luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài,…và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý về giải quyết n
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng từ thực tiễn trong công tác, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Phạm Thùy Linh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN 8
1.1 Lao động thanh niên 8
1.2 Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên……… 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên…… 26
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2013-2015……….29
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên thành phố Hà Nội……… 29
2.2 Tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề tại thành phố Hà Nội 36
2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại thành phố Hà Nội ……… 46
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TỪ 2016-2020 55
3.1 Mục tiêu và phương hướng đào tạo nghề cho thanh niên thành phố 55
3.2 Các giải pháp thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên thành phố Hà Nội từ năm 2016 - 2020 59
3.3 Một số kiến nghị 69
KẾT LUẬN……… 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 73
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
1 Bảng 2.1 Thanh niên trong cơ cấu ngành nghề 32
2 Bảng 2.2 Thực trạng về tổ chức tập huấn cho cán bộ
đoàn về triển khai chính sách tại Thành Đoàn giai đoạn 2013-2015
40
3 Bảng 2.3 Thực trạng về truyền thông chính sách đào
tạo nghề cho thanh niên tại Thành Đoàn giai đoạn 2013-2015
5 Bảng 2.5 Thực trạng về việc làm của thanh niên
Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 - 2015 44
6 Bảng 2.6 Thực trạng học nghề của Thanh niên Hà
*
1 Sơ đồ 1.1 Mô hình hình thành tiềm năng lao động cá
2 Sơ đồ 1.2 Mô hình về trình độ nghề nghiệp của lao
3 Sơ đồ 2.1 Các giai đoạn của quá trình tổ chức thực thi
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên 36
4 Sơ đồ 2.2 Bộ máy tổ chức thực hiện chính sách đào
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên là lực lượng tiên phong trong phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đồng thời cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự đổi mới kinh tế đất nước Thị trường việc làm tạo môi trường cho thanh niên tham gia một cách chủ động vào các lĩnh vực kinh tế- xã hội, cống hiến tài năng và sức trẻ cho phát triển kinh
tế - xã hội Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên còn tương đối cao gấp hai đến ba lần so với nhóm dân số lớn tuổi hơn, nhất là thanh niên ở nông thôn và những vùng khó khăn
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Thiếu việc làm, không có việc làm, không biết nghề hoặc việc làm với năng suất và thu nhập thấp sẽ không thể giúp thanh niên bảo đảm cuộc sống và phát triển bền vững
Đối với thanh niên, việc làm liên quan đến yếu tố tư liệu lao động, công cụ lao động, kỹ năng nghề và vốn sản xuất Các yếu tố trên kết hợp thành một chỉnh thể tác động mạnh đến đời sống của thanh niên Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động này, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, đáp ứng nguyện vọng về học nghề và việc làm của thanh niên, gia đình và toàn xã hội
Những năm qua, công tác đào tạo nghề, phát triển thị trường lao động đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng Trong những năm gần đây, dạy nghề đã phục hồi và có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Các cơ chế, chính sách về đào tạo lao động, việc làm được chú trọng, phù hợp với cơ chế thị trường và từng bước hội nhập với thị trường lao động quốc tế
Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về đào tạo lao động, việc làm được bổ sung
Trang 8luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài,…và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý về giải quyết nhu cầu học nghề cho thanh niên; đồng thời chú trọng xây dựng và ban hành chính sách ưu tiên dạy nghề cho nhóm người yếu thế như: người dân tộc thiểu số, người nghèo, người tàn tật và chính sách ưu tiên dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ, cho lao động thuộc vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất và dạy nghề cho lao động nông thôn (Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020, Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh sinh viên, Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 - 2015…)
Bên cạnh đó, các điều kiện đảm bảo chất lượng cũng được cải thiện vì vậy chất lượng và hiệu quả dạy nghề có bước chuyển biến tích cực, đào tạo nghề
đã gắn với sử dụng lao động, kỹ năng nghề của học sinh tốt nghiệp các cơ sở dạy nghề đã được nâng lên Theo đánh giá của các doanh nghiệp, 80% - 85% số lao động qua đào tạo nghề được sử dụng đúng trình độ đào tạo; 30% có kỹ năng nghề từ khá trở lên Ở một số nghề (nghề hàn, nghề dịch vụ nhà hàng, nấu ăn, thủy thủ tầu biển, thuyền trưởng, và một số nghề thuộc lĩnh vực viễn thông…),
kỹ năng nghề của lao động Việt Nam đã đạt chuẩn quốc tế Lao động qua đào tạo nghề tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và đã đảm nhận được các vị trí công việc phức tạp mà trước đây phải do chuyên gia nước ngoài thực hiện; khoảng 70% học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cơ sở dạy nghề tỷ lệ này đạt trên 90% Tại các Hội thi tay nghề thế giới, thi tay nghề ASEAN đoàn thí sinh Việt Nam đều có kết quả
Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, chính trị- xã hội của cả nước Hàng năm, thanh niên ở độ tuổi lao động đổ về Hà Nội ngày một gia tăng, gây sức ép lớn về giải quyết vấn đề việc làm Thực tế cho thấy, số lượng thanh niên tại Hà
Trang 9Nội chiếm tỉ lệ rất cao nhưng trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng làm việc còn thấp Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại Hà Nội đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên so với nhu cầu thực tế hiện nay, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, cơ cấu ngành đào tạo chưa thật sự phù hợp với thị trường lao động, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nên nhiều thanh niên được đào tạo nghề nhưng vẫn khó tìm được việc làm; trình độ chuyên môn của thanh niên chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng do đó phải làm công việc không phù hợp với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo Bên cạnh đó, sức ép về nghề nghiệp tại Hà Nội thu hút một bộ phận lớn thanh niên chưa hiểu đúng và lựa chọn nghề phù hợp với khả năng và điều kiện của mình, tỷ lệ thiếu việc làm, thất nghiệp trong thanh niên khá cao…
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên thành phố Hà Nội” để nghiên cứu, đánh giá kết quả của việc thực hiện những chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên hiện nay, từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho thanh niên thành phố Hà Nội, giúp họ đảm bảo chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên không phải là một vấn đề mới mẻ
mà cũng nhắc đến nhiều đề tài nghiên cứu, đăc biệt là trong những năm gần đây việc đô thị hoá trên cả nước ngày càng mở rộng
Hiện nay, chất lượng đào tạo nghề cho thanh niên, mặc dù đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề
và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm Kỹ năng nghề, năng lực nghề nghiệp của lao động trẻ Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực Tiếp đến, cơ cấu đào tạo theo cấp trình độ và nghề đào tạo chưa hợp lý, chưa gắn bó hữu cơ với nhu cầu nhân lực của từng ngành, từng địa phương; chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho sản xuất và thị trường lao
Trang 10động, dạy nghề cho thanh niên nông thôn để chuyển dịch sang khu vực công
nghiệp và dịch vụ còn chậm…
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
- Hoàng Thu Thuỷ, “Tình hình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Khoa học& Công nghệ Tác giả tập trung vào phân tích những kết quả đã đạt được trong công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm của Tỉnh Hà Giang khi bước thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bên cạnh chỉ ra một số hạn chế để rút ra những bài học kinh nghiệm hữu dụng
- Phan Thị Thúy Linh (2011), “Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng” Tác giả đã làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của công tác đào tạo nghề và tạo việc làm, phân tích thực trạng đào tạo nghề và công tác tạo việc làm cho thanh niên ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua, đề xuất giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên ở thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn đến 2020
- Phan Nguyễn Thái- Nguyễn Văn Buồm, “Vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên hiện nay” Tác giả đã khái quát về tình hình lao động, nghề nghiệp của thanh niên hiện nay, đưa ra những vấn đề về việc làm của thanh niên và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên,
- Đặng Cảnh Khanh, Phạm Bằng, “Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện nay”, Viện Nghiên cứu Thanh niên Tác giả đưa ra những nhận định về thanh niên trong cơ cấu lao động, việc làm hiện nay;
Về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên; Đánh giá của thanh niên về hiệu quả của việc nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên và cuối cùng là đánh giá về hiệu quả việc nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên
Trang 11Tuy nhiên, các đề tài, bài viết trên mới chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu về đào tạo nghề và những lý luận liên quan, chưa có đề tài nào đi sâu vào việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại Hà Nội để đánh giá lại việc triển khai chính sách đã đạt được những kết quả như thế nào, còn tồn tại gì cần khắc phục Hiện nay, vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên
là rất quan trọng, quyết định tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình, đề tài luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong những năm tiếp theo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm, quan niệm về việc làm và những nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm, luận văn phân tích thực trạng chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên, chỉ ra những cơ hội, thách thức nghề nghiệp của thanh niên trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu đem lại hiệu quả cao nhất cho công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Góp phần hệ thống cơ sở lý luận về chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại địa bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn vừa qua
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên Thành phố Hà Nội trong những năm tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Trang 12Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên thành phố
Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh
niên thành phố Hà Nội, cụ thể là Đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 – 2015” tại thành phố Hà Nội
- Về thời gian: + Dữ liệu được thu thập từ 2013-2015
+ Giải pháp đề xuất thực hiện đến hết năm 2020
- Về không gian: Thành phố Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật về lịch sử
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước; các Nghị quyết, chủ trương của Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội, Huyện ủy về việc làm cho người lao động nói chung, lao động trẻ nói riêng của huyện, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, thu thập thông tin
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng chủ trương, chính sách; hoạch định các chương trình,
dự án, quản lý, chỉ đạo giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, lao động là thanh niên nói riêng ở Thành phố Hà Nội Đồng thời cũng có thể sử dụng làm liệu tham khảo đối với các địa phương khác trong hoạt động thực tiễn; dùng làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy khoa học kinh tế trong các ngành, trường chuyên kinh tế và quản trị kinh doanh
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Trang 13Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
TP Hà Nội
Chương 3 Một số giải pháp thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên giai đoạn 2016 - 2020
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO THANH NIÊN 1.1 Lao động thanh niên
1.1.1 Lao động thanh niên
Trong lao động sản xuất và trong cuộc sồng thường ngày, con người luôn
có nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, thụ hưởng phúc lợi vật chất, tinh thần ngày càng cao mà xã hội có thể mang lại cho họ Mức độ thỏa mãn các nhu cầu trên của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đồng thời là tiêu chí để phân chia địa vị xã hội trong những cộng đồng dân cư thành giới thượng lưu, tầng lớp trung lưu, bình dân, và những người nghèo khổ Dưới góc độ kinh tế học và xã hội học, những người lao động trẻ (thanh niên) là những người có sức khỏe, nhiệt tình, năng động sáng tạo và thường có hiệu suất lao động và thu nhập bình quân thường cao hơn hơn mức trung bình ở từng địa phương và ở vào một thời điểm nhất định Nhưng người lao động trong độ tuổi thanh niên thường được xếp vào nhóm những người lao động ít kinh nghiệm, dễ mất việc khi có những biến đổi về kinh tế, chính trị và
xã hội Vì vậy, họ thường được xã hội, chính quyền nhà nước quan tâm trợ giúp về nhiều mặt, trong đó vấn đề việc làm và thu nhập được ưu tiên hàng đầu
Để có chủ trương, chính sách, phương thức giải quyết việc làm cho thanh niên một cách hiệu quả và bền vững, người ta thường phân chia:
Lao động trẻ được đào tạo chuyên môn ngành nghề muốn có việc làm (sinh
viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp) nhưng chưa tìm được việc làm hoặc
có nhưng không ổn định hoặc không phù hợp với chuyên môn được đào tạo
Lao động trẻ không được đào tạo chuyên môn ngành nghề đồng thời cũng không muốn làm việc (thanh niên vùng nông thôn đang đô thị hóa; học sinh, sinh
viên không tốt nghiệp)
Nhiều người lao động (trong đó có cả những người lao động trẻ) cảm nhận
về việc làm bằng một tư duy rất đơn giản nhưng trực diện hơn: có việc làm để có thu nhập, để đảm bảo cuộc sống cho cá nhân và gia đình
Trang 15Từ một số luận giải về các đối tượng lao động trẻ khác nhau, có thể quan niệm, người lao động trẻ là những người trong độ tuổi thanh niên (16 – 35) có khả năng lao động; có hoặc không có việc làm, nhưng luôn mong muốn có việc làm ổn định với mức thu hập tương xứng Người lao động trẻ là những người rất cần những điều kiện vật chất, tinh thần để duy trì việc học tập, công tác, lao động một cách bình thường Thông thường người lao động trẻ là là lực lượng lao động ưu tú, chất lượng cao của một quốc gia, một vùng miền hoặc một ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân
Thanh niên là lực lượng đông đảo với cơ cấu được xem xét theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Tiêu chí về đào tạo nghề: được đào tạo nghề và chưa được đào tạo nghề + Nhóm được đào tạo nghề: Phần lớn là đối tượng thanh niên sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động
+ Nhóm chưa được đào tạo nghề: đối tượng thanh niên sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông không có điều kiện học lên
- Tiêu chí theo việc làm: có việc làm đầy đủ, thiếu việc làm và thất nghiệp
- Tiêu chí theo địa bàn hoạt động: thanh niên đô thị và thanh niên nông thôn Thanh niên là lực lượng lao động trẻ có tiềm năng rất lớn Tiềm năng lao động thanh niên thể hiện ở thể chất, trí tuệ và tinh thần của từng cá nhân thanh niên Tiềm năng đó phụ thuộc vào các yếu tố bên trong và bên ngoài rất đa dạng,
tác động qua lại đan xen nhau, có thể mô tả bằng sơ đồ 1.1 sau:
Trang 16TIỀM NĂNG LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
- Giới tính
- Lứa tuổi
- Điều kiện ăn ở
- Điều kiện làm việc
- Khí hậu, thời tiết
- Điều kiện giải trí
Sơ đồ 1.1: Mô hình hình thành tiềm năng lao động cá nhân
của thanh niên
Nguồn: Tác giả
Yếu tố nghề nghiệp của thanh niên rất quan trọng khi tham gia thị trường lao
động, thậm chí quyết định năng lực cạnh tranh của họ và thông qua đào tạo, tích
lũy kinh nghiệm trong cuộc sống và làm việc Trình độ nghề nghiệp được thể hiện
về mặt hình thức là trình độ đạt được qua đào tạo nghề nghiệp, thâm niên công
tác; về mặt nội dung là trình độ nghề nghiệp thực tế thể hiện ở kiến thức nghề
nghiệp, kỹ năng thực tế, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng thích ứng nghề nghiệp,
công việc để có năng suất, hiệu quả làm việc Yếu tố trình độ nghề nghiệp của
thanh niên thể hiện ở sơ đồ 1.2 sau:
Trang 17Sơ đồ 1.2: Mô hình về trình độ nghề nghiệp của lao động thanh niên
Nguồn: Tác giả
Lao động thanh niên có nhiều tiềm năng, tuy nhiên thanh niên đang trong độ tuổi phát triển, chưa đến độ tuổi của lao động trưởng thành, nên lao động thanh niên có một số hạn chế:
+ Lao động mới tăng thêm phần lớn là ở tuổi thanh niên, nhưng chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề nghiệp;
+ Số lao động thanh niên qua đào tạo, khi tham gia thị trường lao động phải
có khoảng thời gian nhất định để làm quen, thích nghi với công việc và vẫn phải tiếp tục được đào tạo;
+ Kinh nghiệm tích lũy trong thực tế còn hạn chế
1.1.2 Vai trò của lao động thanh niên trong phát triển kinh tế xã hội
Lao động là yếu tố đầu vào của quá trình kinh tế, đóng vai trò hết sức quan trọng trong tăng trưởng Là một bộ phận của nguồn lao động thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn tràn đầy nhiệt huyết, năng động, sáng tạo, là lực lượng xã hội to lớn, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi phải hy sinh, gian khổ, sức khẻo và sáng tạo Xuyên suốt quá trình phát triển của
TRÌNH ĐỘ NGHỀ NGHIỆP
Kiến thức nghề nghiệp
Kỹ năng thực tế, kinh nghiệm làm việc
Kỹ năng thích ứng nghề nghiệp, công việc
Trang 18đất nước, Đảng và Bác Hồ luôn đặt niềm tin lớn lao vào thanh niên, chăm lo, bồi dưỡng thanh niên Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành Trung Ương
Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới đã khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn là thùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên Công tác thanh niên
là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” Như vậy chăm lo, phát triển, thanh niên vừa là mực tiêu, vừa
là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước
Trong mỗi thời kỳ lịch sử, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong đi đầu tham gia giải quyết những nhiệm vụ quan trọng được đất nước và nhân dân giao phó, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai của đất nước, vận mệnh của dân tộc Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và chống ngoại sâm bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng triệu thanh niên lên đường ra chiến trường (với bao tấm gương anh hùng cùng với những tên tuổi như: thanh niên xung phong, thanh niên du kích…) tất cả đều dũng cảm chiến đấu hy sinh tuổi xuân, quên mình
để bảo vệ độc lập tự do hòa bình cho tổ quốc Trong suốt quá trình gần 20 năm đổi mới vừa qua, phát huy vai trò xung kích, không ngại khó khăn, gian khổ, tình nguyện vì cộng đồng, ý chí vươn lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu
Bước vào thời kỳ phát triển mới của đất nước, trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế cộng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, tri thức mới, với trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, ý thức vai trò trách nhiệm đối với dân, với nước ngày càng lớn, các thế hệ thanh niên đã không ngừng nâng tầm nhận thức, nêu cao ý chí tiến thủ, phát huy phẩm chất tôt đẹp và thế mạnh của tuổi trẻ, xung kích, tình nguyện, chủ động, sáng tạo, đảm đương những việc khó, việc mới, không ngại gian nan thử thách để đóng góp vào các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước phát triển kinh tế theo định hướng XHCN Vì vậy có thể khẳng định thanh niên chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là vận mệnh của dân tộc Việt
Trang 19Nam có trở thành một đất nước giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc sánh vai với các cường quốc năm chấu hay không là nhờ vào sứ mệnh cao cả của lực lượng thanh niên
1.2 Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
1.2.1 Khái niệm
a) Chính sách
Chúng ta có thể điểm qua một số quan niệm về chính sách như sau:
Chính sách được hiểu là phương cách, đường lối hoặc phương hướng dẫn dắt hành động trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực
Chính sách là tập hợp các quyết sách của Chính phủ được thể hiện ở hệ thống quy định trong các văn bản pháp quy nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn, điều khiển nền kinh tế hướng tới những mục tiêu nhất định,
bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế
Theo quan điểm phổ biến, chính sách là những phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi, lặp lại Quá trình tổ chức thực thi chính sách là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đề ra
b) Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
- Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy dạy nghề và tạo việc làm cho thanh niên Luật Thanh niên ban hành ngày 29
tháng 11 năm 2005, tại Điều 18 quy định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân giải quyết việc làm cho thanh niên; ưu đãi thuế, tín dụng, đất đai để phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề cho thanh niên; phát triển hệ thống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp thanh niên tiếp cận thị trường” Luật Dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại Điều 7 quy định “…đầu tư mở rộng các cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng dạy nghề góp phần bảo đảm cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ
sở và trung học phổ thông; tạo điều kiện phổ cập nghề cho thanh niên ”
Tại Thông báo số 80/TB-VPCP, ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Văn phòng
Trang 20Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với Ban Bí thư
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giao: “Trung ương Đoàn chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các
bộ, cơ quan và địa phương liên quan xây dựng Đề án về dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt, trong đó lưu ý tập trung vào việc xây dựng trường dạy nghề, củng cố mở rộng, nâng cấp các trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm, tuyên truyền, giới thiệu đưa thanh niên, học sinh đi học nghề, xây dựng chính sách cho thanh niên vay vốn để học nghề, chú trọng dạy nghề đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp, địa bàn nông thôn”
Với những căn cứ pháp lý, chủ trương, chính sách về thanh niên, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, Trung ương Đoàn đã xây dựng và được
Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015”
- Phạm vi, chủ thể, đối tượng của Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc
làm
+ Phạm vi của Đề án tập trung vào các nội dung hỗ trợ thanh niên học nghề, tạo việc làm như: Truyền thông nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề lập nghiệp; tư vấn hỗ trợ thanh niên khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp; xây dựng, nâng cấp các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và giới thiệu việc làm thanh niên; phối hợp hỗ trợ cho thanh niên vay vốn ưu đãi học nghề, tạo việc làm,
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về thực hiện hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm
+ Chủ thể của Đề án là những tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng Đề án, cơ quan có thẩm quyền quyết định Đề án, người chịu trách nhiệm chính đối với thực hiện Đề án, người chịu trách nhiệm đối với những hành động Đề án cụ thể, người tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện Đề án, người tham gia giám sát đánh giá Đề
án Cụ thể như sau:
Chính phủ: là cơ quan phê duyệt Đề án
Trung ương Đoàn: Là cơ quan tham mưu xây dựng và chỉ đạo thực hiện
Các bộ, ngành liên quan: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bộ Tài chính,
bộ Kế hoạch và Đầu tư, bộ Giáo dục và đào tạo…là các cơ quan phối hợp chỉ đạo thực hiện
Ủy ban nhân dân các Thành phố, các sở, ban, ngành liên quan, Uỷ ban nhân
Trang 21dân các huyện, Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn: chỉ đạo, phối hợp với tổ
chức Đoàn tổ chức thực hiện Đề án
Thành phố Đoàn, các tổ chức Đoàn cơ sở, cán bộ Đoàn các cấp: là cơ quan, cá
nhân chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu tổ chức thực hiện Đề án tại địa phương
+ Đối tượng của Đề án là những tổ chức, cá nhân tổ chức thực hiện Đề án và chịu ảnh hưởng của Đề án Cụ thể là: Thanh niên, tổ chức Đoàn các cấp thực hiện Đề
án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm
Như vậy Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm là tập hợp các giải pháp và công cụ mà các cấp bộ Đoàn sử dụng để tác động đến thanh niên và các tổ chức liên quan nhằm hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm
Các bộ phận cấu thành của đề án "Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015"
Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm bao gồm các nội dung cơ bản là:
a Xây dựng và triển khai Dự án “Truyền thông nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp”
b Xây dựng và triển khai Dự án “Tư vấn hỗ trợ thanh niên khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp”
c Xây dựng và triển khai Dự án “Xây dựng và nâng cấp các Trung tâm Hướng nghiệp dạy nghề và Giới thiệu việc làm thanh niên của Đoàn thanh niên”
d Phối hợp xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích học nghề và tạo việc làm cho mọi đối tượng, trong đó chú trọng cho thanh niên, tập trung vào việc
hỗ trợ thanh niên vay vốn, lập nghiệp
e Chương trình giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách của Nhà nước trong việc hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm
Dự án "Truyền thông nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp"
- Mục tiêu của Dự án:
+ Nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng tư vấn, thống kê, thông tin thị trường lao động, cung cấp tài liệu về nghề nghiệp và việc làm cho đội ngũ cán bộ Đoàn cơ
Trang 22sở, cán bộ các Trung tâm Hướng nghiệp dạy nghề, Trung tâm Giới thiệu việc làm
của Đoàn thanh niên, các cộng tác viên
+ Chỉ tiêu: Tổ chức tập huấn 60.000 lượt cán bộ Đoàn các cấp, thanh niên
về tư vấn học nghề và tạo việc làm
- Đối tượng: Học sinh phổ thông và học sinh, sinh viên các hệ đào tạo,
thanh niên chưa có việc làm và thất nghiệp, các hộ gia đình và xã hội, cán bộ
Đoàn các cấp và đội ngũ cộng tác viên
- Các giải pháp chủ yếu:
+ Thông tin, tư vấn về nghề nghiệp, việc làm mà thị trường lao động đang cần; định hướng cho thanh niên tự đánh giá khả năng, tự lựa chọn và quyết định nghề nghiệp của mình
+ Tổ chức các hoạt động hướng nghiệp trong các trường phổ thông, kết hợp hoạt động hướng nghiệp với đào tạo nghề nghiệp trong các cơ sở đào tạo
+ Đội ngũ cán bộ Đoàn, tổng phụ trách Đội, hội phụ huynh học sinh tổ chức các hoạt động định hướng, giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông; tổ chức các buổi diễn thuyết, nói chuyện chuyên đề của những người thành đạt cho thanh niên, học sinh về nghề nghiệp và việc làm
+ Phối hợp với các cơ quan tuyên truyền xây dựng các sản phẩm truyền
thông: xây dựng Chương trình “Thế giới nghề nghiệp” phát sóng hàng ngày trên
truyền hình; mở các chuyên mục "Học nghề - lập nghiệp" trên các báo viết; đưa
nội dung hướng nghiệp lên các trang thông tin điện tử của Đoàn, các báo điện tử, trang thông tin của các Trung tâm Giới thiệu việc làm thanh niên
+ Biên soạn, phát hành các tài liệu tuyên truyền về nghề nghiệp và việc làm; biên
tập và phát hành bản tin “Học nghề - Lập nghiệp” hàng tháng đến các cơ sở Đoàn; biên
soạn Cẩm nang Tuyển sinh học nghề, Cẩm nang Việc làm cho lao động trẻ; xây dựng
tủ sách hướng nghiệp trong các nhà trường, các cơ sở Đoàn
+ Tổ chức các hoạt động biểu dương, tôn vinh, khen thưởng người thợ trẻ giỏi, công nhân trẻ giỏi, chuyên gia trẻ giỏi và doanh nghiệp thu hút nhiều lao
động kỹ thuật; nghiên cứu ban hành giải thưởng “Việc làm cho thanh niên”, các
quỹ giải thưởng cho các cuộc thi tay nghề quốc gia; biểu dương các cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động tiêu biểu trong công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên
+ Tổ chức các hội chợ việc làm, ngày hội việc làm, ngày tư vấn và tuyển
Trang 23dụng trực tiếp tạo cơ hội cho thanh niên được tiếp cận thông tin thị trường lao động, xây dựng các kỹ năng tìm kiếm việc làm
+ Đào tạo, tập huấn về học nghề, việc làm, kỹ năng tư vấn, thống kê, thông tin thị trường lao động, cung cấp tài liệu về nghề nghiệp và việc làm cho độ ngũ cán
bộ Đoàn cơ sở, cán bộ các trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm của Đoàn thanh
niên, các cộng tác viên với phương châm “Mỗi cơ sở Đoàn là một văn phòng, mỗi cán bộ Đoàn là một tư vấn viên về việc làm”
+ Tổ chức các hoạt động điều tra dư luận xã hội về nghề nghiệp và việc làm
- Kinh phí thực hiện: Ngân sách Nhà nước cấp hàng năm theo dự án được duyệt qua Trung ương Đoàn và các nguồn huy động hợp pháp khác
Dự án "Tư vấn, hỗ trợ thanh niên khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp"
- Mục tiêu và chỉ tiêu
+ Tư vấn, hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp cho thanh niên
+ Góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển 500.000 doanh nghiệp của Chính phủ đến năm 2015
+ Phổ biến kiến thức cho 100% thanh niên có nhu cầu khởi sự doanh nghiệp
và lập nghiệp
+ Hàng năm có khoảng 700.000 lượt thanh niên được tư vấn về khởi sự
doanh nghiệp và lập nghiệp
+ Tổ chức đào tạo tập trung cho 250.000 lượt thanh niên, trong đó ưu tiên hỗ
trợ thanh niên nông thôn, dân tộc thiểu số, sinh viên và thanh niên khuyết tật
+ Hằng năm tổ chức được các giải thưởng về khởi nghiệp
+ Xây dựng được mạng lưới khoảng 800 giảng viên để thực hiện mục tiêu đào tạo của Dự án
- Đối tượng: Thanh niên có nhu cầu lập doanh nghiệp, mở cơ sở sản xuất
kinh doanh, cán bộ Đoàn các cấp, các công ty, doanh nghiệp, các hội nghề nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội
Trang 24+ Cung cấp kiến thức và đào tạo trực tuyến qua internet về khởi sự doanh nghiệp
+ Ký hợp đồng liên kết với các ngân hàng và tổ chức xã hội để lồng ghép các chương trình đào tạo và tư vấn, hỗ trợ cho thanh niên vay vốn, lập nghiệp; tổ chức đối thoại với cán bộ tín dụng cho thanh niên có nhu cầu lập nghiệp
+ Tư vấn, hỗ trợ thanh niên khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp: tổ chức sàn giao dịch việc làm, sàn giao dịch thương mại, hội chợ, tư vấn qua hộp thư thoại, qua internet, trao đổi trực tiếp, truyền hình và đài tiếng nói, cung cấp tài liệu khởi nghiệp
+ Xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng, tư vấn pháp luật về điều kiện thành lập và điều hành doanh nghiệp cho chủ doanh nghiệp là thanh niên
+ Tổ chức tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho thanh niên nông thôn, hướng dẫn các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới cho thanh niên
+ Xây dựng các điển hình doanh nghiệp trẻ tiêu biểu, tôn vinh những mô hình làm kinh tế giỏi của thanh niên
- Kinh phí thực hiện: Ngân sách Nhà nước cấp hàng năm theo dự án được duyệt thông qua Trung ương Đoàn và các nguồn huy động hợp pháp khác
Dự án “Xây dựng và nâng cấp các Trung tâm Hướng nghiệp dạy nghề và Giới thiệu việc làm thanh niên của Đoàn thanh niên”
- Mục tiêu:
+ Xây dựng quy hoạch được hệ thống Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề
và Giới thiệu việc làm do Đoàn thanh niên quản lý phù hợp với quy hoạch tổng thể chung
+ Lựa chọn để xây dựng và nâng cấp các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và Giới thiệu việc làm kiểu mẫu của Đoàn thanh niên
- Các giải pháp chủ yếu:
+ Trên cơ sở hướng dẫn và quy hoạch tổng thể về hệ thống Trung tâm Giới
thiệu việc làm, dạy nghề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trên phạm vi
cả nước, xây dựng quy hoạch hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm và dạy nghề
do Đoàn thanh niên quản lý phù hợp với tổng thể chung để đầu tư từ đa nguồn kinh phí Trong đó, các trung tâm trọng điểm được đầu tư đồng bộ, xây dựng mô
Trang 25hình quản lý kiểu mẫu về công tác hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm
cho thanh niên từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước
+ Hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm và dạy nghề thanh niên, nhất là các trung tâm trọng điểm sẽ được nâng cao năng lực và đi đầu trong quản lý, vận hành theo tiêu chuẩn ISO 9000, từng bước nhân rộng ra các trung tâm khác Tập trung vào các hoạt động: tổ chức tập huấn, cung cấp tài liệu nâng cao kiến thức về nghề nghiệp và việc làm, kỹ năng tư vấn, kỹ năng triển khai các chương trình về việc làm cho đội ngũ cán bộ các trung tâm; mở rộng các hoạt động thông tin thị trường lao động; ứng dụng công nghệ thông tin trong giới thiệu việc làm cho thanh niên đưa thông tin về việc làm lên các trang thông tin điện tử của Đoàn, xây dựng các sàn giao dịch việc làm và hệ thống kết nối toàn bộ các trung tâm
+ Tăng cường liên kết các Trung tâm Giới thiệu việc làm, các nhà trường, tổ chức Đoàn, doanh nghiệp để giới thiệu học sinh thực tập và giới thiệu việc làm cho thanh niên sau khi tốt nghiệp; phối hợp với Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp để giới thiệu thanh niên có tay nghề vào làm việc
Kinh phí thực hiện: Ngân sách Nhà nước cấp thông qua Trung ương Đoàn theo các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng, trình ban hành, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chính sách phục
vụ cho chương trình khuyến khích học nghề và tạo việc làm cho mọi đối tượng, trong
đó chú trọng cho thanh niên giai đoạn 2008 - 2015 Bao gồm 4 loại tín dụng ưu đãi là: cho thanh niên vay vốn học nghề và đào tạo nghề; vay vốn đào tạo doanh nhân trẻ
và khởi sự doanh nghiệp; vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; vay vốn xây dựng, nâng cấp các cơ sở dạy nghề thuộc các thành phần kinh tế
Tổ chức Đoàn thanh niên thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ sau:
- Mục tiêu:
+ Làm cho thanh niên hiểu được cơ hội vay vốn để học nghề, lập nghiệp
+ Lựa chọn đúng đối tượng thanh niên cho vay vốn
+ Giúp thanh niên xây dựng được dự án vay vốn theo đúng quy định
- Đối tượng:
+ Là thanh niên có nhu cầu vay và được vay vốn
+ Các cơ sở dạy nghề, tạo việc làm cho nhiều thanh niên
- Nhiệm vụ:
Trang 26+ Tuyên truyền, vận động, tư vấn cho thanh niên về các loại hình vốn vay để thanh niên có cơ hội lựa chọn vay vốn
+ Phối hợp với các ngân hàng thành lập các tổ tín dụng là cán bộ Đoàn ở các khu, thôn dân cư
+ Cùng với ngân hàng lựa chọn đối tượng và hướng dẫn thanh niên lập và thẩm định dự án; xác định rõ đối tượng thanh niên có nhu cầu vay vốn và được vay vốn, các cơ sở dạy nghề có học viên là thanh niên
+ Tư vấn thanh niên sử dụng vốn vay
+ Giúp các ngân hàng trong đôn đốc, thu lãi suất và vốn vay
Kinh phí thực hiện: Ngân sách Nhà nước cấp qua Trung ương Đoàn hàng năm Riêng về nguồn vốn cho vay căn cứ vào nhu cầu và tình hình thực tế ngân sách nhà nước cấp hàng năm qua Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm
Chương trình “Giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho thanh niên”
- Mục tiêu: Bảo đảm hiệu quả việc thực hiện các chính sách của Nhà nước
về học nghề, tạo việc làm cho thanh niên theo quy định của pháp luật; góp ý, đề xuất với Nhà nước về các chính sách liên quan
+ Các ban, ngành liên quan
+ Các cấp bộ Đoàn trong triển khai, tổ chức, thực hiện Đề án
Kinh phí thực hiện: Ngân sách Nhà nước cấp hàng năm qua Trung ương Đoàn
1.2.2 Nội dung chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
1.2.2.1 Quy hoạch đào tạo nghề
Trang 27Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề để đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp sản xuất, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động về số lượng, chất
lượng, cơ cấu vùng, miền, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo
+ Sơ cấp nghề: Dạy nghề trình độ sơ cấp được thực hiện từ ba tháng đến
dưới một năm đối với người có trình độ học vấn, sức khoẻ phù hợp với nghề cần học
Nội dung dạy nghề trình độ sơ cấp phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình
độ sơ cấp, tập trung vào năng lực thực hành nghề, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển của khoa học, công nghệ
Phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp phải chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành nghề và phát huy tính tích cực, tự giác của người học nghề
Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ
sơ cấp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, mỗi nghề Người đứng đầu cơ sở dạy nghề quy định.chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp do
Cơ sở dạy nghề trình độ sơ cấp, gồm: Trung tâm dạy nghề; Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp; Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học,
cơ sở giáo dục khác có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp
Người học nghề học hết chương trình sơ cấp nghề có đủ điều kiện thì được
dự kiểm tra, nếu đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở dạy nghề cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương
* Trung cấp nghề: Dạy nghề trình độ trung cấp được thực hiện từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ ba đến bốn năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở
Trang 28trình độ trung cấp, tập trung vào năng lực thực hành các công việc của một nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo, bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển của khoa học, công nghệ
Phương pháp dạy nghề trình độ trung cấp phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực, tự giác, khả năng làm việc độc lập của người học nghề
Chương trình dạy nghề trình độ trung cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình
độ trung cấp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, môn học, mỗi nghề
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ có liên quan tổ chức xây dựng chương trình khung trung cấp nghề
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương quyết định thành lập hội đồng thẩm định chương trình khung trung cấp nghề; quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động và số lượng thành viên của hội đồng; ban hành chương trình khung trung cấp nghề trên cơ sở kết quả thẩm định của hội đồng thẩm định chương trình khung trung cấp nghề
Căn cứ vào chương trình khung, hiệu trưởng các trường tổ chức biên soạn và duyệt chương trình dạy nghề của trường mình
Cơ sở dạy nghề trình độ trung cấp, gồm: Trường trung cấp nghề;Trường cao
đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp; Trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp
Học sinh học hết chương trình trung cấp nghề có đủ điều kiện thì được dự thi,
nếu đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng các trường cấp bằng tốt nghiệp trung cấp nghề theo quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương
* Cao đẳng nghề: Dạy nghề trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ
Trang 29thông; từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề cùng ngành nghề đào tạo
Nội dung dạy nghề trình độ cao đẳng phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng, tập trung vào năng lực thực hành các công việc của một nghề, nâng cao kiến thức chuyên môn theo yêu cầu đào tạo của nghề, bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng sự phát triển của khoa học, công nghệ
Phương pháp dạy nghề trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng lực
thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực, tự
giác, năng động, khả năng tổ chức làm việc theo nhóm
Chương trình dạy nghề trình độ cao đẳng thể hiện mục tiêu dạy nghề trình
độ cao đẳng; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, môn học, mỗi nghề
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan tổ chức xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương quyết định thành lập hội đồng thẩm định chương trình khung cao đẳng nghề; quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động và số lượng thành viên của hội đồng; ban hành chương trình khung cao đẳng nghề trên cơ sở kết quả thẩm định của hội đồng thẩm định chương trình khung cao đẳng nghề
Căn cứ vào chương trình khung, hiệu trưởng các trường quy định tại Điều
29 của Luật này tổ chức biên soạn và duyệt chương trình dạy nghề của trường mình
Cơ sở dạy nghề trình độ cao đẳng, gồm: Trường cao đẳng nghề; Trường cao
đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độ cao đẳng
Sinh viên học hết chương trình cao đẳng nghề có đủ điều kiện thì được dự thi,
nếu đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng các trường cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề
theo quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương
Trang 30* Dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên: Dạy nghề thường xuyên được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của người học nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo cơ hội tìm việc làm, tự tạo việc làm
Chương trình dạy nghề thường xuyên bao gồm: Chương trình bồi dưỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề; Chương trình dạy nghề theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề; Chương trình chuyển giao công nghệ; Chương trình dạy nghề được thực hiện theo hình thức vừa làm vừa học hoặc tự học có hướng dẫn để được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề
Phương pháp dạy nghề thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, năng lực tự học và kinh nghiệm của người học nghề
Người đứng đầu cơ sở dạy nghề xây dựng chương trình dạy nghề thường xuyên tổ chức thực hiện và cấp chứng chỉ cho người học nghề Chứng chỉ phải ghi
rõ nội dung và thời gian khoá học
Người dạy các chương trình dạy nghề thường xuyên là nhà giáo, nhà khoa học, nghệ nhân, người có tay nghề cao
- Người học nghề ở cơ sở dạy nghề ít nhất phải đủ 13 tuổi, trừ một số nghề
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề theo học
+ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề: quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề
Trang 31hiện theo Quyết định số 157/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên
- Tín dụng ưu đãi để đào tạo bồi dưỡng doanh nhân trẻ và khởi sự doanh nghiệp, mở rộng làng nghề, phát triển sản xuất kinh doanh; tự tạo việc làm, xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút thêm thanh niên vào làm việc
Nguồn vốn: căn cứ vào nhu cầu và tình hình thực tế ngân sách nhà nước cấp
bổ sung hàng năm qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm
- Tín dụng ưu đãi để đi làm việc ở nước ngoài theo theo hợp đồng
Nguồn vốn, cơ chế vay vốn theo quy định hiện hành
- Tín dụng ưu đãi để nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới cơ sở dạy nghề thuộc các thành phần kinh tế có chức năng dạy nghề hoạt động theo quy định của pháp luật, nhằm đáp ứng nhu cầu học nghề của xã hội, trong đó chú trọng cho thanh niên Đoàn Thanh niên tham gia tư vấn, vận động, hướng dẫn, hỗ trợ thanh niên vay tín dụng học nghề, đặc biệt là các nghề mũi nhọn, kỹ thuật công nghệ mới, có triển vọng phát triển; Đoàn Thanh niên hướng dẫn hỗ trợ thanh niên lập dự án, phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội thẩm định dự án; Đoàn Thanh niên phối hợp với ngành lao động, thương binh và xã hội và các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động để vận động, tư vấn, hướng dẫn thanh niên vay vốn xuất
khẩu, tham gia hỗ trợ ngân hàng trong quá trình thu hồi vốn vay
1.2.2.3 Thúc đẩy các trường đào tạo
+ Trên cơ sở hướng dẫn và quy hoạch tổng thể về hệ thống Trung tâm Giới
thiệu việc làm, dạy nghề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trên phạm vi
cả nước, xây dựng quy hoạch hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm và dạy nghề
do Đoàn thanh niên quản lý phù hợp với tổng thể chung để đầu tư từ đa nguồn kinh phí Trong đó, các trung tâm trọng điểm được đầu tư đồng bộ, xây dựng mô hình quản lý kiểu mẫu về công tác hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm
cho thanh niên từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước
+ Hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm và dạy nghề thanh niên, nhất là các trung tâm trọng điểm sẽ được nâng cao năng lực và đi đầu trong quản lý, vận hành theo tiêu chuẩn ISO 9000, từng bước nhân rộng ra các trung tâm khác Tập
Trang 32nghề nghiệp và việc làm, kỹ năng tư vấn, kỹ năng triển khai các chương trình về việc làm cho đội ngũ cán bộ các trung tâm; mở rộng các hoạt động thông tin thị trường lao động; ứng dụng công nghệ thông tin trong giới thiệu việc làm cho thanh niên đưa thông tin về việc làm lên các trang thông tin điện tử của Đoàn, xây dựng các sàn giao dịch việc làm và hệ thống kết nối toàn bộ các trung tâm
+ Tăng cường liên kết các Trung tâm Giới thiệu việc làm, các nhà trường, tổ chức Đoàn, doanh nghiệp để giới thiệu học sinh thực tập và giới thiệu việc làm cho thanh niên sau khi tốt nghiệp; phối hợp với Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp để giới thiệu thanh niên có tay nghề vào làm việc
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
1.3.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Thông thường tăng trưởng kinh tế là kết quả đầu ra của 3 yếu tố đó là: vốn, lao động, công nghệ Như vậy lao động đóng vai trò là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Một đội ngũ lao động với trình độ cao, có kỹ năng, chất lượng tốt sẽ là tiền đề cho sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế Măt khác mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế đó chính
là phát triển con người, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, trong đó có nhu cầu việc làm với mức thu nhập đảm bảo cuộc sống Như vậy việc làm lại chính là kết quả của quá trình đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên khả năng thu hút lao động nói chung, lao động thanh niên nói riêng của nền kinh tế còn tùy thuộc rất nhiều vào mô hình tăng trưởng kinh tế mà nước ta áp dụng như: mô hình đầu tư phát triển các ngành trọng điểm thu hút nhiều lao động hay sử dụng nhiều vốn, mô hình lựa chon công nghệ
Kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định đã góp phần tạo nhiều việc làm cho lao động nói chung và lực lượng lao động thanh niên nói riêng
1.3.2 Tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Theo xu hướng ngày càng phát triển của khoa học công nghệ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ
Trang 33trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế, tức là tỷ trọng các ngành có năng suất lao động cao, hàm lượng công nghệ cũng như chất xám ngày càng lớn và tỷ trọng các ngành có năng suất lao động thấp ngày càng giảm đi trong quá trình phân công lao động xã hội Cùng theo đó là tỷ trọng của kinh tế ngoài nhà nước ngày càng tăng, tỷ trọng của kinh tế nhà nước ngày càng giảm Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực thì một trong những giải pháp chính đó là chuyển dịch cơ cấu kinh
tế hiệu quả Tốc độ phát triển của các khu vực phi nông nghiệp tăng nhanh góp phần tạo ra nhu cầu lớn về lao động trong các ngành, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung, lao động thanh niên nói riêng một cách hiệu quả nhất lao động thanh niên có cơ hội tiêp xúc với việc làm có thu nhập ổn định và có khả năng tiếp cận với giáo dục tốt để nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu sản xuất đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Tuy nhiên với những hạn chế về trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm làm việc nên để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tạo nhiều việc làm cho lao động thanh niên không phải là một vấn đề đơn giản
1.3.3 Tác động của các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động
Nhằm giúp thanh niên có thông tin về thị trường lao động, tạo điều kiện mở rộng các cơ hội tìm được việc làm phù hợp, kết nối lực lượng lao động thanh niên với người sử dụng lao động cũng như cơ sở đào tạo, hệ thống các Trung tâm giới thiệu việc làm ngày càng mở rộng và phát triển, các Trung tâm đã tư vấn, cung cấp thông tin thị trường lao động cho hàng triệu lượt lao động có nhu cầu, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động và đào tạo nghề ngắn hạn gắn với tạo việc làm
cho hàng chục vạn lao động, trong đó chủ yếu là lao động thanh niên
Bên cạnh đó, nhiều hình thức giao dịch việc làm phong phú, đa dạng như ngày hội việc làm, hội chợ việc làm, phiên giao dịch việc làm, sàn giao dịch việc làm đã được tổ chức tại các trung tâm giới thiệu việc làm Đặc biệt, thông qua sàn giao dịch việc làm định kỳ, thường xuyên, thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp, trường, cơ sở đào tạo đến với lao động thanh niên thường xuyên hơn,
Trang 34thuận tiện hơn, thanh niên được cung cấp thông tin tốt hơn, được tư vấn, phỏng vấn, giới thiệu việc làm nhiều hơn, từ đó có cơ hội việc làm tốt hơn
Kết luận Chương 1
Như vậy, tại Chương 1, luận văn đã đề cập đến cơ sở lý luận về chính sách đào tạo nghề cho thanh niên Cụ thể luận văn đưa ra các tri thức lý luận về: Lao động thanh niên; Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên; Vai trò của lao động thanh niên trong phát triển kinh tế xã hội; Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách đào tạo nghề cho thanh niên bao gồm: Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tác động của các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động
Chương 1 cũng đã giới thiệu chung về các bộ phận cấu thành của đề án "Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015", là chính sách cụ thể
mà luận văn tập trung đánh giá kết quả triển khai tại Thành phố Hà Nội
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
THANH NIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2013-2015 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên thành phố Hà Nội
2.1.1 Vị trí và đặc điểm tự nhiên
Thủ đô Hà Nội có vị trí địa lý và địa thế tự nhiên nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, đã khiến cho Hà Nội sớm có một vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển của Việt Nam
Nghị quyết 15/NQ - TW ngày 15/12/2000 về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010” và Pháp lệnh Thủ đô đã xác định: “Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não về chính trị - hành chính, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế” Là trung tâm của vùng Bắc
Bộ, là đầu mối giao thông quan trọng đi các Thành phố và là thủ đô của cả nước, Hà Nội có khả năng to lớn để thu hút các nguồn lực của cả nước, của bên ngoài cho sự phát triển của mình Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, Hà Nội là đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường sông tỏa
đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế
Với tốc độ phát triển mạnh mẽ và khả năng thu hút nhân lực của Hà Nội, hàng năm thanh niên trong độ tuổi lao động ồ ạt đổ về Hà Nội để tìm kiếm cơ hội việc làm không ngừng tăng cao Thêm vào đó, sinh viên học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố sau khi tốt nghiệp thường không trở về địa phương mà bám trụ lại Hà Nội với mong muốn được làm việc tại Thủ đô Thực trạng này tạo nên sự chênh lệch rõ rệt giữa lao động thanh niên ở nông thôn và thành thị; gây sức ép lớn trong giải quyết việc làm cho thanh niên và thực hiện đầy
đủ những chính sách, cơ chế hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm của các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội
Trang 36Thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô Kinh tế Thủ đô đã tăng trưởng vượt bậc: Nhiều chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân… tiếp tục đứng đầu cả nước Quan hệ sản xuất mới ngày càng được củng cố và phát triển Chủ trương sắp xếp, chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp và thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, có hiệu quả Kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể được củng cố; kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh, có đóng góp ngày càng quan trọng… cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Từ công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ, sang dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế tri thức
Với tốc độ đô thị hóa nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế dẫn tới nhu cầu về lao động thanh niên khá lớn và đồng nghĩa ới chất lượng cũng khắt khe hơn Tuy nhiên, lao động thanh niên hiện nay về trình độ chuyên môn cao và tinh thần, thái độ làm việc còn thiếu chuyên nghiệp Vì vậy dù nhu cầu lao động lớn nhưng số lượng lao động đáp ứng được còn rất thấp, chủ yếu mới chỉ đáp ứng được những công việc mang tính thời vụ, thu nhập không ổn định
2.1.3 Năng lực đào tạo nghề của thành phố
Mạng lưới cơ sở dạy nghề của Thành phố trong những năm gần đây có sự tăng nhanh về số lượng và đa dạng về loại hình đào tạo Tính đến tháng 6/2015, trên địa bàn Thành phố có 321 đơn vị trong hệ thống cơ sở dạy nghề của nhiều bộ, ngành; nhiều thành phần kinh tế quản lý, cụ thể, cơ sở dạy nghề công lập: 102 đơn vị (trung ương: 50; địa phương: 52); cơ sở ngoài công lập: 219 đơn vị, chiếm 68,22%; trong
đó có 7 cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài Trong số 321 đơn vị cơ sở dạy nghề có: 27 trường cao đẳng nghề, 42 trường trung cấp nghề, 59 trung tâm dạy nghề
và 185 cơ sở khác có tham gia dạy nghề (bao gồm: trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, doanh nghiệp, ) Thành phố Hà Nội có 9 trường dạy nghề công
Trang 37lập trực thuộc: 3 trường cao đẳng nghề, 6 trường trung cấp nghề trực thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội
Mạng lưới các cơ sở dạy nghề trên địa bàn Hà Nội đã được phê duyệt phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Chương trình đào tạo đã được sửa đổi, bổ sung theo nhu cầu thực tế sử dụng lao động của các doanh nghiệp, phù hợp với sự phát triển các ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và nguồn đầu tư đều được nâng lên đáng kể… Nhìn chung, chất lượng đào tạo nghề qua các năm đã dần được nâng cao; sau học nghề học sinh, sinh viên, người lao động đã có kỹ năng nghề để tham gia lao động tại các doanh nghiệp, tự tạo việc làm hoặc thành lập tổ hợp tác, doanh nghiệp Tại các Kỳ thi Tay nghề Quốc gia, ASEAN trong những năm gần đây, nhiều thí sinh Hà Nội đã đạt được thành tích xuất sắc Kết quả đó phần nào khẳng định được chất lượng đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thành phố…
Tuy nhiên, thực trạng về mất cân đối giữa cung - cầu lao động, đặc biệt năng lực của lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động đang là yếu tố cản trở tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng khoảng 3,5%/năm Thêm vào đó, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đô thị, các quận nội thành Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở khu vực nông thôn còn thấp Do đó, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn Hà Nội rất cần được quan tâm triển khai để nâng cao chất lượng lao động trong khu vực nông nghiệp
Bên cạnh đó, lao động qua đào tạo nói chung, qua đào tạo nghề nói riêng gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm vì kỹ năng nghề chưa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Trong khi đó, hiện nay, Hà Nội đang thiếu hụt lao động trình độ cao trong các ngành về kỹ thuật, cơ khí, điện, điện tử, cơ điện, công nhân trong các ngành sản xuất các sản phẩm từ hóa chất, cao su, plastics Ngoài ra, lao động Hà Nội cũng giống như của cả nước, đó là đa số chưa đáp ứng được yêu cầu về ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm, tính kỷ luật, kiến thức về pháp luật lao động nên năng lực cạnh tranh của lao động Hà Nội cũng như cả nước hiện nay với các nước trong khu vực và quốc tế thấp
Trang 38Để công tác đào tạo nghề đạt được những kết quả tốt hơn, ngành lao động, thương binh và xã hội đã đề ra nhiều giải pháp hiệu quả Trong đó, sẽ đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề Mở rộng và đầu tư phát triển các cơ sở dạy nghề với mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở dạy nghề; liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín Gắn đào tạo nghề với sử dụng lao động theo yêu cầu thực tiễn sản xuất - kinh doanh, đẩy mạnh việc đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, với thị trường lao động
Song song với đó, tiếp tục tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị dạy nghề cho các trường dạy nghề công lập của Thành phố theo hướng hiện đại, đảm bảo năng lực cạnh tranh với các trường trong khu vực về cả quy mô đào tạo, ngành nghề đào tạo Đặc biệt, chú trọng tới các nghề trọng điểm, nghề mũi nhọn gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô để nguồn nhân lực được đào tạo vừa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố vừa có thể cạnh tranh trong thị trường lao động hội nhập…
2.1.4 Quy mô và chất lượng của lực lượng lao động là thanh niên trong thành phố
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm tăng nhanh lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần lực lượng lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp Qua điều tra 3 năm 2013- 2015 của Trung tâm Giới thiệu việc làm thanh niên, thanh niên trong cơ cấu ngành nghề
Bảng 2.1: Thanh niên trong cơ cấu ngành nghề
Đơn vị tính: %
Nguồn: Trung tâm Giới thiệu việc làm thanh niên
Kết quả trên cho thấy, số thanh niên làm việc trong ngành dịch vụ chiếm tỷ
Trang 39lệ cao nhất (từ 47,3% đến 52,7%) thấp nhất là tỷ lệ thanh niên trong cơ cấu ngành nông nghiệp tuy có tăng dần theo thời gian từ 24,4% lên 25,5%, và tỷ lệ thanh niên lao động trong lĩnh vực dịch vụ giảm từ 52,7% năm xuống còn 47,3% Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng tăng nhanh từ 22,9% năm lên 27,2%
Toàn Thành phố hằng năm có khoảng hàng ngàn thanh niên bước vào tuổi lao động và tỷ lệ thanh niên tham gia hoạt động kinh tế tăng đều từ năm 2013 đến nay
Thanh niên tham gia lao động trong các thành phần kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể, phù hợp với một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển của đất nước Hiện nay thanh niên tham gia lao động trong khu vực kinh
tế ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ là 87,7% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 4%.Trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ năng lao động của thanh niên tham gia hoạt động kinh tế ngày càng tăng cao Lực lượng lao động là thanh niên
có trình độ trung cấp chuyên nghiệp tăng dần từ 7,2% (năm 2013) - 8,5% (năm 2014) và 9,0% ( năm 2015); có trình độ cao đẳng, đại học tăng nhanh từ 8,8% (năm 2013), 9,7% (năm 2014) và 10,5% năm 2015
Những con số thống kê trên đây cho thấy lực lượng lao động là thanh niên ngày càng có vị trí to lớn trong các hoạt động sản xuất, nghề nghiệp, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước
Tuy nhiên, thực trạng về mất cân đối giữa cung - cầu lao động, đặc biệt năng lực của lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động đang là yếu tố cản trở tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội vì thế, việc triển khai chính sách cũng phải cập nhật thường xuyên, nhanh chóng sao cho cân bằng giữa nhu cầu của thị trường lao động với trình độ chuyên môn của thanh niên Song, thực tế chỉ ra rằng, cung không đủ cầu Vẫn có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm ngành nghề Thanh niên có tìm được việc làm, nhưng đó là những công việc không
ổn định, mang tính thời vụ và thu nhập không cao Trong khi những công việc đòi hỏi trí tuệ, trình độ lao động cao thì vẫn khuyết trống nhân sự Dưới sự tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với nhu cầu về số lượng lao động khu vực dịch vụ lớn, việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên dường như vẫn chưa
Trang 40thực sự mang lại hiệu quả, bởi ở lĩnh vực dịch vụ, thanh niên chỉ cần trang bị kiến thức vừa đủ cho ngành dịch vụ mình làm mà không cần áp dụng quá nhiều kiến thức mà phải mất 4 năm thậm chí nhiều hơn thời gian học tập trên giảng đường đại
học
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thực trạng việc làm của thanh niên trong thời gian gần đây diễn biến khá phức tạp Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong thanh niên đã được quan tâm giải quyết song vẫn còn cao
Phân tích các số liệu, có thể nhận thấy là sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều thanh niên thất nghiệp, chưa tìm được việc làm đã và đang tiếp tục tham gia học tập nâng cao trình độ, học các khóa đào tạo nghề với hy vọng tìm được một công việc tốt hơn Tuy nhiên, thời gian học văn hóa, học nghề kéo dài cũng làm tăng thêm số lượng lao động chưa có việc làm Gần đây, do kinh tế có dấu hiệu phục hồi, nhiều khu công nghiệp, nhà máy đã trở lại hoạt động bình thường và một số đơn vị còn mở rộng sản xuất Một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất mới cũng được hình thành nên người lao động đã có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn lao động và việc làm Yêu cầu về điều kiện làm việc (như môi trường làm việc, lương, nhà ở và các vấn đề an sinh khác ) của người lao động hiện nay cũng được cải thiện, khiến họ có thể tìm kiếm, chọn lựa nơi làm việc tốt hơn thay vì phải chấp nhận mọi điều kiện ngặt nghèo chỉ miễn là có việc làm như trước đây Điều đó đã được phản ánh qua thực tế là thời gian gần đây ở một số nơi, thị trường lao động phát triển khá sôi động, thậm chí nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở vào tình trạng thiếu lao động nghiêm trọng Tuy nhiên, nhu cầu lao động đã qua đào tạo, lao động có kỹ thuật ngày càng lớn đã khiến cho nhiều thanh niên không đáp ứng được các yêu cầu tuyển dụng Vì vậy, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp vẫn cao
Với đối tượng thanh niên đang là công nhân do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm đình đốn sản xuất, dịch vụ của hầu hết các doanh nghiệp, trọng tâm là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có liên quan đến xuất khẩu, như dệt may, da giày dẫn đến nhiều thanh niên công nhân thiếu hoặc mất việc làm ảnh