Trên cơ sở đó, sẽ trình bày phương pháp phân tích biến động năng suất, tổng hợp và tìm hiểu các nghiên cứu về lượng hoá vai trò cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố của tăng trưởng
Trang 1Đánh giá vai trò của các nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam : Luận văn ThS Kinh tế: 60 31 01 / Nguyễn Thị Hồng Nhung ; Nghd :
TS Đào Thị Bích Thủy
Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc là mong ước của mọi người Bàn luận
về điều này thật có ý nghĩa vô cùng to lớn Cùng với sự phát triển của nhân loại, những nghiên cứu về các vần đề kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường đã làm tốn không biết bao thời gian, công sức, trí tuệ mà vẫn là chưa đủ Có thể nói rằng, các phạm trù - phát triển và phát triển bền vững, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng - có mối quan hệ gần gũi với nhau, nhưng không trùng lặp, mà bổ sung lẫn cho nhau
Ngày nay, năng suất có quan hệ nhiều mặt của nền kinh tế - xã hội, liên quan đến sản xuất và đời sống của dân cư Nó trở thành nội lực phát triển của các công ty, ngành và nền kinh tế Hơn nữa, nó còn là cơ sở đảm bảo cho đời sống của dân cư ngày càng tốt hơn Chính vì vậy, luận văn này sẽ nghiên cứu các cách tiếp cận mới về bản chất năng suất, tổng hợp và phân tích cơ sở của việc đo lường năng suất Trên cơ sở đó, sẽ trình bày phương pháp phân tích biến động năng suất, tổng hợp và tìm hiểu các nghiên cứu về lượng hoá vai trò cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố của tăng trưởng đến sự biến động đó Đồng thời xem xét ảnh hưởng của năng suất đến các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác Trong đó, chú trọng đến phân tích chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), từ
đó đánh giá được vai trò của của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế
Đề tài: “Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam” nhằm khám phá và xác định các nhân tố có khả năng tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tìm hiểu phương pháp ứng dụng các tính toán
về tốc độ tăng trưởng năng suất nhân tố (TFP) để xác định một cách chính xác
và đo lường tác động của các các nhân tố này đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Trang 2Nam, đồng thời tổng hợp các kết quả kiểm tra mô hình lý thuyết về tăng trưởng, phương pháp hạch toán tăng trưởng của Solow đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển
1.1.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow
Mô hình tăng trưởng của Solow được lựa chọn làm cơ sở lý thuyết cho việc xác định, đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam vì những lí do sau:
- Mô hình tăng trưởng của Solow có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh
tế Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa Trong giai đoạn này, sự đóng góp của vốn vào tốc độ phát triển kinh tế hay sự tăng trưởng của nền kinh tế là rất đáng kể;
- Trong Mô hình tăng trưởng của Solow, công nghệ được coi là biến ngoại sinh, vì vậy nó rất phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu nhập công nghệ từ nước ngoài;
- Mô hình Solow cho ta phương pháp hạch toán tăng trưởng Phương pháp này cho phép xác định và tính toán được sự đóng góp của các yếu tố đầu vào đã được sử dụng Và như thế chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để xác định, tính toán, đánh giá vai trò của các nguồn tăng trưởng trong nền kinh tế Việt Nam
1.1.1.1 Hàm sản xuất và những nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế
Trang 3Lý thuyết tăng trưởng kinh tế có liên quan đến sự tăng trưởng của GDP thực tế (Gross Domestic Product – GDP: tổng sản phẩm quốc nội) Những yếu
tố kinh tế trực tiếp sản xuất ra GDP thực tế là những yếu tố đầu vào
Hàm sản xuất: là mối quan hệ thường được trình bày theo kiểu đại số học, cho thấy có thể sản xuất bao nhiêu đầu ra bằng một số lượng nhất định các yếu
tố đầu vào Nói cách khác, hàm sản xuất thể hiện suất sinh lợi theo quy mô không đổi
Mối quan hệ giữa Y, A, K và L được biểu thị bằng Hàm sản xuất dạng tổng quát sau:
Y = AF (K,L) (1)
Trong đó, tổng sản phẩm quốc dân (Y) được sản xuất từ lao động (L) và vốn (K) Ở đây có một giả thiết cụ thể là F(K,L) (thể hiện sản lượng được sản xuất từ L và K trong thời kỳ đầu) tăng lên A lần nhờ tiến bộ công nghệ
Hàm sản xuất cũng có thể được thể hiện dưới dạng: “hàm sản xuất Cobb – Douglas”
Dạng tổng quát như sau:
Y = A K α L 1-α (2)
Phương trình (2) nói lên rằng GDP thực tế bằng yếu tố tăng trưởng tự định (A) nhân với chỉ số vốn (K) và lao động (L) Các trọng lượng α và 1-α biểu thị mức co dãn (hay tỷ lệ phần trăm ứng đối) của GDP thực tế theo sự gia tăng của một trong hai yếu tố này Tính co dãn được hiểu là tỷ lệ phần trăm thay đổi trong một biến số ứng với bao nhiêu phần trăm thay đổi trong một biến số khác
1.1.1.2 Mối quan hệ giữa tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn
Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem sự tăng trưởng trong K/L có liên quan như thế nào với tổng mức tiết kiệm quốc dân Giả định rằng trong nền kinh tế đóng thì tổng mức tiết kiệm quốc dân (S) bằng tổng mức đầu tư trong nước (I)
S = I (4)
Sau khi biến đổi, phương trình (4) trở thành:
Trang 4+∂) K
Phương trình trên cho thấy mức tiết kiệm quốc dân bằng tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư này đến lượt nó bằng mức tăng trưởng của vốn cộng với mức hao mòn nhân với kho vốn Rõ ràng là mức tiết kiệm quốc dân và mức tăng của
vốn (
K
K
∆ ) có mối liên hệ mật thiết với nhau
1.1.2 Phương pháp hạch toán tăng trưởng
Mô hình Solow cho ta một phương pháp luận (hạch toán tăng trưởng) để
đo tốc độ tiến bộ công nghệ, còn gọi là phần dư Solow hay tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (TFP)
Chỉ tiêu TFP rất quan trọng trong phân tích kinh tế Sự biến động TFP được Solow sử dụng đầu tiên vào năm 1957 nhằm phản ánh sự thay đổi công nghệ và giải thích sự tăng trưởng kinh tế Từ đó về sau được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi và trở thành một chỉ tiêu không thể thiếu trong phân tích kinh tế
Phương pháp hạch toán tăng trưởng đặt giả thiết là có một hàm sản xuất liên kết đầu ra (sản lượng) của một nền kinh tế với các đầu vào lao động và vốn (và tài nguyên thiên nhiên nếu nó được tách ra khỏi vốn) Nhờ sử dụng hàm sản xuất này, người ta đo được phần đóng góp của mỗi đơn vị đầu vào tăng lên đối với tăng trưởng đầu ra và phần dư không thể giải thích bằng gia tăng đầu vào được gọi là tăng trưởng “Tổng năng suất nhân tố” (TFP) Khi đó, TFP là thước
đo tiến bộ công nghệ được hiểu theo nghĩa rộng, tức là thước đo tăng trưởng sản lượng khi các đầu vào không thay đổi Trong luận văn này, phân tích sẽ dựa trên phương trình tính toán đơn giản nhất, chỉ để tìm ra kết luận về những yếu tố của tăng trưởng kinh tế
Trước hết, ta xem xét hàm tổng sản xuất giả định dạng tổng quát
Y = AF (K, L)
Giả thiết là F(K,L) thể hiện sản lượng được sản xuất từ K và L trong thời
kỳ đầu, tăng lên A lần nhờ tiến bộ công nghệ Việc đưa ra giả thiết như vậy nhằm hàm ý tiến bộ công nghệ trung lập theo cách xác định của Hick (năng suất
Trang 5cận biên của vốn và lao động thay đổi cùng tốc độ với một tỷ lệ vốn – lao động cho trước)
Trong thực tế, các nhà nghiên cứu thường sử dụng dạng hàm sản xuất Cobb-Douglas:
Y = AK α L 1-α
Hàm này thỏa mãn các giả định của mô hình Solow và có tỷ phần thu nhập nhân tố cố định (tỷ phần của vốn bằng α, còn tỷ phần của lao động bằng 1- α) Một khi ta ước lượng được tốc độ tăng trưởng của sản lượng, vốn và lực lượng lao động và tìm được ước lượng của α, thì có thể giải phương trình (20) để tính tốc độ tiến bộ công nghệ:
1.2.1 Thu nhập bình quân đầu người
Để đánh giá xác thực hơn về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia dưới góc độ mức sống dân cư, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu bình quân đầu người, chẳng hạn GDP bình quân đầu người Khi đó, tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào hai yếu tố: tăng trưởng thu nhập và tăng trưởng dân số
Tốc độ tăng trưởng GDP/người = Tốc độ tăng trưởng GDP - Tốc độ gia tăng dân số
Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng những thước đo cụ thể và ta có thể nhận biết được nó thông qua phân tích các chỉ tiêu đánh giá động thái biến động của nó
1.2.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động – Năng suất lao động
Trang 6Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy GDP (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động) Nếu GDP bình quân trên mỗi lao động càng lớn, thì năng suất lao động xã hội càng cao
Dưới góc độ ngành, GDP có thể được thay bằng các chỉ số khác sẵn có như giá trị sản phẩm, từ đó có chỉ số giá trị sản phẩm trên một giờ lao động hoặc chỉ số giá thành lao động trên một đồng giá trị sản phẩm Đây là những chỉ số theo dõi chi phí và năng suất lao động
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn - Hệ số ICOR
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho biết:
để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu
tư thực hiện Vì vậy, hệ số này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng trưởng kinh tế Với nội dung đó, hệ số ICOR được coi là một trong nhưng chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tăng trưởng kinh tế
Hệ số ICOR thấp, chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao Tuy nhiên, theo quy luật lợi tức biên giảm dần, khi nền kinh tế tăng trưởng thì hệ số ICOR sẽ tăng lên, tức là
để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng, cần một tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP cao hơn
1.2.4 Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)
Mặc dù hai chỉ tiêu năng suất lao động xã hội và hiệu quả sử dụng vốn thường được sử dụng nhiều trong phân tích hiệu quả kinh tế, nhưng trên thực tế, trong sản xuất có ba yếu tố chính làm tăng GDP: lao động, vốn sản xuất và TFP TFP phụ thuộc vào hai yếu tố: tiến bộ công nghệ và kỹ thuật; hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào
Trang 7CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM 2.1 Các nguồn tăng trưởng kinh tế Việt Nam
xu hướng giảm dần
2.1.2 Nguồn lực con người
Với số dân trên 80 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 55%, thì nguồn nhân lực là lợi thế phát triển quan trọng của nước
ta hiện nay Số lao động đang làm việc hàng năm vẫn tăng thêm khoảng 1 triệu người Tuy nhiên, lợi thế này không được sử dụng hết, thậm chí đang bị lãng phí nghiêm trọng, bởi đến đầu năm 2009, có tới 5,3% lao động ở thành thị thất nghiệp và 19,4% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng Những tỷ lệ này vẫn
Trang 8còn đang tiếp tục lớn hơn cho đến thời điểm tháng 9 năm 2009 do cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho hàng loạt các doanh nghiệp lớn nhỏ bị phá sản kéo theo
hệ quả tất yếu là người lao động bị mất việc làm Có thể nhận thấy rằng, nguồn lao động lớn chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa hiệu quả đang trở thành vấn đề đáng báo động đe dọa sự phát triển của nền kinh tế nước ta
2.1.2.1 Năng suất lao động và việc áp dụng tính toán ở Việt Nam
2.1.2.1.1 Phân tích năng suất lao động chung toàn nền kinh tế giai đoạn 2001 -
2008
Từ số liệu về tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế và lao động làm việc có trong Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, ta tính được mức năng suất lao động của năm 2005 đạt 19,62 triệu đồng Nếu tính theo giá cố định (giá năm 1994) và nghiên cứu biến động của năng suất lao động ta thấy trong thời gian từ 2001 đến 2005,năng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân của Việt Nam liên tục tăng lên và tăng với xu thế cao dần Xu thế này cũng tiếp diễn từ năm 2006 đến 2008 Con số tăng trung bình từ 2006 đến 2008
là 5,27%
2.1.2.1.2 Phân tích năng suất lao động theo khu vực kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam chia thành 3 khu vực: Kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước (gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, kinh tế tư nhân, ) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (gồm các loại hình 100% vốn đầu
tư nước ngoài và loại hình liên doanh liên kết với nước ngoài) Năng suất lao động chung của cả ba khu vực ở Việt Nam đạt thấp chủ yếu là do, năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt quá thấp, trong khi đó lao động của khu vực kinh tế này lại rất lớn, chiếm tới 88% tổng số lao động làm việc ở
cả ba khu vực
Xét về tốc độ tăng, quan sát năng suất lao động tính theo giá cố định (giá năm 1994), thì năng suất lao động khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng nhanh
Trang 9và đều nhất, sau đến năng suất lao động khu vực kinh tế nhà nước Đến năm
2005, bắt đầu tăng lên và có mức tăng khá (tăng trên 5%)
Bảng 2.3: Tốc độ tăng năng suất lao động của các khu vực kinh tế thời kỳ 2001- 2008
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của WB
2.1.2.1.3 Phân tích năng suất lao động theo ngành kinh tế
Năng suất lao động bình quân chung toàn nền kinh tế quốc dân của nước
ta đạt được còn ở mức thấp so với các nước trên thế giới Trong đó, đặc biệt khu vực kinh tế ngoài nhà nước (xét theo hình thức sở hữu) và ngành nông - lâm nghiệp (xét theo ngành kinh tế) có mức năng suất lao động rất thấp, nhưng lại có lao động chiếm tỷ lệ rất cao Điều đó đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến mức năng
suất lao động bình quân chung toàn nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên, xét theo xu thế biến động, thì năng suất lao động toàn nền kinh
tế liên tục tăng lên và có mức tăng khá Mức tăng lên của năng suất lao động bình quân chung này do sự tăng lên thuần túy về năng suất lao động các ngành, các khu vực đóng góp bình quân dưới 40%, còn do chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng lao động của các khu vực kinh tế, các ngành có năng suất lao động cao hơn tức là giảm tỷ trọng lao động theo tỷ lệ tương ứng của các
Trang 10khu vực kinh tế, các ngành có năng suất lao động thấp đóng góp bình quân trên 60%
2.1.3 Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ là yếu tố có vai trò ngày càng to lớn trong tăng trưởng kinh tế Nếu quá trình tăng tích luỹ vốn, đầu tư mở rộng quy mô sản xuất được coi là quá trình tái sản xuất theo chiều rộng thì phát triển khoa học công nghệ lại được gọi là quá trình tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu Khoa học công nghệ là yếu tố tác động trực tiếp đến sản xuất, là nhân tố tăng năng suất lao động, hoàn thiện, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh sản phẩm; đó cũng là yếu tố tạo đà tăng trưởng cho mọi quốc gia
2.1.4 Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế
Đối với Việt Nam, tăng trưởng kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, không chỉ do xuất phát điểm của nước ta còn thấp, phải tăng trưởng nhanh để chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, mà còn là tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội khác như chống lạm phát, giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo…
Bảng 2.7: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1991 – 2008
Đơn vị: %
Năm Tốc độ tăng
trưởng kinh tế Năm
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Năm
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Năm
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
2006
2007
2008
8.17 8.44 6.3
kỳ
thời kỳ 7.5
TB thời
kỳ
7.64
Trang 11Nguồn: Tổng cục Thống kê
Sự tăng trưởng của nền kinh tế thể hiện rõ qua việc nhóm ngành nào cũng
có tăng trưởng Sau khi cải cách kinh tế, Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng vượt bậc, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên một cách nhanh chóng Việt Nam cũng thu hút được nhiều quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, được thể hiện qua dòng vốn FDI và FPI chảy vào ngày càng lớn
2.2 Phân tích vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Theo tính toán của giáo sư Goldman sachs (GS), ta có thể nhận thấy: sự tăng trưởng TFP chính là nguồn lực chính cho sự tăng trưởng sản lượng quốc nội GDP của Việt Nam kể từ khi đổi mới
Bảng 2.11: Các nhân tố tăng trưởng của Việt Nam qua các thời kỳ
Bình quân tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng
GDP A A K L A(%) K(%) L(%) 1986-
2006 6,85 3,05 3,10 2,30 1,45 45 31 24 1986-
1991 4,68 2,83 2,85 0,17 1,65 60 3 37 1992-
1996 8,90 5,10 5,19 2,39 1,32 58 27 15 1997-
1999 6,23 1,87 1,91 3,31 1,01 26 56 18 2000-
2006 7,50 2,27 2,33 3,63 1,55 31 48 21 2007-
2020 8,07 2,99 3,06 3,63 1,38 38 45 17
Nguồn: Goldman sachs
Trang 122.2.1.Tác động của Khoa học &Công Nghệ đối với Tăng trưởng kinh tế
Trên góc độ phân tích thống kê, có thể kết luận: Năng lực công nghệ có ảnh hưởng khá rõ nét đến tăng trưởng kinh tế, tức là khi năng lực công nghệ càng được nâng cao thì kết quả tăng trưởng kinh tế cũng sẽ đạt kết quả càng tốt
và các mối quan hệ này tương đối chặt chẽ Cụ thể là: Cứ tăng lên 1% về chỉ số năng lực công nghệ thì sẽ tăng thêm được 1,2298% về chỉ số phát triển kinh tế
và sự phát triển kinh tế có thể giải thích liên quan đến yếu tố năng lực công nghệ
là 73,52%
2.2.2 Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế
Năng suất lao động gia tăng chậm chạp trong khi hiệu quả đầu tư có xu hướng giảm sút trong giai đoạn 2004-2008 đã cho chúng ta một cái nhìn khá rõ
về chất lượng tăng trưởng dưới góc độ hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, việc tính toán năng suất của lao động và vốn như trên không tách được tác động riêng phần của từng nhân tố với tăng trưởng Cụ thể hơn, năng suất của nhân tố này cũng chịu tác động từ sự thay đổi của nhân tố kia Ví dụ, năng suất lao động có thể tăng lên do đầu tư gia tăng Để đánh giá được chất lượng của tăng trưởng kinh tế cũng như đánh giá các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, ta phải xem xét đến năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Tăng trưởng TFP thể hiện cả hiệu quả khoa học – công nghệ lẫn hiệu quả
sử dụng các nguồn lực Kết quả nghiên cứu của Lê Dân trong bài viết giới thiệu bản chất của TFP và phương pháp nghiên cứu sự biến động của nó cho thấy: trong giai đoạn 1991-1996, tăng trưởng TFP là nhân tố quyết định tăng trưởng GDP, nhưng trong giai đoạn 1997 – 2004, tăng trưởng GDP được quyết định bởi tăng vốn là chủ yếu
2.3 Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
2.3.1 Đánh giá vai trò của nguồn vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam