1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện đức cơ, tỉnh gia lai

78 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 727,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ TÌNH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội

về “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai” là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Hữu Nghị

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Bùi Thị Tình

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 8

1.1 Khái niệm về chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số 8

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số 10

1.3 Thể chế về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số 23

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số 28

Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI 34

2.1 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xãn hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số 34

2.2 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ người dân tộc thiểu số tại huyện Đức Cơ, tỉnh Gia lai 36

2.3 Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai 42

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 54

3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số 54

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số 55

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 67

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế thì nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước Đầu tư cho nguồn lực là nguồn đầu tư mang lại lợi ích cao nhất và mang tính bền vững nhất Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển nguồn lực con người, trong đó chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ

nữ vùng sâu, vùng xa luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và nhà nước ta

đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống, sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa cũng như đẩy mạnh sự phát triển toàn diện vùng miền núi, hải đảo

Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nước nói chung, cho miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề ưu tiên trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng Những nỗ lực trong việc triển khai các chiến lược quốc gia cũng như các chương trình y tế đã đem lại những cơ hội khả quan cho việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ Tuy nhiên trong thực tế, không thể có

sự phát triển đồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành thị, hải đảo và đất liền

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một trong những mục tiêu và là nội dung công tác quan trọng của Ủy ban dân số Gia đình và Trẻ em của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Đối với chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản là một bộ phận tối quan trọng Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại của chiến lược quốc gia này

Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, ở mỗi vùng và ở mỗi dân tộc khác nhau, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình cũng khác nhau, kết quả thu được ở mỗi vùng, mỗi tộc người cũng khác nhau

Trang 7

Ở miền núi do điều kiên tự nhiên và xã hội có nhiều khó khăn như giao thông

đi lại khó khăn, các dịch vụ sức khỏe và thuốc men, trang thiết bị y tế còn thiếu, do trình độ dân trí còn thấp (đặc biệt là phụ nữ) đã làm cho cơ hội chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em bị hạn chế Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, có mức sinh cao và phong tục tập quán lạc hậu là những nguyên nhân gây nên tình trạng tử vong của sản phụ và trẻ sơ sinh hoặc là ảnh hưởng lớn đến sức khỏe bà mẹ và trẻ em sau này Bên cạnh đó ở khu vực này hệ thống chăm sóc y tế và dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai tại đây còn có một khoảng cách khá xa so với tình hình chung của cả nước Mục tiêu giảm quy mô dân số của chương trình dân số thực hiện tại nơi này còn gặp nhiều khó khăn, do vậy, những vấn đề liên quan đến nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đang là vấn đề đòi hỏi phải giải quyết lâu dài

Trên thực tế thì có rất nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, tuy nhiên các dịch vụ này chưa mang tính bền vững, chưa làm cho chị em phụ nữ nhận thấy được tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho bản thân mình, họ còn nghiêng về tuân theo những tập tục lạc hậu làm ảnh hưởng đến tính bền vững của dân số nước ta

Huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai là một trong những huyện vùng biên giới, đời sống của người dân hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đồng bào người dân tộc thiểu số chưa có điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản ở phụ nữ

Vì vậy, dựa trên thực tiễn xã hội, tôi chọn đề tài “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai” làm luận văn ngành Công tác xã hội của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản, được tiến hành rất sớm trên thế giới, chủ yếu ở các quốc gia phát triển như Mỹ và Châu Âu Ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa phương Đông, đặc biệt là nho giáo, cho nên các vấn đề sinh sản, tình dục, quan hệ nam nữ rất ít được đề cập đến Vì vậy, có thể nói, nghiên cứu về sức khỏe sinh sản là lĩnh vực mới được nghiên cứu ở nước ta

Trang 8

Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, trên cơ sở đặt “ Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước”, vấn đề này được coi như là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội

Trong cuốn sách: “Phụ nữ, sức khỏe và môi trường” (Trung tâm nghiên cứu Giới, gia đình và Môi trường trong phát triển) do nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2001 đã tập trung nghiên cứu vào vấn đề mối liên quan điều kiện, môi trường làm việc với sức khỏe lao động nữ, đặc biệt quan tâm nghiên cứu sức khỏe sinh sản của phụ nữ, nghiên cứu nhận thức, thái độ, hành vi phòng ngừa bảo vệ sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản nói riêng của phụ nữ

Một công trình nghiên cứu đáng chú ý là “Phân tích tình hình phụ nữ và trẻ em của UNICEP” đã phản ánh tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam có ảnh hưởng đến hệ thống chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Việt Nam

Tại Hội nghị dân số thế giới Cario (Ai Cập) và hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ tư được tổ chức ở Bắc Kinh (Trung Quốc) các đại biểu của nhiều quốc gia đã nhất trí cho rằng bình đẳng giới và vấn đề về sức khỏe sinh sản của phụ nữ có mối liên hệ mật thiết với nhau Đây là một trong những vấn đề then chốt để đánh giá những tiến bộ của từng quốc gia đối với vấn đề phụ nữ

Thông tư liên tịch số 07/2016/TTTLT-BYT-BTC-BLĐTBXH ngày 15/04/2016 QUY định chi tiết nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 27/04/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số

Từ những tài liệu trên, cũng đã đề cập các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tuy nhiên, những tài liệu trên chỉ nói về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ nói chúng mà chưa nói đến vấn đề về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch

vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số Từ đó đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Làm sáng tỏ các khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số; dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

- Nghiên cứu lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

- Phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số tại huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

- Nêu định hướng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác

xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Trang 10

Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu vấn đề lý luận theo quan điểm hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan đến CTXH đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số, CTXH trong thực hiện dịch vụ

chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu dựa trên các tư liệu, các văn bản, các tác phẩm (sách, báo, công trình nghiên cứu,…) liên quan nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:

+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính quyền địa phương

có liên quan đến đề tài

5.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp dùng trong điều tra xã hội học thực nghiệm Là phương pháp có thể thu thập được một lượng thông tin lớn mang tính đại chúng trong quá trình điều tra và thu thập thông tin

Với đề tài này, tôi đã lập ra một bảng hỏi anket với các chỉ báo, các con số định lượng để thu thập thông tin từ các chị em phụ nữ người dân tộc thiểu số

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin cụ thể của xã hội học thông qua việc tác động vào tâm lí xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và

Trang 11

người được hỏi nhằm thu thập những thông tin phù hợp với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ dân số, cán bộ, nhân viên y tế ở các trạm y tế trực thuộc xã

- Phương pháp quan sát

Kết hợp trong quá trình phỏng vấn

Quan sát là phương pháp thu thập thông tin thực nghiệm mà thông qua các tri giác nghe, nhìn để thu thập thông tin về các quá trình, các hiện tượng xã hội trên cơ

sở nghiên cứu của đề tài và mục đích của cuộc nghiên cứu

Với đề tài này, tôi chú trọng quan sát đến cách ứng xử của chị em trong các tình huống mà tôi đặt ra để có cái nhìn khách quan, sinh động về vấn đề nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp xử lí số liệu

Phương pháp xử lí số liệu thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS

Mục đích: Khai thác có hiệu quả các số liệu sau khi thực hiện bảng hỏi; rút ra được những nhận xét, kết luận khoa học khách quan đối với vấn đề nghiên cứu

5.2.4 Cách thức chọn mẫu

Địa bàn tác giả tiến hành phỏng vấn gồm có 4 địa điểm và được chia đều mẫu

ra làm 4 nơi, tương ứng với 4 xã trên địa bàn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

Tổng số phiếu điều tra mà tác giả tiến hành khảo sát là 300 đối tượng chị em phụ nữ người dân tộc thiểu số

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần vào việc ứng dụng các lí thuyết như: Thuyết hệ thống sinh thái, thuyết vai trò, thuyết nhu cầu, thuyết về quyền con người, thuyết nhận thức –

hành vi con người và môi trường xã hội vào việc nghiên cứu để nghiên cứu đề tài

dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Trang 12

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được tham khảo đối với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo về công tác xã hội, đặc biệt là công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài làm sáng tỏ thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số, qua đó có thể thấy được nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ người dân tộc thiểu số hiện nay

Các kiến nghị của đề tài sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

7 Cơ cấu của luận văn

Nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số tại huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Khái niệm về chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

 Khái niệm phụ nữ người dân tộc thiểu số

Phụ nữ/nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người

hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường [21]

Dân tộc “thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên

phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [21]

Như vậy, phụ nữ người dân tộc thiểu số là khái niệm chung chỉ nữ giới một dân tộc, một nhóm dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phụ nữ người dân tộc thiểu số cũng mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường

 Khái niệm về sức khỏe

Từ xưa tới nay người ta thường quan niệm rằng sức khỏe có nghĩa là cơ thể không có bệnh tật và ngành y tế là ngành chữa bệnh

Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh thì sức khỏe bao gồm sự lành

mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần Người định nghĩa “Ngày nào cũng tập thể dục thì

khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhấn mạnh đến khái niệm sức khỏe và đã đưa

ra một định nghĩa về sức khỏe là “một trạng thái thoải mái, đầy đủ về thể chất, tâm

thần và xã hội, sức khỏe không bó hẹp vào nghĩa không có bệnh hay thương tật”

Trang 14

Khái niệm này được xây dựng trên quan điểm dự phòng, sức khỏe là yếu tố

cơ bản ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người, ảnh hưởng tới đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòi giống của xã hội Không có sức khỏe thì không thể lao động có năng suất cao, ngược lại sức khỏe phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nó là khái niệm tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia, đóng góp của toàn xã hội và sự tham gia của bản thân mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng nhất định Mỗi cá nhân phải có kiến thức, hiểu biết để hành động và ứng xử hợp lí, tạo ra sức khỏe cho bản thân và gia đình

Tại Hội nghị Alma- Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế thế giới đưa ra định

nghĩa về sức khỏe như sau:“Sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể

chất, tâm thần và xã hội biểu hiện không chỉ qua việc không mắc bệnh hoặc không

ốm yếu”

 Khái niệm về sức khỏe sinh sản

Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai Cập) 1994 đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau: “Sức khỏe sinh sản là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế trong bộ máy đó” Điều này hàm ý là mọi người kể

cả nam và nữ đều có quyền nhận được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp KHHGĐ an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo

sự lựa chọn của họ đảm bảo cho phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh

Cũng trong chương trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: “SKSS là trạng thái sung mãn hoàn toàn về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ thống, chức phận

và quá trình sinh sản” Như thế, SKSS có nghĩa là mọi người có thể có cuộc sống’ tình dục an toàn hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con

Trang 15

Theo Hội nghị Y tế thế giới Alma- Ata thì chăm sóc sức khỏe là những chăm sóc thiết yếu với kĩ thuật thích hợp được mang tới cho mỗi người trong mọi gia đình, được cộng đồng chấp nhận và tham gia với những chi phí rẻ nhất Do đó, chăm sóc sức khỏe, là sự thường xuyên quan tâm làm một việc nào đó, chăm sóc sức khỏe chính là hoạt động thường xuyên, liên tục để đạt đến một trạng thái hoàn hảo về sức khỏe, đó là sự sảng khoái về thể chất, tinh thần và các quan hệ xã hội Hoạt động này có thể là tự bản thân chăm sóc hoặc là sự quan tâm, giúp đỡ của người khác

Trong Hội nghị Alma- Ata cũng đã nêu ra khái niệm về chăm sóc sức khỏe ban đầu như sau: “Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những sự chăm sóc thiết yếu xây dựng trên những phương pháp và kĩ thuật thực hành, có cơ sở khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội; có thể phổ biến rộng rãi cho tất cả các cá nhân và gia đình của cộng đồng xã hội cùng tham gia đầy đủ với một giá mà cộng đồng nước đó có thể chịu đựng được ở một giai đoạn phát triển của họ và theo tinh thần tự giác, tự nguyện”

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tổng thể các biện pháp, kĩ thuật và dịch

vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết những vấn đề về sức khỏe sinh sản, nó bao gồm: sức khỏe tình dục với mục đích đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, tư vấn, chăm sóc liên quan đến vấn đề sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Như vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số là

quá trình sử dụng các biện pháp, kĩ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao, phòng ngừa

và giải quyết các vấn đề về sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Là con người xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu, nhu cầu về vật chất

và nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu của con người thường đa dạng, phong phú và phát triển Nhu cầu của con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ

Trang 16

Theo thuyết nhu cầu của A.Maslow [14, tr.162], con người là một thực thể sinh – tâm lí xã hội Do đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống ( nhu cầu

về sinh học) và nhu cầu về xã hội Theo đó, ông chia nhu cầu con người thành năm thang bậc từ thấp đến cao:

Nhu cầu sống còn, nhu cầu an toàn, nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được hoàn thiện

Thuyết nhu cầu của A.Maslow làm căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu của con người nói chung Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng cụ thể nhất là đối với từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau, vì họ là những cá thể độc lập với những đặc điểm riêng, nằm trong bối cảnh khác nhau

Vận dụng lí thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu tôi tìm hiểu nhu cầu của phụ nữ người dân tộc thiểu số về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

Xác định những nhu cầu đó như sau:

- Nhu cầu về thể chất:

Khám chữa bệnh: Khám và chữa bệnh liên quan đến bệnh phụ khoa

Khám thai sản định kì

Phòng chống lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục

Được cung cấp đầy đủ các loại thuốc uống

Các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

- Nhu cầu về tinh thần:

Được chia sẻ những khó khăn, căng thẳng trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng

Chia sẻ, động viên trong quá trình sinh đẻ

Được tư vấn về các biện pháp kế hoach hóa gia đình, tư vấn tâm lí cho các chị em phụ nữ trong quá trình mang thai, sau sinh

Hỗ trợ tinh thần cho các chị em phụ nữ khi mắc các bệnh phụ khoa, bị vô sinh

Trang 17

Được tham gia sinh hoạt nhóm, nhằm chia sẻ những kinh nghiệm về chăm sóc sức khỏe của mình, rèn luyện các kĩ năng tự tin trình bày trước đám đông về vấn đề sức khỏe sinh sản, được trang bị những kĩ năng để có thể tự chăm sóc cho mình khi có những vấn đề xảy ra

1.2.1 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì:

Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

 Khái niệm dịch vụ xã hội

Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội [22]

 Công tác xã hội

Công tác xã hội là một nghề chuyên môn thông qua các dịch vụ xã hội nhằm giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội góp phần đảm bảo nền an sinh xã hội [15]

Trang 18

 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản được xem như là tập hợp các phương pháp tư vấn, kỹ thuật, dịch vụ tham gia vào bảo đảm sức khỏe sinh sản thông qua phương pháp dự phòng và giải quyết các vấn đề sức khỏe sinh sản Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản còn bao hàm cả những vấn đề đảm bảo cuộc sống tình dục lành mạnh, an toàn và hòa hợp Hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản được thực hiện ở các tuyến bao gồm 7 nội dung sau:

Về kế hoạch hóa gia đình: Thực hiện đa dạng hóa các biện pháp tránh thai, cung cấp rộng rãi các biện pháp tránh thai mới, đồng thời cung cấp đầy đủ bao cao

su để kết hợp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS

Đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc các bà mẹ trước, trong và sau khi sinh, chăm sóc sơ sinh trẻ em Chú trọng chăm sóc sau sinh để giúp bà mẹ phòng chống các bệnh tật sau sinh, hướng dẫn cách nuôi con, đồng thời tư vấn về KHHGĐ

Thực hành nạo phá thai an toàn, chăm sóc tư vấn sau phá thai xử lý tốt các 12 biến chứng nếu có

Dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản thông thường, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS Tổ chức các đội lưu động để phát hiện và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, lây truyền qua đường tình dục tại vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng khó khăn

Phát hiện và điều trị sớm các ung thư đường sinh sản Đảm bảo chăm sóc SKSS người cao tuổi

Dự phòng và điều trị vô sinh thông qua việc phát hiện và điều trị sớm các bệnh liên quan đến vô sinh như các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và lây truyền qua đường tình dục

Chăm sóc SKSS vị thành niên: Tổ chức các điểm hoặc trung tâm tư vấn gắn với cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS vị thành niên phù hợp với đặc điểm tâm lý và

Trang 19

cung cấp các phương tiện tránh thai thích hợp, bao cao su phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nạo phá thai an toàn

Chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản gồm nhiều nội dung, do vậy chất lượng dịch vụ sức khỏe sinh sản sẽ được thiết kế theo hướng thoả mãn nhu cầu của khách hàng; nhu cầu đó ngày một tăng thêm cho nên chất lượng dịch vụ cũng phải không ngừng tăng lên và phải xuất phát từ mong muốn của người sử dụng dịch vụ Nhiều nghiên cứu cho thấy, có khoảng cách giữa người cung cấp và người sử dụng

Do vậy, chất lượng dịch vụ sức khỏe sinh sản phải quan tâm nhiều hơn đến triển vọng của người sử dụng dịch vụ trong khuôn khổ toàn diện của hệ thống dịch vụ sức khoẻ sinh sản

Dịch vụ sức khỏe sinh sản được cung cấp cần phải đặc biệt quan tâm đến phụ

nữ, và họ là đối tượng có số lượng lớn nhất của chương trình và cũng là nhóm có những vấn đề lớn nhất về sức khoẻ cả về dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ sức khỏe sinh sản nói riêng

Cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ mang đến sự an toàn

và hiệu quả cao làm khách hàng hài lòng và sử dụng lâu dài dịch vụ

Đáp ứng được nhu cầu của khách hàng với chất lượng cao luôn phải là mục tiêu hàng đầu của các đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc, có như vậy thì chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ hoàn thành được những mục tiêu cơ bản, không những chỉ làm giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ gia tăng dân số mà còn làm giảm được cả

tỷ lệ tử vong và bệnh tật do sinh sản gây ra, góp phần nâng cao sức khỏe phụ nữ

Động viên vai trò của nam giới, tăng cường trao đổi ý kiến giữa nam và nữ tạo ra bình đẳng về giới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội cũng như của gia đình và cuộc sống cá nhân

Như vậy, dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với

phụ nữ người dân tộc thiểu số được hiểu các dịch vụ có sử dụng các tri thức, kỹ năng, phương pháp của công tác xã hội vào việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số trên cơ sở phù hợp với phong tục, tập quán, đặc điểm

Trang 20

dân tộc của phụ nữ từng vùng miền nhằm giúp đỡ họ phục hồi, tăng cường các chức năng xã hội của mình, đáp ứng các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ

1.2.2 Nguyên tắc dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Cũng như các ngành chuyên môn khác, trong dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số cũng có những nguyên tắc hoạt động riêng của mình Các nguyên tắc này định hướng các hoạt động cho nhân viên xã hội trong quá trình giúp đỡ đối tượng được tốt hơn

Cụ thể:

 Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia giải quyết vấn đề

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của nhân viên xã hội Vấn đề khó khăn của đối tượng chỉ có thể được giải quyết khi có sự tham gia của đối tượng Vấn đề là của đối tượng, họ hiểu hoàn cảnh và khả năng của mình hơn ai hết nếu được sự trợ giúp Vì vậy, họ cần là người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề tới ra quyết định, lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó

Khi phụ nữ có vấn đề về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, thì bản thân họ là người hiểu rõ nhất vấn đề của mình, vì vậy việc lựa chọn phương pháp nào là quyết định của họ, vì vấn đề của họ còn phụ thuộc vào tình hình sức khỏe, tình hình kinh

tế, hoàn cảnh gia đình của họ, cũng như phong tục tập quán nơi mà họ sinh sống

 Tôn trọng quyền tự quyết của phụ nữ người dân tộc thiểu số

Quyền quyết định lựa chọn giải pháp nào tùy thuộc vào đối tượng Nhân viên

xã hội cần tôn trọng quyết định đối tượng đưa ra, không áp đặt ý kiến cá nhân trong việc lựa chọn giải pháp cho vấn đề thay cho vấn đề của đối tượng Trong trường hợp quyết định của đối tượng có nguy cơ tổn hại tới tính mạng của bản thân đối tượng hay của người khác thì nhân viên xã hội cũng không cần phải chấp thuận quyết định của đối tượng mà cần thông báo cho đối tượng về quy định của pháp luật

 Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp

Trang 21

Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh khác nhau Mỗi người lại có những tính cách khác nhau và những mong muốn, nguyện vọng không giống nhau Mỗi gia đình cũng có những đặc điểm riêng với nếp sống, truyền thống gia đình Việc cá biệt hóa trường hợp của đối tượng giúp nhân viên xã hội đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp đối tượng thể hiện ở việc tìm hiểu và phát hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp Giải pháp cho mỗi trường hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực

sơ Khi tham vấn hay phỏng vấn cần đảm bảo không gian yên tĩnh và riêng tư cho cuộc trò chuyện, nhân viên xã hội tránh trao đổi hay hỏi chuyện về những vấn đề mang tính tế nhị của đối tượng ở những chỗ đông người

Ngoài ra, còn có một số các nguyên tắc như sau: nguyên tắc chấp nhận thân chủ, nguyên tắc lắng nghe…Các nguyên tắc này sẽ định hướng cho nhân viên xã hội làm việc tốt hơn trong quá trình thực hiện dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

1.2.3 Phương pháp dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số được triển khai dưới nhiều phương pháp khác nhau, đó là:

 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

Trang 22

Phương pháp công tác xã hội cá nhân là một trong những phương pháp được

áp dụng trong dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số Đây là một trong những phương pháp được áp dụng rộng rãi

và phổ biến nhất trong quá trình thực hiện hoạt động

Khái niệm: Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp chuyên nghiệp được các nhân viên xã hội sử dụng trong qúa trình hỗ trợ cá nhân vượt qua khó khăn trong việc thực hiện các chức năng xã hôi của họ thông qua mối quan hệ tương tác một- một [12]

Trong quá trình triển khai dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số, thì phương pháp công tác xã hội cá nhân được thực hiện dưới hình thức đó là: phụ nữ người dân tộc thiểu số sẽ làm việc với cán bộ nhân viên xã hội thông qua mối quan hệ một - một

 Phương pháp công tác xã hội nhóm

Ngoài phương pháp công tác xã hội cá nhân thì phương pháp công tác xã hội nhóm cũng là một trong những phương pháp được áp dụng

Công tác xã hội nhóm đối với đối tượng là phụ nữ người dân tộc thiểu số là một phương pháp can thiệp chính của công tác xã hội Đây là một tiến trình trợ giúp

mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một nhóm các chị em phụ nữ được thành lập, sinh hoạt thường kì dưới sự điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm)

Tác giả Toseland và Rivas cho rằng, có nhiều cách tiếp cận với công tác xã hội nhóm và mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và ứng dụng thực hành cụ thể:

‘ Công tác xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này

Trang 23

hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ

Trong Từ điển công tác xã hội của Barker, công tác xã hội nhóm được định

nghĩa là: “Một định hướng và phương pháp can thiệp công tác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu

cụ thể” [26]

Nói tóm lại, từ những định nghĩa và phân tích trên có thể đưa ra kết luận: Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của công tác xã hội nhằm trợ giúp các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường hoạt động tương tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm

để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên

Vai trò của công tác xã hội nhóm: Công tác xã hội nhóm có ý nghĩa vô cùng quan trọng và tác dụng rất lớn trong hoạt động trợ giúp cá nhân, gia đình hay nhóm đối tượng cần can thiệp Nó không chỉ có ý nghĩa là phương pháp bổ sung cho các phương pháp khác trong can thiệp của công tác xã hội mà còn là phương thức giúp cho các cá nhân xây dựng và hoàn thiện nhân cách, tăng cường khả năng thích nghi

xã hội, tương tác nhóm và năng lực ứng phó với các vấn đề xã hội một cách hiệu quả Qua các hoạt động nhóm , giúp cho các thành viên nhóm được thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình Thông qua môi trường sinh hoạt nhóm, các thành viên nhóm được đáp ứng nhu cầu giao tiếp nhóm

Nhiệm vụ của công tác xã hội viên trong công tác xã hội nhóm đó là tạo môi trường thuận lợi cho các thành viên trong nhóm có cơ hội được thể hiện tối đa tiềm năng phát triển năng lực, được bộc lộ cảm xúc và diễn tả những tình cảm, suy tư của mình Giúp các thành viên hỗ trợ lẫn nhau và cùng giải quyết vấn đề Giúp các thành viên nhóm thay đổi thái độ, hành vi, cảm xúc của chính mình và hiểu được người khác Giúp các thành viên nhóm tăng cường sự gắn bó, chấp nhận nhau, tạo

Trang 24

sự tương tác giữa các thành viên, không khí thoải mái để thực hiện mục đích nhóm

đã đặt ra

Phát triển cộng đồng là một quá trình chuyển biến xã hội trong cộng đồng mà thông qua đó con người trưởng thành và phát triển trong phạm vi tiềm năng vốn có của họ Đó là những nỗ lực có kế hoạch, có tổ chức nhằm giúp cho những cá nhân

có được những thái độ và quan niệm phù hợp, kĩ năng tốt để họ tham gia tích cực và dân chủ vào việc đưa ra các giải pháp cải thiện có hiệu quả các vấn đề chung theo thứ tự ưu tiên được xác định

Phương pháp phát triển cộng đồng là phương pháp lấy con người làm trung tâm và quan tâm trước tiên đến nhân phẩm và tiềm năng của họ Phương pháp phát triển cộng đồng tạo điều kiện cho các thành viên trong cộng đồng được tham gia vào mọi phương diện liên quan tới quá trình phát triển

Trong quá trình triển khai dịch vụ CTXH trong CSSKSS cho phụ nữ người dân tộc thiểu số thì phương pháp phát triên cộng đồng là một trong những phương pháp thiết thực, giúp cho phụ nữ họ tự tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của mình

1.2.4 Nội dung dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Nội dung dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số được mô tả theo nội dung hoạt động của các thiết chế trong lĩnh vực này

Trang 25

bà mẹ cho con đi tiêm chủng đúng lịch; vận động kế hoạch hoá gia đình; kết hợp với trạm ytế xã quản lý SKTE theo các chương trình; quản lý sử dụng túi thuốc thôn bản; huy động các phương tiện chuyển viện an toàn khi cần; báo cáo số liệu hàng tháng cho trạm y tế theo quy định

Về chuyên môn y tế, phát hiện xử trí ban đầu các trường hợp cấp cứu sản, nhi thông thường, các tác dụng phụ của thuốc tránh thai và chuyển lên tuyến trên; định kỳ thăm khám sản phụ và trẻ sơ sinh sau đẻ; hỗ trợ đỡ đẻ thường và đỡ đẻ rơi trong các trường hợp không kịp đến trạm y tế, hướng dẫn và sử dụng gói đẻ sạch; phối hợp hoạt động với các chương trình khi có yêu cầu; phân phối bao cao su và thuốc tránh thai dựa vào bảng kiểm từ lần thứ hai; phát hiện, xử trí tiêu chảy cấp, viêm đường hô hấp cấp và chuyển tuyến kịp thời.Sử dụng các bài thuốc nam thông thườngchữa bệnh tại nhà cho các trẻ bị ho, cảm, ỉa chảy thông thường (không dùng thuốc kháng sinh); cân đo, ghi biểu đồ tăng trưởng trẻ em theo qui định và hướng dẫn bà mẹ sử dụng biểu đồ; phát hiện sớm các trường hợp suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cho trạm y tế xã

 Trạm y tế xã

Trạm y tế xã cần nắm được: Số sinh, số chết, số chết bà mẹ, trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi trong xã và nguyên nhân; Số lượng các đối tượng như đã qui định cho y tế thôn bản và thêm : Số sơ sinh sống, số sơ sinh < 2500g, số vị thành niên;

Số thai phụ được khám thai từ 1 đến 3 lần trở lên, số phụ nữ được tiêm phòng uốn ván, số mũi tiêm, số sinh được cán bộ được đào tạo đỡ, số sinh tại cơ sở y tế, số nạo hút thai nói chung và số nạo hút thai tuổi vị thành niên; Số cặp vợ chồng áp dụng kế hoạch hoá gia đình theo từng biện pháp tránh thai, số cặp vợ chồng vô sinh, hiếm, muộn; Số bị bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm khuẩn đường sinh sản; Thống kê và định kỳ báo cáo theo mẫu của Bộ y tế lên Trung tâm y tế huyện, phối hợp hoạt động với các chương trình khi có yêu cầu; Giáo dục và tư vấn về sức khoẻ sinh sản; Quản lý, giám sát hoạt động của y tế thôn bản; Quản lý số người nhiễm HIV/AIDS trong địa bàn

Trang 26

Về chuyên môn y tế, thực hiện chuẩn mực vô khuẩn, thực hiện khám thai đầy

đủ, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai; Đỡ đẻ thường, xử trí và cấp cứu 5 tai biến sản khoa, hướng dẫn bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu; Thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ 2 lần trong 48 giờ đầu; Khám, chẩn đoán và điều trị một số bệnh phụ khoa thông thường (các bệnh LTQĐTD), phát hiện một số khối

u sinh dục.Về kế hoạch hoá gia đình cần cung cấp đầy đủ thông tin, dụng cụ về các biện pháp tránh thai, đặt tháo dụng cụ tử cung, phát hiện và xử trí được những tai

biến và tác dụng phụ của các biện pháp tránh thai; Trong chăm sóc sức khoẻ trẻ em

cần chăm sóc trẻ sơ sinh đủ tháng, hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ, chăm sóc rốn, hướng dẫn bà mẹ phòng các bệnh: SDD, TC,VHH Thực hiện TCMR đầy đủ cho trẻ < 1 và 5 tuổi, sơ cứu và điều trị một số bệnh thông thường; Trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên: Tuyên truyền và tư vấn về quan hệ tình dục an toàn và lành mạnh; Cung cấp đầy đủ các biện pháp tránh thai; Sức khoẻ sinh sản cho người cao tuổi: Thăm khám và phát hiện các khối u sinh dục; Tư vấn và giáo dục sức khỏe

sinh sản: Lợi ích của việc KHHGĐ và làm mẹ an toàn; Tác dụng của việc khám thai,

TPUV, vệ sinh, dinh dưỡng và cho con bú mẹ hoàn toàn Phòng các bệnh

LTQĐTD , giáo dục sức khoẻ vị thành niên

1.2.5 Kỹ năng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

Trong thực hành công tác xã hội nhóm, công tác xã hội viên sử dụng các kiến thức, kĩ năng chuyên môn được đào tạo để giúp các đối tượng tăng cường năng lực

và quyền lực trong giải quyết vấn đề của họ Đây có thể coi là quá trình công tác xã hội viên giúp đối tượng phát hiện được những khả năng tiềm tàng, những điểm mạnh và những nguồn lực sẵn có của bản thân ( nhóm, cá nhân, cộng đồng) và kết nối các nguồn lực xã hội trong việc tự lực giải quyết vấn đề của chính mình

Kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ: Trong quá trình tiếp xúc

và làm việc với cá nhân đối tượng, công tác xã hội viên cần luôn luôn sử dụng các giao tiếp ngôn ngữ ( bằng lời), và giao tiếp phi ngôn ngữ ( không lời)

Trang 27

Kĩ năng tạo lập mối quan hệ: Đó là khả năng công tác xã hội viên dùng những tri thức, hiểu biết và tình cảm của bản thân để nhằm mục đích làm cho đối tượng làm việc có được cảm giác về sự thân thuộc, sự hòa hợp, sự an toàn cùng chia

sẻ những hiểu biết, tâm tư nguyện vọng giữa hai bên

Kĩ năng tổ chức giao tiếp nhóm: Kĩ năng này bao gồm khả năng tạo lập mối liên hệ cá nhân trong nhóm thu hút/lôi cuốn thành viên trong nhóm trong quá trình hoạt động nhóm Kĩ năng này trước hết biểu hiện ở sự tôn trọng của công tác xã hội viên, chấp nhận những điều kiện giá trị bản năng vốn có của con người để tránh đưa

ra những phê phán và đổ lỗi cho thân chủ

Ngoài ra còn có một số kĩ năng khác như: Kỹ năng tiếp đón, chào hỏi chị em phụ nữ và tự giới thiệu nhằm tạo sự thân mật; Tiếp xúc cả bằng đối thoại lẫn cử chỉ (vui vẻ, chăm chú, sẵn lòng) Kỹ năng lắng nghe để hiểu rõ nguyên nhân của các vấn đề, các lo lắng và mong muốn của chị em phụ nữ; Chú ý lắng nghe làm cho chị

em phụ nữ cảm thấy vấn đề của họ được nhận biết, tôn trọng và thông cảm, nhờ đó giảm được sự căng thẳng, bất an; Chấp nhận mọi điều chị em phụ nữ nói, không bác

bỏ hoặc phê phán mà cần tìm hiểu sự lo âu của chị em phụ nữ; Kiên trì nếu chị em phụ nữ có thắc mắc, do dự, khóc lóc hoặc bực tức; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Cần phải xác định bản chất của vấn đề; Xác định các nguy cơ hoặc hành vi không đúng, khuyến khích chị em phụ nữ nhìn nhận lại những quan niệm, tư duy của mình và tìm cách thay đổi nếu cần thiết

Tích cực tìm kiếm các giải pháp khác nhau, trong mỗi giải pháp đó không chỉ nêu ưu điểm thuận lợi mà còn phải nói rõ các điều không thuận lợi, thậm chí có những rủi ro, biến chứng để khách hàng suy nghĩ, lựa chọn.Giúp chị em phụ nữ xem xét từng giải pháp và quyết định áp dụng giải pháp phù hợp nhất, nhưng không áp đặt khách hàng phải theo ý kiến của mình Đảm bảo với chị em phụ nữ họ luôn được hỗ trợ khi tìm và thực hiện giải pháp Đôi khi cán bộ tư vấn cần giúp chị em phụ nữ có được những kỹ năng mới như kỹ năng trao đổi về tình dục an toàn

Trang 28

1.2.5 Vai trò của truyền thông đối với dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

 Truyền thông trực tiếp

Trước tiên phải nói đến đội ngũ cộng tác viên là lực lượng chủ chốt trong việc

truyền thông trực tiếp này vì họ sống gần gũi với đối tượng , hiểu tâm tư nguyện vọng của đối tượng nên dễ tiếp cận với đối tượng và thuyết phục họ, trao đổi những thông tin cần thiết và đồng thời tiếp nhận được thông tin phản hồi từng bước chuyển

đổi nhận thức của đối tượng tự nguyện tự giác chấp nhận KHHGĐ

Bên cạnh đó có sự tham gia của các Ban ngành đoàn thể nên có những tuyên truyền viên trực tiếp vận động từng đối tượng thuộc phạm vi Hội viên của mình để

đi đến mục đích chung

 Truyền thông đại chúng: Phát thanh tại Đài truyền thanh huyện, Trạm

truyền thanh xã, đồng thời đưa bộ truyền thông được trang bị tuyên truyền đến tận địa bàn cụm dân cư với nội dung phong phú đa dạng đáp ứng nhu cầu cần thiết phục

vụ cho chiến dịch, chiếu video ở tụ điểm đông dân Ngoài ra đội văn hóa thông tin kết hợp với Đoàn thanh niên phục vụ chương trình văn nghệ lồng ghép nội dung tuyên truyền chăm sóc sức khỏe sinh sản dưới hình thức kịch, hò kịch ngắn, treo

các áp phích, biểu ngữ ở những nơi dễ thấy để phục vụ cho công tác truyên truyền

 Nhóm: Thông qua các buổi sinh hoạt nhóm, nhằm truyền tải những thông

điệp về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, các thành viên trong nhóm sẽ chia sẻ,

trao đổi với nhau (hội phụ nữ )

1.3 Thể chế về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

1.3.1 Chính sách phát triển dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

Hiện nay có khá nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

Quyết định số 136/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê

Trang 29

đưa ra mục tiêu như sau: Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khoẻ sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản (CSSKSS) phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn

Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển họp tại Cairô năm 1994, với sự tham

dự của trên 180 nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, đã nhất trí với cách tiếp cận toàn diện về chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) Sau hội nghị Việt Nam đã thực hiện cam kết của mình thông qua một loạt các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ chăm sóc SKSS đáp ứng nhu cầu chăm sóc SKSS của nhân dân, hạ thấp tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong trẻ em Trong quá trình thực hiện các dịch vụ chăm sóc SKSS, việc chuẩn hóa các hoạt động chuyên môn là vấn đề cần được đặc biệt chú trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS và hạn chế tối đa những sai sót có thể xảy ra Cuốn "Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản" được Bộ Y tế ban hành lần thứ nhất năm 2002 đã bước đầu đưa công tác chăm sóc SKSS cho nhân dân đi vào nền nếp, hạn chế sai sót và đáp ứng được phần lớn yêu cầu quan trọng trên Hướng dẫn Chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS năm 2002 được áp dụng cho tất cả các cơ sở y tế bao gồm cả y tế nhà nước và tư nhân đặc biệt là tuyến y tế cơ sở, là

cơ sở pháp lý cho việc thực hiện dịch vụ chăm sóc SKSS, là cẩm nang hướng dẫn cho cán bộ y tế trong quá trình cung cấp dịch vụ và cũng là cơ sở để xây dựng các tài liệu đào tạo cho cán bộ y tế, công tác giám sát, công tác đánh giá chất lượng dịch

vụ chăm sóc SKSS tại các cơ sở y tế

Trong “Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân

dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030” cũng đề cập mục tiêu như sau:

Bảo đảm mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Người dân được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số

Trang 30

Quyết định số 2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020, cũng đã đưa ra mục tiêu như sau: Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hội nghị toàn quốc lần thứ hai về nghiên cứu sức khoe sinh sản và sức khỏe tình dục: Từ bằng chứng tới chính sách cũng đã nhấn mạnh tăng cường nghiên cứu khoa học, phổ biến và ứng dụng các kết quả nghiên cứu các tiến bộ khoa học, công nghệ góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề đối với công tác Dân số và Chăm sóc sức khỏe sinh sản như: giảm chênh lệch tỷ suất giới tính khi sinh, giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ phá thai và, tăng cường chăm sóc SKSS cho VTN/TN, người cao tuổi và cho các nhóm dân tộc đặc thù (nhiễm HIV, dân tộc thiểu số)

Nhìn chung, đây chỉ là những chính sách, quy định chung về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản nói chung cho tất cả đối tượng là phụ nữ, chứ chưa có một chính sách cụ thể nào quy định , phát triển dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số.Tuy nhiên, những chính sách trên sẽ là cơ sở, định hướng cho nghề công tác xã hội phát triển trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ

1.3.2 Các quy định của pháp luật về công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

Các quy định của pháp luật về công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số hiện nay chưa có một quy định cụ thể, các quy định còn mang tính chung chung

Trong Thông tư số 59/2015/TT-BYT, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh, thành phố trục thuộc trung ương quy đinh về :

Trang 31

Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh) là đơn vị

sự nghiệp y tế công lập trực thuộc Sở Y tế, có chức năng giúp Giám đốc Sở Y tế chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước, các nhiệm vụ chuyên môn,

kỹ thuật về chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn tỉnh; tổ chức thực hiện các dịch

vụ công về y tế theo quy định của pháp luật

Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng và có trụ sở làm việc theo quy định của pháp luật

Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức hoạt động và các nguồn lực của Sở Y tế; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế

Nhiệm vụ và quyền hạn:

Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật

về sức khỏe sinh sản trên địa bàn toàn tỉnh trên cơ sở định hướng, chính sách, chiến lược, kế hoạch của Bộ Y tế và tình hình thực tế tại địa phương trình Giám đốc Sở Y

tế phê duyệt, bao gồm các nội dung: chăm sóc sức khỏe phụ nữ, sức khỏe bà mẹ; sức khỏe trẻ sơ sinh và trẻ em; dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em; sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên; sức khỏe sinh sản nam giới và người cao tuổi; dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; phá thai an toàn; phòng, chống nhiễm khuẩn và ung thư đường sinh sản; dự phòng, điều trị vô sinh

Làm đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, kỹ thuật về các hoạt động thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh

Phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện công tác thông tin, truyền thông, giáo dục về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn tỉnh Chịu trách nhiệm nội dung chuyên môn về chăm sóc sức khỏe sinh sản trong các hoạt động truyền thông

Xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo liên tục cho cán bộ làm công tác chuyên môn, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản theo kế hoạch của tỉnh và

Trang 32

Trung ương; tham gia đào tạo, đào tạo liên tục về chăm sóc sức khỏe sinh sản theo kế hoạch của tỉnh, Trung ương trên địa bàn; là cơ sở thực hành của các cơ sở đào tạo nhân lực y tế của tỉnh và của Trung ương trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản

Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản

Quản lý và tổ chức triển khai thực hiện các đề án, dự án, chương trình trong nước và ngoài nước về chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn tỉnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ về chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của pháp luật

Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá, theo dõi, giám sát các hoạt động thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn tỉnh Tham gia các đoàn thanh tra chuyên ngành về chăm sóc sức khỏe sinh sản khi có yêu cầu

Thực hiện quản lý công chức, viên chức, người lao động và quản lý tài chính, tài sản của đơn vị theo quy định của pháp luật

Thực hiện các chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật

Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Sở Y tế và các cơ quan có thẩm quyền giao

Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của trung tâm y tế dự phòng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định như sau:

Trung tâm Y tế dự phòng huyện có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm

vụ chuyên môn kỹ thuật về y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS, phòng, chống bệnh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và truyền thông giáo dục sức khoẻ trên địa bàn huyện

Trung tâm Y tế dự phòng huyện có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật

về y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS, phòng, chống bệnh xã hội, an toàn vệ

Trang 33

cơ sở kế hoạch của tỉnh và tình hình thực tế trên địa bàn huyện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

Tổ chức thực hiện các hoạt động sau:

Triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về phòng, chống dịch bệnh, HIV/AIDS, các bệnh xã hội, tai nạn thương tích, sức khoẻ lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ môi trường, sức khoẻ trường học, dinh dưỡng cộng đồng, an toàn vệ sinh thực phẩm, truyền thông giáo dục sức khoẻtheo phân cấp và theo quy định của pháp luật;

Hướng dẫn và giám sát chuyên môn, kỹ thuật về các hoạt động thuộc lĩnh vực phụ trách đối với các trạm y tế xã, phường, thị trấn, các cơ sở y tế trên địa bàn;

Tham gia đào tạo, đào tạo lại, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực phụ trách cho cán bộ y tế cấp xã, nhân viên y tế thôn, bản

Thực hiện các chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật;

Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Sở Y tế và Uỷ ban nhân dân huyện giao

Ngoài ra còn trong các văn bản luật như sau:

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số

1.4.1 Yếu tố thuộc về chính sách

Nghiên cứu các chính sách và trình các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng gia đình quy mô nhỏ, bình đẳng giới, khuyến khích áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, khuyến khích cán bộ y tế học tập

Trang 34

nâng cao trình độ nghiệp vụ, thu hút cán bộ y tế phục vụ ở cơ sở, ở những vùng khó khăn, xa xôi, hẻo lánh

Nghiên cứu và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thụ thai trong ống nghiệm, mang thai hộ, chuyển giới tính

Các chính sách hỗ trợ sức khỏe: Nhà nước và Chính phủ đã ban hành rất nhiều các chính sách bảo vệ và hỗ trợ sức khỏe cho người dân như: Luật chăm sóc

và bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em; Pháp lệnh dân số; các chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, chiến lược dân số Việt Nam; các chuẩn mực về ấac kỹ thuật y tế…

Các dịch vụ y tế như: Kế hoạch hoá gia đình; chăm sóc sức khỏe sinh sản; tiêm chủng mở rộng; phòng chống sốt rét, bướu cổ…đã có những thành tựu lớn

Thành tựu y tế đã được ghi nhận cả trong việc áp dụng các kỹ thuật y học hiện đại của thế giới vào khám chữa bệnh tại Việt Nam như: Phẫu thuật nội soi; sử dụng tia laser trong điều trị sỏi mật, thận; Hỗ trợ sinh sản (thụ tinh trong ống nghiệm, thụ tinh nhân tạo, giữ tinh trùng ) đã giúp nhiều cặp vợ chồng vô sinh chữa trị thành công Việc kết hợp giữa đông y và tây y trong phòng và chữa bệnh cũng đã ngày càng phát triển và được nhân dân đồng tình ủng hộ như: thể dục dưỡng sinh, luyện khí công…

1.4.2 Yếu tố thuộc về đội ngũ nhân viên công tác xã hội

Hiện nay, đội ngũ nhân viên xã hội hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn huyện là chưa có Đội ngũ cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ là những cán bộ dân số, cán bộ y tế, xuất thân từ những chuyên ngành học như: hộ lý, điều dưỡng y khoa, văn hóa…

Sự xuất hiện của cán bộ công tác xã hội rất mờ nhạt, chính vì không được đào tạo chuyên nghiệp về công tác xã hội, nên đội ngũ nhân viên xã hội còn yếu và kém trong quá trình triển khai dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ

Cán bộ y tế cơ sở còn có nhiều hạn chế trong việc nắm bắt phong tục, tập quán sinh nở của người dân tộc đội ngũ cán bộ tuyến huyện mỏng, điều kiện đi lại

Trang 35

khó khăn, phối hợp giám sát liên ngành giữa Trung tâm y tế và Đội KHHGĐ còn yếu số lượng phòng quá ít ỏi, không có chỗ để bệnh nhân nghỉ trước và sau sinh

Tình trạng thiếu cán bộ y tế khá phổ biến; cán bộ y tế xã kiêm nhiệm chuyên trách nhiều chương trình (phòng chống lao, sốt rét, tiêm chủng trẻ em, SKSS) do vậy thời gian, nhân lực, ưu tiên dành cho dịch vụ SKSS cung cấp cho bà con dân tộc bị hạn chế đáng kể

Tình trạng vượt tuyến tới cơ sở y tế tuyến huyện để đẻ còn phổ biến trong cộng đồng người dân tộc

1.4.3 Yếu tố thuộc về phụ nữ người dân tộc thiểu số

Trình độ văn hóa thấp, và sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ:Phụ nữ dân tộc thiểu số không tìm kiếm và sử dụng dịch vụ bởi vì họ không biết họ đang mang thai, không biết đến các dịch vụ chăm sóc thai nghén, và không nhận thức được lợi ích của việc chăm sóc trước sinh Lý do chính giải thích cho điều này là trình độ văn hóa của họ rất thấp Hầu hết phụ nữ thuộc dân tộc thiểu số mới học cấp một Một số đối tượng phỏng vấn cho biết họ chưa bao giờ từng đến trường

Do trình độ hạn chế, những người phụ nữ này khó có thể tiếp thu và ghi nhớ được các thông điệp truyền thông thay đổi hành vi và kiến thức về lây truyền cũng như các cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS

Ngoài lý do trình độ học vấn thấp, sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ cũng

là một rào cản trong việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ thuộc dân tộc thiểu

số và gia đình họ Tập quán sinh con tại nhà vẫn còn là một rào cản đối với người phụ nữ dân tộc thiểu số khi tiếp cận dịch vụ Ở một số khu vực, nam giới không muốn vợ mình đi khám bệnh, điều này đã làm hạn chế cơ hội nhận các dịch vụ chăm sóc trước sinh của người phụ nữ

Ngoài ra tâm lí e ngại phải để lộ bộ phận sinh dục khi khám phụ khoa, tâm lý

sợ bị cắt tầng sinh môn của chị em phụ nữ cũng là một trong những rào cản khiến cho chị em phụ nữ k dám đến các cơ sở y tế để kiểm tra, khám các bệnh về phụ nữ Chính vì vậy mà chị em thường sử dụng những biện pháp tự nhiên, truyền miệng để

Trang 36

tự chữa trị cho mình, chẳng hạn như chị em bị mắc các bệnh phụ khoa thì thường chỉ tự tìm lấy các loại lá rau để xông, rửa v.v…

1.4.4 Yếu tố thuộc về nguồn lực và kết nối nguồn lực

Xã hội hoá, hợp tác liên ngành và hợp tác quốc tế, đẩy mạnh sự hợp tác giữa các Bộ, ngành, tổ chức xã hội, huy động sự tham gia của nhân dân, của toàn xã hội,

kể cả sự tham gia của khu vực y tế tư nhân vào việc thực hiện các hoạt động CSSKSS, đa dạng hoá các hình thức cung cấp dịch vụ tư vấn về SKSS cho các đối tượng; mở rộng và nâng cao hiệu quả của việc hợp tác quốc tế song phương, đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ trong lĩnh vực CSSKSS

Đào tạo và nghiên cứu khoa học,tăng cường đào tạo cán bộ chuyên môn y tế

về CSSKSS, đặc biệt là cán bộ y tế ở tuyến cơ sở Chú trọng đào tạo thực hành, rèn luyện tay nghề vững chắc, bồi dưỡng kỹ năng truyền đạt, giao tiếp với các loại đối tượng và với cộng đồng Tập trung nghiên cứu vấn đề vô sinh, nuôi con bằng sữa

mẹ, các bệnh của hệ thống sinh dục đặc biệt là ung thư ở các cơ quan sinh sản, sức khoẻ tình dục và hành vi tình dục, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, sức khoẻ sinh sản nam giới và kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến SKSS và một số vấn

đề khác có liên quan để nâng cao chất lượng CSSKSS

Nguồn kinh phí phục vụ cho CSSKSS, nguồn kinh phí phục vụ cho CSSKSS bao gồm ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế, viện phí và dịch vụ phí, các nguồn hợp tác song phương và đa phương của các tổ chức phi chính phủ và sự đóng góp của cộng đồng; trong đó nguồn ngân sách nhà nước là chủ yếu và được bố trí thành một khoản riêng trong mục lục ngân sách của các cấp để sử dụng chủ yếu cho việc tăng cường nhân lực, đào tạo bổ túc cán bộ, thông tin giáo dục truyền thông, nghiên cứu

và ứng dụng khoa học - kỹ thuật, bổ sung một phần cơ sở vật chất - kỹ thuật, tăng cường công tác quản lý, điều phối và hỗ trợ các ban, ngành trong các hoạt động về SKSS Nguồn ngân sách nhà nước bố trí theo kế hoạch Bộ Tài chính cân đối các khoản này, bố trí một khoản riêng và ghi trong kế hoạch nhà nước hàng năm

Trang 37

Về lãnh đạo và quản lý, tăng cường công tác quản lý và điều phối các hoạt động CSSKSS, trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý

y tế, thông tin về CSSKSS

Các phong tục tập quán: Phong tục, tập quán là những thói quen lưu truyền lâu đời Có rất nhiều phong tục tốt đẹp có lợi cho sức khỏe về thể chất và tinh thần như: Lễ hội cồng chiêng,lễ hội đua thuyền trên cạn, lễ hội đâm trâu, lễ hội mừng lúa mới… Hội thi ném còn, múa sạp… của nhân dân các dân tộc vùng tây nguyên Hội thi nấu ăn giữa các dòng họ trong thôn, bản…

Nhiều phong tục, tập quán không có lợi cho sức khỏe vẫn còn tồn tại cần loại

bỏ và giảm bớt như: Các tập tục sinh đẻ tại nhà do các bà mụ không có nghiệp vụ y

tế thực hiện (mụ vườn); không đi khám thai; phá thai (bằng các bài thuốc dân gian); cho con ăn cơm nhai từ lúc còn ít tháng tuổi Ngoài ra còn tồn tại nhiều quan điểm

hủ tục như: trời sinh voi trời sinh cỏ, nhiều con là nhà có phúc, nhất nam viết hữu, thập nữ viết vụ (quý con trai coi thường con gái) Các tục lệ này đã góp phần làm cho tỷ lệ ốm đau, tử vong của bà mẹ, trẻ em tăng cao

Kết luận chương 1

Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ người dân tộc thiểu

số là một trong những nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống

Có rất nhiều yếu tố, ảnh hưởng đến việc thực hiện dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số, đó là các yếu

tố về chính sách, về nguồn lực và kết nối nguồn lực, về đội ngũ nhân viên công tác

xã hội…và một số yếu tố khác

Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số là một trong những hoạt động quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ người dân tộc thiểu số,

họ là những người có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thì hạn chế, những hiểu biết về kiến thức sức khỏe sinh sản còn ít cho nên việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ là

Trang 38

vô cùng quan trọng Đảng và nhà nước cũng đã có nhiều chính sách, cũng như các quy định về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ người dân tộc thiểu số, tuy nhiên những quy định, chính sách còn hạn chế, chung chung, chưa cụ thể, chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề này

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TẠI HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

2.1 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xãn hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số

 Vị trí địa lí

Huyện Đức Cơ được thành lập theo Quyết định 315-HĐBT ngày 15 tháng

10 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng, trên cơ sở đất đai và dân số của 4 xã: Ia Krêl,

Ia Dơk, Ia Kla, Ia Dom (nguyên thuộc huyện Chư Păh) và 4 xã:

Ia Pnôn, Ia Nan, Ia Lang, Ia Kriêng (nguyên thuộc huyện Chư Prông)

Đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn: 10 (1 thị trấn, 9 xã)

Địa lí là yếu tố đầu tiên tác động tới việc chăm sóc sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng Huyện Đức cơ là một huyện miền Tây của tỉnh Gia Lai Huyện cách thành phố Pleiku 50 km Là một huyện vùng núi, cách xa trung tâm Đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống trong các xã vùng sâu vùng xa của huyện, vì vậy, việc tiếp cận, tìm hiểu những thông tin về chăm sóc sức khỏe bị hạn chế

Khoảng cách đến các cơ sở dịch vụ y tế luôn luôn có ảnh hưởng đến tính kịp thời của quyết định tìm kiếm dịch vụ, và làm cho việc tìm kiếm đến cơ sở cung cấp dịch vụ trở thành không kịp thời Nó cũng có thể khiến cho người ta tìm đến những dịch vụ không an toàn nhưng thuận tiện Đây là một trong những lí do không sinh tại cơ sở y tế của những phụ nữ ở vùng xa

 Về cơ sở hạ tầng

Được sự quan tâm của chính phủ, thành phố, trong những năm qua, cán bộ và nhân dân huyện Đức Cơ đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng Đến nay hệ thống giao thông đường bộ đã được cải thiện, các tuyến đường liên huyện từ các xã đã

Ngày đăng: 05/10/2016, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Liên An (2011), Kĩ năng tư vấn pháp luật của luật sư, Học viện Khoa học xã hội-Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng tư vấn pháp luật của luật sư
Tác giả: Chu Liên An
Năm: 2011
2. Lê Chí An, (2006), Công tác xã hội nhập môn, Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Min Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhập môn
Tác giả: Lê Chí An
Năm: 2006
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, (2013), Thông tư số 07/2013/TT- LĐTBXH, ngày 24 tháng 05 năm 2013, Quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, (2013), Thông tư số 07/2013/TT-LĐTBXH, ngày 24 tháng 05 năm 2013
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2013
4. Trần Văn Chiến và Đỗ Ngọc Tấn (2004), Giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho học sinh trung học phổ thông và vị thành niên, Viện khoa học Dân số Gia Đình và Trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho học sinh trung học phổ thông và vị thành niên
Tác giả: Trần Văn Chiến và Đỗ Ngọc Tấn
Năm: 2004
5. Chính phủ (2010), Đề án phát triển nghề Công tác xã hội, số 32/2010/QĐ-TTg, ngày 25/03/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển nghề Công tác xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
7. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí minh, Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Dự án P12 (2003), Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống về sức khỏe vị thành niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống về sức khỏe vị thành niên
Tác giả: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí minh, Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Dự án P12
Năm: 2003
8. Huỳnh Minh Hiền (2013), Lý thuyết và thực hành công tác xã hội, NXB thống kê 9. Nguyễn Hải Hữu (2007), An sinh xã hội, NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành công tác xã hội
Tác giả: Huỳnh Minh Hiền (2013), Lý thuyết và thực hành công tác xã hội, NXB thống kê 9. Nguyễn Hải Hữu
Nhà XB: NXB thống kê 9. Nguyễn Hải Hữu (2007)
Năm: 2007
10. R. Feldman (2003), Những điều quan trọng trong yếu tố tâm lí học, NXB thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều quan trọng trong yếu tố tâm lí học
Tác giả: R. Feldman
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2003
11. Nguyễn Văn Lê (1998), Nhập môn khoa học giao tiếp, Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Thị Thái Lan (2008), Giáo trình công tác xã hội nhóm, Nxb. Lao động- Xã hội, Hà Nội, tr .267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan
Nhà XB: Nxb. Lao động-Xã hội
Năm: 2008
13. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Đoan (1997), Giáo dục giới tính, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giới tính
Tác giả: Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Đoan
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
14. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2012
15. Bùi Thị Xuân Mai (2007), Phát triển công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp – một đòi hỏi khách quan trong quá trình đổi mới của nước ta. Tạp chí Lao động – Xã hôi (số 307) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp – một đòi hỏi khách quan trong quá trình đổi mới của nước ta
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Oanh (1992 ), Công tác xã hội, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Nguyễn Thị Oanh (1998), Công tác xã hội đại cương, NXB giáo dục Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB giáo dục Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1998
20. Phạm Thị Tuyết (2008), Kĩ năng giao tiếp của cán bộ giao dịch ngân hàng, Luận án tiến sĩ, Viện Tâm lí học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng giao tiếp của cán bộ giao dịch ngân hàng
Tác giả: Phạm Thị Tuyết
Năm: 2008
23. Trần Quốc Thành (2004), Tích hợp nội dung giáo dục dân số - Sức khỏe sinh sản vào học phần Tâm lí học, Dự án VIE 01/P111 – Bộ Giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp nội dung giáo dục dân số - Sức khỏe sinh sản vào học phần Tâm lí học
Tác giả: Trần Quốc Thành
Năm: 2004
24. Ủy Ban Quốc gia và Dân số kế hoạch hóa gia đình (2002), Chiến lược truyền thông – Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số, Sức khỏe sinh sản, Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2001 – 2005.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy Ban Quốc gia và Dân số kế hoạch hóa gia đình (2002), "Chiến lược truyền thông – Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số, Sức khỏe sinh sản, Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2001 – 2005
Tác giả: Ủy Ban Quốc gia và Dân số kế hoạch hóa gia đình
Năm: 2002
25. Anderson, J (1979), Social work practice with group in generic base of social work practice, Social work with group, page 281-293,tr.281-293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social work practice with group in generic base of social work practice
Tác giả: Anderson, J
Năm: 1979
26. Baker (1995). Social work Dictionnary, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social work Dictionnary
Tác giả: Baker
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Trình độ học vấn của phụ nữ người dân tộc thiểu số - Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện đức cơ, tỉnh gia lai
Bảng 1 Trình độ học vấn của phụ nữ người dân tộc thiểu số (Trang 42)
Bảng 3: Dịch vụ sinh đẻ - Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện đức cơ, tỉnh gia lai
Bảng 3 Dịch vụ sinh đẻ (Trang 44)
Bảng 4: Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình - Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện đức cơ, tỉnh gia lai
Bảng 4 Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (Trang 45)
Bảng 5: Dịch vụ khám phụ khoa  Dịch vụ khám phụ khoa  Số người  Tỉ lệ - Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện đức cơ, tỉnh gia lai
Bảng 5 Dịch vụ khám phụ khoa Dịch vụ khám phụ khoa Số người Tỉ lệ (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w