ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG --- HOÀNG ANH HUY Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nguy cơ tổn thương và đề xuất định hướng ứng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
HOÀNG ANH HUY
Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nguy cơ tổn thương và đề xuất định hướng ứng phó tại
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - Năm 2012
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và được coi là thách thức lớn cho phát triển bền vững (PTBV) [IPCC, 2007]
Việt Nam được đánh giá là một trong số rất ít các quốc gia bị tác động nặng nề nhất của BĐKH, đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi nước biển dâng [WB, 2007; Bộ TN&MT, 2008, 2009, 2011]
Quy Nhơn là thành phố ven biển duyên hải miền Trung, có địa hình đa dạng: miền núi, đồng bằng, cồn cát ven biển, hải đảo và Quy Nhơn hội đủ các loại hình thiên tai có ở Bình Định Trong bối cảnh BĐKH hiện nay, những hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng, bão và áp thấp nhiệt đới… ở địa bàn miền Trung nói chung và thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nói riêng xuất hiện ngày càng phức tạp và gây ra những thiệt hại nặng nề về người và của
Hiện nay trên phạm vi cả nước, các Bộ, ngành và các địa phương đang xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (phê duyệt năm 2008)
và Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu (phê duyệt năm 2011) Trong bối cảnh đó, đề tài của luận án được
xác định là: “Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nguy cơ tổn thương và đề xuất định hướng
ứng phó tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là:
- Xác định được các biểu hiện và xu hướng BĐKH tai địa bàn nghiên cứu;
- Đánh giá được tác động của BĐKH và nguy cơ tổn thương do BĐKH đối với các lĩnh vực và khu vực;
- Trên cơ sở đó đề xuất được các định hướng ứng phó với BĐKH cho thành phố Quy Nhơn, góp phần thực hiện Kế hoạch hành động của tỉnh Bình Định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các yếu tố khí hậu và các lĩnh vực chịu tác động của BĐKH, bao gồm một số ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Tài nguyên nước, Đa dạng sinh học, Thủy sản, Giao thông vận tải, Du lịch…
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi thời gian
Trang 4Luận án được tiến hành từ năm 2008 đến 2012 Đối với các số liệu đánh giá diễn biến khí hậu, thiên tai/các hiện tượng thời tiết cực đoan và nước biển dâng tại thành phố Quy Nhơn được phân tích trong thời gian
từ năm 1957 đến năm 2020
3.2.2 Phạm vi không gian
Phạm vi không gian của nghiên cứu là thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án đã đánh giá một cách tương đối đầy đủ và toàn diện về biểu hiện, diễn biến, tác động của BĐKH và nguy cơ tổn thương do BĐKH tới các lĩnh vực, khu vực và đề xuất các định hướng ứng phó với BĐKH trên địa bàn nghiên cứu, đóng góp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh Bình Định
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết qủa của Luận án có thể được sử dụng như cơ sở khoa học và thực tiến cho việc hoạch định các chính sách liên quan tới BĐKH và cho các hoạt động quản lý, thích ứng và giảm nhẹ BĐKH của chính quyền và công đồng địa phương
5 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm những phần chính như sau:
Phần mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài, Mục tiêu, Đối tượng, Phạm vi và Ý nghĩa của đề tài
Chương 1: Cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu
Chương 2: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
BĐKH, tác động và ứng phó với nó là một quá trình phức tạp và được chia thành 7 pha (phase) kế tiếp nhau bao gồm: i) Pha 1: Hoạt động kinh tế xã hội và phát thải khí nhà kính; Pha 2: Chu kỳ cácbon và nồng độ cácbon trong khí quyển; Pha 3: Ấm lên toàn cầu; Pha 4: Tác động tới các HST và xã hội; Pha 5: Thích ứng; Pha
Trang 56: Giảm nhẹ; và Pha 7: Hệ thống xã hội Cơ sở khoa học để hiểu biết tường tận các pha này, nhất là pha 4, 5, 6
kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu BĐKH Ba nhiệm vụ này là một quá trình logic không đồng thời và phải được thực hiện một cách tuần tự
Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định - địa bàn nghiên cứu của luận án, BĐKH và nước biển dâng đã có những tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường Với mục đích làm rõ được vấn
đề khí hậu đã và sẽ biến đổi như thế nào, từ đó đánh giá được tác động của BĐKH làm cơ sở cho việc đề xuất kế hoạch thích ứng với BĐKH và giảm thiểu BĐKH sẽ góp phần phục vụ phát triển bền vững thành phố Quy Nhơn nói riêng và cả nước nói chung
1.2 Những khái niệm
Biến đổi khí hậu (Climate Change), theo IPCC (2007), là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu,
có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành
phần cấu tạo của khí quyển
Kịch bản Biến đổi khí hậu (Scenario), theo IPCC, kịch bản BĐKH là bức tranh toàn cảnh của khí hậu
trong tương lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu
Trang 6những hậu quả của BĐKH do con người gây ra và thường được dùng như là đầu vào cho các quy mô đánh giá
tác động
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability) là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống;
khi đó tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới [IPCC,1996]
Ứng phó với biến đổi khí hậu (Response) là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH Thích ứng (adaptation) với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT - XH đối với hoàn cảnh hoặc môi
trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và
tận dụng các cơ hội do nó mang lại Giảm nhẹ (mitigation) BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải KNK
Xây dựng năng lực (capacity building) trong bối cảnh BĐKH là quá trình phát triển các kỹ năng công
nghệ và những năng lực thể chế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi để giúp họ có thể tham gia vào tất cả các lĩnh vực: thích ứng, giảm nhẹ và nghiên cứu về BĐKH nhằm thực hiện Công ước Khung của
Liên Hợp Quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto [Trương Quang Học, 2011]
1.3 Biến đổi khí hậu: lịch sử, nguyên nhân, biểu hiện, tác động và ứng phó
Khí hậu trái đất đã nhiều lần biến đổi do tự nhiên những thời kỳ băng hà xen lẫn những thời kỳ ấm lên của trái đất đã từng xảy ra cách đây hàng triệu năm Và từ năm 1750 đến nay trái đất đang nóng lên với một tốc
độ rất nhanh tạo ra những thay đổi đáng kể trong hệ thống khí hậu mà hiện chúng ta gọi là BĐKH
Nguyên nhân của BĐKH được các nhà khoa học nhận định chủ yếu là do những hoạt động phát triển KT
- XH đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S, các khí CFCs và nhất là CO2) trong khí quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu
Các biểu hiện chính của BĐKH là: 1) Trời nóng hơn, thời tiết bất thường hơn; 2) NBD cao và xâm nhập mặn tăng cường; 3) Các dạng thiên tai như bão lũ, hạn hán, nắng nóng, rét hại… có xu hướng bất thường và khốc liệt hơn… [Trương Quang Học, 2011]
BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm cả các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu Các tác động này là thách thức đối với các quốc gia trên toàn thế giới
1.4 Tổng quan tài liệu
1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề BĐKH đã được Arrhenius, một nhà khoa học người Thụy Điển, đề cập đến lần đầu tiên năm
1896 Đến cuối thập niên 1980, khi nhiệt độ bắt đầu tăng lên, các nghiên cứu về hiện tượng nóng lên toàn cầu được các nhà khoa học bắt đầu quan tâm nhiều hơn
Năm 1988, Tổ chức liên Chính phủ về BĐKH của Liên hiệp quốc (IPCC) ra đời đã đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành động của toàn thế giới trước thảm họa BĐKH toàn cầu Các báo cáo của IPCC là cơ
Trang 7sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio
de Janeiro,1992; Hội nghị các bên nước tham gia Công ước khung của LHQ về BĐKH (từ COP 1 đến COP 18)
và của các Hiệp ước quốc tế như UNFCCC, KP…
Trong phạm vi các nước Đông Nam Á cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu như của Manton và cs (2001) đã xem xét xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái Bình Dương Đánh giá tác động và những tổn thương của BĐKH đến khu vực đô thị có Satterthwaite (2009)
Có lẽ chi tiết nhất về các nhân tố khí hậu và các dạng hạ tầng chịu tác động của BĐKH được nêu trong nghiên cứu của Hayes (2008)
Đánh giá tác động của BĐKH đến riêng từng đối tượng hạ tầng đô thị cũng được thực hiện khá nhiều trong những năm gần đây như đối với hệ thống cấp-thoát nước [Watt, 2003; Denault và nnk., 2002] mạng lưới giao thông vận tải đô thị [Brennan và nnk., 2008; Inturri và Ignaccolo, 2009] các công trình nhà ở [UN Habitat, 2009; Lippke, 2006; Riedy, 2008] trung tâm thương mại [Diana Ürge - Vorsatz, 2007], các công trình ngầm [Bobylev và nnk., 2008]
Laboyrie (2010) trong công trình ”Những biện pháp thích ứng với BĐKH ở Hà Lan” để ứng phó và
thích ứng với BĐKH đã đề xuất xây dựng hệ thống công trình chống lũ Delta Work dọc bờ biển và cải tạo hệ thống đê
Như vậy, hiện nay việc nghiên cứu, đánh giá BĐKH, tác động của BĐKH cũng như đề xuất các giải pháp, chiến lược và kế hoạch ứng phó với BĐKH đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cần được thảo luận Thêm vào đó các nghiên cứu dựa vào cộng đồng (community-based) đã không được chú trọng [Reidlinger and Berkes, 2001] và các sản phẩm của mô hình khí hậu toàn cầu và các kịch bản là quá thiếu các thông tin chi tiết phục vụ quy hoạch có hiệu quả và các biện pháp thích ứng ở quy mô địa phương [Jones, 2001; Dolan và Walker, 2004]
1.4.2 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập niên 90 của thế kỷ XX Năm 1992,
các nhà khoa học đã thực hiện và công bố báo cáo “BĐKH và tác động của chúng ở Việt Nam”
Về BĐKH, ở Việt Nam đến nay đã có nhiều công trình được công bố như các công trình của Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu (1991), Nguyễn Đức Ngữ và cs (2008) Liên quan đến vấn đề thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực tài nguyên nước và phòng chống thiên tai lũ lụt trong các công bố của Trần Thục (2001) Trần Hồng Thái (2009), Nguyễn Thanh Sơn (2011) Từ năm 1994 đến 1998, Nguyễn Đức Ngữ và nnk đã hoàn thành kiểm kê quốc gia KNK đến năm 1993, xây dựng các phương án giảm KNK ở Việt Nam, đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực KT - XH, xây dựng kịch bản BĐKH ở Việt Nam cho các năm 2020, 2050, 2070
Ngày 02/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 158/2008/QĐ–TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH (NTP-RCC) Kể từ đó, nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng đã được triển khai Một số cơ quan, ban, ngành chuyên phụ trách về vấn đề BĐKH cũng đã được thành lập nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về BĐKH và tác động của nó Nhiều dự án do nước ngoài tài trợ đã được
Trang 8triển khai nhằm đánh giá tác động của BĐKH và năng cường năng lực, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước những tác động của BĐKH
Về đánh giá tổn thương, Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2002, 2005, 2009) đã nghiên cứu đánh giá tính
dễ bị tổn thương về môi trường, vùng ven biển Việt Nam, đới duyên hải Nam Trung Bộ, đới ven biển Phan Thiết
- Hồ Tràm, tài nguyên địa chất tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Cũng theo hướng nghiên cứu này, Thái Thành Lượm và
nnk (2008) đã đánh giá mức độ tổn thương hệ thống tự nhiên kinh tế - xã hội vùng biển Hà Tiên - vịnh Cây Dương (Kiên Giang) Nguyễn Kim Lợi (2012) đã nghiên cứu Đánh giá tính dễ bị tổn thương do trượt lở đất ở Việt Nam Võ Hồng Tú và nnk (2012) đã đánh giá tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang
và các giải pháp ứng phó Thiên về hướng rủi ro kinh tế Tô Ngọc Thúy và nnk (2010) đã nghiên cứu đánh giá tổn thương do nước biển dâng đến từng ngành kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế
Và đáng chú ý trong thời gian này phải kể đến những nghiên cứu của Trương Quang Học theo hướng tiếp cận xuyên ngành trong ứng phó với BĐKH và phát triển bền vững – một vấn đề mang tính liên ngành trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay [Trương Quang Học, 2010, 2012]
Qua kết quả tổng hợp nêu trên cho thấy, ở Việt Nam bước đầu đã có những nghiên cứu về vấn đề BĐKH Tuy nhiên, chúng ta chưa có những nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên và KT - XH của Việt Nam Trong đó, nghiên cứu đánh giá tổn thương do tác động của BĐKH đến Việt Nam nói chung và những khu vực, địa phương cụ thể cũng chưa được thực hiện đầy đủ Vì vậy, hướng nghiên cứu này trong thời gian tới cần phải được tiếp tục triển khai
Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu được lựa chọn bao gồm toàn bộ thành phố Quy Nhơn (gồm 16 phường và 5 xã)
2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến 2012
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp luận
Tiếp cận hệ thống và liên ngành – dựa trên HST là cách tiếp cận chủ đạo cho nghiên cứu thực hiện luận án BĐKH mang tính hệ thống vùng, quốc gia và toàn cầu Mối quan hệ giữa các yếu tố BĐKH với các lĩnh vực khác nhau, các thành phần môi trường tự nhiên và môi trường xã hội mà nó tác động và tính chống chịu-thich ứng của các hệ thống này trong một vùng địa lý cụ thể là một thể thống nhất, có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau trong từng hệ thống: hệ thống tự nhiên, hệ thống xã hội và tổng hòa là hệ thống hệ sinh thái – xã hội
Con người, theo quan niệm hiện đại, đã trở thành trung tâm của HST (hệ sinh thái xã hội), với hai nghĩa: i) Con người là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh mẽ nhất, và ii) Các hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hướng tới và đem lại phúc lợi cho con người [MEA, 2005] Vì vậy, cách tiếp cận hệ sinh thái/dựa trên
hệ sinh thái (do Công ước Đa dạng sinh học đề xuất) là một chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh vật); và gần đây, đã được áp dụng rộng rãi trong phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi
Trang 9khí hậu Cách tiếp cận dựa vào HST trong giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH nhằm mang đến những giải pháp
ứng phó có tính bền vững và thích hợp cho từng khu vực, từng quốc gia cụ thể
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong Luận án là các phương pháp được dùng phổ biến hiện nay trong nghiên cứu-triển khai về BĐKH trên thế giới và ở Việt Nam Gồm:
2.3.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu (số liệu thứ cấp)
2.3.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa (thu thập số liệu sơ cấp)
2.3.2.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)
2.3.2.4 Các phương pháp đánh giá nguy cơ tổn thương và khả năng thích ứng
2.3.2.5 Phương pháp xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu cấp địa phương
2.3.2.6 Phương pháp xây dựng kịch bản nước biển dâng cấp địa phương
2.3.2.7 Phương pháp xây dựng bản đồ nguy cơ tổn thương
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và định hướng phát triển của thành phố Quy nhơn, tỉnh Bình Định
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bình Định, có chiều dài bờ biển hơn 40 km, diện tích
tự nhiên khoảng 284 km2, dân số 282.600người, được chia thành 21 đơn vị hành chính (16 phường và 5 xã) trong đó có 04 xã đảo, bán đảo và 1 xã miền núi, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của cả tỉnh Bình Định Hai mặt tây và bắc thành phố giáp và phân cách với huyện Tuy Phước bởi sông Hà Thanh, phía nam giáp
và phân cách với tỉnh Phú Yên bởi dãy núi Cù Mông ăn lan ra biển, phía đông là biển Đông
Quy Nhơn có 10 xã phường nằm sát mép biển và một xã đảo Nhơn Châu Địa hình thành phố đa dạng: miền núi, đồng bằng, cồn cát ven biển, và hải đảo, rất thuận lợi cho việc đón các hoàn lưu khí quyển từ biển tràn vào gây mưa to, gió lớn, ngập lụt; Mặt khác do địa hình vùng núi rất ngắn và dốc không có khả năng điều tiết lũ nên dòng chảy lũ rất lớn, dễ gây sạt lở Tuy nhiên khi hết mưa là hết nước, nắng nóng triền miên bởi vậy Quy Nhơn hội đủ các loại hình thiên tai có ở Bình Định
Những năm gần đây, nét nổi bật nhất trong quá trình phát triển thành phố Quy Nhơn là tốc độ đô thị hóa
và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng Năm 2005, tỷ trọng cơ cấu kinh tế trong GDP như sau: nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ lần lượt đạt: 8,9% - 46,7% - 44,4% Đến cuối năm 2007, tỷ lệ này là: 7,2% – 49,5% – 43,3% Năm 2010 là: 5% - 50% - 45% Đến năm 2013 tỷ lệ này là: 3% - 52%- 45% Như vậy trong tương lai, Quy Nhơn sẽ trở thành thành phố Công nghiệp và dịch vụ
Các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2015: Tổng sản phẩm địa phương (GDP) tăng bình quân hằng năm 13%-14%; GDP bình quân đầu người năm 2015 trên 2000 USD Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm bình quân hằng năm các ngành: nông lâm – ngư nghiệp tăng 6,5%; công nghiệp xây dựng tăng 19,6% (Riêng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,7%); dịch vụ tăng 12,7% Cơ cấu kinh
Trang 10tế (năm 2015): nông – lâm – ngư nghiệp 26,2%, công nghiệp và xây dựng 36,1%, dịch vụ tăng 37,7% 100% rác thải sinh hoạt ở thành phố Quy Nhơn và 70% các đô thị, 100% chất thải công nghiệp, chất thải y tế được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường
Về định hướng phát triển địa giới hành chính thành phố, dự kiến đến năm 2020 Quy Nhơn sẽ có 7 quận gồm 30 phường, xã với diện tích lên đến 335 km2 tương ứng với quy mô dân số 500 nghìn người Thành phố sẽ phát triển về hướng Bắc, Tây Bắc gồm: thị trấn Diêu Trì, một phần các xã Cát Tiến, Cát Chánh, Cát Hải – huyện Phù Cát và các xã Phước An, Phước Thành, Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hòa, Phước Thắng – huyện Tuy Phước [Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Quy Nhơn đến năm 2020]
3.2 Tình hình biến đổi khí hậu tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
3.2.1 Diễn biến khí hậu trong thời gian qua và tình hình hiện nay
3.2.1.1 Xu thế biến đổi nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình nhiều năm ở Quy Nhơn vào khoảng 27.20C Trong xu thế biến đổi khí hậu chung của toàn cầu nhiệt độ ở Quy Nhơn có sự thay đổi đáng kể, đó là sự gia tăng của nhiệt độ đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây Nhiệt độ trung bình năm ở Quy Nhơn từ 1979 đến 2010 có xu thế tăng, mức tăng trung bình là 0.007oC/năm
3.2.1.2 Xu thế biến đổi mưa
Trong những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu nên lượng mưa ở Quy Nhơn có những thay đổi đáng kể, trong chuỗi số liệu từ năm 1979 đến 2010 lượng mưa ở Quy Nhơn có xu hướng tăng với tốc độ 16.459mm/năm
3.2.1.3 Xu thế dâng lên của mực nước
Tốc độ biến đổi của mực nước trung bình năm tại trạm Quy Nhơn giảm khoảng -0.165cm/năm, trong khi mực nước tối cao dâng lên khoảng 0.095 cm/năm và mực nước tối thấp hạ xuống khoảng -0.6cm/năm Giá trị cực đại của trạm Quy Nhơn không tăng liên tục, có năm tăng có năm giảm nhưng nhìn chung xu thế trong nhiều
năm thì lại tăng, còn xu thế của giá trị mực nước trung bình và mực nước cực tiểu lại giảm
3.2.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
3.2.2.1 Gió tây khô nóng
Hạn hán và gió Tây khô nóng hoành hành sớm từ đầu tháng 5 và kéo dài theo từng đợt từ 7 - 9 ngày, có
năm hiện tượng nắng kéo dài suốt cả tháng (28 ngày của tháng 5/2005)
3.2.2.2 Bão và áp thấp nhiệt đới
Mùa bão ở thành phố Quy Nhơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung được xác định từ tháng IX đến tháng XII hàng năm, nhiều nhất là tháng X và tháng XI, nhưng cũng có năm từ giữa tháng VI đã có bão đổ bộ (bão số 2 ngày 12/VI/2004, bão số 2 ngày 30/VI/1978 đều đổ bộ vào Bình Định) Theo số liệu thống kê từ năm
1998 đến năm 2011, số cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ và gây ảnh hưởng rất lớn đến tỉnh Bình Định
3.2.2.3 Mưa lớn
Đây là dạng đặc thù thiên tai nguy hiểm thứ hai cho Quy Nhơn (sau bão), một năm trung bình có tới 137 ngày mưa, lượng mưa năm trung bình lớn nhất của Quy Nhơn xuất hiện vào năm 1998 đạt 2.889mm Bên cạnh
Trang 11đó còn có các tác động đáng kể như xói lở, sạt lở bờ biển và ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh bắt thủy
sản, tiêu thoát nước, giao thông, thủy lợi Mưa lớn cũng xảy ra bất thường trong 3 năm gần đây
3.2.2.4 Lũ, lụt
Diện tích chịu ngập lũ hàng năm ước tính chiếm 30% diện tích tự nhiên của thành phố Quy Nhơn Vùng thường xuyên ngập vào mùa lũ thuộc hạ lưu các sông và ven đầm Thị Nại bao gồm Phường Nhơn Bình , Nhơn Phú, Trần Quang Diệu
3.2.2.5 Hạn hán
Nắng nóng gió Tây trong mùa khô, nhiệt độ cao, lượng bốc hơi lớn kéo dài và thêm vào đó là địa hình dốc, ngắn các lưu vực sông nên các con sông không trữ được nước trong mùa mưa gây nên tình trạng hạn hán rất nghiêm trọng tại Quy Nhơn Mùa khô kéo dài 8 tháng, hàng năm thường bị hạn hán xảy ra vào vụ hè thu và vụ mùa
3.2.2.6 Nước biển dâng
Phân tích hiện trạng tại xã bán đảo Nhơn Lý (Thành phố Quy Nhơn) cho thấy: So với 15-20 năm trở về trước trình trạng triều cường ngày một dâng cao sát vào nhà dân Cách đây 20 năm các hộ dân sống ở vùng sát biển cách xa mặt nước biển khoảng chừng 500m, mặt nước thấp hơn khoảng 2-3m so với hiện nay Hiện tượng xâm thực của thuỷ triều đã tàn phá khoảng 3 lớp nhà và một số công trình công cộng
3.2.3 Kịch bản biến đổi khí hậu của thành phố Quy Nhơn
3.2.3.1 Kịch bản về nhiệt độ
Từ kết quả tính toán kịch bản nhiệt độ không khí bề mặt trung bình theo các kịch bản phát thải khác nhau
Kết quả chỉ ra rằng nhiệt độ trung bình thành phố Quy Nhơn và tỉnh Bình Định trong thế kỷ 21 có xu hướng tăng dần theo thời gian, với mức tăng trong mùa tháng III – V cao hơn so với các mùa khác trong năm, thấp nhất là mùa tháng
VI – VIII Vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm theo các kịch bản phát thải cao (A1FI) , trung bình (B2) và thấp (B1) có khả năng tăng khoảng 1,30C, 1,20C và 1,10C Đến cuối thế kỷ 21, mức tăng của nhiệt độ trung bình năm theo các kịch bản là 2,90C, 2,30C và 1,50C
3.2.3.2 Kịch bản Lượng mưa
Lượng mưa qua các thập kỷ ở Bình Định nói chung và thành phố Quy Nhơn nói riêng, trong mùa khô có
xu hướng giảm, mùa mưa có xu hướng tăng, trong đó tốc độ tăng ở mùa mưa nhanh hơn so với mức giảm vào mùa khô Vào giữa thế kỷ 21, lượng mưa năm theo kịch bản phát thải cao (A1FI) là 3,8%, kịch bản phát thải trung bình (B2) là 3,6 và kịch bản thấp (B1) là 3,4% Đến cuối thế kỷ, mức tăng lượng mưa theo các kịch bản này là 8,9%, 7,0% và 4,6%
3.2.3.3 Nước biển dâng
Theo kết quả tính toán, mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu cao nhất vào năm 2100 cho khu vực Bình Định khoảng 83 - 97 cm đối với kịch bản cao(A1FI) và 52 - 65 cm đối với kịch bản thấp (B1) , đối với kịch bản trung bình (B2) , mực nước dâng 61 -74 cm Trong 50 năm đầu của thế kỉ, mực nước biển dâng với tốc độ chậm hơn (chỉ khoảng 15-20 cm/50 năm) so với 50 năm sau của thế kỷ
Trang 123.3 Tác động và tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu
3.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu
Tác động đối với tính mạng con người/ sinh kế/thu nhập
- Các phường: Hải Cảng, Ghềnh Ráng, Trần Phú
- Những người nghèo, ngư dân sống trong khu vực,
- Đổ nhà cửa, mất tài sản
- Mất diện tích, canh tác, NTTS
- Giảm sản lượng, thu nhập
- Du lịch: giảm nguồn thu từ du lịch (phường Ghềng Ráng)
- Sạt lở đường ven biển
- Trôi bãi thể thao (Nhơn Hải)
- Sạt lở hệ thống đê biển (đê Đông)
- Sạt lở cảng cá (Cảng cá Cù Lao Xanh, Xã Nhơn Châu)
Mưa, gió lớn
gây ngập lụt,
lũ quét
Các phường: Nhơn Bình, Nhơn Phú, Đống Đa, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Thị Nại, Trần Phú
Các xã: Nhơn Hội, Phước Mỹ, Nhơn
- Thiệt hại hoa màu,
- Sập các chuồng chăn nuôi (P Trần Hưng Đạo)
- NTTS: Vỡ các ao, đầm nuôi (phường Đống Đa, xã Hoài Nhơn)
- Mất tài sản: tàu
bè đánh cá, phụ nữ
bị mất việc làm, ảnh hưởng thu nhập của cả gia đình…
- Du lịch: giảm lượng khách du lịch
- Giao thông: Sạt lở, mất một số đoạn đường, phá hủy bề mặt, ta luy đường (phường Nhơn Bình); bồi lấp các
âu tàu
- Điện: đổ cột, đứt dây, hư hỏng TBA
- Thông tin liên lạc: gãy trụ ăng ten (Nhơn Hội)
- Thủy lợi: sạt lở đê sông, đê biển (Nhơn Phú); sạt lở kênh (Phước Mỹ); sạt lở mặt đê hồ Phú Hòa;
- Hệ thống thoát nước: mất nắp cống, (phường Quang Trung)
- Trường học, bệnh, chợ viện bị hư hỏng
Trang 13- Các cảng cá, khu neo đậu tránh bão, trên địa bản TP Quy Nhơn đều bị tác động
Ô nhiễm môi
trường
Phường Nhơn Bình, Nhơn Phú, Đống Đa, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Xã Nhơn Hội, xã Phước Mỹ, Nhơn Lý, Nhơn Châu, Nhơn Hải
- Trẻ em, người già
- Nhóm lao động tự
do, nhập cư không hợp pháp
- Nhóm dân sống ở gần khu vực tiêu thoát nước (hồ Bàu Sen, Hồ Phú Hòa…)
- Dịch bệnh, sức khỏe
- Tăng chi phí chăm sóc sức khỏe,
vệ sinh môi trường
- Giảm năng suất lao động
- Chi phí quản lý, vận hành các hệ thống tiêu thoát nước tăng
- Giảm nguồn hải sản đánh bắt
- Ăn mòn các công trình cấp, thoát nước
Triều
cường gây
ngập lụt
Các phường xã trực tiếp với biển như P
Nguyễn Văn Cừ, Ghềnh Ráng, Trần Phú, Hải Cảng, Nhơn Hải, Nhơn Lý, Nhơn Châu
- Những người nghèo, ngư dân sống trong khu vực
- Người già, trẻ em, người tàn tật
- Trần Phú
Những người nghèo, ngư dân sống trong khu vực
- Đổ nhà cửa, mất tài sản (chìm tàu, thuyền )
- Giảm diện tích:
canh tác, NTTS, làm muối
- Mất giống do lụt tiểu mãn;
- Giảm sản lượng, thu nhập
- Du lịch: giảm nguồn thu từ du lịch (phường Ghềng Ráng)
- Giao thông: sạt lở đường ven biển
- Thủy lợi: sạt lở hệ thống đê biển (đê Đông), công trình dưới đê
- Ngư dân
- Người nghèo
- Diêm dân
- Dân sống vùng trũng
- Thiệt hại hoa màu;
- Giảm sản lượng đánh bắt
- Tăng chi phí vận
- Giao thông: phá hủy bề mặt, ta luy đường
- Thủy lợi: sạt lở đê sông, đê biển, sạt lở