1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆP ĐỊNH TPP, CÓ TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ TRONG NGÀNH LÚA GẠO TẠI VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO? NHỮNG THÁCH THỨC, THỜI CƠ VÀ GIẢI PHÁP

26 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 623 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phạm vi của TPP4 Cắt giảm thuế quan theo lộ trình từ 2006 đến 2015 Các vấn đề thương mại phi thuế quan như xuất xứ hàng hóa, các biện phápphòng vệ thương mại, các biện pháp vệ sinh d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC

HIỆP ĐỊNH TPP, CÓ TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ TRONG NGÀNH LÚA GẠO TẠI VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

NHỮNG THÁCH THỨC, THỜI CƠ VÀ GIẢI PHÁP.

HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ HỌC

Người hướng dẫn : Ths Nguyễn Tiến Thành.

Sinh viên thực hiện : Lưu Văn Chiến

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) 2

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hiệp định thương mại tự do xuyên thái bình dương (TPP) 2

1.1.1 Lịch sư hình thành 2

1.1.2 Các bên đàm phán 2

1.1.3 Tình hình đàm phán 3

1.1.4 Phạm vi đàm phán 3

1.1.4.1 Về phạm vi của TPP4 3

1.1.4.2 Về xu hướng đàm phán FTA của Hoa Kỳ 4

1.1.5 Sự khác biệt của hiệp định này so với các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia trước đây như WTO, BTA, AFTA 4

CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP 6

2.1 Cơ hội của Việt Nam khi tham gia TPP 6

2.1.1 Nhóm các lợi ích từ môi trường quản trị nước ngoài (các nước đối tác TPP) 6

2.1.1.1 Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa): 6

2.1.1.2 Lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư) 7

2.1.2 Nhóm các lợi ích từ môi trường quản trị nội địa (Việt Nam) 7

2.1.2.1 Lợi ích từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước TPP 7

2.1.2.2 Lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và các nước đối tác TPP 8

2.1.2.3 Lợi ích đến từ những thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứng những đòi hỏi chung của TPP 8

2.1.2.4 Lợi ích đến từ việc mở cửa thị trường mua sắm công 8

2.1.2.5 Lợi ích đến từ việc thực thi các tiêu chuẩn về lao động, môi trường 8

2.2 Thách thức của Việt Nam khi tham gia TPP 9

Trang 3

2.2.1 Những bất lợi ở thị trường nội địa 9

2.2.1.1 Bất lợi từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP 9 2.2.1.2 Bất lợi từ việc mở cửa các thị trường dịch vụ 10

2.2.1.3 Bất lợi từ việc thực thi các yêu cầu cao về môi trường, lao động, cạnh tranh… và các ràng buộc mang tính thủ tục khi ban hành các quy định liên quan đến rào cản kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ 10

2.2.1.4 Bất lợi từ việc thực thi các yêu cầu cao liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 12

2.2.1.5 Bất lợi từ việc mở cửa thị trường mua sắm công 13

2.2.2 Những bất lợi ở thị trường các nước đối tác TPP 14

2.2.2.1 Các yêu cầu/tiêu chuẩn cao về môi trường và lao động: 14

2.2.2.2 Các thủ tục ràng buộc về ban hành và thực thi các quy định về TBT, SPS, phòng vệ thương mại… 14

CHƯƠNG 3: CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU GẠO VIỆT NAM KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) 16

3.1 Cơ hội, thách thức đối với xuất khẩu gạo việt nam khi tham gia hiệp định thương mại tự do xuyên thái bình dương 16

3.1.1 Cơ hội cho xuất khẩu gạo của Việt Nam 16

3.1.2 Thách thức đối với xuất khẩu gạo Việt Nam 17

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP LÚA GẠO VIỆT NAM KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) 19

4.1 Một số giải pháp chính góp phần đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các nước TPP 19

4.1.1 Nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu 19

4.1.2 Chú trọng giá và chất lượng gạo 19

4.1.3 Xây dựng chiến lược xuất khẩu gạo 20

4.1.4 Xây dựng thương hiệu gạo 20

KẾT LUẬN 22

Trang 7

Ngày 13/11/2010, Việt Nam tuyên bố tham gia vào TPP với tư cách thành viênđầy đủ.

1.1.2 Các bên đàm phán

Cho đến nay đã có 08 nước đã tham gia vào 2 Vòng đàm phán chính thức củaTPP, bao gồm: Australia, Brunei, Chile, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ vàViệt Nam Tháng 10/2010, Malaysia mới thông báo ý định tham gia đàm phán TPP

Trong tương lai, số lượng các Bên tham gia đàm phán có thể thay đổi tùy theotình hình và quan điểm ở mỗi nước

1.1.3 Tình hình đàm phán

2 Vòng đàm phán (vào tháng 3 và tháng 6/2010) đã được tiến hành giữa 8 bên;Ngoài ra còn có một cuộc đàm phán giữa kỳ vào tháng 8/2010 tại Peru và một đàmphán vừa tiến hành tại Brunei (4-8/10/2010) tuy nhiên hiện chưa có thông tin cụ thể về

+ Việc tham gia của các bên đàm phán mới

Vấn đề khó khăn là việc tiếp tục các đàm phán cắt giảm thuế quan trong TPPmới như thế nào ?

1.1.4 Phạm vi đàm phán

Do hiện tại chưa có quyết định chính thức về các vấn đề sẽ được đưa ra thảoluận và cam kết trong khuôn khổ TPP nên chưa thể xác định chính xác phạm vi đàmphán

Tuy nhiên, có thể suy đoán phần nào về phạm vi của TPP mới trên cơ sở xemxét 2 yếu tố:

Trang 8

Phạm vi của TPP4 (TPP ký kết năm 2005 giữa 4 nước): Vì TPP mới được đàmphán trên cơ sở đã có TPP4 nên đây có thể là nền cho đàm phán TPP mới; và

Xu hướng đàm phán các FTA gần đây của Hoa Kỳ: Do Hoa Kỳ là đối tác đàmphán lớn nhất và cũng là động lực lớn nhất thúc đẩy đàm phán TPP mới nên suy đoán

là quan điểm của nước này sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả đàm phán TPP

1.1.4.1 Về phạm vi của TPP4

Cắt giảm thuế quan theo lộ trình từ 2006 đến 2015

Các vấn đề thương mại phi thuế quan như xuất xứ hàng hóa, các biện phápphòng vệ thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật đối với thươngmại, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, chính sách cạnh tranh

Các vấn đề phi thương mại như hợp tác trong lĩnh vực môi trường, lao động Chưa bàn đến các vấn đề đầu tư, dịch vụ tài chính

1.1.4.2 Về xu hướng đàm phán FTA của Hoa Kỳ

Thông qua các FTA đã ký của Hoa Kỳ (đặc biệt là NAFTA), Hoa Kỳ đã thiếtlập một hệ thống “tiêu chuẩn vàng” (“gold standards”) cho các FTAs của mình và có

xu hướng tăng cường những quy định này trong các FTA tương lai (bao gồm cả TPP –Hoa Kỳ đã bày tỏ quan điểm rằng Hoa Kỳ muốn TPP là một “FTA của thế kỷ 21” vớicác “tiêu chuẩn” cao hơn so với các FTA trước) Cụ thể, FTA mà Hoa Kỳ sẽ ký có thể

có các nội dung sau:

Thuế quan: Cắt giảm hầu hết các dòng thuế, thực hiện ngay hoặc thực hiện với

Quyền sở hữu trí tuệ: Tăng mức độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ

Bảo vệ tính mạng, sức khỏe: Tăng mức độ bảo vệ thông qua các quy định khắtkhe hơn về vệ sinh dịch tễ và rào cản kỹ thuật;

Cạnh tranh và mua sắm công: Tăng cường cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vựcmua sắm công

Các vấn đề lao động: đặc biệt là các vấn đề về quyền lập hội (công đoàn),

Trang 9

quyền tập hợp và đàm phán chung của người lao động, quy định cấm sử dụng mọihình thức lao động cưỡng bức, quy định cấm khai thác lao động trẻ em, quy địnhkhông phân biệt đối xử trong lực lượng lao động.

1.1.5 Sự khác biệt của hiệp định này so với các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia trước đây như WTO, BTA, AFTA.

Như chúng ta đã biết, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố chính thứcviệc đàm phán hiệp định này Năm 2005, đã có một hiệp định đối tác xuyên Thái BìnhDương với 4 nước tham gia khởi xướng: Brunei, Chile, New Zealand, Singapore

Từ năm 2010, có thêm 5 nước tham gia đàm phán gồm: Hoa Kỳ, Australia,Peru, Việt Nam và gần đây là Malaysia Người ta đánh giá TPP là một hiệp định củathế kỷ 21, không chỉ vì nó là Hiệp định lớn mà còn ở tầm vóc và ảnh hưởng của nó Vềphạm vi, so với các hiệp định BTA, AFTA, và trong WTO, TPP mở rộng hơn, cả vềthương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Ngoài ra còn là cácvấn đề phi thương mại như mua sắm chính phủ, môi trường, lao động, công đoàn, hỗtrợ cho các DN vừa và nhỏ

Với tầm vóc như vậy, các cam kết này sâu rộng hơn, toàn diện hơn, thì bấy giờ,ảnh hưởng sẽ rất lớn Đó là điểm khác biệt cơ bản Nhìn ở góc độ Việt Nam, ta là nướcđang phát triển, các thành viên còn lại là nước phát triển Tính chất TPP mở ra, cho cácnước có mức độ phát triển khác nhau nhưng cố gắng có một mẫu số chung để cùngphát triển

Mục tiêu là thế, nhưng không tạo ra các cam kết khác biệt các cam kết thựchiện sẽ phải bình đẳng Các nước đang phát triển mà tham gia TPP sẽ phải cố gắng đểrút ngắn thời gian thực hiện cam kết đó

Trang 10

CHƯƠNG 2:

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

2.1 Cơ hội của Việt Nam khi tham gia TPP

2.1.1 Nhóm các lợi ích từ môi trường quản trị nước ngoài (các nước đối tác TPP)

2.1.1.1 Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa):

Lợi ích này được suy đoán là sẽ có được khi hàng hóa Việt Nam được tiếp cậncác thị trường này với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0 Như vậy lợi ích này chỉ thực

tế nếu hàng hóa Việt Nam đang phải chịu mức thuế quan cao ở các thị trường này vàthuế quan là vấn đề duy nhất cản trở sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên cácthị trường này

Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếp cận các thịtrường lớn như Hoa Kỳ với mức thuế suất bằng 0 hoặc thấp như vậy sẽ mang lại mộtlợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hết sức sáng sủa cho nhiều ngànhhàng của chúng ta, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạtđộng trong các lĩnh vực phục vụ xuất khẩu Lợi ích này không chỉ dừng lại ở nhữngnhóm mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như dệt may, giầydép…), nó còn là động lực để nhiều nhóm mặt hàng khác hiện chưa có kim ngạchđáng kể có điều kiện để gia tăng sức cạnh tranh Nói một cách khác, lợi thế này khôngchỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn thấy ở cả tiềm năng trong tương lai

Tuy nhiên, lợi ích này cần được đánh giá một cách chừng mực hơn, đặc biệt khiquyết định đánh đổi quyền tiếp cận thị trường Việt Nam của hàng hóa nước ngoài để

có được những lợi ích này Cụ thể:

+ Thực tế, cơ hội tăng mạnh xuất khẩu không phải cho tất cả khi mà ví dụ đốivới Hoa Kỳ, hàng thủy sản chưa chế biến hay đồ gỗ (hai lĩnh vực xuất khẩu chủ yếucủa Việt Nam sang thị trường này) thực tế đã đang được hưởng mức thuế suất gầnbằng 0, vì vậy có TPP hay không cũng không quan trọng Cũng như vậy, dù rằngtương lai không hẳn chắc chắn nhưng một số mặt hàng có thể được Hoa Kỳ xem xétcho hưởng GSP “miễn phí” nếu chúng ta có nỗ lực vận động tốt mà không cần TPPvới những cái giá phải trả có thể lớn (bằng việc mở cửa thị trường nội địa cũng nhưnhững ràng buộc khác) Đối với các ngành thuộc nhóm này, lợi ích thuế quan là không

Trang 11

đáng kể (hoặc không có) Tình trạng tương tự với một số thị trường khác (ví dụ Úc,New Zealand, Peru hiện đã áp dụng mức thuế 0% cho các sản phẩm thủy sản như cá,tôm, cua… của Việt Nam);

+ Đối với những mặt hàng khác, trong khi cơ hội tăng xuất khẩu với giá cạnhtranh là có thật và rất lớn (ví dụ dệt may, da giầy), những rào cản dưới dạng quy định

kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ hay kiện phòng vệ thương mại với quy chế nền kinh tế phi thịtrường mà Hoa Kỳ thực hiện rất có thể sẽ vô hiệu hóa lợi ích từ việc giảm thuế quan.Cũng như vậy những điều kiện ngặt nghèo về lao động, về xuất xứ nguyên liệu cũng

có thể khiến hàng hóa Việt Nam không tận dụng được lợi ích từ việc giảm thuế trongTPP

Nói một cách khác, những lợi ích về thuế quan trên thị trường nước đối tác TPP(đặc biệt là Hoa Kỳ) chỉ thực sự đầy đủ khi xem xét tất cả các yếu tố Và nếu bất kỳyếu tố nào trong số những rào cản đối với hàng xuất khẩu không được cải thiện thì lợiích thuế quan từ TPP sẽ bị giảm sút, thậm chí nếu những rào cản này bị lạm dụng, lợiích từ thuế quan có thể bị vô hiệu hóa hoàn toàn Phương án đàm phán về thuế quan vìvậy cần phải lưu ý đến tất cả những yếu tố này

2.1.1.2 Lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư)

Về lý thuyết Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tácthuận lợi hơn, với ít các rào cản và điều kiện hơn Tuy vậy trên thực tế dịch vụ củaViệt Nam hầu như chưa có đầu tư đáng kể ở nước ngoài do năng lực cung cấp dịch vụcủa các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém Trong tương lai, tình hình này có thểthay đổi đôi chút (với những nỗ lực trong việc xuất khẩu phần mềm, đầu tư viễn thônghay một số lĩnh vực dịch vụ khác) tuy nhiên khả năng này tương đối nhỏ

Ngoài ra, với hiện trạng mở cửa tương đối rộng về dịch vụ của các đối tác quantrọng trong TPP như hiện nay, lợi ích này có thể không có ý nghĩa (bởi có hay không

có TPP thì thị trường dịch vụ của họ cũng đã mở sẵn rồi) Đây cũng chính là lý donhiều ý kiến cho rằng các nước phát triển sẽ được lợi về dịch vụ trong TPP trong khinhững nước như Việt Nam hầu như không hưởng lợi gì từ việc này

2.1.2 Nhóm các lợi ích từ môi trường quản trị nội địa (Việt Nam)

2.1.2.1 Lợi ích từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước TPP

Người tiêu dùng và các ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các

Trang 12

nước này làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa, nguyên liệu giá rẻ,giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó có thể giúp nâng cao năng lực cạnhtranh của những ngành này;

2.1.2.2 Lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và các nước đối tác TPP

Đó là một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, mang lại dịch vụ giá rẻ hơnchất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng, những công nghệ và phương thức quản lý mớicho đối tác Việt Nam và một sức ép để cải tổ và để tiến bộ hơn cho các đơn vị dịch vụnội địa;

2.1.2.3 Lợi ích đến từ những thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứng những đòi hỏi chung của TPP

TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết về những vấn đề xuyên suốt như sựhài hòa giữa các quy định pháp luật, tính cạnh tranh, vấn đề hỗ trợ phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển… Đây là những lợi ích lâu dài vàxuyên suốt các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt có ý nghĩa đối vớinhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (doanh nghiệp nhỏ và vừa) và do đó là rấtđáng kể;

2.1.2.4 Lợi ích đến từ việc mở cửa thị trường mua sắm công

Mặc dù mức độ mở cửa đối với thị trường mua sắm công trong khuôn khổ TPPchưa được xác định cụ thể nhưng nhiều khả năng các nội dung trong Hiệp định về muasắm công trong WTO sẽ được áp dụng cho TPP, và nếu điều này là thực tế thì lợi ích

mà Việt Nam có được từ điều này sẽ là triển vọng minh bạch hóa thị trường quantrọng này – TPP vì thế có thể là một động lực tốt để giải quyết những bất cập trong cáchợp đồng mua sắm công và hoạt động đấu thầu xuất phát từ tình trạng thiếu minh bạchhiện nay;

2.1.2.5 Lợi ích đến từ việc thực thi các tiêu chuẩn về lao động, môi trường

Mặc dù về cơ bản những yêu cầu cao về vấn đề này có thể gây khó khăn choViệt Nam (đặc biệt là chi phí tổ chức thực hiện của Nhà nước và chi phí tuân thủ củadoanh nghiệp) nhưng xét một cách kỹ lưỡng một số tiêu chuẩn trong đó (ví dụ về môitrường) sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam làm tốt hơn vấn đề bảo vệ môi trường (đặc biệttrong đầu tư từ các nước đối tác TPP) và bảo vệ người lao động nội địa

Trang 13

2.2 Thách thức của Việt Nam khi tham gia TPP

2.2.1 Những bất lợi ở thị trường nội địa

2.2.1.1 Bất lợi từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP

Việt Nam hiện vẫn còn là thị trường tương đối đóng với nhiều nhóm mặt hàng

và còn giữ mức thuế MFN khá cao (và với lộ trình mở cửa dài) Vì thế việc phải camkết giảm thuế đối với phần lớn các nhóm mặt hàng từ các nước đối tác TPP dự kiến sẽgây ra 02 bất lợi trực tiếp, bao gồm (i) giảm nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu và(ii) cạnh tranh trong nước gay gắt hơn

Thứ nhất, việc giảm thu ngân sách từ thuế nhập khẩu sau khi thực hiện TPP là

hệ quả chắc chắn và trực tiếp Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng lượng thất thu từthuế nhập khẩu của Việt Nam từ các đối tác TPP không thật sự lớn so với hiện trạng(do phần lớn các đối tác trong TPP đã có FTA với Việt Nam và do đó chúng ta đã và

sẽ phải cắt giảm thuế theo các FTA này mà không phải chờ đến TPP) Và do đó tácđộng bất lợi này không phải là quá nghiêm trọng

Thứ hai, giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPPvào Việt Nam gia tăng, với giá cả cạnh tranh hơn Hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóaliên quan tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn Đây là thực tế đãtừng xảy ra khi chúng ta thực hiện các FTA đã ký mà đặc biệt là ACFTA với TrungQuốc Nguy cơ này đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản, vốn gắn liền vớinhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong hội nhập là nông dân và nông thôn Tuy vậy,các ý kiến lạc quan lại cho rằng trong trường hợp cụ thể của TPP, cái “mất” này có thểkhông phải là quá nghiêm trọng, ví dụ với đối tác Hoa Kỳ, hàng hóa của Hoa Kỳ cóphân khúc và khách hàng khác với hàng hóa tương tự của Việt Nam, vì vậy đối vớimột số ngành, cạnh tranh đến từ hàng hóa Hoa Kỳ sẽ không quá nguy hiểm Theo cáchhiểu này, thị phần nội địa có thể sẽ bị phân chia lại sau TPP, nhưng là giữa các đối thủHoa Kỳ với những đối thủ nước ngoài khác trên thị trường Việt Nam chứ không phải

là với các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, cạnh tranh trong thị trường hàng hóa nộiđịa cũng là sức ép tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tự thích nghi, điều chỉnh, nângcao năng lực cạnh tranh của mình

Ngày đăng: 04/10/2016, 22:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w