1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của hải quan việt nam

86 708 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 795,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền sở hữu công nghiệp và vai trò của cơ quan Hải quan trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu...10 1.2 Nội dung và các phương thức thực thi bảo

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LƯU HƯNG

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số : 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS Trần Công Sách

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,

ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

NGUYỄN LƯU HƯNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CƠ QUAN QUAN 10 1.1 Quyền sở hữu công nghiệp và vai trò của cơ quan Hải quan trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 10 1.2 Nội dung và các phương thức thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan………….19 1.3 Hiệu lực, hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan 23 1.4 Kinh nghiệm của Hải quan một số nước và bài học cho Hải quan Việt Nam trong thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 26 Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 34 2.1 Khái quát về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và chức năng nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu……….34 2.2 Đánh giá thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam……… 50 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

2020, TẦM NHÌN 2025……… ……….62 3.1 Bối cảnh và những thuận lợi, khó khăn của Hải quan Việt Nam trong bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp thời kỳ tới……… 62

Trang 4

3.2 Phương hướng tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của HQVN giai đoạn 2025 63 3.3 Các giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của HQVN đến năm 2020 64 3.4 Kiến nghị hoàn thiện luật pháp, chính sách của Nhà nước về bảo vệ quyền

sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 70 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NHHH: Nhãn hiệu hàng hóa

SHCN: Sở hữu công nghiệp

SHTT: Sở hữu trí tuệ

ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

WTO: Tổ chức Thương mại thế giới

WIPO: Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, ngăn chặn sự thâm nhập của hàng hóa giả mạo, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) vào thị trường nội địa đã trở thành yêu cầu không chỉ riêng cho hệ thống pháp luật của từng quốc gia mà còn đòi hỏi với cả hệ thống luật pháp quốc tế Hàng hóa xuất nhập khẩu là hàng hóa được tiêu dùng ở nước ngoài, lưu thông quốc tế, đặt ra vấn đề bảo hộ của nhà nước, nó đã trở thành quyền và liên kết giữa các nhà nước, thành các cam kết quốc tế

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và thương mại, các đối tượng của quyền SHTT ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong các đối tượng SHCN, tuy mỗi đối tượng đều có vai trò nhất định nhưng xét trong tính chất quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhãn hiệu trở nên nổi bật hơn cả Nó gắn chặt với quá trình lưu thông hàng hóa và là một trong những tài sản có giá trị, thậm chí là một trong những nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, gay gắt với các đối thủ của mình Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, hiện đại và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, vai trò của nhãn hiệu - một trong những đối tượng truyền thống và chủ yếu của sở hữu công nghiệp (SHCN) - ngày càng trở nên quan trọng Với chức năng ban đầu là giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau, qua quá trình sử dụng và phát triển, nhãn hiệu đã trở thành một công cụ hữu hiệu cho một doanh nghiệp (dù lớn hay nhỏ) tiếp cận, phát triển và bảo vệ thị phần hàng hóa và dịch vụ của mình

Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống cơ quan thực thi bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa (NHHH), gồm có Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và công nghệ là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký, cấp văn bằng bảo hộ

và giải quyết khiếu nại; các cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ quyền hạn thực thi: tòa án; cơ quan công an, quản lý thị trường, cơ quan hải quan và thanh tra khoa học - công nghệ Cơ quan Hải quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm soát hàng

hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

Trang 7

Bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH ở nước ta trong thời gian qua cũng đã

có bước chuyển biến khả quan kế cả trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến cơ chế thực thi, cũng như xử lý các vi phạm tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập như:

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bảo hộ quyền SHCN nói chung và bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH nói riêng còn thiếu, chưa đạt các tiêu chí của Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)/ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO);

- Hệ thống thực thi của các cơ quan nói trên còn bất cập như nhiều cơ quan

có chức năng và thẩm quyền xử lý làm cho các chủ thể quyền lúng túng không biết phải yêu cầu đơn vị nào bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Bản thân các cơ quan này cũng có tâm lý đùn đẩy, chờ đợi hoặc giẫm chân lên nhau trong quá trình

xử lý vi phạm Sự phức tạp, rắc rối của hệ thống thực thi đã ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của hoạt động thực thi ở nước ta Bên cạnh đó, năng lực chuyên môn của hệ thống thực thi còn chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn

- Việc quan tâm đăng ký quyền SHCN đối với NHHH của người dân và doanh nghiệp còn ít, theo số liệu thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ thì đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia từ năm 1982 đến 2015 đã nộp là 404.081 đơn (trong đó người nộp đơn Việt Nam là 291.176 đơn), nhưng chỉ cấp được 256.523 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (trong đó người nộp đơn Việt Nam là 172.943) [13, tr 84] Tình hình vi phạm quyền SHTT diễn ra phổ biến và đáng báo động, số vụ phát hiện, điều tra xử lý chiếm tỉ lệ thấp, các hình phạt chưa thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, trong các biện pháp xử lý xâm phạm, biện pháp xử lý hành chính được áp dụng là chủ yếu, theo thống kê xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu năm 2011: 1.561 vụ, phạt 9.021.421.000 VNĐ; năm 2012: 1.016 vụ, phạt 3.416.884.000 VNĐ; năm 2013: 2.147 vụ, phạt 18.422.475.000 VNĐ; năm 2014: 1.082 vụ, phạt 15.223.701.000 VNĐ; năm 2015: 1.450 vụ, phạt 12.426.159.000 VNĐ [13, tr 52]

Trong bối cảnh nước ta đang tiến đến mục tiêu hội nhập vào nền kinh tế thế

Trang 8

giới mà cụ thể của quá trình đó là việc gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), gần đây là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) chính thức được ký kết ngày 04 tháng 02 năm 2016 Nhiệm vụ bảo hộ quyền SHCN về NHHH đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) đang phải đối mặt với thách thức ngày càng phức tạp và đa dạng do số lượng các đối tượng tham gia và các bên liên quan đến bảo vệ SHCN tại biên giới ngày càng tăng, mức độ và phạm vi bảo hộ mở rộng, phong phú và đa dạng hơn Thêm vào đó, bảo vệ SHCN về NHHH đối với hàng hóa XNK đang đối đầu những vi phạm ngày càng tinh vi, có tổ chức, tính chất và mức

độ càng phức tạp

Trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, cơ quan Hải quan là cơ quan chủ quản được giao nhiệm vụ thực thi bảo hộ quyền SHCN về NHHH đối với hàng hóa XNK Với chức năng là cơ quan “gác cửa nền kinh tế đất nước”, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát về Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Cơ quan Hải quan đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc bảo hộ quyền SHCN về NHHH đối với hàng hóa XNK Tuy nhiên, kết quả đạt được còn hạn chế, thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều vướng mắc chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Cơ quan Hải quan các cấp còn gặp nhiều vướng mắc cần làm rõ cả về lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể thực trạng bảo vệ quyền SHCN đối với NHHH trong hoạt động XNK hàng hóa để có giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác công tác này trên thực tế

Đó là lý do để em chọn đề tài Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam làm đề tài nghiên

cứu luận văn Thạc sĩ của mình Hy vọng qua sự nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhỏ để hoàn thiện hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu

của Hải quan Việt Nam trong giai đoạn tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài

Trang 9

Ở nước ngoài có nhiều công trình nghiên cứu về bảo hộ quyền SHCN đối với

nhãn hiệu hàng hóa như: Quyền sở hữu công nghiệp của các giáo sư Albert Chavane

và Jean Jacques Burt (Cộng hòa Pháp, 1993); Nhãn hiệu hàng hóa - sự sáng tạo, giá trị bảo hộ của Francis Le FEBVRE (Cộng hòa Pháp, 1994); Nhãn hiệu hàng hóa của giáo sư Andrea Semprini Đại học Montpellier III (Cộng hòa Pháp, 1995); Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Tiến sĩ Gordian N.Hasselblatt (Cộng hòa

Liên bang Đức, Beck Mynchen, 2001)… các công trình nêu trên chủ yếu đề cập vấn

đề bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH của nước đó Bên cạnh đó, có các tài liệu chủ yếu được viết dưới các bài báo hoặc Tài liệu hướng dẫn về đăng ký vào bảo hộ quyền SHCN ở một nước cụ thể, ví dụ như các Bộ tài liệu về đăng ký và bảo hộ quyền SHCN ở 19 nước khác nhau, trong đó có Việt Nam, do Chính phủ Hoa Kỳ (USPTO) biên soạn và được đăng tải trên trang web chuyên về các vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng, tại nước ngoài là

http://www.stopfakes.gov; “Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ” Tài liệu hướng

dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ, Tổ chức SHTT thế giới thuộc Trung tâm thương mại quốc tế UNCTAD/WTO, GENEVA 2004 được dịch bởi Cục

sở hữu trí tuệ, tài liệu được viết dưới dạng câu hỏi và trả lời về các vấn đề liên quan đến SHTT, qua đó giới thiệu các trang web của các cơ quan SHTT quốc gia và khu vực, cũng như danh mục trang web của các cơ quan quản lý để các doanh nghiệp quan tâm

2.2 Các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước

Ở nước ta, một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã có một số công trình

khoa học, bài nghiên cứu liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH như:

“Thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Hải quan Việt Nam đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” Nguyễn Thị Thương Huyền (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 5/2008); “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế” PGS.TS Nguyễn Bá Diến làm chủ biên (NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2010); “Thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam” Nguyễn Hồng Bắc, (Tạp chí Luật học, số 3/2010); “Bàn về cơ chế kiểm soát

Trang 10

biên giới nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ” TS Đặng Vũ Huân - Bộ Tư pháp, (Tạp chí Khoa học và pháp lý Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, 2013); “Bất cập

về kiểm soát hàng hóa xuất khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ và một số kiến nghị” PGS.TS Đoàn Đức Lương, Hiệu trưởng Đại học Luật Huế và ThS Nguyễn Minh Đức, Phòng quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế, (Tạp chí Pháp luật và phát triển, 2015) …

Ngoài ra có thể kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về đề tài nghiên cứu về quyền SHCN đối với NHHH như: Luận án tiến sĩ “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam” Nguyễn Văn Luật (2006); luận văn thạc sĩ “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới của cơ quan Hải quan Việt Nam” Trần Thị Thu Vân (2011), luận văn thạc sĩ “Bảo quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật nước ngoài” Nguyễn Thị Lan Anh (2012) Đặc biệt vấn đề liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền SHCN trong lĩnh vực Hải quan như đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan “Hoàn thiện các giải pháp thực thi Sở hữu công nghiệp đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam” Vũ Ngọc Anh (2001)

Về cơ bản các bài viết, các công trình nghiên cứu về NHHH các tác giả Việt Nam trong thời gian qua đều tập trung phân tích, đánh giá các khía cạnh khác nhau

về sự phù hợp của hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH ở Việt Nam, nhu cầu phát triển thực tế trong giai đoạn hiện nay và nêu ra một số định hướng và giải pháp nhất định nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH

2.3 Những vấn đề thuộc Đề tài luận văn chưa được các công trình đã công bố nghiên cứu giải quyết

Các công trình của các tác giả Việt Nam đề cập vấn đề bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH trong mối quan hệ chung với các chủ thể của SHCN, có nêu thực trạng, có kiến nghị giải pháp khắc phục… nhưng nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

Trang 11

Do đó đây là vấn đề độc lập không trùng lặp với các đề tài khác Mặc dù vậy, tác giả luôn có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình khoa học, luận án, luận văn, các bài viết đã đạt được cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài

2.4 Những vấn đề trọng tâm luận văn sẽ nghiên cứu giải quyết:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của ngành Hải quan;

- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam;

- Đưa ra phương hướng, giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2020, tầm nhìn 2025 nhằm đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi khách quan trong thực tế đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ hiện nay của Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát:

Làm rõ cơ sở khoa học cho đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

* Các câu hỏi nghiên cứu để làm rõ hơn mục tiêu nghiên cứu:

Trang 12

- Ngành Hải quan phải làm gì, bằng cách nào để thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu?

- Những yếu tố chủ yếu nào ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả đối với bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của ngành Hải quan?

- Những bài học gì cho Hải quan Việt Nam từ kinh nghiệm của Hải quan một

số nước có những điểm tương đồng trong bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu?

- Hải quan Việt Nam đã làm những việc gì, bằng cách nào để thực hiện bảo

hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu?

- Những tồn tại, hạn chế chủ yếu nào của Hải quan Việt Nam trong bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu và nguyên nhân của những hạn chế

- Những cơ hội và thách thức chủ yếu nào của Hải quan Việt Nam trong bảo

hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu thời kỳ tới (từ nay đến năm 2025

- Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu thời kỳ tới thì Hải quan Việt Nam phải giải quyết những vấn

đề gì và thực hiện như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH

hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

4.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

* Giới hạn phạm vi trọng tâm:

- Nội dung trọng tâm nghiên cứu là xác định và luận giải nội dung, phương thức, các công cụ thực hiện bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của ngành Hải quan;

- Xác định các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam;

Trang 13

- Xác định những thành quả, hạn chế và nguyên nhân;

- Xác định phương hướng, giải pháp có tính đồng bộ cụ thể và khả thi nhằm tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam phù hợp với các cam kết quốc tế

* Giới hạn phạm vi không gian:

- Hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam trong lãnh thổ hải quan;

- Kinh nghiệm của Hải quan một số nước có điểm tương đồng với Hải quan Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu như: Trung Quốc, Hàn quốc; và kinh nghiệm của Mỹ là nước thành viên chủ chốt trong TPP, là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam

* Giới hạn phạm vi thời gian:

- Dữ liệu đánh giá thực trạng từ năm 2006 đến thời điểm nghiên cứu

- Đề xuất phương hướng đến 2025, giải pháp đến năm 2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận vấn đề bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu từ góc độ chức năng, nhiệm vụ của ngành Hải quan, trong đó tập trung xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam với vai trò là chủ thể thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu; cách thức tác động của Hải quan Việt Nam (chủ thể quản lý) đến khách thể quản lý là các doanh nghiệp và hàng hóa XNK qua lãnh thổ hải quan

* Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng các phương pháp tổng hợp trong các nghiên cứu tổng quan các công trình khoa học đã được công bố, nghiên cứu cơ sở lý luận về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của ngành Hải quan; đánh giá chung thực trạng bảo

hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam để rút ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân Sử dụng phương pháp chứng minh, phân tích, so sánh trong nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, trong phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động Hải quan Việt Nam trong thực hiện bảo hộ quyền SHCN đối với

Trang 14

NHHH xuất nhập khẩu Sử dụng các phương pháp nội suy và ngoại suy trong nghiên cứu đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam trong thời kỳ tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn khái quát hóa những vấn đề lý luận liên quan đến quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của ngành Hải quan và quản lý nhà nước về quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu; Đồng thời nghiên cứu và tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về các hoạt động liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của một số nước Qua đó, góp phần làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu

- Trên cơ sở phân tích thực trạng thực thi bảo hộ SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam, luận văn đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam cũng như nâng cao hiệu quả của cơ chế thực thi quyền SHCN đối với nhóm đối tượng này nhằm đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi khách quan trong thực tế, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ hiện nay của Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chủ yếu về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

Chương 2: Thực trạng bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2020, tầm nhìn 2025

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU

CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN 1.1 Quyền sở hữu công nghiệp và vai trò của cơ quan Hải quan trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

Loài người bằng lao động sáng tạo đã làm ra các của cải vật chất phục vụ cho đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của chính mình Trí tuệ con người có sức sáng tạo vô tận và chính nó đã giúp con người nhận thức được sự phát triển không ngừng của thế giới khách quan Như vậy, trí tuệ là tài sản vật chất nhưng mang những đặc thù riêng Tài sản hữu hình có thể bị hao mòn theo năm tháng, nhưng tài sản trí tuệ dường như được tích tụ, nhân lên và phát huy mạnh mẽ khi đem sử dụng Các sản phẩm trí tuệ đôi khi không nhìn thấy bằng mắt thường, nó ẩn chứa trong vật mang bọc giữ nó, nhưng có giá trị lớn tuỳ thuộc vào nội dung, khả năng ứng dụng của sản phẩm hay có thể được đánh giá bởi danh tiếng, uy tín, chất lượng cũng như các lợi ích vật chất khác mà nó mang lại Trách nhiệm của mỗi quốc gia là bảo hộ phát huy tài sản trí tuệ của loài người Chính vì vậy các quốc gia đã cùng nhau xây dựng cơ sở pháp lý mang tính quốc tế nhằm bảo hộ quyền SHTT Quyền sở SHTT bao gồm 2 lĩnh vực chính là quyền SHCN đối với các phát minh, nhãn mác hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp và tên gọi nguồn gốc và quyền tác giả trong lĩnh vực văn hoá, âm nhạc, mỹ thuật, chụp ảnh và nghe nhìn

Có thể hiểu khái niệm “quyền SHTT là quyền của chủ thể đối với một sản phẩm trí tuệ nào đó do mình sáng tạo ra và/hoặc sở hữu được pháp luật thừa nhận

và bảo vệ”

Như vậy, quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng

Trang 16

Sơ đồ: Mối quan hệ giữa sở hữu, sở hữu trí tuệ và sở hữu công nghiệp

Một số khái niệm cơ bản

- Quyền sở hữu công nghiệp

Luật SHTT năm 2005 được ban hành đã định nghĩa: ”Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết

kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh” [22, Điều 4, Khoản 4]

Để hiểu rõ những vấn đề cơ bản về quyền SHCN, cần phân biệt một số khái niệm cụ thể dưới đây:

Sở hữu là thuật ngữ dùng để chỉ quyền của con người đối với tài sản mà người

đó có Quyền này được Nhà nước bằng pháp luật ghi nhận và bảo hộ, và gọi là

quyền sở hữu Nội dung quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng

và quyền định đoạt đối với tài sản tương ứng

Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp là chủ sở hữu quyền SHTT hoặc tổ chức, cá

nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền SHTT

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải

quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên [22, Điều 4, Khoản 12]

Trang 17

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện

bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này”

[22, Điều 4, Khoản 13]

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các phần tử

mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn [22, Điều 4, Khoản 15]

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh

doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng [22, Điều 4, Khoản 21]

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa

phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể [22, Điều 4, Khoản 22]

Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ

chức, cá nhân nhằm xác lập quyền SHCN đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây trồng [22, Điều 4, Khoản 25]

Nhãn hiệu hàng hóa:

Việt Nam là một thành viên của nhiều điều ước quốc tế về NHHH bao gồm Công ước Pari về SHCN năm 1883 và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid), Hiệp định TRIPS Trước khi có Luật SHTT năm 2005, quyền SHCN đối với NHHH ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự năm 1995, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ

Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định: Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc [20, Điều 785]

Trang 18

Luật SHTT năm 2005 quy định :

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá

nhân khác nhau ” [22, Điều 4, Khoản 16]

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các

thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó [22, Điều 4, Khoản 17]

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ

chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu [22, Điều 4, Khoản 18]

Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc

tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau [22, Điều 4, Khoản 19]

Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên

toàn lãnh thổ [22, Điều 4, Khoản 20]

- Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa

Dựa vào khái niệm quyền SHCN nêu trên, người ta nhận thấy quyền SHCN có thể được chia thành hai nhóm đối tượng được bảo hộ chính, bao gồm:

Quyền sở hữu đối với các thành tựu sáng tạo khoa học công nghệ như: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp

Quyền sở hữu đối với các chỉ dẫn thương mại như: nhãn hiệu hàng hóa; tên thương mại; chỉ dẫn địa lý; quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Không giống như đối với quyền tác giả được xác lập ngay khi tác phẩm hình thành, các quyền sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu hàng hóa và quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý muốn được xác lập phải thực hiện việc đăng ký với Cục Sở hữu trí tuệ (Cục SHTT) thuộc Bộ khoa học

và Công nghệ theo các thủ tục quy định Các đối tượng SHCN khác như: bí mật

Trang 19

kinh doanh, tên thương mại thì quyền sở hữu tự động phát sinh như bản quyền, nó chỉ phát sinh khi hội tụ đủ các điều kiện quy định mà không cần đăng ký

Để được hưởng quyền sở hữu đối với NHHH, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải làm “Đơn xin cấp giấy chứng nhận đăng ký NHHH” và nộp tại Cục SHTT thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Đơn phải tuân thủ hình thức, nội dung theo quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa Giấy chứng nhận đăng ký NHHH sẽ được cấp nếu đơn được trình bày theo đúng quy định, NHHH trong đơn thỏa mãn các tiêu chuẩn bảo hộ, người nộp đơn đã nộp đủ các khoản lệ phí Phạm vi, nội dung, thời hạn bảo hộ quyền đối với NHHH được xác định theo giấy chứng nhận đăng ký NHHH được cấp

Một NHHH dùng cho một sản phẩm, dịch vụ nhất định chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là người nộp đơn đăng ký đầu tiên Để biết NHHH dự kiến đã có chủ

sở hữu, hoặc đã có người nộp đơn đăng ký bảo hộ hay chưa, cá nhân, tổ chức có thể

tự tra cứu thông tin trên các nguồn sau đây: Công báo Sở hữu công nghiệp do Cục SHTT phát hành hàng tháng; Đăng bạ quốc gia và đăng bạ quốc tế về nhãn hiệu hàng hóa (lưu giữ tại Cục SHTT); Cơ sở dữ liệu điện tử về nhãn hiệu đã đăng ký trực tiếp tại Việt Nam do Cục SHTT công bố trên mạng internet (www.noip.gov.vn); Cơ sở dữ liệu điện tử về nhãn hiệu đã đăng ký vào Việt Nam theo thỏa ước Madrid, do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố trên mạng internet (www.wipo.int) và có thể sử dụng dịch vụ tra cứu thông tin của Cục SHTT, hoặc yêu cầu cơ sở cung cấp dịch vụ SHTT tư vấn, giải đáp với điều kiện nộp phí theo quy định

- Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó các bên tham gia đáp ứng được những điều kiện do nhà nước quy định, có những quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật

Quan hệ pháp luật được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Do đó, bảo vệ quan hệ pháp luật sẽ được ghi nhận của pháp luật cụ thể là các văn bản bảo đảm điều kiện cho việc thực thi quyền của các bên chủ thể và quy định các hình thức chế

Trang 20

tài khi quyền đó bị xâm hại

Quyền SHTT là tập hợp các quy phạm pháp luật được ban hành nhằm xác lập, ghi nhận, củng cố và bảo vệ các quan hệ SHTT trong xã hội Vì vậy, để bảo vệ các quan hệ SHTT cần bảo vệ quyền SHTT cũng cần được bảo vệ

Bảo hộ theo nghĩa chung nhất là sự che chở, không để bị hư hỏng, tổn thất (Từ điển tiếng Việt của Viện Khoa học xã hội Việt Nam) Bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH cũng là “che chở” bằng các quy định của hệ thống pháp luật của nhà nước đối với chủ thể quyền có quyền, lợi ích hợp pháp đối với quyền SHCN của NHHH Làm cho việc thực hiện quyền của chủ thể được bảo đảm bằng pháp luật, được pháp luật bảo vệ nhằm chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đang được nhà nước bảo hộ

Bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH được cơ quan thẩm quyền xác nhận bởi Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Ở Việt Nam, Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam, thời gian được bảo hộ là

10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ đăng ký và có thể được gia hạn thêm nhiều lần, mỗi lần là 10 năm

Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa được Cục SHTT cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Chủ sở hữu đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo thỏa ước Mandrit đã được chấp nhận bảo hộ sẽ được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam Các tổ chức, cá nhân được chuyển giao hoặc được thừa kế một cách hợp pháp cũng là chủ sở hữu nhãn hiệu Chủ sở hữu có nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu liên tục và không được đình chỉ sử dụng nhãn hiệu trong thời gian dài hơn 5 năm liền Nếu chủ sở hữu không sử dụng nhãn hiệu 5 năm liên tục với lý do không chính đáng thì giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bị đình chỉ hiệu lực từ ngày đầu tiên sau thời hạn 5 năm nói trên

Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá là tất yếu, các tổ chức, cá nhân luôn có xu hướng vươn hoạt động xuất khẩu hàng hóa và đầu tư ra nước ngoài để thu lời Chính vì vậy việc đăng ký bảo hộ quyền SHCN ở nước ngoài là hết sức cần thiết bởi 2 lý do cơ bản sau:

Trang 21

- Văn bằng bảo hộ quyền SHCN do cơ quan có thẩm quyền ở một nước cấp chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ của nước đó Nếu chủ đối tượng muốn bảo hộ đối tượng SHCN của mình ở một nước khác thì phải thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ quyền SHCN tại nước đó

- Việc đăng ký bảo hộ quyền SHCN ở nước ngoài chủ yếu nhằm dành độc quyền khai thác, sử dụng và ngăn cản người khác sử dụng trái phép đối tượng SHCN của mình trên lãnh thổ nước đó

Trên cơ sở Công ước Pari, Thỏa ước Mandrit về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và Hiệp định hợp tác về bằng sáng chế các tổ chức và cá nhân có quyền đăng ký bảo

hộ ở bất kỳ quốc gia nào tham gia các Công ước và Hiệp định nói trên

- Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan được thể hiện qua hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK và việc thực thi hệ thống pháp luật đó.Quyền SHCN sẽ được bảo vệ hiệu quả khi luật pháp quốc gia đảm bảo việc xác lập quyền sở hữu, đăng ký quyền sở hữu và thực thi quyền sở hữu

Hệ thống pháp luật để cơ quan Hải quan bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK bao gồm hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế như: hệ thống pháp luật quốc gia có các pháp luật về dân sự, hình sự, kinh tế - thương mại, hành chính tạo cở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước nói chung và cơ quan Hải quan nói riêng bảo vệ chủ thể quyền sở hữu quyền SHCN đối với NHHH XNK; cơ quan Hải quan bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc

tế mà các quốc gia tham gia các Công ước, Hiệp định và các điều ước quốc tế song phương

Việc ban hành các hệ thống pháp luật để bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể quyền, người tiêu dùng và nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ ban hành pháp luật đảm bảo việc xác lập quyền sở hữu và đăng ký quyền sở hữu là chưa đủ, vấn đề

Trang 22

thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan là vẫn đề cần phải quan tâm Điều này thể hiện rất rõ trong hệ thống pháp luật quốc gia và các Công ước, Hiệp định và các điều ước quốc tế song phương về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK Cơ quan Hải quan là cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK tại biên giới, dùng các biện pháp kiểm soát biên giới để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp NHHH XNK của chủ thể quyền SHCN đối với nhãn hiệu đó, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đang được nhà nước bảo hộ

1.1.2 Đặc điểm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

Bảo vệ quyền SHCN đối với NHHH là hoạt động của nhiều cơ quan thực thi pháp luật như: cơ quan Công an, Hải quan, Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành, Tòa án, Ủy ban nhân dân các cấp và chủ thể quyền SHCN của nhãn hiệu Khác với hoạt động bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói chung, bảo vệ quyền SHCN của cơ quan Hải quan đối với NHHH XNK có những đặc điểm riêng, cụ thể:

- Đối tượng kiểm soát để bảo vệ quyền SHCN của cơ quan Hải quan đối với nhãn hiệu là hàng hóa XNK mang nhãn hiệu đang được bảo hộ tại quốc gia, đã được đăng ký kiểm soát biên giới tại cơ quan Hải quan Như vậy, đối tượng kiểm soát ở đây không bao gồm toàn bộ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà được giới hạn trong phạm vi những hàng hóa XNK mang nhãn hiệu đã được đăng ký với cơ quan Hải quan

- Cơ quan Hải quan bảo vệ quyền SHCN đối với NHHH XNK được thực hiện trong phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan Trong phạm vi này, cơ quan Hải quan chủ trì tổ chức thực hiện các biện pháp đấu tranh, bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK; chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng khác tổ chức thực hiện các hoạt động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, bắt giữ và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu và chịu trách nhiệm chính về công tác này Ngoài phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan, cơ quan Hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan thực hiện Nếu phát hiện vụ việc vi

Trang 23

phạm ngoài địa bàn, cơ quan Hải quan sẽ chuyển giao cho cơ quan chức năng khác

có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật

- Về mặt chủ thể, bảo vệ quyền SHCN do cơ quan Hải quan và chủ thể quyền SHCN có hàng hóa mang nhãn hiệu đã đăng ký kiểm tra, giám sát tại cơ quan Hải quan được xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới quốc gia thực hiện Cơ quan Hải quan các cấp là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới đối với hàng hóa XNK liên quan đến SHCN

Các chủ thể quyền SHCN muốn bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu gắn trên hàng hóa XNK thuộc sở hữu của mình phải đăng ký kiểm soát biên giới tại

cơ quan Hải quan, có quyền yêu cầu cầu cơ quan Hải quan tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa có nghi nghờ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

- Hoạt động bảo vệ quyền SHCN đối với NHHH XNK do cơ quan Hải quan thực hiện bằng biện pháp duy nhất là biện pháp hành chính Theo quy định của pháp luật, cơ quan Hải quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về Hải quan như các biện pháp: kiểm tra, giám sát và kiểm soát Hải quan, tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có nghi ngờ xâm phạm quyền SHCN Khi phát hiện vi phạm, cơ quan Hải quan có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính theo các trình tự, thủ tục quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính

- Cơ quan Hải quan thường xuyên tham gia các chiến dịch toàn cầu về chống các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với hàng hóa cùng với Tổ chức hải quan thế giới (WCO), Tổ chức cảnh sát quốc tế (INTERPOL) và Hải quan các nước

1.1.3 Vai trò của cơ quan Hải quan trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan Hải quan

Cơ quan Hải quan tổ chức triển khai, hướng dẫn các đơn vị hải quan các cấp thực hiện các quy định pháp luật về SHCN trong xuất nhập khẩu hàng hóa; chỉ đạo,

Trang 24

giám sát việc thực hiện pháp luật và xử phạt vi phạm pháp luật về sở hữu công nghiệp tại biên giới

Hải quan cửa khẩu kiểm tra tại cửa khẩu việc thực hiện quy định pháp luật về

sở hữu công nghiệp trong xuất nhập khẩu hàng hóa; xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu công nghiệp xảy ra tại cửa khẩu

Với chức năng nhiệm vụ của mình, cơ quan hải quan có quyền:

- Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHCN là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền SHCN thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính

- Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền SHCN là biện pháp được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền SHCN nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan

- Trong quá trình thực hiện biện pháp tạm dừng thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hàng hoá, nếu phát hiện hàng hoá vi phạm quyền SHCN về nhãn hiệu thì cơ quan hải quan có quyền và có trách nhiệm áp dụng biện pháp hành chính để xử lý

1.2 Nội dung và các phương thức thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

1.2.1 Nội dung thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

Thực thi quyền SHCN là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế của các quốc gia, đây là một vấn đề quan trọng trong thực thi hiệu quả pháp luật bảo vệ quyền SHTT Các cơ quan quản lý nhà nước đảm bảo thực thi SHTT bằng bốn biện pháp, đó là: Biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự và biện pháp kiểm soát tại biên giới Về cơ bản, cả bốn biện pháp này đều đã có đầy đủ

cơ sở pháp lý để thực hiện Tuy nhiên trong thực tế, biện pháp hành chính dường như được sử dụng phổ biến hơn cả Điều đó được lý giải bởi ưu thế thủ tục đơn

Trang 25

giản, xử lý nhanh chóng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của chủ thể quyền SHTT, đảm bảo không chỉ có tác dụng ngăn chặn, mà còn có tác dụng phòng ngừa, răn đe qua việc trừng phạt đối với hành vi xâm phạm quyền

Những hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH XNK đối với các chủ thể quyền SHCN, những tranh chấp và mâu thuẫn thương mại về quyền SHCN mang yếu tố nước ngoài, mang tính đa quốc gia đã đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo

hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK Cơ quan Hải quan thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK cho các chủ thể quyền SHCN dựa trên một khuôn khổ pháp luật thực thi chung của các quốc gia thành viên, đáp ứng theo chuẩn mực quốc

tế tại các Công ước, Hiệp định

Chủ sở hữu NHHH có quyền đang ký giám sát NHHH tại cơ quan Hải quan để nhận thông báo của cơ quan Hải quan về các các lô hàng sắp thông quan tại cửa khẩu Sau yêu cầu đăng ký được chấp nhận các nhân viên hải quan có trách nhiệm theo dõi xem có bất kỳ sản phẩm nào xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH đã đăng ký hay không

Việc xác định hành vi vi phạm được cơ quan Hải quan xem xét trên các hành

vi như sao chép, làm giả, sử dụng trái phép toàn bộ sản phẩm hoặc một phần các yếu chính của NHHH đang được bảo hộ Những hành vi coi là xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với NHHH:

Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa trùng với

hàng hóa thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó

Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá tương tự

hoặc liên quan tới hàng hoá thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

Sử dụng dấu hiệu tương tự với NHHH được bảo hộ cho hàng hoá hoặc liên

quan tới hàng hoá thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá;

Trang 26

Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu

dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, kể cả hàng hoá không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng

1.2.2 Phương thức và các công cụ chủ yếu cơ quan Hải quan sử dụng để thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

Để cơ quan Hải quan thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK, cơ quan Hải quan sử dụng các phương thức và công cụ chủ yếu thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát hàng hoá XNK trên tất cả các khâu nghiệp vụ hải quan, bao gồm

cả trong quy trình làm thủ tục Hải quan và ngoài quy trình thủ tục Hải quan Trong quy trình làm thủ tục hải quan do các cán bộ, công chức Hải quan trực tiếp làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu biên giới thực hiện; ngoài quy trình thủ tục Hải quan

do lực lượng kiểm soát Hải quan thực hiện

Cơ quan Hải quan thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK thông qua các hoạt động kiểm soát tại biên giới bằng các nghiệp vụ như kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan để thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH, cụ thể: Kiểm tra hải quan là việc cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng

từ, tài liệu liên quan và kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải

Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ hải quan do cơ quan áp dụng để bảo đảm nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu trữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý của hải quan

Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi vi phạm pháp luật hải quan

Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kiểm tra, kiểm soát Hải quan để bảo vệ

Trang 27

quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK bao gồm biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu và biện pháp kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT [22, Điều 216] Trong đó:

Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền SHCN nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền SHCN thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính

Kiểm tra, giám sát là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan Hải quan thực hiện để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền SHCN, biện pháp này được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền SHCN nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục Hải quan

Hai biện pháp này có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau Việc kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp tiền đề để cơ quan Hải quan thực hiện tạm dừng làm thủ tục Hải quan và xử lý vi phạm hành chính các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình, cơ quan Hải quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH, trong trường hợp cần thiết cơ quan Hải quan áp dụng biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật

Các biện pháp xử lý trong quá trình thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của ngành Hải quan gồm có: Các biện pháp xử lý hành chính hoặc hình sự có thể được áp dụng với hàng giả bị phát hiện ở cửa khẩu; tái xuất bắt buộc

sẽ được áp dụng với hàng giả sau khi loại bỏ yếu tố giả mạo

Cơ quan Hải quan thực thi quyền SHCN bằng các biện pháp xử lý hành chính như: Cảnh cáo; phạt tiền Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu hàng hoá giả

Trang 28

mạo Ngoài ra tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền SHCN còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau: Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền SHCN; Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền SHCN hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá

Để đảm bảo xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính, cơ quan Hải quan áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau: Tạm giữ người; Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm; Khám người; Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về SHCN; Các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

1.3 Hiệu lực, hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

1.3.1 Hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

* Hiệu lực thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan:

Là khả năng và tác dụng thực tế của cơ quan Hải quan trong thực thi có hiệu quả chức năng kiểm soát hàng hóa XNK liên quan đến quyền SHCN đối với NHHH Đó là việc cơ quan Hải quan sử dụng quyền lực hành chính nhà nước theo quyền hạn, thẩm quyền của mình được pháp luật quy định để thực thi các biện pháp kiểm soát hàng hóa XNK liên quan đến quyền SHCN đối với NHHH, gồm: biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH; biện pháp kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH; áp dụng các biện pháp hành chính để

xử lý các trường hợp bị phát hiện hàng hóa giả mạo về SHCN đối với NHHH theo

Trang 29

quy định của pháp luật Đồng thời, để đảm bảo hiệu lực thực thi các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nêu trên, cơ quan Hải quan phải biết sử dụng hiệu quả các phương pháp và công cụ quản lý về các mặt pháp luật, hành chính, tổ chức, kinh tế, tư tưởng tâm lý, phương tiện kỹ thuật để đề ra những quyết định hợp pháp, hợp lý, hợp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả

Do đó, hiệu quả của cơ quan Hải quan trong thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý nhà nước lên các quá trình thông quan và hành vi hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bằng quyền lực nhà nước, để kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền SHCN đối với NHHH, nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội theo tính chất mệnh lệnh đơn phương của nhà nước và sự tuân thủ chấp hành pháp luật của các bên liên quan, bảo đảm duy trì trật tự kỷ cương của nhà nước trong hoạt động XNK hàng hóa

* Hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan:

Theo nghĩa rộng và duy nhất, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan là sự so sánh giữa kết quả đem lại từ hoạt động kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHCN đối với NHHH của

cơ quan Hải quan và chi phí đã bỏ ra cho kết quả đó sao cho kết quả đạt được tối đa còn chi phí thì tối thiểu (tiết kiệm nhất)

Theo nghĩa hẹp và cụ thể hơn, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan là mức kết quả đạt được từ hoạt động kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHCN đối với NHHH theo chức năng, nhiệm vụ và nội dung quản lý của cơ quan Hải quan được pháp luật quy định cao hơn chi phí chuẩn tuân thủ các nội dung quản lý đó

Tiêu chí và nguyên tắc chung để đánh giá hiệu quả của hoạt động thực thi bảo

hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan gồm: (i) Tính rõ ràng, công khai, minh bạch của các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Trang 30

liên quan đến SHCN về NHHH; (ii) Tính hợp pháp, hợp quy và chính xác của các quyết định tạm dừng thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHCN về NHHH và các quyết định hành chính xử lý các trường hợp phát hiện hàng hóa giả mạo về SHCN đối với NHHH; (iii) Tính kinh tế, nghĩa là chi phí hợp lý, hợp chuẩn, tiết kiệm; (iv) Mức độ hài lòng của các chủ thể kinh tế là đối tượng kiểm soát của cơ quan Hải quan, tức là các doanh nghiệp XNK hàng hóa có hàng hóa là đối tượng kiểm soát của cơ quan Hải quan liên quan đến SHCN về NHHH; (v) Tính có thể kiểm soát được và sự phù hợp với mục tiêu quản lý của cơ quan Hải quan đối với hàng hóa XNK liên quan đến SHCN về NHHH

Các tiêu chí để đánh giá hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan được xác định, định lượng qua:

- Việc thiết lập và vận hành cơ chế thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan tương thích với các chuẩn mực quốc tế

- Hệ thống thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan đủ sức xử lý, chặn đứng và không cho phép xảy ra các hành vi xâm phạm quyền SHCN xảy ra

- Sự hài lòng của các bên liên quan về thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan

- Tình hình thực hiện kế hoạch thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan (Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch so với kế hoạch năm; kết quả xử lý hành vi xâm phạm, giải quyết khiếu nại so với năm trước)

- Chi phí về nhân lực, vật chất thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan so với kết quả xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN giảm so với năm trước

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan

- Cùng với quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế đa phương, song phương và khu vực là một nguồn luật không thể thiếu khi xem xét việc thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với từng quốc gia Trong hoạt động thực thi bảo hộ

Trang 31

quyền SHCN đối với NHHH XNK cơ quan Hải quan có thẩm quyền phải viện dẫn đến các công ước quốc tế, hiệp định, điều ước song phương có liên quan đến quyền SHCN Các nội dung thỏa thuận trong các công ước quốc tế, hiệp định, điều ước song phương dần được nội luật hóa trong các văn bản pháp luật thực thi bảo hộ quyền SHCN của từng quốc gia Đây là yếu tố ảnh hưởng đầu tiên đến hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan trong tiến trình hội nhập thương mại quốc tế của các quốc gia

- Đối với hầu hết các nước trên thế giới, thực thi bảo hộ quyền SHCN của cơ quan Hải quan được tạo thành từ các yếu tố chính sau: bộ máy thực thi quyền SHCN, con người đảm bảo thực thi quyền SHCN, các yếu tố khác hỗ trợ cho việc thực thi quyền SHCN

Đội ngũ cán bộ hải quan được coi là chủ thể thực thi pháp luật, đây là một yếu tố tiên quyết thực thi bảo hộ quyền SHCN, bởi nếu người thực thi pháp luật không làm tốt nhiệm vụ của mình thì không thể yêu cầu người có nghĩa vụ chấp hành pháp luật tốt

- Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa thương mại toàn cầu làm gia tăng hoạt động XNK như quy mô, sự đa dạng về chủng loại hàng hóa XNK, là điều kiện cho hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, vi phạm quyền SHCN ngày càng gia tăng Tình hình hàng hóa xâm phạm quyền SHCN đối với NHHH XNK diễn ra hết sức phức tạp cả về hình thức, tính chất và mức độ vi phạm, ngày càng tinh vi hơn, gây nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ cho cơ quan Hải quan

- Ngoài ra còn có các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực hiệu quả, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH XNK của cơ quan Hải quan như: sự phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan thực thi; tâm lý và trách nhiệm của doanh nghiệp

1.4 Kinh nghiệm của Hải quan một số nước và bài học cho Hải quan Việt Nam trong thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

1.4.1 Hải quan Trung quốc

Trang 32

Trung quốc đã thành lập các biện pháp kiểm soát tại biên giới về bảo hộ quyền SHTT từ tháng 9 năm 1994 Một hệ thống các biện pháp thực thi đều tuân thủ theo những quy định của Hiệp định TRIPS Các biện pháp này được quy định cụ thể trong Nghị quyết của Chính phủ Trung Quốc về bảo vệ hải quan đối với quyền SHTT Hiện tại Hải quan Trung quốc đã thành lập một hệ thống thực thi bảo hộ quyền SHTT bao gồm kiểm tra tờ khai, kiểm tra thực tế hàng hóa xuất nhập khẩu, thu và bắt giữ đối với các lô hàng vi phạm, phạt các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu

vi phạm và tiêu hủy hàng hóa vi phạm… Đáng lưu ý là Hải quan Trung Quốc có đội quân tinh nhuệ được huấn luyện về chuyên môn và chuyên nghiệp cao trong lĩnh vực thực thi bảo hộ quyền SHTT Kế hoạch hành động về bảo vệ của Trung Quốc được đưa ra cho những cơ quan quản lý thuộc Chính phủ cùng thực hiện, riêng đối với Hải quan, nhiệm vụ sẽ tập trung vào việc kiểm soát SHTT tại biên giới Hải quan Trung Quốc áp dụng hệ thống thực thi bảo hộ quyền SHTT trong đó kết hợp

cả biện pháp hình sự và biện pháp hành chính

Với chức năng là một cơ quan kiểm soát của quốc gia về hàng hóa xuất khẩu

và nhập khẩu, Hải quan Trung Quốc sẽ thực hiện các chức năng của mình mạnh mẽ hơn nữa và tập trung vào công tác kiểm soát, thực thi bảo hộ quyền SHTT trên các phương diện chủ yếu sau:

- Chủ động thực thi bảo hộ quyền SHTT của Hải quan, đặc biệt chú ý đến các hàng XNK vi phạm các nhãn hiệu nổi tiếng;

- Nghiên cứu khả năng tăng cường năng lực bắt giữ của Hải quan đối với hàng

vi phạm bằng các phương pháp kỹ thuật;

- Xây dựng và củng cố hợp tác, dựa trên các hiệp định hành chính song phương giữa Hải quan Trung Quốc và Hải quan các nước khác trong khu vực về công tác trao đổi thông tin và nghiệp vụ

- Tăng cường đào tạo công, hợp tác với các cơ quan chức năng khác để đào tạo các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh quốc tế có được những kiến thức và khuyến khích họ tự giác tuân thủ luật pháp

Trang 33

1.4.2 Hải quan Hàn Quốc

Từ những năm 2005, Hải quan Hàn Quốc đã xây dựng Kế hoạch Hiện đại hóa Hải quan giai đoạn đến 2010, theo đó Kế hoạch tập trung vào nhiều vấn đề quan trọng trong đó phải kể đến ngăn chặn các vi phạm về quyền SHTT và nạn buôn lậu Mục tiêu về bảo vệ Quyền sở hữu trí tuệ và thực thi luật pháp về quyền SHTT đã được Cơ quan Hải quan Hàn Quốc dành khá nhiều ưu tiên thông qua việc xây dựng Chiến lược hải quan về Bảo hộ quyền SHTT tại biên giới

Theo chiến lược này, Cơ quan Hải quan Hàn Quốc đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Hải quan các nước tiên tiến khác đang có những nỗ lực về bảo hộ quyền SHTT một cách có hệ thống và hiệu quả

Trong Kế hoạch Hiện đại hóa hải quan 2010, Hải quan Hàn Quốc đã xây dựng được 4 trụ cột để hiện thực hóa các mục tiêu: Sản phẩm; Quy trình; Con người và Cương lĩnh

Về sản phẩm, định hướng chiến lược là tăng cường các hoạt động bảo hộ quyền SHTT nhằm đáp ứng mong mỏi của những người tiêu dùng và doanh nghiệp Mục tiêu chính là không để xuất hiện các vụ vi phạm về quyền SHTT và tăng cường sự tin tưởng mang tầm cỡ quốc tế tại Hàn Quốc

Về quy trình, định hướng chiến lược là hiện đại hóa các hệ thống và nghiệp vụ quản lý rủi ro và xây dựng mối quan hệ hợp tác, bao gồm các hệ thống phân tích thông tin hiện đại và nghiệp vụ quản lý rủi ro tiên tiến để có thể soi quét các hàng hóa vi phạm quyền SHTT Thiết lập mối quan hệ đối tác với doanh nghiệp, các cơ quan khác của chính phủ, các cơ quan hải quan nước ngoài và tăng cường các hoạt động cung cấp thông tin rộng rãi cho cộng đồng

Về con người, định hướng chiến lược là xây dựng năng lực hoàn chỉnh cho các nhân viên hải quan Khuyến khích các nhân viên hải quan và cung cấp cho họ các sáng kiến để có thể đấu tranh hiệu quả với nạn làm hàng giả

Về cương lĩnh, định hướng chiến lược là tăng cường hiệu quả của luật pháp và các cơ chế thực thi Các chiến lược chính bao gồm sửa đổi luật pháp nhằm tăng

Trang 34

cường quyền hạn của Hải quan về bảo hộ quyền SHTT và thiết lập cơ chế mang tính hệ thống để chống lại các hàng hóa vi phạm quyền SHTT

Cơ quan Hải quan Hàn Quốc cam kết mở rộng phạm vi thực thi bảo hộ quyền SHTT sang các đối tượng hàng xuất khẩu, chuyển tải và hàng giả đang lưu thông cũng như các hàng hóa nhập khẩu nhằm tận dụng tối đa năng lực phân tích thông tin thực thi luật pháp và quản lý rủi ro

Đối với hàng nhập khẩu, tất cả các hàng hóa vi phạm quyền SHTT qua biên giới quốc gia phải ngừng thông quan và bị bắt giữ Hải quan Hàn quốc đã nỗ lực ngăn chặn các hàng hóa đe dọa đến an toàn của cộng đồng như là thuốc Viagra và các bộ phận máy móc giả từ lúc các sản phẩm bắt đầu vào biên giới quốc gia

Đối với hàng xuất khẩu/chuyển tải: Hải quan Hàn Quốc coi trọng việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan có liên quan trong nước và các công ty làm ăn hợp pháp thông qua các cuộc gặp gỡ thường xuyên với cơ quan tình báo quốc gia, Văn phòng điều tra, nhân viên chuyên trách về sở hữu trí tuệ Hàn Quốc và các nhà nắm giữ bản quyền để có những hành động đấu tranh chung Hải quan Hàn Quốc cũng chú trọng vào việc kiểm tra hàng hóa trước khi hàng được chuyển lên phương tiện vận tải Đồng thời Hải quan Hàn Quốc đã có thư đề nghị 24 nước gửi cho Hải quan Hàn Quốc danh sách các nhà xuất khẩu được xác định là những người vi phạm quyền SHTT sau khi họ xuất khẩu hàng đến Hàn Quốc

1.4.3 Hải quan Mỹ

Ngăn chặn hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ là một ưu tiên của Chính phủ Mỹ Cơ quan Hải quan và bảo vệ Biên giới (CBP) Mỹ, một Ban chức trách thuộc Bộ An ninh nội địa đã có một cách tiếp cận đa tầng đối với việc thực thi sở hữu trí tuệ tại biên giới, bao gồm cả việc bắt giữ các lô hàng vi phạm tại biên giới,

mở rộng biên giới thông qua việc thanh tra các nhà nhập khẩu vi phạm, các loại hình rủi ro và hợp tác với các đối tác thương mại quốc tế Cơ quan Hải quan và bảo

vệ biên giới còn là đối tác với các ngành và các cơ quan chính phủ khác để tăng cường các nỗ lực này Cơ quan Hải quan và bảo vệ Biên giới (CBP) điều phối các

nỗ lực thực thi với các cơ quan thực thi luật pháp và chính sách thương mại của

Trang 35

Chính phủ Mỹ, liên hệ chặt chẽ với Bộ phận thực thi hải quan và nhập cảnh Mỹ để tiến hành các hoạt động thực thi quyền SHTT có tính điều tra Ngoài ra, Cơ quan Hải quan và bảo vệ Biên giới (CBP) còn vươn tay đến ngành thông qua việc hợp tác với các chủ sở hữu quyền và các hiệp hội ngành để phối hợp đào tạo về quyền SHTT, chia sẻ thông tin về xu hướng và nếu có thể đưa ra các vụ việc cụ thể của mỗi sự việc nghi ngờ vi phạm

Để thực thi tốt bảo hộ quyền SHTT, Chính phủ Mỹ đã xây dựng một hệ thống pháp luật chặt chẽ về bảo hộ quyền SHTT, đưa ra các biện pháp không công bằng

về cạnh tranh, không công bằng trong việc nhập khẩu hoặc bán hàng hóa ảnh hưởng hoặc phá hoại, làm thương tổn nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thành lập một ngành kinh tế hoạt động có hiệu quả ở Mỹ, hoặc kìm hãm cũng như độc quyền hóa thương mại và ngoại thương tại Mỹ Đồng thời, còn quy định việc nhập khẩu bất hợp pháp vào Mỹ là hàng hóa vi phạm bản quyền, nhãn hiệu được đăng ký, bằng sáng chế hoặc tác phẩm nghệ thuật cần được bảo vệ

Chặn đứng buôn bán hàng giả là ưu tiên của Chính phủ Mỹ, Hải quan Mỹ đã xây dựng chiến lược thực thi bảo hộ quyền SHTT như là một vấn đề Thương mại

ưu tiên Cách tiếp cận chiến lược đối với thực thi bảo hộ quyền SHTT có tính đa tầng và bao gồm việc bắt giữ hàng giả tại biên giới, mở rộng biên giới thông qua công tác kiểm tra các nhà nhập khẩu vi phạm và hợp tác với các đối tác thương mại quốc tế và hợp tác với ngành và các cơ quan chính phủ khác nhằm tăng cường nỗ lực hơn nữa Hải quan Mỹ đã đầu tư nguồn lực, nhân lực đa dạng, lớn và đào tạo có tập trung để đối phó với các vấn đề về bảo hộ quyền SHTT

Thực thi bảo hộ quyền SHTT được gắn với các công việc của một số đơn vị trong cơ quan Hải quan Phòng Thương mại quốc tế đã xây dựng chính sách và các sáng kiến thực thi về bảo hộ quyền SHTT quốc gia, các đường hướng ngoại giao, các lô hàng trọng tâm liên quan đến hàng vi phạm SHTT, kiểm tra các nhà nhập khẩu vi phạm, cung cấp đào tạo và các hướng dẫn luật pháp về bắt giữ và xử lý vi phạm đối với quyền SHTT Các nhân viên hải quan và các chuyên gia nhập khẩu từ Phòng nghiệp vụ kiểm tra và bắt giữ các lô hàng vi phạm tại cảng khi bắt đầu đi vào

Trang 36

biên giới hàng ngày Các phòng khác của Hải quan Mỹ bao gồm Phòng Công nghệ thông tin, Phòng quan hệ và thương mại quốc tế đưa ra những kiến thức chuyên môn quý báu trong những phòng phân tích thí nghiệm và đưa ra những hỗ trợ ngoại giao nhằm thúc đẩy nhiệm vụ thực thi bảo hộ quyền SHTT của Hải quan Mỹ Thực thi của cơ quan quản lý biên giới được thực hiện thông qua những nỗ lực hợp tác của các nhân viên kiểm soát được đào tạo, các cơ quan chính phủ khác và cộng đồng thương mại Cơ quan quản lý biên giới còn làm việc chặt chẽ với Bộ phận kiểm soát Hải quan và Nhập cảnh tiến hành các hành động thực thi bảo hộ quyền SHTT Với tư cách là một cơ quan kiểm soát biên giới đầu tiên, cơ quan bảo

vệ và kiểm soát biên giới đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý Chiến lược liên ngành chống lại nạn ăn cắp bản quyền có tổ chức

1.4.4 Một số kinh nghiệm rút ra bài học cho Hải quan Việt Nam trong thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

Qua kinh nghiệm thực thi bảo hộ quyền SHTT của Hải quan Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ có thể nhận thấy một số kinh nghiệm cho Hải quan Việt Nam để thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH, đó là:

Thứ nhất, Hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHTT phải được xây dựng chặt

chẽ, tuân thủ các quy định của Hiệp định TRIPS và những Hiệp định khác liên quan đến SHTT mà Việt Nam đã ký kết

Thứ hai, xây dựng các hệ thống phân tích thông tin

Hệ thống tìm kiếm nhãn hiệu thương mại, NHHH đăng ký với cơ quan Hải quan phải được xây dựng dựa trên trang web Hệ thống này cho phép nhân viên Hải quan đưa ra quyết định liệu nhà nhập khẩu/xuất khẩu có đúng là người sở hữu bản quyền về nhãn hiệu đó không và hàng hóa đó có được nhập khẩu hay không Ngoài

ra, nhân viên hải quan còn có thể tìm kiếm được tên của các chủ sở hữu bản quyền, tên cụ thể của một số loại hàng hóa được bảo vệ, thời gian bảo vệ và hình ảnh của nhãn hiệu cần bảo vệ

Trang 37

Thành lập các Trung tâm chuyên trách về phân tích thông tin như Trung tâm tình báo và điều tra chiến lược; Trung tâm kiểm soát buôn lậu không gian mạng và Trung tâm Nghiên cứu lựa chọn hàng hóa

Thứ ba, nâng cấp hệ thống quản lý rủi ro

Cần xây dựng và nâng cấp một loạt các hệ thống phục vụ cho mục đích quản

lý rủi ro như: Hệ thống lựa chọn hàng hóa được thiết lập từ cấp trung ương đến cấp hải quan cửa khẩu và có những nguyên tắc hoạt động rõ ràng; Hệ thống tình báo chuyên theo dõi hàng vi phạm SHTT từ khâu nộp tờ lược khai thông qua việc tận dụng cơ sở dữ liệu về các vụ việc tội phạm, thông tin về thông quan, chuyển tiền đối với các doanh nghiệp có rủi ro cao; Hệ thống cảnh báo buôn lậu được xây dựng

để giải quyết và cảnh báo các rủi ro buôn lậu của hàng hóa dựa trên phân tích tương quan và ngược chiều đối với các chỉ số cung cầu của mặt hàng và giá cả mặt hàng

Thứ tư, có sự thống nhất chỉ đạo

Cần có sự thống nhất chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành, đề cao sự hợp tác giữa hải quan và các cơ quan Chính phủ khác, ký các Biên bản ghi nhớ với các cơ quan Chính phủ khác, hợp tác với các cơ quan chính phủ khác trong việc đấu tranh và kiểm soát hàng hóa vi phạm SHTT đặc biệt phải xây dựng được mối liên

hệ chặt chẽ với các chủ sở hữu quyền mà sản phẩm của họ dễ bị vi phạm

Thứ năm, xây dựng năng lực và có chính sách khen thưởng

Một trong những thành công của Chiến lược bảo hộ quyền SHTT là tập trung nâng cao chuyên môn và năng lực của cán bộ hải quan chuyên trách về đấu tranh chống lại các hàng hóa vi phạm bản quyền Để làm được điều này, cần thực hiện hàng loạt các chương trình liên quan đến xây dựng năng lực như chương trình các chuyên gia về điều tra, các chương trình đào tạo nhân viên hải quan do các chủ sở hữu bản quyền danh tiếng đứng ra giảng dạy Hơn nữa, cần đưa ra những chính sách khen thưởng cho các nhân viên ưu tú có thành tích tốt trong việc bắt giữ hàng hoá vi phạm quyền SHTT

Thứ sáu, tăng cường nhận thức của cộng đồng

Trang 38

Thực tế sự tham gia của cộng đồng đối với việc đấu tranh tận gốc nạn buôn bán hàng giả hàng nhái, hàng xâm phạm quyền SHTT đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi bảo hộ quyền SHTT, Hải quan nên tiến hành rất nhiều các chương trình mạnh mẽ làm tăng cường nhận thức của cộng đồng về sự cần thiết của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ví dụ như tổ chức các cuộc trưng bày triển lãm hàng giả hàng thật bằng hình ảnh thật và thông qua mạng; các chiến dịch truyển thông qua sách báo, ti vi; các chương trình đào tạo cho cộng đồng doanh nghiệp; xuất bản sách giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng thật và hàng nhái; khuyến khích cộng đồng tham gia vào việc xây dựng chính sách và hoạt động đấu tranh chống lại nạn

ăn cắp bản quyền

Thứ bảy, mở rộng hợp tác quốc tế

Hải quan Việt Nam cần chủ động mở rộng hợp tác nhằm ngăn chặn nạn vi phạm bản quyền trên toàn cầu Tích cực đề xuất tăng cường trao đổi thông tin liên quan về những nhà xuất khẩu hàng giả đối với các cơ quan nước ngoài khác để có thể ngăn chặn hàng giả từ khâu xuất khẩu, nhập khẩu Không chỉ giới hạn ở hợp tác khu vực, Hải quan Việt Nam cần mở rộng hợp tác song phương với các quốc gia có quan hệ thương mại với Việt Nam

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM

2.1 Khái quát về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và chức năng nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

2.1.1 Khái quát về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam

Thực thi bảo hộ quyền SHCN ở Việt Nam đã được quy định bởi luật pháp từ những năm 1990 với sự hiện diện các quy định về SHCN trong Bộ Luật Dân sự

1995 và một số văn bản liên quan khác cho đến khi Luật SHTT năm 2005 được ban hành Việc kế thừa các nội dung quy định về SHCN đã có và khi Việt Nam tham gia vào các Điều ước quốc tế trên phương diện song phương và đa phương liên quan đến quyền SHCN đã tạo điều kiện để Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật về SHTT Chủ thể tham gia và thực thi bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH là hoạt động của nhiều cơ quan như: Quốc hội, Chính phủ, cơ quan Công an, Hải quan, Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành, Tòa án

Hệ thống pháp luật Việt Nam về SHCN dần hoàn thiện, đã xây dựng được hệ thống cơ quan bảo vệ, thực thi quyền SHCN Cụ thể, đối với cơ quan xác lập quyền, Nhà nước đã trao quyền cho 03 cơ quan là: Cục SHTT thuộc Bộ Khoa học công nghệ đăng ký xác lập quyền với các đối tượng của quyền SHCN; Cục Bản quyền tác giả - Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch đăng ký xác lập quyền tác giả và các quyền liên quan; Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đăng ký xác lập quyền đối với giống cây trồng

Để bảo vệ quyền SHCN, Luật SHTT 2005 có quy định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất, mức

độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự” [22,

Điều 199] Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử

Trang 40

cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT nói chung, Toà án có quyền áp dụng các biện pháp dân sự bao gồm: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền SHTT [22, Điều 22]

Biện pháp hình sự

Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp hình sự Điều 212 Luật SHTT 2005 quy định cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Các tội xâm phạm về quyền SHTT được quy định trong chương XVI Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009, cá nhân phạm tội liên quan đến quyền SHCN đối với nhãn hiệu sẽ bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tại không giam giữ đến hai năm Trong trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc phạm tội nhiều lần sẽ bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Ngoài ra người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Biện pháp hành chính- kinh tế

Luật SHTT 2005 quy định việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp [22, Điều 200, Khoản 3] Biện pháp hành chính được áp dụng để

xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực SHTT bao gồm các hình thức xử lý hành

Ngày đăng: 05/10/2016, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hồng Bắc (2010), “Thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (3), tr.3- 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Hồng Bắc
Năm: 2010
2. Bộ Tài chính (2011-2013), Thông tin về công tác phòng, chống xâm phạm quyền SHTT các năm cho Bộ Khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin về công tác phòng, chống xâm phạm quyền SHTT các năm cho Bộ Khoa học và công nghệ
3. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; "kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
4. Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan (2013-2015), Báo cáo tổng kết công tác năm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm
5. Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan (2016), Báo cáo sơ kết 06 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 06 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2016
Tác giả: Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan
Năm: 2016
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
8. Chính phủ (2013), Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
10. Chính phủ (2015), Nghị định 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
11. Chính phủ (2015), Nghị định số 08/2015/NĐ- CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 08/2015/NĐ- CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
12. Cục Sở hữu trí tuệ quyền tác giả tiếng Việt (2009), “Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ”, http://noip.gov.vn/noip/resource.nsf/vwSelectImageResourceUrl/9AE9DB8B3929035D4725767A0015C946/$FILE/Nhung%20dieu%20 can%20biet%20ve 20so%20huu%20tri%20tue%20(Vietnamese%20final).pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ quyền tác giả tiếng Việt
Năm: 2009
13. Cục Sở hữu trí tuệ (2016), “Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2015”, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2015
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2016
14. Nguyễn Bá Diến (2010), “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2010
15. Đặng Vũ Huân (2010), “Bàn về cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Khoa học pháp luật, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”, "Tạp chí Khoa học pháp luật
Tác giả: Đặng Vũ Huân
Năm: 2010
16. Nguyễn Thị Thương Huyền (2008), “Thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí của Hải quan Việt Nam đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”, Tạp chí Luật học, (5), tr.35-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí của Hải quan Việt Nam đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Thương Huyền
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Luật (2006), “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Năm: 2006
19. Quản lý thị trường và Tổng cục Hải quan (2008), Quy chế phối hợp hoạt động số 1005/QCPH-QLTT-TCHQ ngày 01/12/2008 trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp hoạt động số 1005/QCPH-QLTT-TCHQ ngày 01/12/2008 trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại
Tác giả: Quản lý thị trường và Tổng cục Hải quan
Năm: 2008
23. Quốc hội (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
26. Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp (2008), Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/2/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/2/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp
Năm: 2008
41. Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam, http://www.noip.gov.vn 42. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, http://www.stopfakes.gov 43. Tổ chức thương mại thế giới, http://www.wipo.int Link
44. Văn phòng quyền sở hữu trí tuệ của Tổ chức thương mại quốc tế, http://www.wto.org Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w