộc điều tra quốc gia nhằm trưng cầu ý kiến người dân về hôn nhân cùng giới (HNCG) trên địa bàn 68 xã/phường thuộc 8 tỉnh/thành phố Cuộc điều tra phản ánh tổng quát quan điểm xã hội về việc luật hóa HNCG, quyền của cặp đôi cùng giới và tác động xã hội có thể có nếu hình thái hôn nhân này được pháp luật công nhận Kết quả khảo sát cho thấy người dân khá quan tâm đến vấn đề hôn nhân cùng giới và ngày càng có nhiều người dân biết về đồng tính,
về hiện tượng hai người cùng giới sống chung như vợ chồng Nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ quan trọng tại thời điểm nhà nước đang xem xét sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình [6]
Những nghiên cứu, đánh giá xung quanh vấn đề đồng tính và HNCG vừa qua đã phần nào phản ánh những góc nhìn đa chiều trong xã hội về vấn
đề này Dựa trên kết quả Điều tra quốc gia về hôn nhân cùng giới năm 2013
và những nghiên cứu về cộng đồng người đồng tính đã có, trong luận văn này tác giả sẽ đi sâu phân tích, đánh giá quan điểm, nhận thức của người dân về vấn đề hôn nhân cùng giới từ đó có thể cung cấp một số thông tin cần thiết cho quá trình hoạch định chính sách trong tương lai
Trang 203 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức và quan điểm của người dân về hôn nhân cùng giới
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung đánh giá nhận thức, quan điểm của người dân về vấn đề hôn nhân cùng giới dựa trên số liệu nghiên cứu từ cuộc khảo sát Trưng cầu ý kiến người dân về hôn nhân cùng giới năm 2013
Trang 21Khung phân tích nhận thức, quan điểm của người dân về vấn đề hôn nhân cùng giới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng số liệu từ Cuộc điều tra về Quan điểm của người dân đối với hôn nhân cùng giới do Viện Chiến lược và chính sách y tế, Viện
Xã hội học và Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường thực hiện năm
Trang 22xã/phường thuộc 8 tỉnh/thành phố ở cả 3 miền của Việt Nam nhằm tìm hiểu nhận thức, thái độ và quan điểm của người dân về hôn nhân cùng giới trong bối cảnh Quốc hội chuẩn bị bổ sung chỉnh sửa Luật Hôn nhân và Gia đình Bản thân tác giả cũng đã trực tiếp tham gia cuộc nghiên cứu với tư cách là điều tra viên, trực tiếp phỏng vấn lấy ý kiến người dân về các vấn đề trong nội dung nghiên cứu
Cuộc điều tra này nhấn mạnh sự tham gia và tham vấn lấy ý kiến người dân về hôn nhân cùng giới nhằm hiểu rõ hơn quan điểm xã hội về hình thái hôn nhân này và những tác động xã hội có thể có nếu hôn nhân cùng giới được pháp luật thừa nhận
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đề tài chỉ sử dụng các số liệu
từ cuộc điều tra có liên quan đến quan điểm, nhận thức của người dân về người đồng tính, về việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới (bao gồm quan điểm về việc pháp luật nên có những quy định nào về kết hôn cùng giới cũng như nên công nhận những quyền nào cho các cặp đôi cùng giới) và quan điểm
về những tác động của hôn nhân cùng giới lên cá nhân, gia đình và xã hội
Phương pháp phân tích tài liệu
Bên cạnh việc phân tích và xử lý số liệu từ Cuộc điều tra về Quan điểm của người dân đối với hôn nhân cùng giới (sau đây gọi tắt là KSĐG 2013), đề tài cũng tiến hành thu thập, tổng quan và phân tích các tài liệu thứ cấp có liên quan đến người đồng tính và hôn nhân cùng giới
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin thứ cấp thông qua các tài liệu có sẵn Tài liệu trong điều tra xã hội học là vật chứa đựng thông tin bằng ngôn ngữ, chữ viết, hiện vật, hình ảnh
Sở dĩ đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài liệu bởi nó cung cấp cho nhà nghiên cứu nhiều thông tin Đặc biệt, những số liệu có được từ thống kê
Trang 23có độ chính xác cao nên có thể sử dụng nhiều Hơn nữa, sử dụng tài liệu có sẵn ít tốn kém về công sức, thời gian, kinh phí, không cần nhiều người
Đây là một phương pháp quan trọng của đề tài nhằm phân tích các tài liệu có sẵn làm căn cứ bổ sung, minh họa và làm rõ thêm kết quả nghiên cứu Các tài liệu có sẵn là các ấn phẩm đã xuất bản, các công trình nghiên cứu đã công bố và các bài báo có liên quan đến chủ đề của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc vận dụng một số khái
niệm, lý thuyết như: khái niệm đồng tính, khái niệm hôn nhân cùng giới, khái niệm xu hướng tính dục; lý thuyết xã hội hóa vai trò giới, lý thuyết kì thị xã
hội để tìm hiểu quan điểm, nhận thức của người dân về vấn đề hôn nhân cùng giới như: nhận thức về đồng tính, hôn nhân cùng giới; quan điểm về hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới; quan điểm về tác động của hôn nhân cùng giới đến
cá nhân, gia đình, xã hội Qua đó, phần nào làm sáng tỏ hơn những lý thuyết
đã được vận dụng
Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên kết quả điều tra Quốc gia về Quan điểm người dân đối với hôn nhân cùng giới, nghiên cứu đã phân tích sâu và làm rõ nhận thức của người dân về vấn đề đồng tính và hôn nhân cùng giới hiện nay Trong bối cảnh hôn nhân cùng giới ở nước ta chưa được pháp luật thừa nhận, kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp một cái nhìn tổng quan về thực trạng nhận thức của người dân về vấn đề này, từ đó là căn cứ để xây dựng nhận thức công bằng, phù hợp về vấn đề hôn nhân cùng giới trong cộng đồng xã hội, góp phần trong việc định hướng nghiên cứu tiếp theo về hôn nhân cùng giới
và làm cơ sở chocác nhà hoạch định chính sách
Trang 247 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 2 chương tương ứng với 2 nội dung chính
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI
1.1 Một số khái niệm làm việc
1.2 Lý thuyết và hướng tiếp cận
1.3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu và các quan điểm chính sách
Chương 2: NHẬN THỨC VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI DÂN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI
2.1 Thông tin chung về mẫu nghiên cứu
2.2 Nhận thức về người đồng tính và hôn nhân cùng giới
2.3 Quan điểm của người dân về những tác động của hôn nhân cùng giới 2.4 Quan điểm của người dân về việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới
Trang 25Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Theo Từ điển Triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền với thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân
lý khách quan
Theo cuốn Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học: “Nhận thức là
toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển họa, được mã hóa, được lưu giữ và sử dụng”
Tóm lại, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người.Nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau.Cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội
Xu hướng tính dục:
Xu hướng tính dục là một trong bốn yếu tố tạo nên tính dục người: giới sinh học (cấu trúc gen học, ngoại hình, tuyến nội tiết), bản sắc giới (cảm nhận mình thuộc giới nam hay nữ), vai trò xã hội của giới (có hành vi cư xử theo
Trang 26kiểu nam hay nữ - giới tính nam hay giới tính nữ về mặt tâm lý và xã hội), xu hướng tính dục Đây là khái niệm dùng để chỉ sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới, khác giới hay đối với cả hai Thực tế hiện nay có năm xu hướng tính dục chính, bao gồm đông đảo nhất là xu hướng tính dục khác giới (dị tính – heterosexual - bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với người khác giới tính), cùng giới (đồng tính – homosexual - bị hấp dẫn với người cùng giới tính), song tính (bisexual – bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam và nữ), xu hướng toàn tính (pansexual – người bị hấp dẫn bởi bất kì giới nào) và xu hướng vô tính (asexual - không bị hấp dẫn tính dục với bất cứ giới nào) [17, tr.13-14] Những người ủng hộ chống phân biệt cho rằng có ranh giới rõ rệt giữa năm xu hướng tính dục này, do liên quan đến gen, không thay đổi được Nhưng cũng có ý kiến cho rằng không có ranh giới rõ rệt giữa năm xu hướng này bởi không chỉ gen mà các yếu tố môi trường cũng góp phần tác động
Đồng tính:
Đồng tính là từ viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (homosexuality),
là một trong năm xu hướng tính dục, chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục, cảm xúc giữa những người cùng giới tính Dưới góc độ khoa học, theo quan điểm của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) đồng tính hoàn toàn không phải là một sự rối loạn tâm sinh lý mà là một hiện tượng sinh học tự nhiên, chịu sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường tử cung trong giai đoạn đầu ở thai nhi [21]
LGBT: Là cụm từ viết tắt của Lesbian (đồng tính nữ), Gay (đồng tính nam), Bisexual (song tính) và Transgender (chuyển giới)
Trang 27Kết hôn: Là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo
quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Khoản 5, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014)
Hôn nhân: là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (Khoản 1, Điều
3, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014)
Hôn nhân cùng giới (Same-sex marriage): là hình thức hôn nhân giữa
hai người có cùng giới tính
Kết đôi có đăng ký (Civil union)
Kết đôi có đăng ký là hình thức kết đôi có đăng ký với Nhà nước, được cấp giấy chứng nhận “có quan hệ gia đình,” “kết đôi có đăng ký”,“kết hợp dân sự” hoặc các tên gọi tương tự khác tùy vào từng quốc gia Chế định này quy định cho những cặp cùng giới một tình trạng, quyền, nghĩa vụ và sự công nhận pháp lý tương đương (có thể có một vài ngoại lệ) Chế định này thường dành riêng cho những cặp cùng giới; nhưng một vài quốc gia cũng cho phép những cặp khác giới đăng ký theo hình thức này
Sống chung không đăng ký
Sống chung không đăng ký là hình thức kết đôi tự nguyện giữa hai người, không đăng ký với Nhà nước Chế định này áp dụng cho cả cặp cùng giới và khác giới, tự động phát sinh khi hai người đã chung sống thực tế với nhau một thời gian theo luật định Hai người chung sống không đăng ký có một số quyền lợi và nghĩa vụ hạn chế liên quan tới tài sản, nhân thân
Chủ nghĩa độc tôn dị tính (Heterosexism):
Là thuật ngữ ra đời từ phong trào vận động quyền của LGBT, được sử dụng lần đầu vào năm 1971 bởi Craig Rodwell – một nhà hoạt động đồng tính người Mỹ Chủ nghĩa độc tôn dị tính là hệ thống những quan điểm để bảo vệ
Trang 28cho tính dục khác giới, bao gồm: quan điểm mặc định mọi người là dị tính; quan điểm cho rằng dị tính là ưu việt hơn, xem những gì ngoài dị tính đều là thấp kém hơn; và tiến tới chối bỏ, tạo sự thiên vị, phân biệt đối xử với những thiểu số tính dục khác Xã hội mà chúng ta đang sống là một “xã hội dị tính”
mà ở đó các quan điểm về tính dục khác giới chiếm ưu thế.[16, tr.71]
1.2 Lý thuyết và hướng tiếp cận
1.2.1 Lý thuyết kỳ thị xã hội
Theo quan điểm của UNAIDS, kỳ thị là một quá trình làm giảm giá trị của một cá nhân hay một nhóm người dưới mắt của những người khác [26] Trong một nền văn hóa hoặc một bối cảnh cụ thể, một số đặc tính nhất định bị coi là lệch khỏi chuẩn mực chung của số đông, do đó đáng xấu hổ hoặc đáng
bị coi thường Kỳ thị có thể dẫn tới phân biệt đối xử khi nó thể hiện thành hành động và đó có thể là bất kỳ một hành vi phân tách, loại bỏ hay hạn chế những cá nhân bị kỳ thị Các kỳ thị thường dựa trên chủng tộc, sắc tộc, văn hóa, địa vị xã hội và kinh tế, giới, xu hướng tính dục, tôn giáo… Những thuộc tính của sự kỳ thị có thể thay đổi theo thời gian và địa điểm Mối quan hệ giữa người bị kì thị với xã hội trở nên quan trọng trong việc xem xét một thái độ
kỳ thị thực ra có nghĩa gì Các kỳ thị thường dựa trên những niềm tin khuôn mẫu rằng các cá nhân có liên quan tới một thuộc tính bị kỳ thị nào đó (chẳng hạn như mối quan hệ đồng tính)
Nhìn chung, kỳ thị là một quá trình liên tục và thể hiện ở các dạng, hình thức khác nhau; từ quan điểm đánh giá, thái độ cho đến hành vi/hành động Link và Phelan (2001) đã nêu ra 5 cấu phần có tương quan chặt chẽ với nhau trong kỳ thị, đó là: sự dán nhãn, định khuôn, phân tách, phân biệt đối xử và quyền lực
Trang 29Dán nhãn là quá trình mọi người trong xã hội gán cho cá nhân hay nhóm người nào đó những đặc điểm riêng Những đặc điểm này có thể là hình dáng, cử chỉ, hành vi hoặc những khả năng/mất khả năng nào đó của họ so với những người khác trong xã hội
Định khuôn là quá trình gắn những đặc điểm riêng, khác biệt của nhóm người bị kỳ thị với những thuộc tính tiêu cực
Sự dán nhãn hay qui kết những đặc điểm, thuộc tính tiêu cực cho cá nhân hoặc nhóm người nào đó đều nhằm để phân biệt “chúng ta” và “họ”, ví
dụ đó là sự phân biệt trong hôn nhân giữa cùng giới và khác giới Sự phân biệt này đi kèm với những ý nghĩa xã hội nhất định mà không phải bất cứ những khác biệt về đặc điểm, thuộc tính nào liên quan đến con người đều có ý nghĩa như vậy
Sự dán nhãn, định khuôn và sự phân loại một nhóm người với những đặc điểm, thuộc tính tiêu cực thường dẫn đến hậu quả hạ thấp vị trí của họ và
từ đó gây ra những bất bình đẳng và giảm các cơ hội trong cuộc sống của những người bị kỳ thị
Các quá trình dán nhãn, định khuôn, phân tách và phân biệt đối xử cùng song hành trong một bối cảnh mất cân bằng về quyền lực [24]
Kỳ thị xã hội có một tác động tiêu cực lớn tới cuộc sống của cá nhân người bị kỳ thị Kỳ thị xã hội có thể gây căng thẳng cho những người bị kỳ thị hoặc gây ra sự tự kỳ thị với chính bản thân họ, gây ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực xã hội, kinh tế và chính trị và do đó hạn chế những cơ hội và lựa chọn của cá nhân cho việc theo đuổi một cuộc sống tốt đẹp Trên thực tế, thái độ kỳ thị góp phần vào việc phân biệt đối xử và định kiến.Những phản ứng xã hội đối với kỳ thị có một tác động tiêu cực lớn tới cá nhân người
bị kỳ thị Sự kỳ thị, phân biệt đối xử xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mà một
Trang 30trong những nguyên nhân quan trọng là hiểu biết về tình dục đồng giới ở Việt Nam còn hạn chế thậm chí là sai lệch Ngoài ra, những chuẩn mực giá trị truyền thống trong gia đình cũng khiến những người đồng tính bị phân biệt đối xử Khuôn mẫu chuẩn mực đó được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, điều đó khiến những người đồng tính trở thành “lệch chuẩn” và trở thành đối tượng bị kỳ thị của xã hội
1.2.2 Lý thuyết xã hội hóa vai trò giới
Theo nhà Xã hội học Mỹ Neil Smelser: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình” [3] Một phần quan trọng của quá trình xã hội hóa là việc học tập cách thể hiện vai trò giới Vì vậy, xã hội hoá vai trò giới là việc các thành viên trong xã hội học các hành vi phù hợp với giới tính của mình Mỗi giới sẽ có vai trò khác nhau, xã hội mong đợi mỗi giới thực hiện các khuôn mẫu hành vi theo quy định của xã hội Những khuôn mẫu này có từ trước khi đứa trẻ ra đời Quá trình xã hội hóa qua các môi trường sẽ giúp trẻ dần xác định được bản sắc giới của mình, thấm nhuần các chuẩn mực và kỳ vọng xã hội tương ứng Trẻ sẽ biết được rằng, mỗi giới sẽ có một “bản sắc” về cách ăn mặc, cử chỉ, phẩm chất và nếu đã thuộc về giới này thì không được có những “bản sắc” của giới kia Người lớn sẽ cung cấp cho trẻ những khuôn mẫu hành vi thích hợp, con trai phải như thế nào? Con gái phải ra sao? Con trai được dạy phải mạnh mẽ, dũng cảm, nam tính, con gái phải nhẹ nhàng, khéo léo… Đồ chơi cho các bé cũng có sự khác nhau, con trai thì chơi súng, ô tô, con gái thì búp
bê, đồ chơi nấu ăn Từ quá trình xã hội hóa qua các môi trường, trẻ nhận ra, hai giới có cách ứng xử khác nhau.“Các nhà chức năng luận cho rằng các bé trai và bé gái học các vai trò giới cùng bản sắc nam và nữ (nam tính, nữ tính)
đi kèm các vai trò đó” [2]
Trang 31Vận dụng lý thuyết xã hội hóa vai trò giới để giải thích việc tại sao hiện nay nhiều người trong xã hội vẫn đang có sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người đồng tính, bởi những khuôn mẫu mang tính định kiến về giới và tình dục đã tồn tại lâu đời trong xã hội và đã được các thành viên trong xã hội
“lĩnh hội” ngay từ khi mới chào đời
1.3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu và các quan điểm chính sách
1.3.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hôn nhân là sự cam kết chung sống giữa những người trưởng thành khác giới được sự phê chuẩn của pháp luật Cho dù có những khác biệt về văn hóa thì hôn nhân vẫn được nhìn nhận như một thể chế xã hội, và như vậy, hôn nhân cũng chịu sự tác động của các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội Lịch sử phát triển xã hội loài người ghi nhận nhiều hình thức hôn nhân khác nhau: hôn nhân nhiều chồng, hôn nhân nhiều vợ, hôn nhân một vợ một chồng… Ngày nay, dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế kéo theo sự biến đổi trong các hình thái hôn nhân gia đình Một số chuẩn mực về hôn nhân đã biến đổi theo chiều hướng cải tạo chuẩn mực cũ cho phù hợp với đời sống xã hội hiện đại
Bên cạnh hình thức hôn nhân truyền thống (nam nữ kết hôn ở tuổi trưởng thành), để hình thành gia đình, các hình thức gia đình khác như gia đình bố mẹ đơn thân, kết hợp dân sự, sống chung có đăng ký, sống chung không đăng ký bắt đầu tăng lên, đặc biệt ở các nước phát triển qua số liệu nhân khẩu học trong suốt 30 năm gần đây Ví dụ ở Nhật, tỷ lệ gia đình bố hoặc mẹ đơn thân có con trong tổng số các gia đình có con tăng từ 4,9% năm
1970 lên 10,2% năm 2008 Tuy nhiên gia đình được tạo dựng bởi các cặp đăng ký kết hôn khác giới vẫn chiếm đa số trong xã hội Ở nhiều nước châu
Âu, khi các cặp sống chung có đăng ký hoặc không đăng ký có con, họ có xu
Trang 32hướng chuyển sang hình thức gia đình đăng ký kết hôn, ví dụ ở Thụy Điển 70% các cặp đang sống chung (có đăng ký hoặc không) chuyển sang đăng ký kết hôn trong vòng 5 năm đầu sau khi có con [13]
Hình thức kết hợp dân sự giữa các cặp đồng tính lần đầu tiên được công nhận ở Đan Mạch năm 1989 Trong khi hôn nhân đồng giới được công nhận lần đầu tiên trên thế giới sau đó 12 năm, vào năm 2001 tại Hà Lan Theo số liệu thống kê chính thức, đến cuối năm 2009 có khoảng 100.000 cặp đồng tính đăng ký kết hôn trên toàn thế giới Tại các nước châu Âu, số đăng ký kết hôn đồng giới chiếm khoảng 2-3% và ổn định trong tổng số đăng ký kết hôn gần 10 năm qua [13]
Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh một điều rằng, hôn nhân đồng giới không phải được các nước trên thừa nhận ngay từ đầu và thừa nhận một cách
dễ dàng, bởi ngay cả các quyền của công dân nói chung không phải bao giờ cũng được pháp luật các nước ghi nhận ngay một thời điểm mà có sự phát triển nhất định qua từng thời kỳ Ở một số quốc gia đã phải trải qua một quá trình tranh luận lâu dài giữa các đảng phái để đi đến thống nhất cho phép người đồng tính được kết hôn, nhận con nuôi, thừa kế Việc thừa nhận các quyền của người đồng tính, trong đó có quyền được kết hôn phải đi theo một quá trình, ví dụ như đối với quyền kết hôn thì trước hết họ công nhận hình thức kết hợp dân sự (không đăng ký, có đăng ký) rồi mới tiến đến xem xét cho phép kết hôn
Tại Việt Nam, kết hôn cùng giới được coi là một hiện tượng mới trong đời sống, khác với những chuẩn mực hiện có trong xã hội Mặc dù không được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế có những người đồng tính đang chung sống với nhau như một gia đình Ở đây khi nói đến hôn nhân đồng giới
là nói đến mối quan hệ sống chung dựa trên tình yêu và tình dục, chứ không phải là sống chung như bạn bè Nghiên cứu và khảo sát của một số cơ quan,
Trang 33tổ chức thời gian gần đây về thực trạng hôn nhân đồng giới ở nước ta xung quanh các vấn đề như: tỷ lệ những người đồng tính hiện đang có mối quan hệ sống chung với một người cùng giới; mức độ sống chung và chia sẻ của các mối quan hệ này; khó khăn gặp phải của mối quan hệ này và nhu cầu, mong muốn từ luật pháp liên quan đến thực trạng cuộc sống chung; bản chất mối quan hệ chung sống… đã phần nào phản ánh hiện tượng hôn nhân đồng giới ở Việt Nam cũng như chỉ ra nhu cầu nghiên cứu, cân nhắc sửa đổi các quy định pháp luật có liên quan cho phù hợp với thực tiễn xã hội
Quá trình phát triển luật pháp về hôn nhân gia đình ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua có một số thay đổi liên quan đến giới tính khi kết hôn Luật Hôn nhân gia đình 1959 chỉ quy định con trai, con gái được quyền kết hôn, không nói đến quyền kết hôn của người đồng tính với nhau và cũng không có quy định cấm người đồng tính kết hôn với nhau Luật hôn nhân và gia đình
1986 cũng chỉ quy định quyền kết hôn của nam và nữ mà không có sự thừa nhận hay cấm kết hôn của người đồng tính với nhau Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có nêu rõ: “kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”,
và có quy định về việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính tại Khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bỏ quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, nhưng vẫn chưa thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới Như vậy, tại Việt Nam hiện nay, những người đồng tính có thể tổ chức lễ cưới và chung sống, nhưng không được đăng ký kết hôn và sẽ không được pháp luật coi là vợ chồng khi có tranh chấp xảy ra
Ngoài ra, theo nhiều kết quả nghiên cứu trong nước thì vấn đề kì thị với người đồng tính vẫn còn phổ biến Hầu hết người dân Việt Nam vẫn hiểu rằng khái niệm kết hôn là sự kết hợp giữa nam và nữ để duy trì nòi giống, còn gia
Trang 34đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa
họ với nhau Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, song một trong những nguyên nhân quan trọng là hiểu biết về xu hướng tính dục đồng tính ở Việt Nam còn hạn chế, thậm chí là sai lệch
Theo kết quả khảo sát đề tài cấp Bộ “Hệ giá trị gia đình Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học” do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện năm
2014 tại tỉnh Thái Bình có 11,6% người trả lời có quan điểm đồng tình về hôn nhân đồng giới Điều đó cho thấy một nhóm người trong xã hội hiện nay đang dần thích ứng với các chuẩn mực mới về hôn nhân
1.3.2 Hôn nhân cùng giới và các quan điểm đa chiều
Từ giữa thế kỉ XX, đồng tính dần không còn bị xem là một căn bệnh và phạm pháp ở hầu hết các nước phát triển Trên bình diện quốc tế, pháp luật quốc tế đã có những văn bản có tính chất làm nền tảng cho việc xây dựng quyền của người đồng tính Một số văn bản quốc tế liên quan đến người đồng tính đó là: Hiến chương liên hợp quốc, Những nguyên tắc Yogyakarta, bộ luật nhân quyền do Liên hợp quốc soạn thảo bao gồm Tuyên ngôn nhân quyền(được thông qua năm 1948) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị (năm 1966) với hai nghị định thư đính kèm và công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội vàvăn hóa Hai công ước chính đã được nhiều nước tham gia và có hiệu lực kể từ năm 1976; Công ước Cedaw (năm 1979) đo Đại hội đồng liên hợp quốc phê chuẩn) và Việt Nam tham gia ngày 29/7/1980, được phê chuẩn ngày 27/11/1981; Nghị quyết chống lại việc phân biệt đối xử
và bạo lực đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Nghị quyết này được Việt Nam bỏ phiếu thông qua ngày 26/9/2014)
Trang 35Tháng 6 năm 2011, Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết khẳng định: "mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tính dục như thế nào" Ngày 7 tháng 3 năm 2012, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-Moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với những người đồng tính, song tính và chuyển giới Đây là một thông điệp rõ ràng và đầy tính ủng hộ đối với vấn đề LGBT, và Liên hợp quốc gần đây liên tiếp có những động thái để giải quyết vấn đề kỳ thị phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới
Để giải quyết những vấn đề về quyền cho người đồng tính, ngày 26 tháng 3 năm 2007, một nhóm chuyên gia nhân quyền đưa ra bộ Yogyakarta Principles (Nguyên tắc Yogyakarta) để áp dụng Luật Nhân quyền cho những vấn đề có liên quan đến khuynh hướng/xu hướng tính dục (sexual orientation) và bản dạng giới (gender identity) Nguyên tắc Yogykarta bao gồm 29 nguyên tắc xác định nghĩa vụ của các quốc gia là phải tôn trọng, bảo
vệ và thực hiện nhân quyền của tất cả mọi người bất kể khuynh hướng tình dục hoặc giới tính của họ Trong đó nguyên tắc số 24 khẳng định: Mọi người đều có quyền được lập gia đình, bất kể khuynh hướng tính dục và bản dạng giới của họ Gia đình tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau.Không có gia đình nào phải chịu sự đối xử trên cơ sở khuynh hướng tính dục và bản dạng giới của bất kỳ thành viên nào trong gia đình đó
Tại Việt Nam, khi xem xét hệ thống pháp luật cho thấy về cơ bản cộng đồng LGBT Việt Nam không phải chịu những quy định hà khắc, phân biệt đối
xử như nhiều quốc gia trên thế giới và được hưởng hầu hết các quyền như người dị tính Pháp luật Việt Nam không có những quy định cấm hiện tượng đồng tính/song tính, bỏ tù/tử hình người đồng tính/quan hệ đồng tính như pháp luật một số nước khác trên thế giới
Trang 36Cụ thể, Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 của Việt Nam chỉ quy định con trai, con gái được quyền kết hôn, không nói đến quyền kết hôn của người đồng tính với nhau và cũng không có quy định cấm người đồng tính kết hôn với nhau Luật hôn nhân và gia đình 1986 cũng chỉ quy định quyền kết hôn của nam và nữ mà không có sự thừa nhận hay cấm kết hôn của người đồng tính với nhau
Tại điều 5 Bộ luật dân sự năm 2005 ghi nhận “Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau” Điều này có nghĩa là trong
quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng không phân biệt xu hướng tính dục Nhiều luật khác cũng nhắc đến nguyên tắc không phân biệt đối xử này Luật
Bình đẳng giới 2006 định nghĩa “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” (Điều 5, Khoản 5) Cũng trong luật này định nghĩa “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” (Điều
5, Khoản 1), vì vậy có thể coi xu hướng tính dục và bản dạng giới cũng là những đặc điểm của giới
Ngoài ra còn những quyền khác cũng được ghi nhận trong Bộ luật dân
sự như: Điều 37 quy định quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Điều 38 quy định quyền bí mật đời tư Đặc biệt, ngày 24/11/2015 Quốc hội đã chính thức thông qua Bộ luật dân sự (sửa đổi) trong đó có điều luật công nhận quyền xác định lại giới tính Cụ thể tại Điều 36 - Bộ luật dân sự (sửa đổi) quy
định: “Cá nhân có quyền xác định lại giới tính; Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học
Trang 37nhằm xác định rõ giới tính; Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật; Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan” Việc thông qua luật Dân
sự được coi là bước tiến quan trọng của quốc hội trong việc thay đổi tư duy, theo sát với sự phát triển của xã hội Đồng thời, điều đó cũng thể hiện sự quan tâm sát sao của Nhà nước với mọi giai tầng trong xã hội, thể hiện tinh thần của Hiến pháp 2013, tôn trọng quyền con người
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010) có quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính Tuy nhiên, vớiLuật Hôn nhân và Gia đình 2014, Quốc hội đã bỏ điều cấm này và thay bằng điều
8, khoản 2 là hôn nhân giữa những người cùng giới tính không được nhà nước thừa nhận Không thừa nhận có nghĩa rằng pháp luật không cho phép người đồng giới đăng kí kết hôn tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay được
Trang 38coi như vợ-chồng với các quyền và nghĩa vụ tương ứng Đây là kết quả của quá trình vận động và thảo luận xã hội trong suốt những năm qua, dẫn đến việc các nhà làm luật đã nhìn nhận tích cực hơn về quyền kết hôn, bình đẳng của người đồng tính và các cặp đôi cùng giới
Ở Việt Nam hiện nay, theo số liệu ước tính của iSEE có khoảng 1,65 triệu người đồng tính trong độ tuổi từ 15-59, chiếm từ 3-5% dân số Tuy nhiên cho đến nay Luật Hôn nhân gia đình 2014 đã được quốc hội thông qua
và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2015 hiện vẫn không thừa nhận hôn nhân đồng tính, và cũng không có quy định của pháp luật để giải quyết các vấn đề pháp
lý phát sinh giữa việc sống chung giữa những người cùng giới tính
Hầu hết quan điểm của người dân Việt Nam vẫn hiểu rằng khái niệm kết hôn là sự kết hợp giữa nam và nữ để duy trì nòi giống, còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau
Và họ đặt ra các câu hỏi rằng liệu hôn nhân cùng giới có làm suy thoái đạo đức, thay đổi chuẩn mực truyền thống hay không Hôn nhân cùng giới liệu có làm suy thoái nòi giống, đi ngược lại giá trị của cuộc sống hay không
Đối với cộng đồng xã hội, quan điểm đồng tình ủng hộ việc cho phép người đồng tính được kết hôn cho rằng: xã hội Việt Nam đã và đang biến đổi không ngừng với muôn vàn sự đa dạng, trong đó những giá trị văn hóa cũng biến đổi theo tự nhiên, quan điểm về thuần phong mỹ tục cũng đã có sự thay đổi về nội hàm Vì vậy, trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, đến giai đoạn hiện nay chúng ta nên chấp nhận sự đa dạng của các kiểu loại gia đình thay cho hình ảnh nhất thể hóa về kiểu, loại, cấu trúc của gia đình truyền thống Lập luận của những người theo quan điểm ủng hộ cho rằng điều đó thể hiện sự bình đẳng giới “Tình yêu không phân biệt giới tính, tại sao điều tốt lại không được thừa nhận? ” Trong khi các quan ngại xã hội chỉ chú trọng
Trang 39tập trung xem liệu cho phép người đồng giới kết hôn có mang lại điều gì ảnh hưởng cho xã hội không thì trên thực tế việc không chấp nhận đã gây nên những tác hại xấu Bởi vì do áp lực gia đình, xã hội nên nhiều người đồng tính phải kết hôn với người khác giới nhưng sự bền vững của hôn nhân không có đưa đến nhiều hệ lụy cho mọi thành viên trong gia đình hình thức đó
Theo phân tích của Phạm Quỳnh Phương (2013) “Hôn nhân đồng giới không ảnh hưởng đến phát triển dân số và không ảnh hưởng xấu đến trật tự chung của công đồng, ngược lại còn mang lại lợi ích về sức khỏe cộng đồng, bình đẳng giới và hòa hợp xã hội, sửa đổi luật theo hướng thừa nhận sẽ bảo đảm quyền có tài sản chung, quyền có con, quyền xin con nuôi, quyền thừa kế
và các quyền khác mà pháp luật đang bảo đảm cho quan hệ hôn nhân khác giới chứ không dừng lại ở việc giải quyết hậu quả pháp lý khi hai người đồng giới sống chung…” [15] Việc không thừa nhận sống chung đồng giới dẫn đến một số hệ lụy, từ đó phát sinh các tranh chấp về nhân thân, tài sản, con cái (nhận con nuôi), các quyền thừa kế, quyền giám hộ, quyền đại diện của người đồng tính với nhau sau khi họ chung sống cũng không có cơ chế pháp
lý bảo vệ chohọ
Quan điểm không ủng hộ việc thừa nhận hôn nhân đồng tính lại cho rằng: “…Việc kết hôn của người đồng tính không chỉ chi phối cuộc sống của người đồng tính mà còn tác động ảnh hưởng đến người khác có liên quan Chính vì vậy pháp luật chỉ nên thừa nhận quyền sống chung của họ… khi chưa có cơ sở để hiểu thấu đáo về quan hệ tình dục của người đồng tính
để phân biệt đâu là đồng tính thật đâu là đồng tính giả thì chưa nên thừa nhận quan hệ hôn nhân”,“…việc quan hệ tình dục, sống chung với nhau là quyền của người đồng tính, pháp luật không cấm nhưng cho phép kết hôn thì phải cân nhắc Học tập quốc tế là một chuyện nhưng Việt Nam còn có phong tục tập quán riêng… không cho đăng ký kết hôn nhưng người đồng
Trang 40Khác với quan điểm ủng hộ của Bộ Y tế và Viện Nghiên cứu Thanh niên, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Hội LHPN Việt Nam phản đối việc công nhận hôn nhân bình đẳng cho người đồng tính Lý do mà hai cơ quan này đưa ra làsố lượng người đồng tính chưa được xác định rõ ràng, mục đích của hôn nhân và gia đình ngoài việc thỏa mãn nhu cầu cá nhân còn đảm bảo thực hiện năm chức năng của gia đình, do vậy điều này không phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống của người Việt Nam cũng như mục đích của việc kết hôn [16, tr 216-217]
Ngoài hai quan điểm ủng hộ và phản đối hôn nhân cùng giới, một số cơ quan trung ương và địa phương khác có quan điểm “thỏa hiệp” trong việc bảo
vệ quyền của người đồng tính (trong số này có Viện khoa học kiểm sát, UBND tỉnh Bến Tre, Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa) [16] Các cơ quan này đều