Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN TÔN
LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN TRUNG HẢI
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Trung Hải
Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Lê Văn Tôn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 10
1.1 Hệ thống khái niệm nghiên cứu 10
1.2 Mối liên hệ giữa phát triển cộng đồng và công tác xã hội 13
Chương 2: TRIẾT LÝ TIẾP CẬN VÀ NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG CTXH 21
2.1 Triết lý trong phát triển cộng đồng 21
2.2 Lý luận về các quan điểm tiếp cận trong phát triển cộng đồng 31
2.3 Lý luận về các nguyên tắc trong phát triển cộng đồng 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
3.1 Kết luận 63
3.2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
CTXH đối với các cộng đồng yếu thế là một lĩnh vực không còn xa lạ ở các cộng đồng Việt Nam cũng như các nước trên thế giới Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc
và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…[5,7], được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường
sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng
Phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân tại các cộng đồng ở Việt Nam trong hơn hai thập niên qua đã đạt được nhiều thành tựu, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong số ít các nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới, với tỷ lệ nghèo cả nước giảm từ 60% năm 1990 xuống còn thấp hơn 10% năm 2010 Triết lý xuyên suốt mang lại những kết quả tích cực đó là hỗ trợ người nghèo Cần câu và Phương pháp câu chứ không cho họ “con cá” [7]
Thực tế cho thấy rằng, phát triển cộng đồng ở Việt Nam vẫn còn chứa đựng nhiều khó khăn và thách thức, làm thế nào để tăng năng lực cho người nghèo, phát huy thế mạnh nội lực, giúp người nghèo loại bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại, an phận? Làm thế nào để người nghèo chủ động vươn lên thoát nghèo bằng chính những tài sản trong cộng đồng, chủ động tiếp cận với các dịch vụ, chính sách để làm bàn đạp thoát nghèo bền vững?… Những khó khăn, thách thức trên
đã tác động đến hiệu quả của nhiều chính sách phát triển xã hội, cản trở việc thực hiện quyền con người và kìm hãm vị thế kinh tế, xã hội của cư dân cộng đồng nghèo, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội và thậm chí là cả xung đột xã hội
Trang 6Những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển cộng đồng ở Việt Nam đã trở thành vấn đề và đối tượng của công tác xã hội Đánh giá một cách cụ thể thì công tác xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển toàn diện, nhằm phối hợp với các chuyên gia phát triển kinh tế và các nhà làm công tác qui hoạch nông thôn để đáp ứng nhu cầu về nhà ở, việc làm cho người nghèo, người yếu thế và giải quyết các vấn đề xã hội trong nền kinh tế hiện đại [7] Tuy nhiên, về mặt khoa học phát triển cộng đồng vẫn còn là một lĩnh vực khoa học khá mới mẻ, hệ thống cơ sở lý luận vẫn chưa được định hình cụ thể mà mới chỉ được thể hiện trong một số bài giảng của các trường đại học có đào tạo ngành phát triển cộng đồng Còn trong thực tiễn, công tác xã hội cũng chưa thể hiện được vai trò phát huy nội lực và sự tham gia của người dân trong quá trình phát triển cộng đồng ở Việt Nam Vậy bản chất của vấn đề là ở đâu? Cần có những cơ sở gì để phát triển cộng đồng trong công tác xã hội phát huy được vai trò của mình? Đây cũng là vấn đề cần thiết mà thực tiễn đào tạo và thực hành phát triển cộng đồng trong công tác xã hội ở Việt Nam đang đặt ra
Từ những vấn đề nêu trên, có thể kết luận rằng thực tiễn đào tạo và thực hành phát triển cộng đồng trong công tác xã hội ở Việt Nam đang đặt ra yêu cầu về nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống lý luận về phát triển cộng đồng trong công tác xã hội trên cơ sở so sánh và tổng kết các quan điểm nhằm hỗ trợ cho công tác đào tạo nhân viên công tác xã hội, phối hợp với chuyên gia phát triển cộng đồng thúc đẩy giải quyết các vấn đề xã hội tại các vùng có kinh tế kém phát triển Vì vậy, đề tài “Lý luận phát triển cộng đồng trong công tác xã hội” có ý nghĩa quan trọng về lý luận, nhất là trong giai đoạn thực hiện các chính sách phát triển xã hội, bền vững với tôn chỉ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và hội nhập quốc tế của Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hướng nghiên cứu về phát huy nội lực của cộng đồng
Các nhà nghiên cứu thực tiễn trên thế giới đã đúc kết rằng việc phát triển
và tăng trưởng kinh tế cộng đồng dựa vào nội lực, đánh thức các tài nguyên sẵn
có tại cộng đồng sẽ giúp xóa đói giảm nghèo bền vững không chỉ ở khu vực
Trang 7nông thôn, mà còn ở cả khu vực thành thị, trong khi đó tăng trưởng ở khu vực thành thị không đủ đảm bảo cho việc xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn [7,14] Chính vì vậy, các nghiên cứu về phát triển cộng đồng dựa vào nội lực trên thế giới đã được quan tâm từ rất sớm, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển Bằng chứng cho thấy, ngày nay Mĩ, Nhật và các quốc gia Châu Âu có nền kinh
tế phát triển gấp nhiều lần các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Hiện nay, vấn đề phát huy tiềm lực cộng đồng và sự tham gia của người dân ở các quốc gia đang phát triển cũng ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tác giả Frans Elltis trong nghiên cứu về “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” đã nêu lên tầm quan trọng của việc phát huy nguồn vốn cộng đồng, nguồn nhân lực, vật lực, sự tham gia và tài nguyên thiên nhiên trong việc phát triển cộng đồng và giải quyết vấn đề cộng đồng, trong nghiên cứu này, ông nhấn mạnh đến việc khai thác nguồn tài nguyên đất, nước, và nhân lực đẩy mạnh hiệu quả khai thác nông nghiệp tại địa phương [43] Đây là những nghiên cứu có giả trị tham khảo rất cao cho Việt Nam trong việc giải quyết những vấn
đề của chính sách phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực tại địa phương
Hướng nghiên cứu về phát triển đô thị có sự tham gia của cộng đồng
Ngay từ những năm 1960, tại các nước phát triển đã hình thành một lối tư duy về qui hoạch đô thị mới gọi là “qui hoạch có sự ủng hộ”, hay “qui hoạch có
sự tham gia của cư dân” (advocacy planning) Tức là việc qui hoạch đô thị đã chuyển từ lối kỹ trị, chuyên chế sang lối qui hoạch “dân chủ”, mà ở đó mọi thành phần dân cư (người dân nói chung và các nhà chuyên môn thuộc các ngành nghề khác) đều được tham gia quá trình “định dạng” bộ mặt của đô thị [14]
Ở Châu Âu qui hoạch có sự tham gia của cộng đồng trong từng giai đoạn lập qui hoạch cho đến quản lý đô thị đã diễn ra manh mẽ từ khá lâu Điển hình phương pháp quy hoạch này do chính phủ đảng Bảo Thủ (Conservative Government) của Anh bắt đầu từ1980 nhằm đổi mới hệ thống qui hoạch đô thị
và thành phố, ở Pháp năm 1980 cho qui hoạch từng khu vực, quy hoạch vùng và sau đó là Thụy Điển vào năm 1987 cho qui hoạch sử dụng đất (detail plan) Kết
Trang 8quả cho thấy, hầu hết các thành phố mới xây dựng theo qui hoạch có sự tham gia của cộng đồng đều trở thành những thành phố kiểu mẫu của Châu Âu
và thế giới
Hướng nghiên cứu về phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
Kinh nghiệm phát triển cộng đồng của công tác xã hội được bắt đầu ở Ghana từ năm 1940 và lan rộng ở hầu hết các thuộc địa của Anh ở châu Âu và Châu Phi Năm 1950, Liên hợp quốc đã công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng phát triển cộng đồng như một công
cụ thực hiện các chương trình phát triển quốc gia, trong đó phát triển cộng đồng chủ yếu là phát triển nông thôn và các cộng đồng nông thôn (dân cư nông thôn chiếm 80 – 90% ở các nước) Cho đến nay, các nghiên cứu về thực hành công tác xã hội trong phát triển cộng đồng đã được thực hiện khá phong phú, điển hình là nghiên cứu của Kyamak Kabadaki về Exploration of Social Work Practice, Models for Rural Development in Uganda Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đánh giá sự đóng góp của công tác xã hội trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn ở Uganda cũng như xem xét các mô hình thực hành công tác xã hội nhằm giải quyết vấn đề, nhu cầu và tạo điều kiện
để phát triển nông thôn [19]
Từ yêu cầu thực tiễn, vào thập kỷ 60 môn phát triển cộng đồng – một phương pháp của công tác xã hội được giảng dạy ở đại học [15] Hiện nay, phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội đã được xem là một ngành khoa học Các giáo trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ ngành công tác xã hội, phương pháp phát triển cộng đồng đã được chú trọng giảng dạy tại các trường: The Tata Institute of Social Sciences (TISS), Ấn Độ; Thames International College, Nepal… Nhưng trong chương trình đào tạo của các trường này, phát triển cộng đồng trong công tác xã hội không phải là một giáo trình chuyên biệt
mà bao gồm có nhiều học phần chuyên sâu khác nhau Những vấn đề được các tác giả đề cập nhiều nhất trong công tác xã hội phát triển cộng đồng là: lịch sự
Trang 9hình thành, khái niệm, vai trò của nhân viên phát triển cộng đồng, vị trí và vai trò của công tác xã hội đối với cộng đồng, các kỹ năng thực hành, mục tiêu của công tác xã hội trong phát triển nông thôn, dịch vụ xã hội, công tác xã hội cộng đồng
ở khu vực nông thôn, mô hình thực hành công tác xã hội…[6], [12], [9] Đây là những thành tựu và kinh nghiệm cần được nghiên cứu để tham khảo, học hỏi trong đào tạo nhân viên công tác xã hội cũng như thực hành công tác xã hội trong phát triển cộng đồng ở Việt Nam
Cuối những năm 1970, phát triển cộng đồng được coi là một trong những phương pháp cơ bản của Công tác xã hội, được giảng dạy tại các trường đại học
về Công tác xã hội Từ những năm 1980 đến năm 1990, các nước đang phát triển
đã có những thay đổi về cách nhìn nhận và phương pháp tiếp cận trong phát triển cộng đồng Phạm vi của phát triển cộng đồng không chỉ bó hẹp ở các khu vực nông thôn mà còn thực hiện ở các khu vực thành thị Từ những năm 1990 đến nay, phát triển cộng đồng được coi là một ngành khoa học, là phương châm hành động trong chiến lược phát triển chung của mỗi quốc gia trên toàn cầu và nằm trong mục tiêu thiên niên kỷ được nguyên thủ 189 nguyên thủ quốc gia họp Hội nghị Thượng đỉnh tại New York
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phát triển cộng đồng là một ngành khoa học Chính vì vậy nghiên cứu về lý luận về phát triển cộng đồng ở Việt Nam được thực hiện khá nhiều Về mặt lý luận các tác giả thường đề cập: khái niệm về cộng đồng, phát triển cộng đồng; phát triển bền vững; ý nghĩa và tầm quan trọng của phát triển cộng đồng; các chỉ số đo lường; phát triển kinh tế nông thôn; phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội; vai trò của các
tổ chức và Nhà nước trong phát triển cộng đồng, phương pháp nghiên cứu phát triển cộng đồng; quy hoạch nông thôn và đặc biệt là những khó khăn mà người dân gặp phải; các mô hình phát triển cộng đồng… [5], [11], [10], [2]
Tính đến thời điểm hiện nay, vấn đề liên quan đến công tác xã hội, dịch vụ công tác xã hội, quản lý công tác xã hội và các phương pháp trong công tác xã
Trang 10hội đã được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu riêng biệt về công tác xã hội trong phát triển cộng đồng còn rất ít ỏi
Xét trên khía cạnh thực tiễn thì phong trào xây dựng và phát triển cộng đồng lấy cộng đồng làm trọng tâm đã được thực hiện từ thập kỷ 60 và 70 khi phát triển cộng đồng được mở rộng ở các nước Hiện nay, Việt nam cũng có một
số công trình nghiên cứu đề cập đến sự tham gia của người dân trong phát triển cộng đồng, hiệu quả sử dụng các công cụ, kỹ thuật của phát triển cộng đồng vào phát triển nông thôn Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào
về công tác xã hội hay phát triển cộng đồng trong phát triển kinh tế xã hội
Xét trên khía cạnh đào tạo thì phát triển cộng đồng - một phương pháp của công tác xã hội được giới thiệu tại nước ta vào giữa thập kỷ 50 thông qua trường tiểu học cộng đồng ở Bún, Lái Thiêu, sau đó mở rộng đào tạo ở một số trường cao đẳng và sư phạm Giáo trình giảng dạy môn học này chủ yếu là du nhập từ các quốc gia phát triển hơn, như Anh, Mỹ, Úc, Philipin… Khoảng những năm
2004, học phần phát triển cộng đồng được chính thức đề cập trong đào tạo cử nhân ngành công tác xã hội của một số trường đại học như trường Đại học Đà Lạt, Đại học An Giang, Đại học Mở Bán Công thành phố Hồ Chí Minh Song trên thực tế, phần lớn các giáo trình, bài giảng trên chỉ tập trung vào lịch sử hình thành, vai trò và tiến trình thực hiện phát triển cộng đồng trong công tác xã hội cũng như các vấn đề xã hội, môi trường cần quan tâm, giải quyết trong quá trình hoạch định, thực hiện các chính sách, chương trình phát triển cộng đồng
Như vậy, xét trên cả góc độ lý luận và thực tiễn, phát triển cộng đồng trong công tác xã hội mới chỉ được thể hiện riêng rẽ trong các bài giảng của một
số trường đại học Nói một cách cụ thể, chưa có một giáo trình toàn diện, chuyên sâu nghiên cứu so sánh một cách tổng hợp các tác liệu trong và ngoài nước về các quan điểm tiếp cận, triết lý xây dựng, mô hình và nguyên tắc trong phát triển cộng đồng Còn xét trên khía cạnh thực tiễn, phát triển cộng đồng trong công tác
xã hội cũng ít được tìm hiểu và nghiên cứu
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phát triển cộng đồng trong công tác xã hội Qua đó, đề xuất những định hướng và giải pháp thực hiện hiệu quả phương pháp phát triển cộng đồng ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và tổng hợp cơ sở lý luận về quan điểm tiếp cận, các triết lý,
mô hình và nguyên tắc của phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
Phân tích hệ thống lý luận hỗ trợ trong phương pháp phát triển cộng đồng
Đề xuất hệ thống định hướng, giải pháp thực hiện phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các quan điểm tiếp cận, các triết lý, các chính sách pháp luật, mô hình và
nguyên tắc của phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
4.2 Khách thể nghiên cứu
Bài viết tổng hợp, đánh giá về phát triển cộng đồng, giáo trình, bài giảng, các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học trong và ngoài nước về phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Triết lý trong phát triển cộng đồng, quan điểm tiếp cận, và nguyên tắc thực hành trong phát triển cộng đồng
- Về mặt thực tiễn: Đề xuất những lý luận phát triển cộng đồng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam theo hướng phát triển cộng đồng bền vững
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2016 đến tháng
7/2016 Tiến trình nghiên cứu được thực hiện cụ thể như sau:
Trang 12 Từ tháng 3/2016 đến hết tháng 4/2016: Thu thập tài liệu, xây dựng cơ
sở lý luận cho đề tài và xây dựng khung nghiên cứu theo hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn
Từ tháng 4/2016 đến hết tháng 06/2016: Thu thập tài liệu, phân tích, đánh giá, tổng hợp và viết báo cáo
Từ tháng 6/2016 đến tháng 7/2016: Gửi bản thảo cho giảng viên hướng dẫn Chỉnh sửa theo góp ý, hoàn thiện và nộp luận văn theo lịch
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận chung để nghiên cứu nội dung của đề tài là quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển cộng đồng trong công tác xã hội, bao gồm các chính sách, pháp luật Trên nền tảng quan điểm đó, là sự tổng hợp các nội dung về, các mô hình, triết lý và nguyên tắc thực hiện trong phát triển cộng đồng trong và ngoài nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây để tìm hiểu vấn
đề nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa, khái quát hóa các tài liệu sẵn có từ các nguồn tài liệu chính thức, từ các giáo trình của các tác giả trong và ngoài nước, từ các báo cáo của cơ quan chính phủ
về các vấn đề có liên quan đến phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
Phương pháp quy nạp – diễn dịch: Được sử dụng để diễn đạt và phân tích
và giải thích các lý luận, các vấn đề có liên quan đến phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các cơ
sở đào tạo, nghiên cứu, thực hành về phát triển cộng đồng trong công tác xã hội
Trang 136.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là bằng chứng khoa học cho cơ quan hữu quan trong việc xây dựng chính sách, giải pháp thực hiện có hiệu quả phát triển cộng đồng trong công tác xã hội hiện nay theo hướng phát triển và giảm nghèo bền vững
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có 3 chương Chương 1 trình bày một cách ngắn gọn về lý luận phát triển cộng đồng trong công tác xã hội Trên cơ sở đó, chương 2 sẽ tập trung phân tích, tổng hợp các quan điểm, triết lý, mô hình và các nguyên tắc của phát triển cộng đồng trong công tác xã hội Riêng chương 3, căn cứ vào các lý luận đã được tổng hợp
ở chương 2, nghiên cứu sẽ đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội ở Việt Nam
trong giai đoạn mới
Trang 14Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Hệ thống khái niệm nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Mỹ – NAW (1970) thì CTXH
là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ
và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy [10]
Theo Hiệp hội cán bộ Xã hội quốc tế và Hiệp hội các trường đào tạo công
tác xã hội quốc tế định nghĩa:“Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi Sử dụng các học thuyết về hành vi con người
và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình Nhân quyền và công lý trong xã
hội là những nguyên tắc nền tảng của công tác xã hội” [9]
1.1.2 Khái niệm về phát triển
Khái niệm phát triển được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau và có nhiều ngành khoa học nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên, theo cách hiểu phổ biến
nhất, phát triển là làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp [11]
Như vậy, nói đến phát triển cần chú ý đến hai điểm cơ bản:
- Phát triển là quá trình biến đổi từ tình trạng thấp kém, chưa hài lòng lên tình trạng tốt hơn, ổn định hơn
- Phát triển là để đáp ứng nhu cầu của con người và mang lại những thay đổi tích cực cho con người và xã hội
1.2.2 Khái niệm cộng đồng
Khái niệm cộng đồng được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, sau đây là một số cách tiếp cận cơ bản:
Trang 15Theo (Korten, 1987) Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau [13]
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội
có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia
sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên [7]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu cộng đồng là một tập hợp người-dân cư, cùng sinh sống trong một địa vực nhất định hoặc không và có chung tình trạng về một khía cạnh nào đó, cùng nhau chia sẻ trách nhiệm, lợi ích
1.1.3 Khái niệm phát triển cộng đồng
Theo quan điểm của chính phủ Anh, khái niệm phát triển cộng đồng được
sử dụng lần đầu tiên năm 1940: “Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị nhằm phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng đồng” [35]
Liên Hiệp Quốc (1956) cũng đưa ra định nghĩa: “Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền
để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” [35]
Theo Nguyễn Thị Oanh (1995): “Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực, phát triển” [13]
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu về phát triển cộng đồng như sau:
Phát triển cộng đồng là một chuỗi những hoạt động tác động tích cực lên một cộng đồng dân cư, khiến cho cộng đồng đó nhận thức về vấn đề của mình, phát huy khả năng và tiến tới tự lực, tự vận động theo chiều hướng đi lên về chất lượng cuộc sống
Trang 161.1.4 Khái niệm tổ chức cộng đồng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về tổ chức cộng đồng, cụ thể như:
Tổ chức cộng đồng là một kỹ thuật với mục đích cuối cùng là sự tham gia chủ động với tư cách tập thể của người dân vào phát triển Nhằm tăng sức mạnh cho cộng đồng để tự quyết định sự phát triển của mình và sự định hình của tương lai cho mình [6]
Tổ chức cộng đồng là một diễn tiến, qua đó, một cộng đồng nhận rõ nhu cầu, hay mục tiêu của mình, sắp xếp các nhu cầu hay mục tiêu này, phát huy sự
tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm kiếm tài nguyên (bên trong và bên ngoài),
để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy Thông qua đó sẽ phát huy những thái độ,
kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng [13]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu tổ chức cộng đồng là một tiến trình giải quyết vấn đề, qua đó, cộng đồng được tăng sức mạnh bởi các kiến thức, kỹ năng, phát hiện được nhu cầu và các vấn đề, từ đó lựa chọn nhu cầu được ưu tiên và huy động tài nguyên, sự tham gia chủ động của người dân để cùng giải quyết vấn đề
1.1.5 Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng
Ðịnh nghĩa thuật ngữ “Sự tham gia của cộng đồng” Theo Clanrence
Shubert là quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dựng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết
bị hay phạm vi hoạch động Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng [32]
Sự tham gia của cộng đồng là một quá trình mà Chính phủ và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ đô thị cho tất cả cộng đồng [7]
Sự tham gia của cộng đồng là đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng của dự án được tham gia vào việc quyết định dự án
Sự tham gia của cộng đồng là tìm và huy động các nguồn lực của cộng đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước
Trang 171.1.6 Khái niệm về nội lực cộng đồng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về nội lực cộng đồng, tuy nhiên theo cách
hiểu khái quát nhất: “Nội lực cộng đồng là tất cả những nguồn lực/tài sản thực
tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống của chính họ” [7]
Theo Berkowtz và Wadud (2003): “Tài sản trong bối cảnh của công cụ tiếp cận ABCD được hiểu như là tài lực nó bao gồm con người với những kinh nghiệm sống, kiến thức, kỹ năng, tài nguyên thiên nhiên, các tổ chức hội đoàn, các doanh nghiệp và các tổ chức không chính thức” [30]
Nghiên cứu của Jonh Mckinght (1995) nhấn mạnh rằng: “Chúng ta không thể biết cái chúng ta cần nếu chúng ta chưa biết cái chúng ta có là gì” Điều này nêu lên sự cần thiết của việc tìm hiểu những tài sản của cộng đồng trước khi tìm hiểu những nhu cầu/vấn đề trong cộng đồng Vậy để nhận ra những tài sản/tiềm năng của mình đòi hỏi cộng đồng cần trả lời câu hỏi: “cái chúng ta đã làm được
và cái chúng ta đang có là gì?” [31]
1.1.7 Khái niệm về vấn đề cộng đồng
Vấn đề cộng đồng là những khó khăn, trở ngại, những rào cản trong tiến trình thực hiện nhu cầu chính đáng, hợp pháp ở các lĩnh vực đời sống, kinh tếm văn hóa, xã hội , ngăn cản quá trình phát triển của cộng đồng [6]
Có thể nói, vấn đề cộng đồng là những khó khăn mang tính xã hội mà cộng đồng đang phải đối mặt, cản trở sự phát triển của cộng đồng
1.2 Mối liên hệ giữa phát triển cộng đồng và công tác xã hội
Trên thực tế, mối quan hệ giữa Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng” –
“Social Work and Community Development” là mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành, mối quan hệ này không hề tách biệt mà có tính qua lại và hỗ trợ lẫn nhau
Thứ nhất, về mặt khái niệm Công tác xã hội của Hiệp hội quốc gia nhân viên
xã hội Mỹ (NASW): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [29,30] Quan niệm của hiệp hội cán sự công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7-
Trang 182000 tại Montreal - Canada (IFSW): "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề" [31,32]
Trong khi đó, Phát triển cộng đồng là những tiến trình, qua đó nỗ lực của người dân kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế,
xã hội, văn hóa của cộng đồng và giúp các cộng đồng này hòa nhập và đóng góp vào tiến trình phát triển chung của quốc gia (định nghĩa của Liên Hợp Quốc)
Có thể thấy rằng, các quan niệm về CTXH được nhìn nhận xoay quanh trục định hướng can thiệp đến thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) nhằm giúp các đối tượng này tự phát triển, phát huy nội lực, tự quyết định những vấn đề của chính cá nhân, nhóm hay cộng đồng mình Trong khi đó, Phát triển cộng đồng là một phương pháp cụ thể thực hiện vai trò mà Công tác xã hội đang hướng tới
Phát triển cộng đồng được xem như một ngành khoa học ứng dụng việc trợ giúp các thân chủ nhằm đạt được một cấp độ hiệu quả về các chức năng tâm
lý xã hội và tác động hiệu quả đến những biến đổi xã hội nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân Để đạt được điều này, công tác xã hội cần áp dụng phương pháp phát triển cộng đồng một trong các phương pháp chính của Công tác xã hội như một phương thức thực hành nhằm đặt được hiệu quả mong muốn
Công tác xã hội đã thể hiện cách tiếp cận trên cả bình diện vi mô và vĩ mô, lấy cá nhân, nhóm, cộng đồng và môi trường xung quanh làm đối tượng định hướng và tác động Đồng thời, công tác xã hội được xem là một hoạt động chuyên môn giúp đỡ các cá nhân, nhóm, hoặc cả cộng đồng nhằm nâng cao hay khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội và kiến tạo các điều kiện xã hội phù hợp với việc thực hiện mục tiêu này
Căn cứ vào các nội dung công tác xã hội, phát triển cộng đồng lấy đó định hướng trong quá trình tiếp cận lấy cộng đồng và môi trường xung quanh làm đối
Trang 19tượng định hướng và tác động Nâng cao năng lực cho các thành viên trong cộng đồng, cải thiện môi trường và điều kiện sinh tồn của người dân
Thứ hai, Theo Hiệp hội các cán sự công tác xã hội Mỹ (NASW), “sứ mệnh cao cả của hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp là nâng cao sức khỏe thể chất
và tinh thần của người dân, và giúp họ đáp ứng các nhu cầu cơ bản với mối quan tâm cụ thể hơn đến các nhu cầu và những hình thức trao quyền cho đối tượng dễ
bị tổn thương, bị áp bức và sống trong nghèo đói” [29,32] Tương tự, Hội đồng quốc gia về đào tạo công tác xã hội Mỹ (CSWE), một tổ chức kiểm định các chương trình đào tạo công tác xã hội ở bậc đại học và cao học cũng mô tả mục đích của công tác xã hội chuyên nghiệp là “nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần của mọi người và xóa bỏ đói nghèo, các hình thức áp bức và các hình thức bất công trong xã hội” [33,34] Việc xác định sứ mệnh của hoạt động chuyên môn này cũng được Hiệp hội các nhà cán sự Thế giới nhìn nhận, xem xét và tuyên
bố trong trong từng kỳ Đại hội của mình Tổ chức này xác định mục đích của công tác xã hội cũng bao gồm cả quá trình thúc đẩy sự biến đổi xã hội, sự trao quyền và giúp con người tự do nâng cao cuộc sống của bản thân [32,33]
Các mục đích của công tác xã hội mà hầu hết các giáo trình công tác xã hội ở
Mỹ đều thừa nhận là: Công tác xã hội có thể nâng cao sự phát triển tốt đẹp của con người và xóa bỏ đói nghèo, áp bức và các hình thức bất công xã hội [33,34]
Rõ ràng, Sứ mệnh công tác xã hội đã làm căn cứ cho phát triển cộng đồng thực hiện, cụ thể các mục tiêu mà phương pháp Phát triển cộng đồng hướng tới:
Mục tiêu phát triển con người: mục tiêu này liên quan đến quá trình nâng
cao năng lực con người để khắc phục trở ngại, khó khăn nhằm đạt được những mục tiêu mong muốn
+ Quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng được bình đẳng, chân thành và cởi mở
+ Các cấp lãnh đạo và người dân có quan hệ tốt Người dân được tham gia vào các hoạt động phát triển
Trang 20+ Người dân được huy động và tổ chức để họ tự giải quyết các vấn đề của cộng đồng mình
+ Năng lực của các thành viên trong cộng đồng được nâng cao để có thể
tự lực giải quyết các khó khăn trong cuộc sống
+ Tinh thần tập thể, tính cộng đồng được xây dựng và hoàn thiện
Mục tiêu vật chất: mục tiêu này liên quan đến tăng trưởng về vật chất,
kinh tế, xã hội nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống
+ Tăng sản phẩm xã hội và đảm bảo sản phẩm ấy được phân phối một cách công bằng
+ Phúc lợi xã hội và các dịch vụ được tăng cường nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong cộng đồng
+ Cường độ lao động giảm nhờ việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
+ Tạo được nhiều cơ hội để mọi thành viên trong cộng đồng có thể lựa chọn nghề nghiệp nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo của họ
+ Tăng nguồn lực cho tương lai (cơ sở vật chất, kỹ thuật…)
Như vậy, từ phân tích trên đây có thể thấy rằng, Công tác xã hội với vai trò làm định hướng, sứ mệnh tổng quát, và Phát triển cộng đồng là một bộ phận thực thi những sứ mệnh cao cả đó, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, nâng cao năng lực, bảo về quyền và thúc đẩy sự phát triển xã hội một cách bền vững
Thứ ba, về mặt phương pháp, Công tác xã hội nhấn mạnh đến quá trình lập kế hoạch, hình thành và thực hiện các chính sách xã hội, các dịch vụ, các nguồn lực và các chương trình can thiệp cần thiết cho việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và hỗ trợ sự phát triển năng lực con người [30, tr.135]
Công tác xã hội hướng đến việc hình thành và thực hiện các chính sách xã hội, các dịch vụ và các chương trình đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và hỗ trợ việc phát triển năng lực con người [33,34]
Phương pháp phát triển cộng đồng được triển khai tại cộng đồng, giúp cải thiện và tiến tới nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Nói tới chất
Trang 21lượng cuộc sống của người dân là nói tới tất cả các mặt của đời sống từ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, y tế, giao dục, tinh thần… Các dự án phát triển cộng đồng khi thực hiện tại các địa phương luôn hướng tới cải thiện, nâng cao cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, điện, nước; giúp người dân sử dụng nguồn đất đai, tài nguyên rừng, sông hồ, các khoáng sản, các tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người; hay giúp họ nâng cao hiểu biết, kỹ năng, tay nghề, các công cụ sản xuất; giúp người dân trong cộng đồng được hưởng thụ các giá trị của đời sống tinh
thần… để cuộc sống của họ được tốt hơn
Đảm bảo quyền tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng của
người dân Vì đó, phát triển cộng đồng với những dự án luôn xuất phát từ những
nhu cầu thực tế, bức thiết nhất của người dân, tạo mọi điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, được tham gia, đóng góp ý kiến, sáng kiến,
công sức, tiền của để làm cho cuộc sống của họ được ấm no hơn, mang lại an sinh cho gia đình và cộng đồng
Mang lại sự công bằng xã hội Công bằng xã hội là việc mọi người đều có
quyền, có cơ hội như nhau để thỏa mãn nhu cầu cơ bản và giữ gìn giá trị và nhân phẩm của mình Tuy nhiên, công bằng xã hội ở đây không có nghĩa là sự cào bằng, mà cần có sự phân bố lại tài nguyên và quyền ra quyết định trong cộng đồng Chẳng hạn, những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, người thuộc vào nhóm yếu thế, gia đình có công với cách mạng mà thiếu vốn, thiếu các kỹ thuật sản xuất sẽ được ưu tiên trong nhiều hoạt động, công việc, quyền lợi để có thể tăng năng lực và cải thiện đời sống, tiến tới phát triển tốt hơn về mọi mặt
Nâng cao năng lực con người Mỗi người dân trong cộng đồng đều có sẵn những tiềm năng, nhưng bản thân họ chưa nhận ra hoặc chưa có cơ hội để thể hiện được những tiềm năng ấy Vì vậy, phát triển cộng đồng giúp người dân nhận ra những tiềm năng và phát huy tiềm năng của mình Việc nâng cao năng lực cho người dân thể hiện qua những khía cạnh sau:
+ Quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng được thúc đẩy trên cơ sở
sự bình đẳng, chân thành và cởi mở;
Trang 22+ Các thiết chế xã hội trong cộng đồng được củng cố để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển biến xã hội;
+ Các cấp lãnh đạo và người dân có quan hệ tốt, người dân được tham gia vào các hoạt động phát triển;
+ Người dân được huy động và tổ chức để họ tự giải quyết các vấn đề của cộng đồng mình;
+ Năng lực của các thành viên trong cộng đồng được nâng cao để có thể
tự lực giải quyết các khó khăn trong cuộc sống;
+ Tinh thần tập thể, tính cộng đồng được xây dựng và hoàn thiện
Xây dựng tinh thần cộng đồng và nâng cao trách nhiệm xã hội Là một thành viên trong cộng đồng, chúng ta không chỉ quan tâm đến bản thân mình mà còn có trách nhiệm với mọi người để cùng nhau giải quyết những nhu cầu và vấn
đề chung Vì vậy, phát triển cộng đồng luôn hướng tới xây dựng tinh thần cộng
đồng và nâng cao trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân Qua đó, phát triển cộng đồng tạo môi trường, điều kiện để người dân trong cộng đồng phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, cùng nhau thực hiện trách nhiệm xã hội và hướng tới xây dựng một cộng đồng đoàn kết, bền vững và phát triển
Nhân viên phát triển cộng đồng cũng chính là người thực hiện đa dạng về vai trò của mình tại cộng đồng, cũng là người hiểu rõ và luôn bám sát những chính sách
và an sinh xã hội của Nhà nước, lồng ghép các chính sách trong các chương trình,
dự án về phát triển cộng đồng, đưa các chính sách xã hội đến với người dân nghèo yếu thế, giúp họ tiếp cận và cải thiện hoàn cảnh của mình nhằm hướng đến các kết quả giúp người dân tự lực và phát triển bền vững dựa vào hỗ trợ chính sách xã hội
từ nhà nước và các nguồn lực tại địa phương Trong thời gian qua, phương pháp phát triển cộng đồng thông qua các chương trình hỗ trợ cộng đồng, dự án phát triển cộng động được áp dụng mạnh mẽ tại cộng đồng Việt Nam, bước đầu đã và đang mang lại những đổi thay to lớn Ví dụ: Tăng thu nhập: Xoá đói giảm nghèo, Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, Tín dụng nhỏ, Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình, v.v ; Phát triển hạ tầng cơ sở: Làm cầu đường, Điện nông thôn, Nước sạch, Thuỷ
Trang 23lợi, Nhà ở, Tôn tạo nền nhà, v.v ; Chuyển giao khoa học kỹ thuật: Nuôi trồng thuỷ sản, Chuyển đổi cây trồng, Trồng cây trên đồi dốc, Vườn ao chuồng; Dịch vụ xã hội: Tiêm chủng mở rộng, Chăm sóc bà mẹ trẻ em, Phổ cập giáo dục, Dân số-kế hoạch hoá gia đình, Trẻ khuyết tật, Người già neo đơn, Phòng ngừa HIV/AIDS và chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng, v.v ; Phát triển nông thôn: Nhóm
PN tín dụng tiết kiệm, khuyến nông, chăm sóc người già, trẻ mồ côi trong cộng đồng, xoá cầu khỉ và bê tông hoá nông thôn v.v
Như vậy, có thể thấy rõ rằng, giữa phương pháp phát triển cộng đồng và công tác xã hội có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ lẫn nhau giữa lý thuyết và thực hành, thực hiện tốt phương pháp phát triển cộng đồng chính là đang hoàn thành một phần lớn sứ mệnh và chức năng của công tác xã hội Mặt khác, qua quá trình triển khai phương pháp công tác xã hội từ thực tiền là nền tảng đóng góp to lớn về mặt lý luận giúp Công tác xã hội hoàn thiện về mặt lý thuyết nhằm nâng cao hiệu quả can thiệp
Tóm lại, mối quan hệ giữa Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng là mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành, mối quan hệ này không hề tách biệt mà có tính qua lại và hỗ trợ lẫn nhau
Trang 24Kết luận chương 1
Nội dung chương này tác giả trình bày những vấn đề chung về vấn đề nghiên cứu Những vấn đề được đề cập tới bao gồm hệ thống khái niệm liên quan đến đối tượng đang nghiên cứu của đề tài, cụ thể các quan niệm về phát triển cộng đồng Làm rõ các khái niệm về công tác xã hội, phát triển cộng đồng, vấn đề cộng đồng, các nguồn lực của cộng đồng, và sự tham gia cộng đồng
Bên cạnh đó tác giả cũng đề cấp và phân tích mối quan hệ giữa Công tác
xã hội và Phát triển cộng đồng” – “Social Work and Community Development”, mối quan hệ được phân tích ở các khía cạnh về khía niệm, sứ mệnh và phương pháp, đây là mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành, mối quan hệ này không hề tách biệt mà có tính qua lại và hỗ trợ lẫn nhau
Như vậy những nội dung liên quan đến phát triển cộng đồng đã được tìm hiểu và trình bày là cơ sở để cho tác giả hiểu rõ hơn về mặt lý luận, làm cơ sở lý luận thực tiễn cho chương tiếp theo
Trang 25Chương 2 TRIẾT LÝ TIẾP CẬN VÀ NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
TRONG CTXH 2.1 Triết lý trong phát triển cộng đồng
Quan tâm lớn hiện nay đối với công cuộc phát triển là tìm kiếm những chiến lược phát triển “Lấy con người làm trung tâm” Phương thức này nhấn mạnh sự tham gia với vai trò ngày càng cao của người dân ở cơ sở vào tất cả các giai đoạn của tiến trình phát triển Đó là sự phát triển dựa vào sáng kiến của người dân và sự tự lực của họ Những nỗ lực như vậy dẫn đến thay đổi phương pháp: từ cung cấp phúc lợi xã hội cho người dân, coi họ như là những người hưởng lợi thụ động, sang phát triển cộng đồng nhằm giúp người dân nâng cao năng lực để giải quyết vấn đề của họ Phương pháp phát triển cộng đồng lấy con người làm trung tâm là tăng tính tự quyết và phát huy tiềm năng của họ Nó dựa trên triết lý rằng: người dân có thể tự định hướng và điều khiển sự phát triển của chính họ khi họ nhận thức được giá trị và sức mạnh của chính mình Sự tham gia tích cực và chủ động của cộng đồng vào hoạt động phát triển được coi là phương tiện và cũng là mục tiêu của phát triển cộng đồng
Hoạt động phát triển cộng đồng mang tính chất đa dạng và liên ngành Tuỳ thuộc vào bối cảnh thực hiện chương trình, các vấn đề trọng tâm của môi chuyên ngành có thể được nhấn mạnh Chương trình phát triển cộng đồng có thể bắt đầu với các dự án mở rộng sản xuất tăng thu nhập, chăm sóc sức khoẻ, cải thiện dinh dưỡng, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, phát triển lãnh đạo,
hỗ trợ tín dụng, xoá mù chữ, phát triển cơ sở hạ tầng…Tuy nhiên mục tiêu bao quát của các dự án phát triển cộng đồng là hướng đến tạo lập chuyển biến xã hội tích cực trong cộng đồng, làm cơ sở cho tăng trưởng kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống người dân và đóng góp vào công cuộc phát triển chung của quốc gia
Phát triển cộng đồng trong công tác xã hội là một qúa trình can thiệp cộng đồng phức tạp và đa phương có liên quan tới nhiều tác nhân xã hội bao gồm các cộng đồng, các chính quyền các cơ quan cộng đồng và các phong trào xã hội (Ife
Trang 261995, Mayo, Bessant et At 1998) Việc phát triển cộng đồng kết hợp những tác nhân xã hội bằng nhiều cách khác nhau, qua một số quá trình có tính hợp tác và một số khác mang tính đối đầu
Triết lý và quá trình phát triển cộng đồng liên quan đến việc lôi cuốn người dân tham gia vào các vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ qua những hoạt động tập thể nhằm tăng quyền cho những cá nhân và nhóm Những giá trị cơ bản của công tác cộng đồng thể hiện bởi thái độ và hoạt động chống lại
sự phân biệt đối xử, đề cao sự bình đẳng, là tạo lập kỹ năng và lòng tin cho các
cá nhân thông qua việc xây dựng năng lực trong các tổ chức cộng đồng gắn với
sự giúp đỡ của mình, với đổi thay của xã hội và công bằng xã hội (Popple, 1995, Smith, 1995, Humphries và Truman, 1994, Rothman et At, 1995)
Phương châm của phát triển cộng đồng hướng đến là phục vụ lợi ích của con người, đảm bảo quyền lợi và chất lượng cuộc sống cho người dân, cộng đồng, không phân biệt tầng lớp, dân tộc, khu vực, hướng đến sự phát triển một cách toàn diện và bền vững của cộng đồng nói riêng và của quốc gia nói chung Phát triển cộng đồng không chỉ là những hoạt động can thiệp nhằm giúp cộng đồng tăng trưởng về mặt kinh tế mà còn để thay đổi quan niệm, hành vi và nhận thức của người dân, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quá trình xây dựng năng lực, liên kết và đồng thuận trong cộng đồng, xã hội
Về quan điểm, mấy thập kỷ xây dựng và hoàn thiện lý thuyết phát triển cộng đồng và thực hành trong đời sống, trước hết là ở các cộng đồng nông thôn,
đã định hình cho chúng ta một số quan điểm hoạt động, đó là:
Phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp luận từ dưới lên (Bottom – up) xuất phát từ nhu cầu của chính người dân Muốn tự phát triển chính người dân phải tự ý thức cũng như tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình
Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội, văn hoá…phải cùng được nâng lên Chỉ tiến công vào một khía cạnh thì không thể nào phá vỡ được cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, dốt nát và bệnh tật Nguồn lực thì có hạn nhưng tính đồng bộ của sự phát triển luôn đòi hỏi các
Trang 27chương trình phải có tính tính toán các điểm đột phá, từ đó tìm ra chìa khoá của
sự phát triển Phát triển cộng đồng chỉ có hiệu quả khi nằm trong một chiến lược phát triển quốc gia đúng đắn
Tham gia của quần chúng là quan điểm cơ bản của đường lối phát triển cộng đồng Yếu tố tổ chức là hết sức quan trọng Các tổ chức thuộc chính quyền địa phương phải được điều chỉnh để thực hiện chức năng phát triển, cũng như phải hỗ trợ để xây dựng và củng cố các tổ chức của chính người dân tại cộng
đồng Sự tham gia của chính quyền phải được coi như một nhân tố bên trong, không phải là một lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng mà đây là
một thành phần quan trọng của cộng đồng
Tạo được chuyển biến xã hội mới là quan trọng Đó là sự thay đổi nhận thức, hành vi của người dân nhằm mục đích phát triển; là tạo được chuyển biến trong cơ cấu tổ chức, các mối tương quan lực lượng trong chính cộng đồng đó
Phát triển năng lực trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” người dân
Người dân không thể hành động nếu thiếu năng lực Họ cũng không thể hành động đơn phương, riêng lẻ mà phải kết hợp với các cá nhân, tổ chức cùng một chí hướng và quyền lợi để tạo thành quyền lực chung Muốn cho người dân tự làm thì tổ chức thông qua huấn luyện là then chốt
2.1.1 Mục tiêu của phát triển cộng đồng
Trọng tâm của phát triển cộng đồng là con người (thành viên của cộng đồng) và phát triển con người vì con người Điều này có nghĩa là mục tiêu của phát triển là tăng khả năng của con người để làm chủ đời sống và môi trường của mình Những tiến bộ về vật chất không kèm theo sự phát triển khả năng con người và cải tiến định chế xã hội mà chỉ là thay đổi tạm bợ Tăng trưởng kinh tế chỉ là một trong những khía cạnh của phát triển
Mục tiêu bao trùm của phát triển cộng đồng là tạo ra những chuyển biến
xã hội trong cộng đồng để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, mang lại sự bền vững về môi trường Phát triển cộng đồng còn góp phần mở rộng và phát
Trang 28triển các nhận thức và hành động có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng đồng Mục tiêu trên được thể hiện dưới 5 khía cạnh sau:
Thứ nhất, phương pháp phát triển cộng đồng giúp các thành viên trong cộng đồng cải thiện điều kiện sống bao gồm cả điều kiện về vật chất và điều kiện
về tinh thần
Thứ hai, bảo đảm các quyền cơ bản của con người, những quyền mà Liên Hợp quốc và pháp luật thế giới đã tuyên bố và được bảo vệ, đặc biệt là cộng đồng yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương, trong đó có phụ nữ, trẻ em và người khuyết tật….tham gia các hoạt động phát triển nhằm đảm bảo quyền lợi, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của bản thân và góp phần xây dựng cộng đồng, xây dựng
Cuối cùng, phát triển cộng đồng chính là quá trình can thiệp nhằm giúp cộng đồng đi từ tình trạng kém phát triển, thụ động trở thành một cộng đồng có khả năng tự lực, tự tìm ra và giải quyết các vấn đề của mình
2.1.2 Đặc điểm của phát triển cộng đồng
Một số quan điểm có khuynh hướng gắn nhãn bất cứ và tất cả những nỗ lực trong công việc cộng đồng như phát triển cộng đồng Tuy vậy, đối với những người liên kết với lĩnh vực này, có một tập hợp các đặc điểm được thừa nhận phổ quát nhằm phân biệt phát triển cộng đồng với những dạng khác của các hoạt động liên quan đến cộng đồng Những đặc điểm nổi bật của nó bao gồm:
Các hoạt động can thiệp tập trung vào một đơn vị gọi là “cộng đồng”; Phát triển cộng đồng hướng đến tất cả các thành viên trong cộng đồng chứ không chỉ một nhóm hay một bộ phận nào đó
Trang 29Phát triển cộng đồng quan tâm đến đời sống và nhu cầu của toàn thể cộng đồng, thay vì chuyên về một lĩnh vực nào đó như nông nghiệp, kinh doanh, sức khỏe hay giáo dục
Phát triển cộng đồng luôn quan tâm đến việc giải quyết vấn đề, để mang lại những tiến bộ và tiến bộ về mặt xã hội
Phát triển cộng đồng dựa trên triết lý tự giúp và tham gia tự nguyện của các thành viên trong cộng đồng
Phát triển cộng đồng thường cần đến sự trợ giúp kỹ thuật – dưới hình thức nhân sự, trang thiết bị, tiền bạc, hay sự tư vấn – từ Nhà nước hay các tổ chức xã hội, tổ chức tự nguyện…trong và ngoài nước
Phát triển cộng đồng cần thiết phải có sự phối hợp liên ngành với khoa học xã hội, nông nghiệp, giáo dục, hành chính công, sức khỏe công cộng, giáo dục người lớn tuổi, hoạch định đô thị và công tác xã hội
Phát triển cộng đồng quan tâm đến việc đạt được những mục tiêu cụ thể
và tăng cường chất lượng sự tham gia, sự tự quản và sự hợp tác
Phát triển cộng đồng được đòi hỏi là một tiến trình phát triển và nâng cao nhận thức, mà trong đó con người là nhân vật trung tâm để nhận được kết quả đó
Phát triển cộng đồng chỉ mang lại hiệu quả sau một thời gian đáng kể vì
Phát triển cộng đồng nhấn mạnh đến các quyết định là kết quả của cơ sở đồng thuận cao, hơn là bỏ phiếu
Trong phát triển cộng đồng, sự tham gia trực tiếp thường được tạo cơ hội cho mọi người dân muốn tham gia, khác với sự tham gia gián tiếp là thông qua đại biểu của mình
Trang 30Phát triển cộng đồng được tin tưởng sẽ mang lại hiệu quả khi nó được thực hiện dựa trên một tập hợp những yếu tố sau:
- Giá trị và nhân phẩm của mỗi cá nhân là những giá trị cơ bản trong
xã hội dân chủ
- Mỗi người dân đều có những đóng góp cho cộng đồng
- Người dân có khả năng học hỏi và phát triển
- Sự thay đổi của cộng đồng được thúc đẩy do ý thức hợp tác, hoạch định và hành động
- Phát triển cộng đồng tạo cơ hội cho người dân nâng cao nhận thức,
tự nguyện đóng góp công sức vào sự phồn thịnh của địa phương Quan điểm cơ bản của phát triển cộng đồng là xem quá trình phát triển cộng đồng như “những tiến trình từ dưới lên Kết quả cuối cùng là người dân tận hưởng quyền làm chủ phát triển mà họ sẽ thực hành theo một cách có trách nhiệm và được khai sáng” (De Beer & Swanepoel, 1998, tr.102)
2.1.3 Nguyên lý của phát triển cộng đồng
Phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp tiếp cận từ dưới lên: phát triển cộng đồng phải được xuất phát từ chính nhu cầu của người dân [5,7,8]
Ví dụ: người dân được trực tiếp đề xuất các nhu cầu của mình như nhu cầu lựa chọn các giải pháp bảo vệ và nâng cao độ phì đất (nơi có điều kiện thuận lợi về nguồn nước thì chọn giải pháp làm ruộng bậc thang; nơi có điều kiện thuận lợi về khí hậu thời tiết thì lựa chọn các loại cây ăn quả để trồng trên các băng chắn vừa góp phần hạn chế tốc độ dòng chảy và xói mòn đất, vừa đem lại thu nhập cho người sử dụng đất, v.v…) hoặc nhu cầu lựa chọn phát triển các loại/giống cây, con phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương (nơi người dân
có kinh nghiệm trong sản xuất có thể lựa chọn các loại giống lai có tiềm năng năng suất cao, trong khi đó ở những địa phương mà trình độ người dân còn hạn chế, người dân có thể lựa chọn các giống cây, con truyền thống, tiềm năng năng suất có thể không cao nhưng trước mắt phù hợp với trình độ cũng như khả năng đầu tư vốn của họ), v.v
Trang 31Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội: kinh tế,
xã hội và văn hóa phải cùng được nâng lên [5,7,8]
Ví dụ: chú trọng phát triển kinh tế nhưng lại bỏ qua yếu tố phát triển xã hội sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng trong cộng đồng và làm gia tăng tình trạng đói nghèo ở một bộ phận các thành viên trong cộng đồng Mục tiêu phát triển cộng đồng vì vậy sẽ không đạt được như mong muốn
Sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng là rất quan trọng Sự
tham gia của chính quyền phải được coi như là một nhân tố bên trong, nó không phải là một lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng mà là một thành
phần quan trọng của cộng đồng [5,7,8]
Ví dụ: Sự tham gia của người dân địa phương với các kiến thức bản địa được tích lũy trong một thời gian dài như kinh nghiệm xây dựng ruộng bậc thang của đồng bào các dân tộc ít người ở các tỉnh miền núi phía Bắc hoặc truyền thống cả cộng đồng có quy ước bảo vệ và không xâm phạm diện tích “rừng thiêng” của cộng đồng đồng bào các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, Pa Hy ở các tỉnh miền Trung đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn và hạn chế hiện tượng xói mòn đất ở vùng đất dốc
Tạo được chuyển biến xã hội: đó là sự thay đổi nhận thức, hành vi của người dân nhằm mục đích phát triển [5,7,8]
Ví dụ: Có rất nhiều các biện pháp kỹ thuật góp phần hạn chế quá trình suy thoái đất như biện pháp nông lâm kết hợp, biện pháp canh tác trên đất dốc, biện pháp che tủ đất, xen canh các loại cây họ đậu ngắn ngày với cây lâu năm, v.v ,
đã được các nhà khoa học xây dựng Tuy nhiên, nếu chỉ có các biện pháp kỹ thuật tốt được áp dụng mà nhận thức, hành vi của người sử dụng đất không thực
sự được thay đổi theo hướng tích cực, thì đất đai khó có thể được bảo vệ một cách hiệu quả và có thể ngày càng tiếp tục bị suy thoái
Phát triển năng lực trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” người dân
Người dân không thể hành động tốt nếu thiếu năng lực Muốn cho người dân tự
Trang 32làm thì tổ chức các hoạt động thông qua việc đào tạo, huấn luyện là hết sức cần thiết Hơn nữa cần làm cho người dân hiểu rằng họ thực hiện các hoạt động phát triển là nhu cầu của chính họ, họ đang làm cho họ và vì lợi ích của họ chứ không
phải “làm cho dự án”, làm cho xã hoặc huyện [5,7,8]
Hoạt động đánh giá là một bước “đo lường” hiệu quả xã hội các dự án phát triển cộng đồng nhằm làm tăng tính hiệu quả và bền vững của các dự án
2.1.4 Quan điểm định hướng trong phát triển cộng đồng
2.1.4.1 Lấy dân làm gốc
Phát triển cộng đồng dựa trên quan điểm tiếp cận từ dưới lên “Bottom –up” Đó là những căn cứ xuất phát từ nhu cầu chính yếu của cộng đồng, quyền lợi người dân, nguồn lực địa phương và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước Muốn cộng đồng phát triển phải chính người dân tự ý thức cũng như tự tổ chức
để bảo vệ quyền lợi của họ Nếu người dân không phát hiện ra được các nhu cầu của mình, tiềm năng của cộng đồng thì không nên nóng vội tổ chức các hoạt động can thiệp
Lấy dân làm trọng tâm phải xuất phát từ kinh nghiệm của người dân, từ văn hóa địa phương và từ lợi ích của người dân, đặc biệt là đối với cộng đồng nghèo, cộng đồng yếu thế
Sự tham gia của quần chúng là một quan điểm cơ bản của đường lối phát triển cộng đồng Yếu tố tổ chức của chính quyền phải là trụ cột để để hỗ trợ các
tổ chức phát triển của người dân Sự tham gia của chính quyền vào các hoạt động của cộng đồng phải là nhân tố bên trong chứ không phải lực lượng bên ngoài hay đứng bên trên cộng đồng
Định hướng phát triển cộng đồng “lấy dân làm gốc” hoàn toàn phù hợp với chủ trương và quan điểm của Nhà nước trong phát triển cộng đồng, xã hội
Quan điểm về quyền hành và lực lượng là của dân Trong lý luận cách mạng cũng như trong chỉ đạo thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dụng và thực hiện quyền dân chủ của nhân dân Quan điểm “Dân
Trang 33là gốc” thể hiện rất rõ tư tưởng và hành động của Người Dân là chủ mọi quyền hành và lực lượng đều ở dân Người cho rằng: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” Người khẳng định: “Nước ta là nước của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, chính quyền từ xã đến Trung ương đều do dân cử ra…nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [2] Ngày nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển lý luận và tổ chức thực hiện quan điểm về quyền lực của nhân dân và lực lượng của dân, Đảng vẫn khẳng định “Xây dựng
cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân…”[2]
2.1.4.2 Phát triển bền vững
Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội Các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…cùng phải tác động hỗ trợ để cùng nâng lên một cách đồng bộ của các chỉ số phát triển xã hội [14,15]
Quan điểm phát triển bền vững của Đảng được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Đây là lần đầu tiên trục tam giác tăng trưởng kinh tế - thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội - bảo vệ môi trường với tư cách là những thành tố nằm trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ với nhau tạo nên sự phát triển bền vững được Đảng
ta đề cập một cách cụ thể, rõ ràng và trở thành quan điểm chính thức của Đảng Đây là cơ sở lý luận để ngày 17-8-2004 Chính phủ ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”
Nếu trong văn kiện Đại hội IX và X, Đảng ta chủ yếu đưa ra những quan điểm có tính chất định hướng cho sự phát triển bền vững đất nước thì tại Đại hội
XI, quan điểm phát triển bền vững được thể hiện tập trung, xuyên suốt trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng, từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh
Trang 34tế - xã hội 2011 - 2020 cho đến Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; biểu hiện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường Giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững có mối quan hệ mật thiết với nhau:
“Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội” [2]
2.1.4.3 Tăng cường năng lực và quyền lực cho dân
Người dân không thể tham gia vào tiến trình can thiệp và phát triển cộng đồng họ khi bản thân họ còn thiếu năng lực Họ cũng không thể hành động khi thiếu các động lực của tập thể, tổ chức và quyền lực Phát triển cộng đồng phải cung cấp các cơ hội, các kiến thức, kỹ năng cho người dân để họ liên kết lại thành một chí hướng vì quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, tạo thành quyền lực chung, mang tính tự giác, tự lực cao Huấn luyện cộng đồng theo phương pháp cùng tham gia giúp người dân có nhiều năng lực để tự giải quyết tố hơn những vấn đề của họ
Quan điểm về đại đoàn kết dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn nhấn mạnh “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi’ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công” Hồ Chí Minh đã khẳng định, mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm 8 chữ là “Đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc” [2] Ở đây coi cộng đồng là tổ quốc thu nhỏ, đoàn kết toàn dân phụng sự cộng đồng, vì sự hạnh phúc của người dân
Quan điểm về vai trò của các đoàn thể, tổ chức xã hội Trên cơ sở những
tư tưởng quyền lực của dân, phát huy dân chủ của dân và đoàn kết nhân dân, Đảng và Nhà nước ta ngay từ ngày đầu cách mạng cho đến nay, vẫn luôn kiên trì chủ trương phát triển và phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng, tổ chức
xã hội, tổ chức nhân đạo, từ thiện, tổ chức nghề nghiệp…Ở nước ta trong những năm qua, Nhà nước đã mở rộng quyền tham gia của người dân thong qua phát
Trang 35triển các mạng lưới các tổ chức xã hội, xã hội từ thiện, các hiệp hội nghề nghiệp; Bên cạnh mạng lưới các đoàn thể, tổ chức xã hội đã có từ trung ương đến địa phương, những năm qua như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Cứu trợ trẻ em khuyết tật và trẻ mồ côi…nhiều tổ chức mới được thành lập như các Hội Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư, đặc biệt là các tổ chức tự lập của người khuyết tật….các tổ chức này đóng góp rất tích cực trong việc phát huy quyền của dân, đưa nhân dân vào thực tiễn cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo
Đảng nhấn mạnh: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
có vai trò quan tọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng
sự đồng thuận trong xã hội” [2]
2.2 Lý luận về các quan điểm tiếp cận trong phát triển cộng đồng
Tiếp cận trong phát triển cộng đồng là sự tiếp cận của của những người bên ngoài cộng đồng như các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, các nhà chuyên môn, những người làm công tác phát triển nông thôn Đó là mối quan hệ giữa người dân và những người bên ngoài cộng đồng
Cộng đồng trong quá trình tồn tại và phát triển của mình luôn phải đối mặt với những khó khăn, thử thách cần giải quyết Những vấn đề của cộng đồng nảy sinh chủ yếu là do mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu của cộng đồng trước những đòi hỏi của phát triển, của người dân sinh sống trong cộng đồng đó
Giải quyết vấn đề cộng động có nghĩa là giải quyết những khó khăn, mâu thuẫn, những thách thức đặt ra, tạo nên sự ổn định, sự cân đối, hài hòa như nó vốn có Giải quyết vấn đề của cộng đồng không phải đơn giản, một sớm một chiều, mỗi vấn đề cần có một cách giải quyết và cách tiếp cận giải quyết khác nhau, và mỗi cách giải quyết gồm nhiều cách cụ thể khác nhau nữa Xuất phát từ tính phức tạp, tính tổng thể của cộng đồng, những biện pháp, những chiến lược
Trang 36tác động, can thiệp, làm thay đổi suy nghĩ, cách hành động của cộng đồng phải dựa trên cơ sở khoa học, khách quan, phù hợp với quy luật xã hội cũng như phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi cộng đồng Do vậy, quan điểm tiếp cận phát triển cộng đồng trong công tác xã hội cũng tương đối đa dạng và có sự chuyển biến về xu hướng tiếp cận theo sự biến đổi phức tạp của bối cảnh lịch sử
2.2.1 Tiếp cận theo chiều cạnh thời gian
Bất cứ hoạt động can thiệp nào vào cộng đồng cũng đòi hỏi có thời gian Thời gian cần thiết có thể một vài tuần, có thể kéo dài trong vài tháng, thậm chí nhiều năm
Trên thang đo về thời gian, đầu bên trái của thang đo được bắt đầu bằng những hoạt động khẩn cấp, công việc đặt ra phải được thực hiện trong khoảng một thời gian rất ngắn, càng ngắn càng tốt Những hoạt động nằm trong khoảng bắt đầu này là những hoạt động cứu trợ nhân dân, cứu trợ tài sản cũng như mùa màng khi thiên tai, địch họa xãy ra ở cộng đồng Trong khoảng thời gian ngắn nhất phải khắc phục được hậu quả do thiên tai, địch họa gây ra Những hoạt động gần về sau cần nhiều thời gian hơn để hoàn thành khi tình hình cộng đồng
đã tạm ổn, ví dụ như những hoạt động về xây dựng cơ sở hạ tầng, tổ chức các dịch vụ xã hội mới: xây dựng nhà trẻ, mở lớp học cho trẻ em….Đầu cuối thang
đo là những hoạt động đòi hỏi nhiều, thậm chí rất nhiều thời gian để hoàn thành,
ví dụ những hoạt động thay đổi những thói quen, có kiến thức và kỹ năng cùng làm việc với nhau trên cơ sở giải quyết vấn đề nào đó Quá trình thực hiện cần được tính toán đầy đủ về thời gian, không kéo dài quá mức cần thiết, cũng như không được rút ngắn một cách cố ý Các bước đi phù hợp, thoải mái và không phải chịu sức ép về mặt thời gian [12]
THANG ĐO THỜI GIAN
Các hoạt động bị giới
hạn về thời gian
Các hoạt động có thời gian kéo dài
Trang 37Quan điểm tiếp cần này, các hoạt động phát triển cộng đồng sẽ được hoạch định một cách phù hợp trong từng giai đoạn, đặc thù và hoàn cảnh của cộng đồng, giúp cộng đồng giải quyết vấn đề cấp thiết, kịp thời Với những cộng đồng phải đối đầu với những vấn đề cấp bách do thiên tai địch họa, cần có những can thiệp ngay tức thời nhằm giúp người dân duy trì sự sống, đảm bảo được sự tồn tại Sau đó, sẽ có những chương trình can thiệp lâu dài hơn nhằm giúp cộng đồng phục hồi và phát triển
2.2.2 Tiếp cận dựa trên nhu cầu cộng đồng
Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu mà con người cảm thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển
Là con người xã hội, mỗi người, nhóm người, cộng đồng người đều có những nhu cầu, nhu cầu về vật chất, nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và phát triển
Đối với nhu cầu của cá nhân, theo thuyết nhu cầu của Maslow, con người là một thực thể sinh - tâm lý xã hội Theo đó, ông chia nhu cầu con người thành 5 thang bậc từ thấp đến cao Tuy nhiên, chúng ta không thể đồng nhất nhu cầu của cộng đồng với nhu cầu của cá nhân Nhu cầu của cộng đồng không phải là tổng thể nhu cầu của các thành viên Mỗi cộng đồng, khi đã hình thành có nhu cầu, mục đích riêng phục vụ cho nhu cầu là mục đích chung của các thành viên cộng đồng Nhưng nhu cầu của cộng đồng không thể tách rời nhu cầu của cá nhân
Nhu cầu của cộng đồng, cũng giống như nhu cầu của cá nhân bao gồm nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần, nhu cầu vật chất là điều kiện vật chất cần thiết để cộng đồng có thể tồn tại và phát triển như một thực thể độc lập, bao gồm điều kiện tự nhiên, môi trường…chúng ta vẫn thường gọi là cơ sở hạ tầng của cộng đồng như điện, đường, trường, trạm…nhu cầu về tinh thần của cộng đồng rất phong phú và đa dạng, như hòa bình, dân chủ, công bằng, bác ai,
tư di đi lại, tự do làm ăn, cư trú, hội họp, được tôn trọng ngôn ngữ, bản sắc dân tộc, truyền thống văn hóa, không tệ nạn xã hội…
Trang 38Nhu cầu của cộng đồng được hình thành thông qua hai con đường chủ yếu: Thứ nhất, các thành viên trong cộng đồng điều có chung một hoặc vài nhu cầu nào đó Nhu cầu chung của nhiều thành viên trong cộng đồng trở thành nhu cầu của cộng đồng Thứ hai, một số thành viên “tiên phong”, “nòng cốt” nào đó nhận ra nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng Điều này đòi hỏi các thành viên “tiên phong” phải tuyên truyền, vận động, thuyết phục, giúp các thành viên khác trong cộng đồng nhận ra nhu cầu đó Biến những nhu cầu của một bộ phận nhóm nhỏ trở thành nhu cầu chung, có sự đồng thuận cả cộng đồng
Cách tiếp cận dựa vào nhu cầu có ý nghĩa quan trong trong việc trợ giúp cộng đồng
Thứ nhất, trong xã hội, quốc gia còn rất nhiều cộng đồng gặp khó khăn, thiếu các nguồn lực để phát triển, hạn chế trong việc đảm bảo cho cuộc sống cá nhân, gia đình Do đó, những cộng đồng này rất cần sự quan tâm can thiệp của Nhà nước và xã hội
Thứ hai, việc đáp ứng nhu cầu của cộng đồng chính là động cơ thúc đẩy các thành viên trong cộng đồng đó tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp cho
xã hội Nếu không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cộng đồng thì các thành viên trong cộng đồng sẽ mất dần động cơ tham gia đóng góp cho xã hội, thay vào đó là các hành vi gây nguy hạo cho toàn xã hội ví dụ trộm cắp, ma túy, phá rừng…
Thứ ba, tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp các hoạt động can thiệp cộng đồng giảm kinh phí và tăng hiệu quả khi tránh được sự dư thừa hay không đầy đủ khi can thiệp
Tiếp cận theo nhu cầu là cách tiếp cận mang tính nhân văn Tính nhân văn thể hiện ở việc coi trọng con người và những nhu cầu của chính bản thân các thành viên và cộng đồng Với cách tiếp cận này, giúp các thành viên trong cộng đồng thỏa mãn các nhu cầu, giúp cộng đồng đoàn kết tạo ra những giá trị văn
Trang 39hóa, giúp họ gắn chặt với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy sự phát triển chung của cộng đồng Nhu cầu của cộng đồng càng bức xúc thì cộng đồng càng có động lực hành động chung Càng hành động chung với nhau, thì ý thức cộng đồng, tình cảm cộng đồng, đoàn kết cộng đồng càng được củng cố bền chặt, đồng thuận xã hội càng được đẩy cao
Tiếp cận phát triển cộng đồng ở khía cạnh nhu cầu này bằng cách tạo nên nhiều cơ hội để người dân nhận ra nhu cầu chung và cùng nhau hành động, cùng nhau thỏa mãn được những nhu cầu chung đó Để đạt được điều đó, khi can thiệp, xây dựng kế hoạch và mục đích can thiệp cộng đồng, nhân viên xã hội cần xem xét, lồng ghép các chương trình nhằm giúp người dân công đồng thỏa mãn các nhu cầu của họ Mặt khác, những nhu cầu nào của họ chưa được đáp ứng và cần giúp họ xây dựng giải pháp để đáp ứng được nhu cầu nhằm đảm bảo cho cá nhân, cộng đồng được tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, cách tiếp cận này, vô hình dung đẩy những công dân thành khách hàng thụ động tiếp nhận các dịch vụ Tính trách nhiệm tham gia của người dân trong các hoạt động can thiệp không cao, đồng thời, họ không xem các sản phẩm được hỗ trợ là của cộng đồng mình, mà đó là từ bên ngoài Điều này dẫn đến thực trạng cộng đồng sử dụng các dịch vụ, cơ sở hạ tầng được đầu tư thiếu tính bảo vệ và duy trì chất lượng
Trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, cộng với những hạn chế còn tồn tại, hướng tiếp cận này không còn được ưu tiên áp dụng Mặt khác, chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước dần thay đổi qua các thời kỳ, với giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế, xã hội bằng cách huy động sự tham gia của người dân, phát triển năng lực của người dân và phát huy các nguồn lực tại cộng đồng
2.2.3 Tiếp cận dựa trên quyền con người
Tiếp cận phát triển cộng đồng trong công tác xã hội dựa trên quyền con người lấy nền tảng cơ bản là hệ thống quyền con người đã được pháp luật quốc
Trang 40tế bảo vệ Với cách tiếp cận dựa trên quyền, nhân viên xã hội cần dựa trên các hệ thống quyền con người để xây dựng các phương pháp, hoạt động can thiệp phát triển cộng đồng nhằm bảo vệ lợi ích những quyền chính đáng của con người
Nhân quyền được hiểu một cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn
có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người
Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập (năm 1945), quyền con người đã được quy định cụ thể trong hàng trăm văn kiện pháp luật quốc tế, trở thành một
hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu đòi hỏi mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam, tôn trọng và thực hiện
Theo đó, quyền con người được chia thành bốn nhóm cơ bản:
Thứ nhất, nhóm quyền bất khả xâm phạm dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, gồm quyền sống; quyền không bị tra tấn, bị đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; quyền không bị bắt làm nô lệ, quyền bình đẳng trước pháp luật Đây là những quyền tuyệt đối vì liên quan đến sự sống còn và phẩm giá của con người
Nhóm quyền thứ hai liên quan đến các tự do căn bản của con người, gồm
tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, biểu tình, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do tôn giáo, tự do đi lại, tự do kết hôn, quyền sở hữu, quyền tiếp cận thông tin, quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền tự do kinh doanh, việc làm…
Nhóm thứ ba là các quyền được bảo vệ về mặt tư pháp, chống lại mọi sự đối xử tùy tiện, lạm quyền của cơ quan tư pháp, đó là các quyền: khiếu nại, tố cáo; tiếp cận tư pháp…
Nhóm thứ tư, các quyền cần được Nhà nước thực hiện từng bước, như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền có nhà ở…
Quan điểm tiếp cận theo quyền con người trong phát triển cộng đồng cho phép chúng ta nhìn nhận cộng đồng nghèo, yếu thế hay các cộng đồng có vấn đề mà chưa được quan tâm can thiệp, để cộng đồng phải gánh chịu, đây là