Bước sang thế kỷ XXI, với những cơ hội và thách thức, trên cơ sở nhìn nhận sâu sắc những ưu điểm và những biểu hiệu phức tạp của thanh niên hiện nay, Nghị quyết Đại Hội IX của Đảng đã xá
Trang 1Luận văn Việc làm cho thanh niên nông thôn
miền Tây Nam bộ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm nói chung và việc làm cho thanh niên nói riêng không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại nói chung Có thể nói, hiệu quả của việc giải quyết việc làm gắn liền với sự tồn tại bền vững của mọi quốc gia Đối với Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó, văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh: “giải quyết việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [10]
Đảng ta khi lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cho sự phát triển nhanh và bền vững luôn coi “Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” Vì vậy “vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người” [8] Bước sang thế kỷ XXI, với những cơ hội và thách thức, trên cơ sở nhìn nhận sâu sắc những ưu điểm và những biểu hiệu phức tạp của thanh niên hiện nay, Nghị quyết Đại Hội IX của Đảng đã xác định đối với thế hệ trẻ cần phải “chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng đạo đức lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Miền Tây Nam Bộ bao gồm 13 tỉnh - thành, đây là miền đất trù phú, đầy tiềm năng, trọng điểm phát tiển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta
và khu vực Đông Nam Á
Trong những năm qua,cùng với quá trình phát triển của cả nước, miền Tây Nam Bộ đã có những bước chuyển mạnh mẽ về nhiều mặt, thu được nhiều thành tựu quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chính trị ổn
Trang 3định Trong những thành tựu đó có vấn đề việc làm cho nguời lao động nói chung, thanh niên nói riêng
Tuy nhiên vấn đề việc làm cho thanh niên nông thôn khu vực miền Tây Nam Bộ ở nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề bất cập: Trình độ học vấn, tay nghề chuyên môn, trình độ tin học, ngoại ngữ còn rất thấp, một bộ phận thanh niên nông thôn chưa thực sự thay đổi suy nghĩ, tập quán sống để thích ứng với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế đang diễn
ra rất nhanh ở nông nghiệp, nông thôn
Vấn đề việc làm của thanh niên nông thôn ở nhiều địa phương chưa thực
sự được các cấp và các chủ thể xã hội chú trọng, đầu tư, quan tâm và tiến hành đồng bộ có tính chiến lược trong công tác thanh niên
Tỷ lệ thiếu việc làm thất nghiệp của thanh niên có xu hướng ngày càng tăng, mức thu nhập thấp đã dẫn tới con đường thanh niên phải tự tìm kiếm việc làm, không ít trường hợp bị lừa gạt hoặc phải làm những công việc ở mức lương thấp, những việc làm trái với pháp luật, đạo đức của xã hội: bán bia ôm, gái mãi dâm, trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, buôn bán ma túy thậm chí phải chấp nhận lấy chồng nước ngoài thông qua môi giới, mục đích chỉ vì cuộc sống sinh tồn do thiếu việc làm và thất nghiệp, mức thu nhập thấp ở nông thôn gây ra
Đây là vấn đề rất bức xúc, gay gắt và có tính cấp thiết không chỉ đối với thanh niên, gia đình và toàn xã hội phải chú tọng quan tâm giải quyết trong giai
đoạn hiện nay Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề "Việc làm
cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam bộ" làm đề tài luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề việc làm, giải quyết việc làm nói chung được nhiều người quan tâm nghiên cứu, cụ thể như:
- Nolwen.Hennaff.Jean-Yves.Martin (biên tập khoa học): Lao động,
việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới - Nxb Thế giới, Hà
Trang 4- TS Nguyễn Hữu Dũng: Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong
quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Lao
động - Xã hội số 246 (từ 1-15/9/2004) Hay Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá với việc đảm bảo điều kiện sống và làm việc của người lao động, Tạp
chí Lý luận chính trị số 11-2005 “Thị trường lao động và định hướng nghề cho
thanh niên”, Nxb lao động xã hội Hà Nội, 2005
- TS Nguyễn Thị Thơm (chủ biên):Thị trường lao động Việt Nam-thực
trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006
- Lê Minh Hùng: Đà Nẵng nỗ lực chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc
làm cho lao động diện giao đất, Tạp chí Lao động - Xã hội số 259 (từ
16-31/9/2005)
Nhìn chung những công trình và bài viết nói trên đã tiếp cận nghiên cứu vấn đề việc làm, vấn đề tác động của quá trình CNH, HĐH, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến người lao động nói chung và đến vấn đề vịêc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên ở nhiều góc độ, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực (nông thôn, thành thị, miền núi, đồng bằng ) khác nhau và gợi mở
ra nhiều hướng nghiên cứu mới rất bổ ích Song cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu vấn đề việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
- Làm rõ những ưu điểm, hạn chế của việc giải quyết việc làm cho
thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ thời gian qua (từ 2002 đến 2007)
Trang 5- Đề xuất một số giải pháp để nhằm giải quyết việc làm hợp lý cho
thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn từ nay đến năm 2015
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ hướng tới giải quyết các nhiệm vụ:
- Nêu ra những cơ sở khoa học của việc giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn giai đoạn hiện nay
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở một số tỉnh miền Tây Nam Bộ thời gian qua
- Từ đó, luận văn nêu ra một số giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ giai đoạn đến năm 2015
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu việc làm cho thanh niên nông thôn
miền Tây Nam Bộ
- Phạm vi nghiên cứu
+ Đề tài việc làm cho thanh niên là vấn đề rất rộng, nó bao hàm cả vấn đề tạo việc làm, tìm việc làm, giải quyết việc làm Vì vậy, trên phương diện Kinh tế chính trị, luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ giai đoạn 2002-2007
+ Địa bàn nghiên cứu chủ yếu tập trung ở các tỉnh đặc trưng cho cả vùng như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lý thuyết việc làm hiện đại
Mác-4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
Trang 6chủ nghĩa Mác-Lênin, luận văn sử dụng những phương pháp đặc trưng của kinh tế chính trị như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp trừu tượng hoá khoa học
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm rõ cơ sở khoa học của việc giải quyết việc làm nói chung
và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ nói riêng
- Đánh giá đúng thực trạng vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi để giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn đến năm 2015
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn nhằm cung cấp những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ hiện nay, đặc biệt nâng cao khả năng nghiên cứu và phục vụ cho công tác giảng dạy tại Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
- Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho hoạt động hoạch định chính sách, tạo điều kiện quan tâm và giải quyết tốt vấn đề việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ trong những năm tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIấN NễNG THễN
1.1 Lí LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIấN NễNG THễN
1.1.1 Quan niệm về việc làm
1.1.1.1 Khỏi quỏt về việc làm và vai trũ của việc làm
Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn
liền với con người và xã hội loài người Từ xa xưa con người đã biết làm lụng, tìm kiếm trong thế giới xung quanh những sản phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình Khi phân công lao động xã hội phát triển, thì mỗi người tham gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và đóng góp cho xã hội
Việc làm trước hết là hoạt động lao động sản xuất của con người, là hoạt động lao động cụ thể của mỗi người lao động cụ thể trong quá trình lao động sản xuất của xã hội
Giống như lao động, việc làm cũng phản ánh mối quan hệ giữa người lao động với giới tự nhiên, vì vậy việc làm cũng chịu tác động bởi những qui luật
và điều kiện tự nhiên
Mặt khác, khi nói đến việc làm là nói đến tính chủ động, sáng tạo của lao động Người lao động với
kỹ năng của mình, kết hợp với tư liệu sản xuất, hoạt
động trong một lĩnh vực nhất định của cơ cấu kinh tế xã hội, để tạo ra của cải vật chất (tức là đang làm
Trang 8việc) - họ còn có quan hệ với nhau, quan hệ xã hội Vì vậy, việc làm cũng chịu tác động của các qui luật kinh tế, xã hội
Như vậy, việc làm và lao động có quan hệ chặt chẽ với nhau Việc làm là cái vỏ xã hội, là cái khung pháp lý trong đó lao động diễn ra Nếu lao
động là phạm trù vĩnh viễn, thì việc làm không phải như vậy Xét trên tổng thể có những nơi, những lúc
có hiện tượng người lao động không có việc làm trong khi hoạt động lao động sản xuất của con người không bao giờ ngừng lại Việc làm nói lên mối quan hệ của con người với không gian, trung gian, quan hệ và những giới hạn xã hội cần thiết mà trong đó một quá trình lao động cụ thể được diễn ra Nói đến việc làm
là nói đến công việc của người lao động với những ngành nghề, công việc cụ thể; là những hoạt động cụ thể của người lao động, đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu cá nhân của người lao động nó có tính cụ thể, tường minh
Tóm lại, có thể nói lao động là cái chung và việc làm là cái riêng Việc làm là phạm trù tổng hợp, liên kết các quá trình kinh tế xã hội Trên khía cạnh xã hội, việc làm phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong những giới hạn nhất
định, trong đó quá trình lao động được diễn ra, là cơ sở để các mối quan hệ xã hội tồn tại trong mối liên hệ đan xen, liên kết với nhau phát triển theo hướng lành mạnh
Là một vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, việc làm gắn cá nhân với xã hội - nó không những đem lại thu
Trang 9nhập cho người lao động để nuôi sống bản thân họ mà còn tạo ra một lượng của cải cho xã hội C.Mác đã nói: “Với những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng và giá trị của sản phẩm tăng lên tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng” [18, tr.75]
Việc làm là một vần đề có ý nghĩa kinh tế xã hội
và chính trị quan trọng của một quốc gia Hiện nay đảm bảo an toàn việc làm là một trong những yếu tố cơ bản của sự phát triển bền vững Thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
và xu thế chủ động hội nhập kinh tế thế giới ở nước ta hiện nay đang tạo ra những cơ hội và thách thức về lao
động, việc làm cho người lao động Chính vì vậy nhận thức đúng đắn về việc làm là vấn đề quan trọng tạo cơ
sở lý luận để đưa ra những giải pháp tích cực giải quyết việc làm, phát huy nguồn lực lao động của xã hội
1.1.1.2 Một số đặc trưng của việc làm
- Những quan niệm khỏc nhau về việc làm
Quan niệm về việc làm khụng cố định mà nú được xột trờn nền tảng của một chế độ chớnh trị, gắn với trỡnh độ phỏt triển kinh tế, chớnh trị, văn hoỏ, xó hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại Khi trỡnh độ phỏt triển mọi mặt, đặc biệt là định hướng chớnh trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm về việc làm cũng biến đổi Trong lịch sử cho thấy việc thay đổi những quan điểm về tương lai trực tiếp ảnh hưởng tới số lượng việc làm chứ khụng chỉ định hướng việc làm
Cú quan niệm cho rằng, tất cả cỏc hoạt động, hành vi mang lại thu nhập
để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều được gọi là việc làm Quan điểm này đó khụng tớnh đến tớnh phỏp lý của việc làm, đó đồng nhất việc làm hợp phỏp và bất hợp phỏp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay khụng
Trang 10thể chấp nhận được quan niệm này, bởi khi cỏc quan hệ thị trường ngày càng phỏt sinh cả những mặt tớch cực và tiờu cực, nhiều nguồn thu nhập khụng chớnh đỏng đang làm gia tăng cỏc tệ nạn xó hội, kỡm hóm sự tăng trưởng, phỏt triển của nền kinh tế đất nước
Quan niệm thứ ba lại cho rằng: Việc làm cú thể được định nghĩa như một tỡnh trạng trong đú cú sự trả cụng bằng tiền bạc hoặc hiện vật, do đú cú một sự tham gia tớch cực cú tớnh cỏ nhõn và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất
So với hai quan niệm trờn quan niệm này phỏt triển hơn, khỏi quỏt hơn hai quan niệm trờn Tuy nhiờn nếu chỉ cú những hoạt động được trả cụng bằng tiền hoặc hiện vật mới được coi là việc làm thỡ chưa thoả đỏng Những người nằm trong lực lượng lao động nhưng làm cụng việc nội trợ, bản thõn họ khụng nhận được tiền cụng, tiền lương bằng tiền hay hiện vật từ xó hội, từ người sử dụng lao động mà chỉ nhận được sự phõn phối lại trực tiếp thu nhập
từ cỏc thành viờn trong gia đỡnh Họ khụng trực tiếp mà giỏn tiếp tạo ra thu nhập trực tiếp, họ nhận được thu nhập giỏn tiếp thụng qua điều tiết thu nhập
từ cỏc thành viờn trong gia đỡnh cú việc làm hưởng tiền lương trong xó hội Vậy, họ là những người cú việc làm, đảm nhận một chức năng trong guồng mỏy chỉ đạo xó hội - nghề nội trợ
Tại Hội nghị quốc tế lấn thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đó đưa ra quan niệm: “Người cú việc làm là những người làm một việc gỡ
đú, cú được trả tiền cụng, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào cỏc hoạt động mang tớnh chất tự tạo việc làm vỡ lợi ớch hay vỡ thu nhập gia đỡnh, khụng nhận được tiền cụng hay hiện vật” [4, tr.47]
Trước đây, trong cơ chế cũ việc làm của người lao
động thường do nhà nước giải quyết với chế độ “biên chế” suốt đời Người lao động có việc làm được xã hội tôn trọng và thừa nhận là những người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà nước, các
đơn vị kinh tế quốc doanh, với quan niệm Nhà nước bố
Trang 11trí việc làm cho người lao động Chính vì vậy, xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hay việc làm không đầy đủ Quan điểm đó tạo ra tâm lý ỷ lại vào nhà nước ở người lao động khi họ cần việc làm
Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, quan niệm trên về việc làm đã thay đổi Quan
điểm mới về việc làm được thể hiện ở Luật lao động của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi bổ sung năm
2002 Điều 13, chương 2 (việc làm) của Luật qui định:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm ”
Từ qui định trên chúng ta có thể đưa ra khái
niệm về việc làm: Việc làm là những hoạt động lao
động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm
Quan niệm trên về việc làm hoàn toàn phù hợp với
điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, người lao
động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất cứ đâu, miễn
là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn cho bản thân Quan niệm trên đã mở
ra một hướng mới cho vấn đề giải quyết việc làm, mở
ra một thị trường việc làm phong phú và đa dạng, thu hút nhiều lao động, thực hiện mục tiêu giải phóng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội
Qua phõn tớch ở trờn cho chỳng ta thấy đặc trưng chung của việc làm là:
Trang 12Về mặt pháp lý: việc làm phải hợp pháp, phải chịu sự điều chỉnh của
pháp luật về độ tuổi, về những ngành nghề được làm và không được làm
Về mặt kinh tế: nó phải đáp ứng lợi ích kinh tế của người lao động như
thu nhập, bình đẳng, tăng trưởng và phát triển quốc tế
Về chính trị: việc làm thể hiện rõ những quan điểm, đường lối lãnh đạo
của giai cấp cầm quyền
Về mặt xã hội: việc làm phải phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo
đức, phong tục tập quán, công bằng xã hội
Về mặt cá thể: việc làm thể hiện những tri thức, năng lực, phẩm chất
của người lao động khi tham gia việc làm ở những ngành nghề cụ thể
Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ Quan niệm đúng về việc làm là cơ sở khoa học cho giải quyết việc làm
1.1.1.3 Cấu trúc cơ bản của vấn đề việc làm cho thanh niên
Việc làm cho thanh niên là một quá trình thể hiện nhiều mối quan hệ, bao gồm:
- Việc làm trong hiện tại, trước mắt nó phụ thuộc vào các yếu tố: vấn đề tạo việc làm, đưa việc làm đến với người lao động, đưa người lao động đến với việc làm, tạo môi trường đến với người lao động, cách thức giới thiệu việc làm
- Tạo việc làm tiềm năng cho thanh niên: việc làm của thanh niên không chỉ phụ thuộc vào hiện tại, trước mắt mà phải tạo ra nhu cầu việc làm Việc làm tiềm năng phụ thuộc vào các yếu tố: công tác quy hoạch phát triển nền kinh tế, ngành nghề, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo ngành; theo lĩnh vực; theo vùng, theo thành phần kinh tế, công tác đầu tư, đặc biệt là các
dự án kinh tế - xã hội của đất nước, công tác hướng nghiệp, dạy nghề, xu hướng và nhu cầu việc làm của thanh niên
- Thực hiện liên kết theo vùng kinh tế và tham gia vào quá trình phân công lao động xã hội và phân công lao động khu vực và quốc tế Việc tạo việc
Trang 13làm cho thanh niên phải hướng tới quá trình liên kết, cả về quy mô, tốc độ giữa các địa phương trong vùng mà phải mở rộng liên kết trong phạm vi rộng trong nước và quốc tế nhằm thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội theo hướng CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Trong thực tế, liên quan đến việc làm thì vấn đề thường được đề cập đến là thất nghiệp - đó được coi là một vấn đề trung tâm của xã hội hiện đại Khi mức thất nghiệp cao, tài nguyên bị lãng phí, thu nhập của người dân bị giảm sút và rơi vào tình trạng nghèo, đói, nền kinh tế sẽ gặp khó khăn, ảnh hưởng đến cuộc sống của các gia đình trong cộng đồng dân cư Thất nghiệp là một vấn đề XH rất nhạy cảm, là mối quan tâm thường xuyên của tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển
Hiện nay có rất nhiều quan niệm về thất ngiệp, nhưng nội dung chủ yếu của thất nghiệp vẫn xoay quanh về người lao động có khả năng làm việc, muốn làm việc đang tích cực tìm kiếm việc làm nhưng chưa có việc làm Sameelson khẳng định: “Thất nghiệp là những người không có việc làm, những người đang chờ để trở lại làm việc hoặc đang tích cực tìm việc làm” [23, tr.271] Như vậy, thất nghiệp là hiện tượng người lao động bị mất việc làm hoặc chưa có việc làm
Văn phòng tổ chức lao động thế giới phân thất nghiệp thành 3 loại:
- Thất nghiệp do mức cầu lao động không dư
- Thất nghiệp do thiếu thiết bị, hoặc thiếu những nguồn lực bổ sung
- Thất nghiệp do cung - cầu lao động không ăn khớp nhau
Ở nước ta, người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm tuổi hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm:
Thứ nhất, có nỗ lực đi tìm việc làm trong 4 tuần qua hoặc không có
hoạt động tìm việc làm vì các lý do không biết tìm việc làm ở đâu hoặc tìm mãi không có việc làm
Trang 14Thứ hai, trong tuần lễ tớnh đến thời điểm điều tra cú tổng số giờ làm
việc dưới 8 giờ, và sẵn sàng làm thờm nhưng khụng tỡm được việc làm
Tuy nhiờn những người đủ 15 tuổi trở lờn nhưng thuộc cỏc đối tượng sau đõy thỡ khụng thuộc những người thất nghiệp và khụng nằm trong lực lượng lao động:
+ Người đang đi học
+ Người đang làm việc nội trợ cho bản thõn và gia đỡnh
+ Người tàn tật, ốm đau, khụng cú khả năng lao động hoặc bị tước quyền lao động
+ Người già cả hết tuổi lao động
+ Hoặc tỡnh trạng khỏc (về hưu hưởng chế độ, chưa cú nhu cầu hoạt động kinh tế)
Xỏc định người cú việc làm, người thất nghiệp và người thiếu việc làm
là cơ sở để xõy dựng chớnh sỏch giải quyết việc làm, xõy dựng những luận cứ khoa học trong chớnh sỏch phỏt triển kinh tế - xó hội
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về giải quyết việc làm
1.1.2.1 Quan niệm về giải quyết việc làm
Nghiờn cứu việc làm cú quan hệ chặt chẽ với vấn đề giải quyết việc làm Giải quyết việc làm cú nhiều quan niệm khỏc nhau, cú người cú rằng: Việc làm được tự do lựa chọn là sự đáp ứng tối ưu nhất nhu cầu về việc làm cho người lao động, nó không những đưa lại thu nhập cao cho người lao động
mà còn đưa lại năng suất lao động cao cho xã hội Việc làm được tự do lựa chọn là sự kết hợp tối ưu sức lao động với các yếu tố khác của sản xuất Người lao động có thể lựa chọn công việc phù hợp với nhu cầu vật chất, cũng như năng lực sở trường để vừa đảm bảo thu nhập vừa có điều kiện phát triển phong phú
đời sống tinh thần
Trang 15Quan niệm này cho rằng: Mục tiêu của giải quyết việc làm là phải tạo
ra việc làm đầy đủ cho người lao động và phải cao hơn, đó là tạo ra tự do trong lựa chọn việc làm để triệt để giải phóng sức lao động và các nguồn lực của xã hội Quan niệm khác lại cho rằng: giải quyết việc làm là trách nhiệm của toàn xã hội và người lao động nhằm cân bằng thị trường lao động, giúp người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định đáp ứng nhu cầu sinh tồn
và phát triển của người lao động, gia đình và xã hội Quan niệm này cũng
có sự đồng nhất giữa những quan điểm trên về vai trò, mục tiêu giải quyết việc làm, nhưng nó chỉ ra rõ hơn chủ thể giải quyết việc làm và mục tiêu cụ thể của giải quyết việc làm không chỉ là lợi ích của người lao động mà là cả lợi ích xã hội
Như vậy, giải quyết việc làm thực chất là một quá trình tác động có chủ đích của chủ thể xã hội và người lao động nhằm giúp người lao động có việc làm, việc làm đầy đủ có thu nhập và phải hướng tới không ngừng nâng cao chất lượng việc làm, thu nhập cao, ổn định để người lao động có cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng cao
Giải quyết việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà là vấn đề xã hội vì có liên quan đến công bằng xã hội và tiến bộ xã hội; nó không chỉ là sự quan tâm của người lao động, gia đình, mỗi quốc gia mà là vấn đề có tính chất toàn cầu Giải quyết việc làm là một trong những mục tiêu và thước đo quan trọng nhất để đánh giá tính ưu việt của một chế độ xã hội, trình độ văn minh của nhân loại
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn coi con người là trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững Chính vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động thanh niên luôn
là một trong những định hướng cơ bản phát triển kinh tế - xã hội
Mục tiêu của chính sách lao động và giải quyết việc làm của Đảng ta là hướng vào giải phóng sức sản xuất, giải phóng và phát huy mọi tiềm năng sức
Trang 16lao động, khơi dậy tiềm năng của mọi người và toàn xó hội, coi trọng giỏ trị sức lao động, mở rộng cơ hội cho mọi người đều phỏt triển
Những quan điểm, tư tưởng của Đảng ta được thể hiện rất rừ trong cỏc văn kiện Đại hội của Đảng Đặc biệt tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định: "Giải quyết việc làm là một trong những chớnh sỏch cơ bản của quốc gia" [14, tr.201]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh:
Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi
đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hoá
và công nghiệp hoá Phát triển các dịch vụ phục vụ đời sống của người lao động ở các khu công nghiệp Tiếp tục thực hiện chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào tạo, quản lý chặt chẽ và bảo
vệ quyền lợi chính đáng của người lao động [14, tr.213]
1.1.2.2 Cỏc nhõn tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay
- Dõn số và cơ cấu dõn số
Số lượng, tốc độ gia tăng và cơ cấu dõn số cú ảnh hưởng lớn tới nguồn lao động và vấn đề giải quyết việc làm của mỗi quốc gia
Trang 17Dân số tăng nhanh dẫn tới việc phân bố dân cư không hợp lý, không gắn kết được lao động với các nguồn lực khác (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn…) khiến cho việc tạo việc làm mới càng khó khăn, thất nghiệp càng cao Dân số gia tăng sẽ buộc ngân sách Nhà nước nói chung, xã hội nói riêng phải giảm chi cho đầu tư phát triển, tăng chi cho tiêu dùng Vì vậy, đầu
tư cho phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nguồn lao động giảm xuống, cơ hội để tìm việc làm càng gặp khó khăn
Tình trạng di dân tự do từ nông thôn đổ ra đô thị để tìm việc làm kiếm sống gây ra sức ép khó khăn việc làm cho các đô thị, mặt khác, giảm tốc độ tăng dân số sẽ dẫn đến việc “già hoá” dân số, tỷ lệ người cao tuổi tăng lên và đòi hỏi các chi phí về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội tăng lên…, ảnh hưởng lớn tới cơ cấu và chất lượng của dân số
Từ những thực tế trên đây, vấn đề đặt ra là cần hướng tới việc “Bảo tồn tính cân bằng, ổn định bên trong của sự phát triển dân số” nhằm đạt được mục tiêu ổn định tỷ lệ sinh hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, trên cơ sở đó
mà phát triển nguồn lực lao động cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường sức lao động
Công cuộc đổi mới đất nước những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu về KT - XH, điểm quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế cao đã tạo ra sự tăng lên không ngừng của nhu cầu sử dụng lao động Hàng năm số lao động
có việc làm đều tăng: “từ năm 1991 đến 2000, số người có việc làm tăng từ 30,9 triệu lên 40,6 triệu người, tức là tăng 32,2%, bình quân hàng năm tăng khoảng 2,9%” [16, tr.124]
Mặc dù đạt được những thành tựu trên, song do sức ép về dân số, vấn
đề lao động và việc làm vẫn là vấn đề hết sức bức xúc, do tốc độ gia tăng dân
số trước đây quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng tăng, tốc độ giải quyết việc làm không thể nào tăng kịp với tốc độ tăng rất nhanh của nguồn lao động Theo dự báo: “Dân số trong độ tuổi lao động năm
Trang 182005 đạt 51,5 triệu, chiếm 61% tổng dân số, năm 2010 đạt 56,8 triệu, chiếm 64% tổng dân số” [17, tr.146] Đây là bài toán khó giải nhưng bắt buộc chúng
ta phải giải quyết có hiệu quả để đất nước ta tiếp tục phát triển nhanh và bền vững; vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội - Con đường duy nhất đúng đắn mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn
- Tiến bộ khoa học - công nghệ
Tiến bộ của khoa học - công nghệ sẽ làm tăng yêu cầu việc làm cho lao động phức tạp, có kỹ thuật và ngược lại, làm giảm việc làm đối với lao động giản đơn Quá trình phát triển của mỗi quốc gia ngày nay được cấu trúc lại dựa trên những lợi thế của nguồn lực con người với hàm lượng trí tuệ ngày một gia tăng Nhờ có sự tiến bộ của khoa học công nghệ mà phần tỷ lệ lao động chân tay kết tinh vào sản phẩm ngày một giảm rõ rệt, hàm lượng lao động “chất xám” kết tinh vào sản phẩm ngày càng cao Theo dự báo: “đến năm 2010, phần
tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm chỉ còn 1/10” [24, tr.31]
Như vậy, sự phát triển của KH - CN mang lại nhiều cơ hội tạo ra việc làm, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức Xu hướng chung hiện nay là tăng lao động phức tạp, có kỹ thuật cao, giảm lao động giản đơn Như vậy, vấn đề giải quyết việc làm của mỗi quốc gia phụ thuộc vào chất lượng nguồn lao động Ngày nay, KH - CN phát triển như vũ bão, là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vật chất Vì vậy, đòi hỏi người lao động có phẩm chất trí tuệ cao, có năng lực sáng tạo áp dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ tiên tiến, khả năng biến tri thức của mình thành kỹ năng nghề nghiệp trình độ tay nghề thành thạo, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, làm chủ được công nghệ, hoàn thành tốt công việc đảm nhiệm Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX khẳng định:
Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân nhằm nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lao động thủ công, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và sức mạnh quốc phòng, an ninh Chú trọng chuyển giao
Trang 19tiến bộ kỹ thuật và thành tựu của khoa học, công nghệ cho nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn [12, tr.93- 94]
Ở nước ta hiện nay có nguồn lao động dồi dào, bước vào năm 2007 lực lượng lao động là 45,7 triệu người [17, tr.147] Tuy nhiên, chỉ có lực lượng lao động đông thì không đủ và không thể đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của
sự nghiệp CNH, HĐH mà vấn đề bức bách hàng đầu đặt ra hiện nay là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đó là giải pháp cơ bản để tạo việc làm, giảm thiểu thất nghiệp, là nhân tố quyết định đảm bảo vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công
- Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, là cơ sở quan trọng hàng đầu của sản xuất vật chất, tạo ra việc làm cho người lao động
Lịch sử phát triển cho thấy ở đâu có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú thì ở đó có điều kiện thuận lợi hơn đối với vấn đề giải quyết việc làm và cơ cấu việc làm ở những nơi này cũng phong phú đa dạng hơn so với những nơi khác
Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng Nhờ đó đã góp phần tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trong những năm qua Tuy nhiên, do tốc độ gia tăng dân số trong quá khứ quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng nhiều, tốc độ tạo việc làm không thể tăng kịp với tốc độ gia tăng của nguồn lao động; vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi phải phát huy và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với các nguồn lực khác như lao động, vốn, công nghệ… để tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục đi lên Tuy vậy, có những quốc gia, thậm chí một địa phương nào đó của một quốc gia có nguồn tài nguyên nghèo nàn, khan hiếm như Nhật Bản mà vẫn tạo được nhiều việc làm
Trang 20cho người lao động Bởi vì, họ đã xây dựng được chính sách và giải pháp về việc làm đúng đắn và khoa học
- Xuất khẩu lao động
Giải quyết việc làm giảm thiểu thất nghiệp trên thực tế là giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu về lao động trên thị trường sức lao động Theo nghĩa đó, xuất khẩu lao động là hướng đi quan trọng vừa tăng cầu lao động, giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động, tăng thu cho ngân sách nhà nước
Ở nước ta, công tác xuất khẩu lao động đã đạt được một số kết quả đáng kể, số lượng lao động xuất khẩu đã tăng dần hàng năm và đang có xu hướng gia tăng Chúng ta đã mở ra nhiều thị trường mới có thu nhập tương đối cao như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Libi… đặc biệt là gần đây, nước ta đã bắt đầu chuyển sang xuất khẩu lao động theo hình thức nhận thầu như ở Lào, Cô-oét, Angiêri… Tuy nhiên, công tác xuất khẩu lao động cũng còn nhiều hạn chế, kết quả xuất khẩu lao động chưa tương xứng với tiềm năng lao động và nhu cầu của đất nước, sức ép về lao động, việc làm vẫn hết sức bức bách
Trong thời gian tới, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xuất khẩu lao động, phát triển và mở rộng hơn nữa thị trường lao động để giải quyết được số lao động dôi dư hiện có, tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xức của nhân dân
- Chính sách giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước
Để giải quyết việc làm, vấn đề quan trọng hàng đầu là Nhà nước phải tạo ra các điều kiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm thông qua những chính sách KT - XH cụ thể Các chính sách tác động đến việc làm
có nhiều loại, có loại tác động trực tiếp, có loại tác động gián tiếp tạo thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ có quan hệ tác động qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung lẫn cầu về lao động; đồng thời làm cho cung và cầu về lao động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế
Trang 21Chính sách giải quyết việc làm rất đa dạng, trong đó các chính sách chủ yếu thường được đề cập đến là chính sách đất đai, chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách công nghiệp, chính sách phát triển nghề truyền thống Ngoài ra còn các nhân tố khác ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm như: trình độ kỹ năng, phẩm chất, tính kỷ luật lao động, sức khoẻ, thể chất của người lao động Phong tục, tập quán, thói quen, trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật, trình độ văn minh của xã hội
Ở nước ta, do điều kiện kinh tế - xã hội ở nông thôn còn nhiều khó khăn, nhiều phong tục tập quán còn lạc hậu, nhất là ở vùng dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa đang là những lực cản rất lớn trong vấn đề việc làm và giải quyết việc làm
Như vậy, muốn giải quyết tốt việc làm cho thanh niên nông thôn phải chú trọng phát triển mặt tích cực của các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và chất lượng lao động, mặt khác, phải có những biện pháp tích cực nhằm triệt tiêu những mặt tiêu cực của các nhân tố đó
1.1.2.3 Một số định hướng cơ bản giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay
- Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và mở rộng quan hệ kinh tế, đối ngoại nhằm tận dụng tối
đa lợi thế so sánh và nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, trong đó đặc biệt chú ý đến các vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế tiềm năng
- Tập trung sắp xếp lại sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuyên môn hoá, chuyên canh theo vùng kinh tế để khai thác tiềm năng và nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế
- Tập trung phát triển giáo dục - đào tạo, đặc biệt là công tác dạy nghề, bồi dưỡng kiến thức cho người lao động nhằm từng bước tri thức hoá giai cấp nông dân, trước hết là lực lượng lao động trẻ ở nông thôn
- Chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông nông thôn; từng bước hoàn thiện đồng bộ cơ sở hạ tầng nông thôn theo hướng kiên cố hoá
Trang 22- Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên, trong đó cần chú trọng và tập trung đầu tư cho công tác dạy nghề hướng nghiệp và hỗ trợ vấn đề thanh niên lập nghiệp
- Từng bước xây dựng và hoàn thiện đồng bộ các loại thị trường nhất là
ở nông nghiệp, nông thôn
1.1.3 Một số mô hình giải quyết việc làm chủ yếu hiện nay ở nước ta
Trên thực tế, các mô hình và theo đó là các giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay rất đa dạng và phong phú Có những mô hình theo ngành, theo trình độ phát triển hay theo khu vực hành chính, tổ chức dân cư Nhưng điển hình nhất và phù hợp với tiến trình CNH, HĐH vẫn là mô hình theo ngành kinh tế
- Ngành nông - lâm - ngư nghiệp ở nước ta hiện có hơn 70% lực lượng lao động và dân cư sống ở nông thôn Do đó, vai trò của nông - lâm ngư nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng
- Ngành công nghiệp và xây dựng nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá rất nhanh Như vậy quá trình công nghiệp và xây dựng sẽ tạo mở ra nhiều việc làm cho gnười lao động nhất là thanh niên nông thôn Vì vậy, việc phát triển công nghiệp, xây dựng phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
- Ngành thương mại - dịch vụ: thương mại và dịch vụ là một trong những ngành kinh tế ở nước ta đang và sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn, nhằm làm thay đổi căn bản cơ cấu nền kinh tế và cơ cấu lao động, nhất là cơ cấu lao động thanh niên nông thôn Phát triển kinh tế thương mại - dịch vụ sẽ khai thác tốt tiềm năng nguồn lực là cơ sở để tạo mở và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 231.2.1 Khái quát về việc làm của thanh niên nông thôn
1.2.1.1 Lực lượng lao động thanh niên nông thôn
Đây là lực lượng lao động chính và đóng vai trò xung kích sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông nghiệp,nông thôn
- Về cơ cấu: Theo kết quả điều tra lao động và việc làm từ năm 2001 số
lượng thanh niên nông thôn là 20.477.200 người chiếm tỷ lệ 75,46% năm
2003 là 70%, năm 2007 giảm xuống còn 53,3% Như vậy xét về lực lượng lao động xã hội, hàng năm tỷ lệ lao động xã hội thanh niên nông thôn có xu hướng giảm đi Dự báo năm 2010 tỷ lệ là 49,2%, năm 2015 là: 41,41%
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ dân số thanh niên nông thôn
mà nguồn chủ yếu lao động từ nông thôn; đặc biệt là chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đã tác động trực tiếp đến số đông thanh niên nông thôn sau khi tốt nghiệp phổ thông tiếp tục thoát ly gia đình, rời bỏ nông thôn để đi học
đi tìm việc làm ở các khu công nghiệp, ở các thành phố lớn và đi lao động hợp tác, học tập ở nước ngoài Đây cũng là những mặt tích cực trong việc
Trang 24chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Nhưng nó cũng để lại nhưng lỗ hổng trong việc phát triển KT - XH nông nghiệp, nông thôn trở nên khó khăn, nhất là trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Tình trạng nhiều làng quê tỷ lệ người già, lao động lớn tuổi chiếm đa số; tỷ lệ thanh niên sống ở nông thôn quá ít đang là vấn đề phổ biến trong lực lượng lao động, trong từng gia đình làng quê nông thôn Việt Nam
- Về trình độ học vấn:
Kết quả điều tra về lao động và việc làm,cho thấy trình độ học vấn của thanh niên trong những năm gần đây tăng nhanh Số thanh niên nông thôn được theo học và tốt nghiệp trung học phổ thông tăng mạnh Theo số liệu điều tra lao động việc làm năm 2006 cả nước có 5.307.034 thanh niên nông thôn đang theo học, chiếm 88,9% trong tổng số thanh niên không hoạt động kinh tế của thanh niên nông thôn (tỷ lệ này tương đương với thanh niên đô thị) Đặc biệt trình độ học vấn hết trung học phổ thông của số thanh niên nông thôn tăng từ 12% năm 2003 lên 16,76% năm 2007 (xem phụ lục 1)
- Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thanh niên nông thôn:
Do quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, cơ cấu kinh tế ở các địa bàn nông thôn chuyển dịch nhanh chóng theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dich vụ… điều đó vừa đòi hỏi, vừa tạo cơ sở thúc đẩy thanh niên nông thôn học tập văn hóa chuyên môn và nghiệp vụ Thanh niên tham gia nhiều hơn các dự án đào tạo nghề, dạy nghề và các chương trình xuất khẩu lao động nhờ vậy trình độ chuyên môn nghiệp vụ cùa thanh niên nông thôn nhanh chóng được nâng lên
Theo số liệu của cuộc điều tra lao động việc làm năm 2002 có tới 87,63% thanh niên nông thôn không có chuyên môn kỹ thuật, đến năm 2007 số thanh niên nông thôn không có chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ giảm xuống còn 73,8% Đặc
Trang 25biệt số thanh niên nông thôn có trình độ trung học chuyên nghiệp và cao đẳng, đại học trở lên tăng, từ 1,3% năm 2002 lên 2,5% năm 2007 (xem phụ lục 2)
- Về tình hình lao động việc làm của thanh niên nông thôn:
Do chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng dần lao đông trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ, nên những năm qua nghề nghiệp và việc làm của thanh niên nông thôn có xu hướng biến đổi Theo kết quả điều tra lao động và việc làm năm
2006 cho thấy, hiện còn 64,17% thanh niên nông thôn làm trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản; 21,25% làm trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và 14,59% làm việc trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ Tỷ trọng lao động của thanh niên thuần túy làm nông nghiệp cũng giảm dần, thay vào đó là các mô hình kinh tế tổng hợp VAC, kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa Đã xuất hiện ngày càng nhiều, thanh niên nông thôn làm ở các công ty nông trường theo dạng
“ly nông bất ly hương” Tình hình dịch chuyển lao động ở nông thôn (không kể lúc nông nhàn) đến làm ăn, sinh sống ở các khu công nghiệp, khu đô thị hoặc các địa bàn dễ làm ăn sinh sống ngày một tăng, tạo ra dòng chuyển dịch dân cư từ nông thôn đến các khu vực trên ngày càng nhiều Theo kết quả điều tra lao động
và việc làm toàn quốc năm 2006 số thanh niên nông thôn thiếu việc làm trong thời điểm điều tra (đầu tháng 4/2006) là 861.000 người chiếm 7,74% trong tổng
số thanh niên nông thôn Nhưng nhìn toàn cục thanh niên nông thôn thường còn
25 - 30% thời gian nhàn rỗi Số thiếu việc làm nhiều là nhóm thanh niên 20 - 24 tuổi (chiếm 40%) tiếp đó thuộc nhóm thanh niên mới lớn 15 - 19 tuổi (34%) sau cùng là nhóm thanh niên 25 - 29 tuổi (26%) Theo đánh giá của các chuyên gia, sau khi Việt Nam gia nhập WTO tình hình lao động việc làm, thu nhập của thanh niên nông thôn sẽ chịu nhiều áp lực
Những điểm hạn chế của lực lượng lao động thanh niên nông thôn hiện nay cần quan tâm
- Lực lượng lao động thanh niên phân bố không đều giữa các vùng kinh
tế, các ngành kinh tế Do điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc làm ăn sinh
Trang 26sống, vùng đồng bằng đất chật người đông thiếu việc làm, trong khi vùng núi dân cư thưa thớt, sống khó khăn nên lực lượng lao động thanh niên thiếu để phát triển nghề rừng…
- Do điều kiện sống không bằng thành phố nên thanh niên nông thôn thường có mức thu nhập thấp, ít thông tin, trình độ học vấn không cao, không đồng đều, cơ sở hạ tầng kinh tế chậm phát triển dẫn đến việc thiếu hiểu biết
về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe nên thể lực, tầm vóc của thanh niên nông thôn thường thấp và nhỏ hơn so với thanh niên thành phố
- Lực lượng lao động thanh niên nông thôn thường có trình độ chuyên môn nghiệp vụ thấp
- Do sự phát triển KT - XH nông thôn ở nước ta chưa phát triển, năng suất lao động trong nông nghiệp còn thấp, xã hội nông thôn còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, nhiều vùng kinh tế lại dựa quá nhiều vào điều kiện tự nhiên Nên một bộ phận thanh niên nông thôn còn tồn tại cách suy nghĩ lạc hậu, có tư tưởng ỉ lại, thụ động, không dám đột phá, không đầu tư thời gian cho việc học văn hóa, học nghề, tin học, ngoại ngữ, không dám thoát ly gia đình
đi làm xa, thanh niên nông thôn thường xây dựng gia đình sớm, thời gian lao động ở nông thôn thường theo mùa vụ có nhiều thời gian rảnh rỗi thường tụ tập chơi bời, la cà nhậu nhẹt, tính kỷ luật trong lao động không cao
Tóm lại: Lực lượng lao động thanh niên nông thôn ở nước ta đang có
những bước chuyển tích cực về nhiều mặt, thích ứng nhanh nhạy với nền kinh
tế thị trường, nó đang đóng vai trò quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Nhưng mặt khác, lao động của thanh niên ở nông thôn cũng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn thách thức, đó là quá trình di chuyển lao động tự do, tâm lý thanh niên không ham muốn nghề nông, thu nhập trong nông nghiệp thấp, trình độ chuyên môn tay nghề thấp chủ yếu là lao động phổ thông, chất lượng nguồn lực lao động còn thấp…
1.2.1.2 Đặc điểm việc làm của thanh niên nông thôn
Trang 27- Việc làm ở nông thôn:
Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với đặc điểm của kinh
tế nông nghiệp, nông thôn, với lực lượng lao động và điều kiện tự nhiên tại chỗ, bao hàm tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT-XH
ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm; được thể hiện là những ngành nông, lâm, thủy sản - những loại việc làm có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên tại chỗ Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, việc làm của người lao động ở nông thôn mang tính thủ công, nặng nhọc và có thu nhập thấp Khi kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là nông nghiệp,
ở đó ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm Vì vậy, đa dạng hóa ngành nghề, mở nhiều loại hình việc làm, phát triển KT - XH ở nông thôn là phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
* Các loại việc làm ở nông thôn
Các loại việc làm ở nông thôn rất đa dạng và phong phú với hàng trăm ngành nghề khác nhau nhưng có thể phân chúng thành các loại việc làm thuần nông và việc làm phi nông nghiệp
Việc làm thuần nông là những hoạt động lao động trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Trải qua nhiều năm phát triển, hiện nay chăn nuôi và trồng trọt vẫn là công việc chính của nhà nông ở nước ta Trong đó trồng trọt chiếm 73%; chăn nuôi chiếm 27% Trong trồng trọt cây lương thực vẫn chiếm 78,2% diện tích cơ cấu cây trồng, cây rau màu và cây công nghiệp chỉ chiếm 21,8% Còn chăn nuôi ở nông thôn phần lớn chỉ để tận dụng thức ăn dư thừa
và cung cấp phần nào nhu cầu thực phẩm ở nông thôn
Như vậy, có thể nói lao động trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản là việc làm chính của người lao động ở nông thôn Thế mạnh của lĩnh vực này là người lao động được kế thừa kinh nghiệm sản xuất của cha ông để lại Kiến thức nghề nông được tích lũy dần trong quá trình người lao động tham gia sản xuất từ nhỏ với tư cách là người lao động phụ của gia đình Bên cạnh đó, loại công việc này còn nhiều hạn chế:
Trang 28Thứ nhất, sản xuất theo mùa vụ, năm này theo năm khác, lặp đi lặp lại
nên người lao động chỉ làm việc theo kinh nghiệm, ít có cải tiến, sáng tạo dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc không được nâng cao Quá trình đó cứ diễn ra như thế từ nghìn năm làm cho tiến trình phát triển KT-XH ở nông thôn diễn ra một cách chậm chạp
Thứ hai, loại công việc này có tính chất mùa vụ nên lao động ở nông
thôn sẽ thiếu việc làm lúc nông nhàn Mặt khác, cùng với quá trình đô thị hóa, đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng làm cho người nông dân bị mất tư liệu sản xuất và trình độ học vấn, tay nghề thấp họ sẽ gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm và phải làm những công việc nặng nhọc với mức lương rẻ mạt Như vậy, trong quá trình CNH, HĐH, người lao động làm trong lĩnh vực thuần nông là những người có nguy cơ bị thiếu việc làm và bị thất nghiệp cao nhất
Việc làm phi nông nghiệp là lĩnh vực rộng lớn, gồm tất cả các ngành nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn Cùng với sự hình thành và phát triển của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước các loại ngành nghề ở nông thôn phát triển đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về việc làm cho người lao động ở đây Hiện nay đã có nhiều loại hình công việc ngoài nông nghiệp ra đời và phát triển mạnh Bên cạnh sự phát triển của các ngành nghề truyền thống như sản xuất đồ gỗ, đồ gốm sứ, thêu ren, đồ thủ công mỹ nghệ, đan lát Nhiều ngành nghề chế biến nông, lâm, thủy sản mới xuất hiện như: sấy thóc, sơ chế và chế biến cà phê, chế biến hạt điều, vải, chế biến rau quả, thủy sản, súc sản Hoạt động gia công cơ khí xuất hiện phục vụ sửa chữa đồ gia dụng, nông cụ, sửa chữa máy móc nông nghiệp, ngư nghiệp Đặc biệt cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, dịch vụ ở nông thôn cũng phát triển mạnh mẽ Nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đời sống trước đây chỉ có ở thành thị thì nay đã có ở nông thôn như: dịch vụ vệ sinh nông thôn, dịch vụ cung cấp nước sạch, vệ sinh dịch vụ ăn uống Nhiều việc làm trước đây bị xã hội coi rẻ
và cấm đoán như: giúp việc gia đình, chạy chợ thì nay đã được công nhận như
Trang 29một nghề Tất cả những biến đổi đó đã tạo ra nhiều loại hình công việc làm phong phú, đa dạng thị trường việc làm cho người lao động ở nông thôn
Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn có vai trò tích cực trong phát triển
KT - XH ở nông thôn:
- Phát triển ngành nghề ngoài việc đem lại việc làm ổn định, thường xuyên cho người lao động ở lĩnh vực đó, còn khả năng thu hút thêm lao động nhàn rỗi ở nông thôn Ngoài sự phát triển của nó còn nảy sinh những ngành nghề mới, những hoạt động dịch vụ liên quan tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho lao động
- Loại việc làm này thường đưa lại thu nhập ổn định và cao hơn cho người lao động Hiện nay thu nhập của các hộ chuyên ngành nghề ở nông thôn thường cao hơn khoảng 4 lần so với thu nhập bình quân của hộ lao động nông nghiệp thuần Điều đó bắt buộc người lao động phải không ngừng học tập, rèn luyện giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động ở nông thôn
Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn hiện nay đang phát triển phong phú, đa dạng Tuy nhiên sự phát triển của loại việc làm này cũng gặp khó khăn do hạn chế về trình độ tay nghề của người lao động, về công nghệ cũng như giới hạn về khả năng quản lý của chủ hộ sản xuất kinh doanh, về nguồn vốn cũng như phong tục tập quán, về thị trường Người dân có nghề phi nông nghiệp vẫn chưa mạnh dạn bỏ ruộng để tập trung sản xuất ngành nghề
Như vậy, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển ngành nghề ở nông thôn, nhưng so với việc làm thuần nông thì sự phát triển gia tăng của ngành việc làm phi nông nghiệp hiện nay đang chiếm ưu thế và đang trong xu thế phát triển Bởi vì so với lĩnh vực thuần nông, lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn ít gặp những giới hạn của tự nhiên, ngược lại nó còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự phát triển của quá trình CNH, HĐH Nếu như việc làm thuần nông ngày càng bị thu hẹp thì việc làm phi nông nghiệp đang trong xu thế phát triển mở rộng do chính sự phát triển của một nền nông nghiệp hàng hóa đưa lại Mặt khác nông thôn Việt Nam đang vươn mình phát triển Điều đó
Trang 30tạo ra thị trường rộng lớn cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp, dịch vụ và cơ cấu lao động tiến bộ ở nông thôn
- Nét riêng biệt việc làm và các loại việc làm của thanh niên nông thôn
Thanh niên lớn lên ở nông thôn nên việc làm của lứa tuổi này cũng giống như của người lao động khác gắn với sản xuất nông nghiệp Nhưng họ là lứa tuổi đang trong quá trình chuyển tiếp giữa thời niên thiếu và trưởng thành Thanh niên trong nhóm tuổi lao động từ 15- 24 ở nông thôn thường mới tốt nghiệp phổ thông THCS hoặc THPT, thường chưa có nghề nghiệp, việc làm của thanh niên phụ thuộc vào gia đình, chủ yếu là phụ gia đình làm các công việc truyền thống như làm ruộng, làm thủy sản, trồng rừng… một số ít có thể làm dịch vụ thuê để lấy tiền công như phụ sửa xe, buôn bán nhỏ, làm ở các cơ
sở sản xuất nhỏ tại địa phương Đối tượng này thường có nhu cầu học nghề và muốn thoát ly gia đình để đi làm ăn xa hoặc đi học, kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình và đều trong tình trạng thiếu việc làm, chất lượng lao động thấp do chưa biết nghề và không có kinh nghiệm trong làm việc; chưa định hướng được nghề rõ ràng
- Nhóm tuổi từ 24 - 30 tuổi, được xem như độ tuổi thanh niên đã có sự trưởng thành, ở nông thôn phần đông độ tuổi này nhất là các bạn nữ đều đã lập gia đình Họ đã có những nhận thức tương đối ổn định về việc làm; có chút ít kinh nghiệm nghề, kinh nghiệm sống họ có thể chủ động tham gia vào thị trường lao động tại địa phương hoặc đi ra ngoài tìm kiếm việc làm và có thể vừa làm nông nghiệp vừa làm dịch vụ, như: buôn bán, tổ chức sản xuất hộ gia đình hoặc sản xuất nhỏ, hoặc làm nghề truyền thống (gốm sứ, đan lát…) hoặc có thể đến các thành phố, các trung tâm công nghiệp tìm việc làm theo thời vụ để tăng thu nhập Thực tế hiện nay nhiều làng quê sau việc đồng áng,
họ đến các thành phố để kiếm tiền thông qua nhiều nghề, làm cửu vạn, làm ôsin, đi buôn …Ở đối tượng này nhu cầu việc làm của họ là có việc làm để tăng thu nhập có một phần tích lũy đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà cửa, mua sắm tư liệu sản xuất cho tiêu dùng sinh hoạt cá nhân và gia
Trang 31đình, trong thời gian nông nhàn, khi năng xuất lao động ở nông thôn đã được cải thiện đáng kể, cơ sở hạ tầng phát triển Hiện nay, nhiều hộ gia đình trẻ ở nông thôn có khá năng làm kinh tế giỏi, có tiềm lực kinh tế khá
Tóm lại: việc làm và các loại việc làm của thanh niên nông thôn nước ta
đều có đặc điểm chung của người lao động ở nông thôn làm việc theo mùa vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, trồng rừng làm những ngành nghề truyền thống của làng quê Việt Nam Do làm theo mùa vụ và nhiều vùng quê (nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung bộ) đất chật người đông, ở nông thôn năng suất lao động và thu nhập thấp, việc làm và các loại việc làm của người lao động ở nông thôn thuần nông, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm không qua đào tạo là phổ biến
Thế hệ thanh niên nông thôn ngày nay, với những tác động tích cực của nhiều nhân tố khách quan, (KT - XH phát triển, quá trình CNH, HĐH, phát triển của giáo dục đào tạo…), trình độ học vấn, nhận thức, tính tự chủ và khát vọng vươn lên làm giàu của thanh niên nông thôn được nâng lên, chủ động tổ chức tự tạo ra việc làm cho mình và nhiều người khác như ;tổ chức làm trang trại, phát triển nghề truyền thống và các dịch vụ khác… thể hiện được tính năng động, sáng tạo Đây là một nét tích cực, nổi bật của thế hệ thanh niên nông thôn hiện nay
1.2.2 Quan điểm và chủ trương của Đảng về giải quyết việc làm cho thanh niên giai đoạn hiện nay
Ngày 25-7-2008 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH", trong đó Đảng ta chỉ rõ: "Nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên"
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Nghị quyết nhấn mạnh các giải pháp chủ yếu sau:
Trang 32- Huy động nhiều nguồn lực xã hội, đầu tư ngân sách thoả đáng để đẩy mạnh dạy nghề, phổ cập sơ cấp nghề cho thanh niên Hoàn thiện chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm; có chính sách tín dụng ưu đãi cho các cơ sở dạy nghề, đặc biệt các nghề kỹ thuật cao; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trường lao động; tín dụng ưu đãi cho thanh niên vay tạo việc làm, lập nghiệp; khuyến khích thanh niên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
- Xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia về định hướng nghề nghiệp, việc làm cho thanh niên Bảo đảm cơ cấu hợp lý trong đào tạo công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
- Tập trung đào tạo hình thành nguồn nhân lực khoa học - công nghệ có chất lượng cao, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ mới đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức, tạo mũi nhọn phát triển kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tập trung dạy nghề cho thanh niên nông thôn, bộ đội xuất ngũ, thanh niên dân tộc thiểu số Khuyến khích đào tạo nghề tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất Chú trọng giáo dục ý thức kỷ luật, kỹ năng lao động, tay nghề cho thanh niên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; đồng thời có biện pháp quản lý, giáo dục, giúp đỡ số thanh niên này
- Tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất, tạo việc làm mới và tăng thu nhập cho thanh niên, cải thiện đời sống Phát triển thị trường lao động lành mạnh, năng động Khuyến khích thanh niên làm giàu chính đáng Nhà nước hỗ trợ
để chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tổ chức sản xuất kinh doanh cho thanh niên nông thôn; biểu dương, tôn vinh thanh niên làm kinh tế giỏi Phát huy thế mạnh lao động nông nghiệp để đưa đi lao động ở một số quốc gia có địa bàn phù hợp [15, tr.40-41]
Trang 331.2.3 Một số định hướng và phương thức giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở nước ta hiện nay
Thanh niên nông thôn là một nhóm lứa tuổi bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành, bắt đầu tham gia vào thị trường sức lao động, có nhu cầu về việc làm
để mưu sinh, lập thân, lập nghiệp Bản thân thanh niên nông thôn ,thiếu nhiều điều kiện cần và đủ để tìm việc làm và cơ hội tìm việc làm Phần đông thanh niên nông thôn chưa được đào tạo nghề, chưa định hướng được nghề để đi học đi làm, thiếu những kỹ năng, thiếu thông tin thiếu kinh phí để đi học đi tìm việc làm …
Để giải quyết tốt việc làm cho thanh niên là một bài toán mà bản thân thanh niên, gia đình, nhà trường và toàn xã hội phải quan tâm, phải đầu tư; nhưng phải có cách làm khoa học vừa giải quyết những vấn đề vừa có tính cấp thiết vừa phải tính đến chiến lược lâu dài trong việc chuẩn bị nguồn lực lao động cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.2.3.1 Nghiên cứu nắm vững và dự báo được nhu cầu thị trường sức lao động của thanh niên nông thôn
Thông tin dự báo khoa học là một trong những hoạt động của con người, nhờ có dự báo tốt mà nguồn cung sức lao động của thị trường sức lao động được chuẩn bị tốt mọi điều kiện, nó sẽ tạo ra sự cân bằng về cung - cầu cả về lượng và chất của thị trường sức lao động, tiết kiệm và phát huy hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực lao động
Muốn dự báo tốt về thị trường sức lao động của thanh niên nông thôn, cần phải biết thu thập thông tin của thị trường lao động, phải cập nhật thường xuyên các thông số về cầu lao động (tốc độ tăng trưởng GDP, mức đầu tư toàn xã hội, khuynh hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, hệ số
co giãn việc làm, tốc độ tăng năng suất lao động dự kiến, tỷ lệ thất nghiệp cho phép…) và đầu vào của cung lao động (đặc điểm tâm lý, nhu cầu việc làm, trình độ học vấn, chuyên môn, phát triển giáo dục - đào tạo, cơ chế chính sách… bằng các công cụ toán học có thể dự báo được tổng cầu, tổng cung
Trang 34theo ngành nghề, theo từng nhóm tuổi, cho từng thời kỳ nhất định Vấn đề quan trọng là luôn điều chỉnh dự báo về cung - cầu lao động của thanh niên nông thôn, để các nhà hoạch định chính sách, các nhà đào tạo, người sử dụng lao động và bản thân thanh niên có được các thông tin cần thiết; xây dựng kế hoạch, phương án thực hiện các mục tiêu đã định
Muốn dự báo tốt phải tổ chức bộ máy dự báo về cung - cầu lao động của thanh niên trên thị trường; các thông số kỹ thuật về dự báo phải đủ tin cậy, tính thống nhất, phương pháp tổ chức bộ máy hoạt động phải hiệu quả, chuyên sâu nghiên cứu về thanh niên nông thôn, các công cụ, phương tiện dự báo phải hiện đại và có tính đại chúng
1.2.3.2 Hoạt động định hướng nghề cho thanh niên
Định hướng nghề nghiệp là một khoa học có đối tượng và nội dung nghiên cứu riêng Trong nghiên cứu này chỉ đề cấp đến vai trò của nó trong mối quan hệ giữa định hướng nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên Định hướng nghề cho thanh niên được coi như một cách thức đầu tiên và rất quan trọng để giúp thanh niên định hướng nghề nghiệp của mình để học để làm nghề Định hướng nghề nghiệp cho thanh niên nông thôn phải tiếp cận kết hợp từ 2 phía: bản thân thanh niên và từ xã hội Tức là phải kết hợp khả năng, nguyện vọng của thanh niên và yêu cầu của xã hội Mặt khác, bản thân thanh niên cũng phải tự đánh giá, tự khẳng định mình và mặt khác, xã hội tích cực hỗ trợ (thông qua tư vấn, hướng dẫn, tạo điều kiện…) để thanh niên có những thông tin, cần thiết và khách quan
Các vấn đề trên là rất cơ bản và mấu chốt để lựa chọn mô hình, cách thức
tổ chức hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên nông thôn có hiệu quả Yêu cầu đặt ra cho hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên nông thôn là:
- Giới thiệu về nghề và yêu cầu về nghề của từng nghề theo cấp trình độ, đặc điểm riêng biệt trong từng loại đối tượng thanh niên ở nông thôn
- Làm rõ yêu cầu của xã hội, của từng loại thị trường lao động về nghề nghiệp
Trang 35- Thông tin về hệ thống đào tạo và khả năng đáp ứng đào tạo
- Tư vấn đào tạo và việc làm
- Tuyển chọn nghề nghiệp
Định hướng nghề nghiệp cho thanh niên chịu sự tác động bằng nhiều nhân tố rất phức tạp, trong đó có hai nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ nhất là định hướng giá trị xã hội của thanh niên và định hướng thị trường
- Muốn định hướng nghề tốt cho thanh niên nông thôn phải thông qua các giai đoạn: Giáo dục định hướng; chọn nghề để học; chọn nghề để làm; thích ứng và phát triển nghề của thanh niên; định hướng nghề cho thanh niện thông qua các hình thức; hoạt động thanh niên về nghề nghiệp; hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường phổ thống (theo từng cấp học); hoạt động
tư vấn về chọn nghề để học, để làm; hoạt động tư vấn về đào tạo nghề; hoạt động tư vần về dịch vụ, giới thiệu việc làm
Như vậy, hoạt động định hướng nghề thanh niên nông thôn có nhiều phương thức khác nhau Vấn đề định hướng nghề cho thanh niên là trách nhiệm của toàn xã hội Trong đó vai trò của nhà nước và các đoàn thể xã hội, trong đó có đoàn TNCS Hồ Chí Minh rất quan trong Cần phải đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, định hướng nghề cho thanh niên trong nền kinh tế thị trường
1.2.3.3 Công tác tổ chức dạy nghề cho thanh niên
Ở nước ta hiện này đa số thanh niên nông thôn không được dạy nghề, theo số liệu thông kê: 70% thanh niên nông thôn không được qua đào tạo nghề Trong nền kinh tế thị trường cơ hội có việc làm và việc làm ổn định và thu nhập cao phụ thuộc vào công tác day nghề cho thanh niên Dạy nghề cho thanh niên chính là một mắt xích quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn hiện nay
Công tác dạy nghề cho thanh niên phải được nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, sắp xếp lại hệ thống đào tạo dạy nghề và tổ chức đào tạo nghề đạt chuẩn quốc gia Đối với thanh niên nông thôn việc học nghề phải được quan tâm phải đa dạng hóa phương thức dạng nghề phù hợp với nhu cầu của đối
Trang 36tượng thanh niên lứa tuổi, đặc điểm nghề nghiệp… mà thị trường lao động và
xã hội cần lực lượng lao động của thanh niên nông thôn
Dạy nghề cho thanh niên nông thôn phải đa dạng về phương thức; đào tạo tại chỗ, đào tạo tại các trung tâm dạy nghề thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia thông qua các doanh nghiệp, các mô hình liên kết dạy nghề Liên kết dạy nghề dài hạn: một số trung tâm mạnh dạn tìm kiếm đối tác đầu tư dạy nghề dài hạn để cung ứng giải quyết việc làm cho thanh niên, từng bước tiếp cận mô hình mới để đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao Nhiều trung tâm phối hợp các trường Trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học để
mở các lớp dạy nghề dài hạn (chủ yếu là nghề kỹ thuật viên tin học, lập trình viên, kế toán, kỹ thuật nông nghiệp, kinh tế…)
1.2.3.4 Thực hiện các chương trình mục tiêu giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn
- Chương trình thanh niên tình nguyện tham gia xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia, các dự án lớn của Nhà nước Đây là công trình tạo việc làm cho đối tượng thanh niên chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm, chủ yếu
là ở nông thôn:
- Chương trình thanh niên lập thân, lập nghiệp
- Chương trình thanh niên tham gia xóa đói giảm nghèo
- Chương trình thanh niên tham gia xuất khẩu lao động
Hiện nay, xuất khẩu lao động chủ yếu là lứa tuổi thanh niên Trong thời gian tới thanh niên nên cần được tham gia vào chương trình xuất khẩu chuyên gia, nhất là một số lĩnh vực mà Việt Nam có ưu thế như bác sĩ, kỹ sư nông nghiệp, lập trình viên…
- Đầu tư xúc tiến mở rộng thị trường mới xuất khẩu lao động và tăng thị phần xuất khẩu lao động ở thị trường truyền thống;
- Sắp xếp, đổi mới và đầu tư xây dựng các doanh nghiệp xuất khẩu lao động mạnh, tăng doanh nghiệp ngoài Nhà nước tham gia xuất khẩu lao động
- Đào tạo nghề, giáo dục định hướng chẩn bị nguồn xuất khẩu lao động
Trang 37- Đổi mới tổ chức, quản lý lao động ngoài Nhà nước đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng, chống trốn, phá hợp đồng
- Tạo việc làm cho lao động xuất khẩu trở về
Thanh niên tham gia vào chương trình xuất khẩu lao động và chuyên gia theo các hướng sau:
- Ưu tiên cho thanh niên nông thôn, thanh niên chưa có việc làm và thất nghiệp, bộ đội xuất ngũ…đi xuất khẩu lao động;
- Đoàn thanh niên tham gia vào chương trình đào tạo nghề, chuẩn bị nguồn lao động cho xuất khẩu thông qua hệ thống đào tạo nghề, cung ứng lao động của thanh niên
- Đoàn thanh niên tổ chức tập hợp các trí thức trẻ, có tài năng chuẩn bị nguồn cho xuất khẩu chuyên gia
- Đoàn thanh niên tham gia vào thực hiện các biện pháp chống trốn, phá hợp đồng lao động ở các nước nhận lao động
1.3 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh thuần nông, hiện nay có trên một triệu lao động, tập trung ở nông thôn hơn 90% Thời gian sử dụng lao động trong nông nghiệp thấp, dưới 75% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chỉ có 16% Cũng như nhiều địa phương khác, hiện nay, cơ cấu lao động có trình độ kỹ thuật ở Thái Bình đang mất cân đối so với yêu cầu của sự phát triển Tỷ lệ lao động trí óc thấp, nhất là ở khu vực nông thôn, chỉ chiếm dưới 5% Ngành nông, ngư nghiệp chiếm trên 90% lao động trong tỉnh nhưng chỉ có khoảng 15% lao động kỹ thuật tập trung ở khu vực quản lý Nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, đào tạo,còn khu vực sản xuất chỉ chiếm số lượng nhỏ Các khu công nghiệp, khu chế xuất vừa hình thành cũng đang trong tình trạng thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật Sự thiếu vắng đội ngũ lao động có trình độ đã hạn chế khả
Trang 38năng tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động, tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ để có thể thúc đẩy kinh tế nông thôn
Mục tiêu của tỉnh Thái Bình trong năm 2006 là nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 78%, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30% và lao động được đào tạo nghề lên 18%, tạo việc làm mới cho 20.000 người Để đạt được mục tiêu này, Thái Bình đã và đang thực hiện một số biện pháp như: từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất cho các trường, các cơ sở dạy nghề
Từ thực tế tạo việc làm ở Thái Bình cho thấy con đường để giải quyết việc làm có hiệu quả, đó là dạy nghề cho nông dân Đây là một việc làm hết sức cần thiết, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, là một trong những biện pháp xóa đói, giảm nghèo do giải quyết được việc làm cho
số lao động dôi dư trong trong nông thôn, hơn nữa còn tạo ra nhiều sản phẩm mới chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội
1.3.2 Kinh nghiệm của Bình Dương
Bình Dương là một trong những tỉnh được coi là có tốc độ phát triển kinh
tế nhanh của khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam (bao gồm TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu) và cả nước Trong những năm qua, Bình Dương là tỉnh có điều kiện thu hút và giải quyết việc làm cho lực lượng lao động trẻ của cả nước mà chủ yếu là thanh niên nông thôn Kinh nghiệm tạo việc làm của Bình Dương là:
+ Tập trung phát triển KT - XH tạo nhiều việc làm mới cho người lao động + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và sản xuất hàng hóa lớn
+ Xây dựng và phát triển các KCN, KCX tập trung một cách liên hoàn, theo hướng đa ngành, hiệu quả kinh tế
Trang 39+ Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng gắn với cải cách thủ tục hành chính
để thu hút đầu tư sản xuất
+ Liên kết dạy nghề phổ thông qua các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề của TP Hồ Chí Minh để nâng cao chất lượng nguồn lao động trẻ
+ Tổ chức các trung tâm dịch vụ việc làm của thanh niên gắn với thị trường lao động của tỉnh và cả nước
1.3.3 Một số mô hình dạy nghề có hiệu quả của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
+ Dạy nghề cung ứng cho các KCN, KCX tại địa phương như: Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Nam, Quảng Ngãi
+ Liên kết dạy nghề dài hạn: Quảng Nam, Hà Nội, Trung ương Đoàn, Quảng Ngãi, Đồng Nai
+ Dạy nghề tại chỗ cho thanh niên nông thôn: Sông Hồng, Quảng Bình, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Quảng Nam
+ Đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, các ngành nghề: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đồng Nai, Tiền Giang
+ Dạy nghề để xuất khẩu lao động: Trung tâm DN&DVVLTN Hà Tĩnh, Kiên Giang, Thừa Thiên - Huế
* Hoạt động giới thiệu việc làm và cung ứng lao động thông qua các Trung tâm dịch vụ việc làm của thanh niên:
Điểm nổi bật trong năm qua là các Trung tâm đã phối hợp ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức thành công công tác “Hội chợ việc làm”, “Ngày hội việc làm”, "Ngày hội tư vấn việc làm”, các diễn đàn thông tin về thị trường lao động Trung tâm DVVLTN Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Trung tâm DVVLTN Quảng Bình, Quảng Ninh đã phối hợp tốt với các huyện, thị Đoàn để tổ chức “Ngày hội việc làm”, Trung tâm DVVLTN TP
Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh đã đưa mô hình “Siêu thị việc làm” vào hoạt động; Trung tâm giới thiệu việc làm thanh niên Cần Thơ định kỳ tổ chức “Hội chợ việc làm” theo quý…
Trang 401.3.4 Một số bài học
Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn của tỉnh Thái Bình, Bình Dương và một số mô hình dạy nghề có hiệu quả của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, rút ra một số bài học có thể vận dụng vào giải quyết vấn
đề việc làm cho người lao động ở nông thôn nói chung, thanh niên miền Tây Nam Bộ nói riêng:
Một là, cần phải tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho thanh
niên nông thôn
Hai là, đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm cho người dân nông thôn
Ba là, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động một cách bài bản, hiệu quả Bốn là, sử dụng và quản lý tốt Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho người
lao động ở nông thôn