Bên cạnh đó, làm thể nào để quản lý, vận hành và phát triển có hiệu quả nhất các dự án, vừa đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, xã hội cho Thành phố, vừa đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu
Trang 1Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Quản lý và phát triển các dự án bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội -
thực trạng và giải pháp
Trang 2MỤC LỤC
1.1.1.4 Điều kiện để bất động sản trở thành hàng hoá 9
1.1.2 Kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản 10 1.1.3
Thị trường bất động sản 12
1.1.3.2 Các yếu tố cấu thành thị trường bất động sản 13
1.1.4 Quản lý thị trường bất động sản và quản lý bất động sản 15
1.2 Vai trò của việc quản lý và phát triển bất động sản trong nền kinh
18 tế quốc dân
1.2.1 Làm tăng giá trị của đất đai và thúc đẩy sản xuất phát triển
1.2.2 Huy động vốn cho nền kinh tế
1.2.3 Làm tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước 20
1.3.3 Kinh nghiệm đền bù giải phóng mặt bằng và quản lý hiện tượng bong 28
bóng nhà đất của Trung Quốc 1.3.4 Hệ thống quản lý bất động sản Torrens của Australia 31
2.1.1 Tình hình đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản tại Việt Nam 34
2.1.2 Những nhân tố tác động đến đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất 36 động sản tại Việt Nam
Trang 32.2 Tình hình đầu tư và kinh doanh bất động sản tại Hà Nội 44
2.2.1 Tầm quan trọng của việc phát triển các dự án bất động sản có vốn 44 đầu tư
nước ngoài tại Hà nội
2.2.2 Những thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất 46 động
sản ở Hà Nội
2.2.3 Tình hình kinh doanh bất động sản ở Hà Nội hiện nay 48
2.2.3.1 Tình hình kinh doanh văn phòng cho thuê 49
2.2.3.5 Tình hình kinh doanh các khu trung tâm thương mại 58
2.2.4 Những hạn chế của việc đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản 59
tại Hà Nội
2.3 Tình hình quản lý bất động sản tại Hà nội 64
2.3.1 Hoạt động quản lý của các chủ đầu tư dự án bất động sản 64
2.3.1.1 Nội dung công việc quản lý bất động sản 64
2.3.1.2 ưu điểm và hạn chế của việc tự quản lý bất động sản 65
2.3.2 Hoạt của các công ty quản lý bất động sản chuyên nghiệp 66
2.3.2.1 Lĩnh vực đầu tư và phát triển khách sạn 66
2.3.2.2 Lĩnh vực đầu tư văn phòng, căn hộ và trung tâm thương mại 67
2.3.2.3 ưu điểm và hạn chế của việc thuê công ty quản lý 68
2.4.1 Dự án Mặt trời Sông Hồng (Sun Red River) – Văn phòng và căn hộ 70 cho
thuê
2.4.1.3 Các nguyên nhân thành công và hạn chế của dự án 71
2.4.2 Dự án xây dựng và kinh doanh khách sạn Sheraton 75
2.4.2.3 Các nguyên nhân thành công và hạn chế của dự án 76
2.5 Quản lý của Thành phố Hà Nội đối với các dự án đầu tư nước 79 ngoài vào lĩnh vực bất động sản
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC QUẢN LÝ
VÀ PHÁT TRIỂN CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI
3.1 Những cơ hội và thách thức đối với lĩnh vực đầu tư bất động sản 80 Hà Nội
trong thời gian tới
3.2 Các xu hướng đầu tư vào bất động sản tại Việt nam 84 3.2.1 Đầu tư vào các dự án tổ hợp văn phòng, căn hộ, trung tâm thương 84 mại và khách sạn
3.2.2 Đầu tư vào các vị trí đất đẹp, thuận tiện kinh doanh với qui mô lớn 84
3.2.3 Đầu tư vào các thành phố và phát triển khu đô thị mới 85
3.2.4 Đầu tư có sự kết hợp giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài 86
3.2.5 Các nhà đầu tư Châu á vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu đầu tư theo 87
nước 3.2.6 Các quỹ đầu tư phát huy vai trò xúc tiến đầu tư vào bất động sản 87
3.2.7 Sự mở rộng của các công ty kinh doanh bất động sản hiện nay 88
Trang 43.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý và phát triển các dự 88 án bất
động sản có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội
3.3.1.1 Các giải pháp từ phía chính phủ 89
3.3.1.2 Các giải pháp từ UBND thành phố Hà Nội 91
3.3.2 Các giải pháp từ phía các doanh nghiệp 99
3.3.2.1 Mở rộng dịchvụ và tạo sự khác biệt 99
3.3.2.2 Thuê dịch vụ quản lý và marketing chuyên nghiệp 100
3.3.2.3 Thành lập hiệp hội các nhà đầu tư bất động sản Hà Nội 102
3.3.2.4 Chuyển nhượng cổ phần trong các công ty liên doanh bất động sản
103
KẾT LUẬN
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2007Bảng 2.2 Tốc độ tăng GDP của Việt Nam những năm gần đâyBảng 2.3 Kết quả thu hút vốn ĐTNN của Hà Nội trong những năm gần đây Bảng 2.4 Phân hạng các toà nhà
Biểu 2.1 Diện tích cho thuê và diện tích còn trống tại các toà nhà văn phòng
hạng A và hạng B Biểu 2.2 Giá thuê trung bình của văn phòng hạng A tại Hà nội Biểu 2.3 Căn hộ cho thuê trong Quý 1/2007 và tỷ lệ còn trống Biểu 2.4 Giá thuê phân theo loại hình căn hộ (USD/m2/tháng)
Trang 5Biểu 2.5 Giá bán căn hộ tại một số dự án tiêu biểu
Biểu 2.6 Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam 1990 – 2006
Biểu 2.7 Hiệu suất sử dụng phòng trung bình và giá phòng tại các khách sạn 5 sao
Biểu 2.8 Diện tích và giá thuê tại các trung tâm thương mại Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất cứ quốc gia nào, phát triển kinh tế luôn đi cùng với sự phát triển của các dự án bất động sản Là một nước có nền kinh tế đang đổi mới, Việt nam lại càng cần thiết phải chú ý vào việc phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó có các dự
án bất động sản để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển các nguồn lực trong nước
Trong hai thập kỷ gần đây, một trong những thay đổi mà bất cứ người dân nào cũng có thể nhận thấy, đó là sự xuất hiện của những toà nhà văn phòng, khách sạn, căn hộ, trung tâm thương mại… do nước ngoài đầu tư xây dựng và quản lý Những công trình này đã làm cho thành phố trở nên hiện đại hơn, ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, khi Việt nam gia nhập WTO, nhu cầu về văn phòng, khách sạn, nhà ở,… và các dịch vụ có liên quan sẽ tăng lên rất nhanh chóng Để có thể có thể trở thành một thủ đô ngang tầm với các nước phát triển khác ở khu vực, Hà nội vẫn đang rất cần có thêm nhiều dự án như vậy Bên cạnh đó, làm thể nào để quản lý, vận hành và phát triển có hiệu quả nhất các
dự án, vừa đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, xã hội cho Thành phố, vừa đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư luôn là thách thức đối với các cơ quan chính quyền
và các nhà đầu tư, kinh doanh và quản lý bất động sản trong và ngoài nước Nhận thấy tầm quan trọng của việc quản lý và phát triển các dự án bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà nội, tác giả quyết định chọn đề tài “Quản lý
và phát triển các dự án bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà nội: Thực trạng và Giải pháp” cho luận văn thạc sỹ của mình
Trang 6
2 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới đã có rất nhiều các đề tài, sách giáo khoa, báo, tạp chí và các
diễn đàn về quản lý và phát triển bất động sản như “Kinh tế học đô thị và thị
trường bất động sản” của tác giả Denise DePasquale & William C Wheaton; “Xây
dựng thị trường bất động sản ở các nền kinh tế chuyển đổi” của Gavin Adlington
và nhiều tác giả, “Các thể chế về đất đai và thị trường bất động sản” của Klaus
Deininger, và các báo cáo của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Tổ
chức Lương thực Thế giới, Tại Việt nam hiện nay cũng có nhiều bài báo và
một số công trình nghiên cứu về bất động sản, tiêu biểu như : “Đề án phát triển
thị trường bất động sản” (Đề án của Bộ Xây dựng tháng 2/2004); “Chiến lược và
quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và thị trường bất động sản” (PGS TS Ngô
Doãn Vịnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
và TS Lưu Đức Hải, Phụ trách ban nghiên cứu các ngành dịch vụ, Viện Chiến
lược và Phát triển); “Chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào thị trường
bất động sản” Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về các dự án bất
động sản ở khía cạnh đầu tư nước ngoài và việc quản lý, phát triển những dự án
này Vì vậy, đây sẽ là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về việc
quản lý và phát triển các dự án bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó,
tác giả nghiên cứu vấn đề cơ sở lý luận về bất động sản, tình hình đầu tư nước
ngoài vào các dự án bất động sản ở Việt nam và Hà nội Tác giả cũng thu thập và
tổng hợp những quan điểm, ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu
tư dự án bất động sản và các nhà quản lý bất động sản đối với vấn đề này hiện
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý và phát triển các dự án bất động sản
có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam và Hà nội;
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường việc quản lý và phát triển các dự
án bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài tốt hơn, để Hà nội ngày càng phát triển trở thành một thủ đô có tầm cỡ sánh ngang các nước trong khu vực và trên thế giới trong bối cảnh Việt nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nói trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về bất động sản, thị trường bất động sản và quản lý kinh doanh bất động sản
- Đánh giá chung về thực trạng quản lý và phát triển các dự án bất động sản
có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam và Hà nội,
- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý và phát triển các dự án này tốt hơn
-
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu -
Đối tượng nghiên cứu:
+ Các lý luận chung về bất động sản, quản lý và kinh doanh bất động sản + Tình hình quản lý và phát triển các dự án bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay và việc quản lý, kinh doanh và phát triển bất động sản của các nhà đầu
tư và các công ty bất động sản
Trang 7
- Phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ luận văn và thời gian có hạn, đề tài
chỉ nghiên cứu một số lý luận chung về bất động sản, thị trường bất động sản và
quản lý bất động sản, phân tích thực trạng hoạt động quản lý và phát triển các dự
án bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, vì khái niệm bất động sản
rất rộng lớn và số lượng các dự án bất động sản ở Việt nam rất nhiều nên trong
phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ giới hạn tập trung vào nghiên cứu sự quản
lý và phát triển của các dự án bất động sản với ý nghĩa là những công trình xây
dựng vốn đầu tư nước ngoài đưa vào kinh doanh văn phòng, căn hộ, khách sạn và
trung tâm thương mại tại Hà nội
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mac- Lênin về duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, đề tài còn áp dụng các phương pháp
nghiên cứu khác như nghiên cứu tại địa bàn, phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, diễn giải, quy nạp và phỏng vấn một
số người có trách nhiệm trong các cơ quan quản lý nhà nước và các công ty kinh
doanh và quản lý bất động sản
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Tổng quan về bất động sản và quản lý bất động sản
Chương 2: Tình hình quản lý và phát triển các dự án bất động sản có vốn đầu tư
nước ngoài tại Hà nội
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý và phát triển các dự án
bất động sản có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà nội
Do còn hạn chế về thời gian, nguồn tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm của bản thân, nội dung của luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, các độc giả và những người quan tâm đến luận văn này Xin trân trọng cảm ơn
Chương 1:
“Về mặt luật pháp, đó là khái niệm chỉ đất và hầu hết những thứ gắn với nó
với quyền sở hữu từ dưới lòng đất lên đến không gian Về mặt kinh tế, đó là khái niệm chỉ các tài sản dưới dạng đất đai hoặc công trình xây dựng và các hoạt động liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng và chuyển nhượng các tài sản này” [25]
Theo cách định nghĩa như trên, BĐS không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người gắn liền với các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng và tất cả những gì liên quan hay gắn liền đến đất đai theo không gian ba chiều (chiều cao, chiều sâu, chiều rộng) để tạo thành một dạng vật chất có cấu trúc và công năng được xác
Trang 8định và bao gồm cả những quyền sở hữu, sử dụng và chuyển nhượng kèm theo
đó
Ở Việt Nam, trước khi ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995, trong hệ thống
pháp luật cũng như trong quản lý và hoạt động kinh tế, chúng ta rất ít khi sử dụng
các thuật ngữ bất động sản và động sản Trong pháp luật kinh tế trước đây thường
sử dụng thuật ngữ tài sản cố định, tài sản lưu động và xác định nội hàm của chúng
Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2005 đã phân chia tài sản theo thông lệ và tập quán
quốc tế thành bất động sản và động sản Trong đó, điều 174 quy định:
“Bất động sản là các tài sản không di dời được bao gồm đất đai, nhà ở, các
công trình xây dựng gắn liền với đất đai kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công
trình xây dựng ở đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai và các tài sản khác do
pháp luật quy định Động sản là những tài sản không phải bất động sản” [6]
Trong khái niệm trên yếu tổ không thể di dời được coi là tiêu thức đầu tiên
trong việc xác định BĐS Ngoài ra, khái niệm này còn liệt kê thứ tự các yếu tố
không thể di dời được như nhà xây trên đất, vật xây dựng khác gắn liền với nhà
và các tài sản cố định khác do pháp luật qui định bởi vì trong BĐS còn chứa các
tài sản cố định Như vậy, không kể các tài sản cố định theo cách thống kê kế toán
(tàu thuỷ, máy bay, ô tô, máy móc, thiết bị ) là vật có thể di dời được song không
phải là BĐS, BĐS chỉ bao gồm các tài sản cố định gắn với đất và nhà mà thôi
Khái niệm của Bộ Luật Dân sự Việt Nam đưa ra nhìn nhận BĐS một cách bao
quát nhất, phổ biến nhất là đất và vật kiến trúc trên đất Khái niệm này sẽ được tác
giả sử dụng xuyên suốt đề tài nghiên cứu
1.1.1.2 Phân loại bất động sản
Theo khái niệm đã nêu trên thì BĐS có rất nhiều loại Tuỳ theo mục đích
nghiên cứu và tiếp cận khái niệm BĐS, có nhiều cách phân loại BĐS
Về mặt quản lý xây dựng và phát triển BĐS, có thể chia BĐS thành ba nhóm:
+ BĐS có đầu tư xây dựng: Gồm BĐS nhà ở, nhà xưởng, công trình thương
mại dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ sở làm việc, Trong nhóm này, BĐS nhà đất (gồm đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai) là nhóm BĐS cơ bản., tính chất phức tạp rất cao và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Nhóm này cũng tác động lớn đến quá trình phát triển của nền kinh tế và phát triển đô thị bền vững Nhóm này chiếm tuyệt đại đa
số các giao dịch trên thị trường BĐS ở tất cả các nước trên thế giới
+ BĐS không đầu tư xây dựng: BĐS ở nhóm này chủ yếu là đất nông nghiệp
(dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất hiếm
+ BĐS đặc biệt: Là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di
sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đền chùa, nghĩa trang, Nhóm này có đặc điểm
là khả năng tham gia thị trường rất thấp
Về mặt kinh tế, nhiều luật gia và nhà kinh tế trên thế giới đã phân chia bất động sản thành 5 loại chủ yếu theo từng lĩnh vực:
+ Nhà ở là loại bất động sản được sử dụng làm nơi cư ngụ cho các gia đình,
cá nhân + Bất động sản công nghiệp gồm nhà làm việc của các doanh nghiệp, xưởng máy, nhà kho, các nhà máy điện, nhà máy nước
+ Bất động sản nông nghiệp bao gồm các đồn điền, trang trại, vườn cây lâu năm, rừng khai thác gỗ, trại chăn nuôi, đất canh tác rau quả, các trại nuôi trồng thuỷ sản,
+ Bất động sản thương mại bao gồm các toàn nhà văn phòng, trung tâm thương mại, căn hộ cho thuê, khách sạn, nhà hàng, các bãi đỗ xe, các tiện nghi công ích, khu vui chơi, thể thao,
Trang 9+ Bất động sản sử dụng cho mục đích chuyên biệt bao gồm giảng đường,
trường học, bất động sản thuộc nhà nước quản lý và sử dụng,
Dù phân loại theo cách nào, cũng có thể thấy một cách hiểu phổ biến về
BĐS là: BĐS là những tài sản vật chất không thể di dời, tồn tại và ổn định lâu
năm Như vậy, tài sản có thể coi là BĐS khi có các điều kiện sau:
- Là một yếu tố vật chất có ích cho con người;
- Được sở hữu (chiếm giữ) bởi cá nhân hay cộng đồng người;
- Có thể đo lường được bằng giá trị nhất định;
- Không thể di dời hoặc di dời hạn chế để tính chất, công năng, hình thái của
nó không thay đổi; - Tồn tại lâu dài
1.1.1.3 Đặc điểm của bất động sản
Bất động sản có những đặc điểm khác biệt so với những hàng hoá khác, nhưng
đặc điểm nổi bật nhất của BĐS là BĐS có tính cố định và giá trị của nó phụ thuộc
nhiều vào mục đích sử dụng
+ Tính cố định: là đặc trưng khác biệt của BĐS so với các loại hàng hoá
khác Đặc tính này đòi hỏi phải có phương thức giao dịch và quản lý hoạt động
giao dịch khác với các thị trường hàng hoá khác Với các hàng hoá khác, người
bán và người mua có thể di chuyển hàng hoá tuỳ ý nhưng điều này hầu như không
thể thực hiện đối với BĐS Hàng hoá BĐS không thể đem đi trưng bày ở nơi khác
mà thường phải được giới thiệu thông qua hình ảnh, bản vẽ hoặc các tài liệu, hình
thức mô tả khác Vì đặc điểm này mà việc quản lý BĐS có thể được thực hiện dễ
dàng hơn cho dù có thay đổi nhiều chủ sở hữu Pháp luật qui định việc giao dịch
BĐS thông qua các chứng từ, chứng thư về quyền sử dụng và phải được đăng ký
với cơ quan có thẩm quyền nhằm mục đích quản lý chặt chẽ BĐS và bảo vệ quyền
lợi của chủ sở hữu Tính cố định còn làm cho hàng hoá BĐS mang tính địa điểm
và tính địa phương rất cao Cùng một loại BĐS nhưng ở những địa điểm khác
nhau thì có những giá trị rất khác nhau Ví dụ, cùng loại BĐS giống nhau nhưng
ở vị trí trung tâm thành phố thì giá trị khác với ngoại ô, ở đô thị lớn thì khác với các thị trấn nhỏ hoặc tỉnh lẻ Tính cố định này đã đặt ra vấn đề phải có sự điều tiết thị trường BĐS khác so với các thị trường hàng hoá thông thường, thông qua
dự báo và kế hoạch tạo lập chủ động của chính quyền địa phương để điều tiết cung cầu
+ Giá trị BĐS: BĐS thường được coi là các tài sản có giá trị lớn và có thể
gia tăng giá trị (thông qua đầu tư, kinh doanh…) Do đó, BĐS trở thành đối tượng
để đầu tư hoặc đơn giản là để bảo toàn giá trị đồng tiền tích luỹ và cũng là đối tượng thu hút đầu cơ Giá trị BĐS đất đai có đặc thù rất khác biệt so với các BĐS khác Giá trị của BĐS đất đai phụ thuộc vào mục đích sử dụng chúng, hay nói cách khác, là phụ thuộc vào sự tác động của yếu tố con người làm tăng khả năng sinh lời của BĐS Ví dụ, khi đất đai được quy hoạch vào sản xuất nông nghiệp hoặc lâm nghiệp thường có giá trị thấp hơn so với trường hợp đất đai đó được quy hoạch phát triển nhà ở hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại, Nói một cách khác, công tác quy hoạch có vai trò ảnh hưởng quyết định đối với giá trị BĐS nói chung
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói riêng
+ Tính hữu hạn: Bất động sản đất đai là loại tài sản bị hạn chế về mặt gia
tăng về số lượng Bản thân đất không tự sinh sôi thêm được mà chỉ có thể có các công trình được xây trên đất Quỹ đất là có giới hạn và do đó, việc xây dựng cũng không thể là vô hạn Đặc điểm này sẽ làm cho có lúc đất đai trở nên khan hiếm cho một mục đích đầu tư nào đó và giá đất sẽ bị biến động theo Vì vậy, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải có sự nghiên cứu rất kỹ trước khi đưa ra một bản quy hoạch phát triển cho một vùng, một khu vực nào đó để tránh đầu tư lãng phí, kém hiệu quả
1.1.1.4 Điều kiện để BĐS trở thành hàng hoá
Trang 10Theo định nghĩa của kinh tế học cổ điển, để của cải nói chung trở thành hàng hoá
thì xã hội phải có sự phần công lao động đến một mức độ nhất định, đồng thời
phải có sự cách biệt tương đối giữa các chủ thể sản xuất Đối với những hàng hoá
đặc biệt thì phải có những điều kiện đặc biệt
Đất là tài nguyên khi nó thuần tuý là sản vật của tự nhiên, do thiên nhiên mang
đến cho con người Đất có khả năng sinh lời nhưng sẽ không sinh lời nếu không
có bàn tay lao động của con người
Đất sẽ trở thành hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt nếu nó hội tụ các
điều kiện sau:
+ Đất phải là sản phẩm của lao động do con người bỏ công sức khai phá,
giữ gìn
+ Đất phải có quyền sở hữu, quyền sử dụng tách biệt một cách rõ ràng và
được pháp luật thừa nhận mới đem trao đổi, giao dịch được như đem cho thuê,
đem chuyển nhượng, thế chấp,
Để đất trở thành hàng hoá, có ba điều cần chú ý sau:
+ Hàng hoá theo đúng nghĩa thì cần phải là vật có ích, và tính có ích phải
do con người tạo ra chứ không phải do thiên nhiên trao tặng và nó phải có ích cho
người khác, cho xã hội chứ không phải cho bản thân người làm ra nó Như vậy,
đất mới có giá trị trao đổi
+ Bản thân đất rất quý nhưng chính quyền sở hữu và sử dụng nó mới có giá
trị trao đổi Có các cấp độ khác nhau về quyền sở hữu, có thể là quyền sở hữu
tuyệt đối hoặc quyền thuê đất trong một thời gian nhất định theo một hợp đồng
thuê đất với nhà nước hoặc người sở hữu đất Tài sản cố định trên đất cũng có
quyền sở hữu và sử dụng và có giá trị trao đổi
+ Ở Việt nam và một số nước trên thế giới hiện nay vẫn có sự tách rời giữa
quyền sở hữu và quyền sử dụng đất Trong đó, đất thuộc sở hữu toàn dân mà nhà
nước là người đại diện, chỉ có quyền sử dụng đất mới là hàng hoá Điều này cũng
được quy định rõ trong Luật Đất đai của Việt Nam: “Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” [8] Luật Đất đai cũng đồng thời quy định
các loại đất được tham gia thị trường BĐS cũng như các điều kiện để đất tham gia thị trường BĐS
1.1.2 Kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản
Trong kinh tế học, khái niệm kinh doanh có thể được hiểu như sau: “Kinh
doanh là một khoa học xã hội trong việc quản lý con người để tổ chức và duy trì năng suất tập thể để hoàn thành các mục đích sản xuất và sáng tạo, thông thường nhằm mục đích thu được lợi nhuận” [20] Một cách diễn giải khái niệm này là
kinh doanh là các hoạt động của con người nhằm mục đích thu được lợi nhuận
Luật Doanh nghiệp của Việt nam cũng đưa ra khái niệm: “Kinh doanh là việc thực
hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [7] Kinh doanh bất động sản theo đó có nghĩa là các hoạt động của con
người liên quan đến BĐS nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận Vì bất động sản là một loại hàng hóa đặc biệt nên việc kinh doanh bất động sản cũng có những điểm khác với kinh doanh những loại hàng hoá khác Theo Luật Kinh doanh BĐS Việt Nam
thì: “Hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm kinh doanh bất động sản và
kinh doanh dịch vụ bất động sản” [12] Như vậy, trong lĩnh vực bất động sản, có
hai khái niệm tách rời là kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản
Cũng theo định nghĩa của Luật Kinh doanh BĐS Việt Nam thì “Kinh doanh
bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi” [13] Các đối tượng thực hiện hoạt động này là các nhà đầu tư phát
Trang 11triển BĐS, các quỹ phát triển BĐS, các nhà đầu cơ BĐS, các đối tác góp vốn trong
dự án dưới các hình thức như tiền, đất, công nghệ,
Trong khi đó “Kinh doanh dịch vụ BĐS là các hoạt động hỗ trợ kinh doanh
BĐS và thị trường BĐS, bao gồm các dịch vụ môi giới BĐS, định giá BĐS, sàn
giao dịch BĐS, tư vấn BĐS, đấu giá BĐS, quảng cáo BĐS, quản lý
BĐS”[14] Tham gia vào hoạt động này có các công ty tư vấn đầu tư, các công ty
môi giới BĐS, các công ty quản lý BĐS, các đại lý marketing, các công ty kiểm
toán, đấu giá, công ty chứng khoán,
Tuy là những khái niệm tách rời nhau nhưng hoạt động kinh doanh BĐS và
kinh doanh dịch vụ BĐS luôn luôn đi gắn liền nhau và có tác động qua lại và ảnh
hưởng tới nhau trong việc phát triển BĐS Việc kinh doanh BĐS không thể thành
công được nếu như không có sự tồn tại của hoạt động kinh doanh dịch vụ BĐS
Cũng như vậy, nếu không có hoạt động kinh doanh BĐS thì kinh doanh dịch vụ
BĐS cũng không tồn tại Ví dụ, khi tìm đất đầu tư và xây dựng thì chủ đầu tư
(người kinh doanh BĐS) luôn phải có sự giúp đỡ của công ty tư vấn, môi giới
(người kinh doanh dịch vụ BĐS), ngược lại, phải có nhu cầu của các các nhà đầu
tư BĐS thì các công ty tư vấn, môi giới và quản lý mới phát triển đựơc công việc
kinh doanh của họ Khi có càng nhiều dự án kinh doanh BĐS ra đời thì sẽ có càng
nhiều người tham gia kinh doanh dịch vụ BĐS
1.1.3 Thị trường bất động sản
1.1.3.1 Khái niệm thị trường bất động sản
Thị trường là một khái niệm thường xuyên được nhắc tới trong kinh doanh
Một trong những khái niệm chung nhất về thị trường là: “Thị trường là một sự
sắp đặt xã hội cho phép những người mua và người bán tìm hiểu thông tin và thực
hiện việc trao đổi tự nguyện các hàng hóa và dịch vụ” [24] Hiện nay cũng chưa
có một khái niệm chính tắc nào được đưa ra cho thị trường BĐS Tuy nhiên, do
những đặc điểm riêng của hàng hoá BĐS, từ khái niệm tổng quát có thể có các cách hiểu về thị trường BĐS như sau:
+ Thị trường BĐS là thị trường của hoạt động mua bán, trao đổi, cho thuê, thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng BĐS theo các quy luật của thị trường và
sự quản lý của nhà nước
+ Thị trường BĐS là tổng hoà các giao dịch về BĐS tại một địa bàn nhất định, trong một thời gian nhất định
+ Thị trường BĐS là tổ chức các quyền có liên quan đến BĐS sao cho chúng
có thể trao đổi lấy giá trị giữa các cá nhân hoặc các chủ thể tham gia thị trường Các quyền này độc lập với các đặc tính vật chất của BĐS Khái niệm này nghiêng
về thị trường BĐS như một mô hình, tổ chức để các quyền liên quan đến đất được thực hiện một cách độc lập
Tuy nhiên, các cách hiểu trên đều có một điểm chung khái quát về thị trường BĐS, đó là tổng hoà các quan hệ giao dịch về BĐS được thực hiện thông qua các quan hệ hàng hoá tiền tệ Cụ thể hơn, đó là tổng hoà các quan hệ trao đổi hàng hoá BĐS (các quan hệ giao dịch giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu
về BĐS) và thực hiện các quan hệ chuyển dịch về giá trị BĐS Như vậy, sự ra đời
và phát triển của thị trường BĐS gắn liền với quá trình đất đai chuyển thành hàng hoá do tất yếu của nhu cầu sử dụng đất và sự phát triển của các hoạt động kinh tế
xã hội Trên thực tế, nội dung cơ bản của thị trường BĐS và cũng là cách quan niệm phổ biến hiện nay về thị trường BĐS theo nghĩa hẹp, đó là thị trường nhà đất vì trong thị trường BĐS, thị trường nhà đất được hình thành rõ rệt nhất và vận hành sôi động nhất Thị trường nhà đất được hiểu là nơi diễn ra các hành vi mua
và bán hàng hoá quyền sử dụng đất đai, công trình xây dựng cũng như dịch vụ gắn liền với hàng hoá đó Quá trình trao đổi quyền sử dụng đất luôn vận động và phát triển làm cho các phương thức giao dịch, trao đổi cũng diễn ra nhiều dạng khác nhau
Trang 12Bất động sản khác với các hàng hoá khác ở chỗ nó không chỉ được mua
bán, mà còn là đối tượng của nhiều giao dịch khác như cho thuê, thế chấp, chuyển
dịch quyền sử dụng Kinh doanh BĐS chính là các hoạt động của các cá nhân hoặc
tổ chức trên thị trường bất động sản nhằm mục đích sinh lời Các hoạt động này
có thể là đầu tư, cho thuê, quản lý, chuyển nhượng BĐS,… và các dịch vụ kèm
theo như môi giới, tư vấn, đánh giá bất động sản,… Do đó, thị trường BĐS hoàn
chỉnh không thể chỉ là quan hệ giữa người mua và người bán về BĐS mà còn là
nơi diễn ra các giao dịch liên quan đến BĐS như cho thuê, thế chấp, bảo hiểm hay
chuyển dịch quyền sử dụng bất động sản… và các giao dịch trên thị trường BĐS
cũng chịu tác động bởi các quy luật như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy
luật cạnh tranh, như trên các thị trường hàng hoá khác
1.1.3.2 Các yếu tố cấu thành thị trường bất động sản
Dưới góc độ kinh tế thương mại, thị trường BĐS được nhìn nhận trên cơ sở tổng
thể các yếu tố cấu thành của thị trường này, bao gồm:
+ Hàng hoá BĐS: đất đai, công trình trên đất,
+ Các lực lượng tham gia thị trường BĐS: Người mua, người bán, nhà đầu
tư, nhà quản lý, người trung gian, người thuê và cho thuê BĐS,
+ Cơ sở vật chất hạ tầng của thị trường BĐS: Nơi diễn ra các hoạt động trao
đổi, các phương tiện hỗ trợ cho việc trao đổi, mua bán, giao dịch, phương tiện
thông tin, cơ sở pháp lý,
+ Cơ chế vận hành của thị trường: Sự quản lý của nhà nước và sự điều tiết
của các quy luật trên thị trường
Như vậy, phát triển thị trường BĐS chính là thúc đẩy sự phát triển của các yếu
+ Có cơ chế đảm bảo thị trường vận hành theo các quy luật của thị trường + Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin, sàn giao dịch trao đổi BĐS, + Phát triển các phương thức và công cụ điều tiết của nhà nước nhằm đảm bảo tính định hướng và sự ổn định của thị trường
1.1.3.3 Đặc điểm của thị trường bất động sản
+ Những đặc điểm giống với thị trường các hàng hoá khác:
- Thị trường BĐS cũng phải chịu tác động của các qui luật thị trường như các thị trường hàng hoá khác như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, qui luật cạnh tranh,…và chịu ảnh hưởng của các nhân tố như cung, cầu về BĐS,
số lượng các giao dịch về BĐS, giá cả, cạnh tranh, các chính sách của nhà nước và chính quyền địa phương
- Quyền sở hữu và quyền sử dụng BĐS được pháp luật bảo vệ Việc giao dịch và kinh doanh BĐS luôn yêu cầu sự minh bạch, công khai
+ Những đặc điểm riêng của thị trường BĐS:
- Phương thức chuyển nhượng đặc biệt: Do BĐS không phải là hàng hoá thông thường, quyền sở hữu và quyền sử dụng BĐS bị tách rời nhau nên khi mua bán, chuyển nhượng hàng hoá BĐS, phải có cơ chế để quyền sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế Việc mua bán, chuyển nhượng BĐS luôn kèm theo hợp đồng, chứng thư
- Chi phí chuyển nhượng đặc biệt: Việc mua bán chuyển nhượng BĐS luôn
có các chi phí giao dịch BĐS như thuế trước bạ, phí quản lý, thuế giá trị gia tăng, thuế chuyển nhượng, phí công chứng, phí luật sư, phí hoa hồng cho môi giới, thông tin, Theo thông lệ thì tổng phí giao dịch BĐS hợp lý chiếm khoảng từ 6% đến 8% giá mua bán, chuyển nhượng BĐS Việc định
Trang 13giá khung tổng hợp các chi phí giao dịch, dịch vụ và thuế là do các cơ quan
chức năng của nhà nước thực hiện Thuế sử dụng đất là thuế trả hàng năm
tính theo hoa lợi thu trên đất Nhìn chung thì thuế sử dụng đất không ảnh
hưởng nhiều đến thị trường BĐS nhưng trong việc định giá BĐS, thuế sử
dụng đất cũng được xem là một yếu tố giúp định giá BĐS chính xác hơn
- Thị trường BĐS có liên quan mật thiết đến thị trường tín dụng BĐS Bởi vì
muốn thị trường BĐS hình thành và phát triển thì phải có cơ chế tín dụng
BĐS như tín dụng cho người mua, tín dụng thế chấp, các khoản vay đầu tư
dài hạn Ở các nước có thị trường BĐS phát triển thì lượng tín dụng BĐS
lại càng cao và có xu hướng hình thành những ngân hàng chuyên nghiệp về
tín dụng BĐS trong nền kinh tế
1.1.4 Quản lý thị trường bất động sản và quản lý bất động sản
Một trong những khái niệm khái quát nhất về quản lý là: “Quản lý là quá
trình lãnh đạo và hướng dẫn toàn bộ hoặc một phần của một tổ chức, thường là
một doanh nghiệp, thông qua việc triển khai và điều khiển các nguồn lực (con
người, tài chính, nguyên vật liệu, tri thức hoặc tài sản vô hình)”[25] Trong lĩnh
vực BĐS, quản lý là quá trình thực hiện và phối hợp các chức năng hoạch định,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động trong thị trường BĐS trong sự tác
động của hệ thống quản lý đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu thông
qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý Có thể chia hoạt động quản
lý thành hai cấp độ: 1.1.4.1 Quản lý thị trường bất động sản
Vai trò quản lý thị trường bất động sản là thuộc trách nhiệm của nhà nước Quản
lý của nhà nước đối với thị trường BĐS là một quá trình thực hiện và phối hợp
bốn loại chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát đối với các giao
dịch trên thị trường BĐS nhằm thúc đẩy sự phát triển tích cực của thị trường này
Đối với thị trường BĐS, quản lý nhà nước có những vai trò sau:
+ Định hướng: Nhà nước định hướng và hướng dẫn các doanh nghiệp trong
các hoạt động đầu tư và kinh doanh trên thị trường BĐS nhằm khai thác mọi tiềm năng phát triển thị trường thông qua các chiến lược, quy hoạch, các chương trình mục tiêu, các kế hoạch, chính sách và các quy định pháp luật
+ Tạo lập môi trường kinh doanh: nhà nước tạo lập và cải thiện môi trường
kinh doanh cho các doanh nghiệp thông qua việc khai thông các quan hệ thương mại trên thị trường BĐS và ban hành hệ thống pháp luật đồng bộ như ban hành Luật đầu tư, luật kinh doanh bất động sản, luật thuế, Nhà nước cũng thông qua các quan hệ đối ngoại của mình để thu hút đầu tư, huy động vốn cho việc phát triển thị trường BĐS
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực BĐS: Trong quá
trình quản lý kinh tế và thương mại, nhà nước luôn sử dụng quyền lực và khả năng của mình để hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua các chính sách xây dựng, tín dụng, lãi suất, tỷ giá, các loại quỹ đầu tư, và các công ty tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, nhà nước cũng quan tâm phát triển những lĩnh vực khác nhằm hỗ trợ cho các hoạt động của thị trường bất động sản như thông tin, xúc tiến thương mại,
+ Giải quyết các mâu thuẫn trên thị trường: Nhà nước chính là chỗ dựa
cho doanh nghiệp trong việc giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong giao dịch trên thị trường như mâu thuẫn giữa các chủ thể kinh doanh với nhau, mâu thuẫn trong việc thực hiện các quy định về thuế, thủ tục hành chính pháp luật, thông qua hệ thống luật pháp, các quy định, chuẩn mực và bộ máy tổ chức của mình nhằm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế, xã hội trong lĩnh vực BĐS và tạo động lực phát triển kinh tế Thị trường và doanh nghiệp không thể tự mình giải quyết những mâu thuẫn này
+ Điều tiết thị trường bất động sản: Thị trường điều tiết cung cầu và giá
cả theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Nhưng nhà nước đóng vai trò chủ đạo
Trang 14trong nhận thức và chủ động sử dụng các biện pháp công cụ để can thiệp thị trường
nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó Nhà nước không trực
tiếp tham gia vào các nghiệp vụ kinh doanh BĐS mà chỉ tạo môi trường thuận lợi
giúp các chủ thể kinh doanh pháp huy lợi thế so sánh, khai thác nội lực và nâng
cao hiệu quả hoạt động
1.1.4.2 Quản lý bất động sản
Bên cạnh việc quản lý của nhà nước đối với thị trường bất động sản còn có
hoạt động quản lý BĐS của các chủ đầu tư của dự án BĐS hoặc các công ty đứng
ra quản lý BĐS thay mặt cho chủ đầu tư một dự án Ở Việt Nam , nói đến quản
lý BĐS, trước đây người ta chỉ nghĩ tới việc quản lý của nhà nước bằng các chính
sách, biện pháp áp dụng đối với bất động sản và việc kinh doanh BĐS (mà chủ
yếu là đất đai) Tuy nhiên, sau khi thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư
của nước ngoài vào thị trường bất động sản, khái niệm quản lý BĐS (real estate
management/ property management) ngày càng trở nên phổ biến đối với các nhà
đầu tư BĐS Khi nhiều dự án bất động sản thương mại được xây dựng và đưa vào
hoạt động thì nảy sinh nhu cầu quản lý vận hành những BĐS này, vì phần lớn
chúng được đem vào bán hoặc cho thuê Do đó, trên thị trường BĐS, cùng với
việc tăng lên của số lượng các nhà đầu tư và các dự án BĐS, các tập đoàn, công
ty quản lý và tiếp thị BĐS cũng ra đời và ngày càng mở rộng hoạt động của mình
Trên thế giới, quản lý BĐS được hiểu là:
“Việc quản lý đất đai và các công trình xây dựng gắn liền với nó bằng một
loạt các chức năng liên quan đến đất đai và các công trình xây dựng đó, bao gồm
thu tiền thuê nhà/đất, thanh toán các chi phí, sửa chữa, bảo dưỡng công trình,
cung cấp các dịch vụ kèm theo, bảo hiểm, giám sát công việc của các nhân viên,
đàm phán với các khách hàng (thuê hoặc mua) hiện tại và khách hàng tiềm
năng ” [27]
Luật Kinh doanh BĐS của Việt Nam cũng đưa ra khái niệm dịch vụ quản
lý BĐS là: “Hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản
được chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng BĐS uỷ quyền thực hiện thực hiện việc bảo quản, giữ gìn, trông coi, vận hành và khai thác bất động sản theo hợp đồng quản
lý bất động sản” [15] Như vậy, về cơ bản, quan điểm của nhà nước Việt Nam về
quản lý BĐS cũng gần với những khái niệm được đưa ra trên thế giới Phạm vi công việc và trách nhiệm quản lý giữa chủ sở hữu (chủ đầu tư) BĐS
và khách thuê (khách hàng) phụ thuộc vào các điều khoản và điều kiện thuê BĐS Chủ đầu tư có thể tự thực hiện các công việc này hoặc giao lại một số hoặc toàn
bộ các hạng mục đó cho một hoặc một số công ty hoặc đại lý BĐS thực hiện Toàn
bộ những thoả thuận của chủ đầu tư và công ty quản lý sẽ được thể hiện trong hợp đồng quản lý được ký kết giữa hai bên Trong đó sẽ có các quy định về quyền hạn
và trách nhiệm của các bên, bao gồm cả việc thanh toán các chi phí Quản lý hoặc phân chia doanh thu, lợi nhuận hoặc lỗ từ việc kinh doanh
Về bản chất, quản lý BĐS cũng là một loại dịch vụ trong kinh doanh BĐS Dịch vụ này được cung cấp bởi những công ty chuyên nghiệp và đang ngày càng chứng tỏ ưu thế của mình trong việc kinh doanh các dự án BĐS có vốn đầu tư lớn, nhất là khi nó được cung cấp từ các công ty đã xây dựng được thương hiệu hoặc
uy tín cho mình
1.2 Vai trò của việc quản lý và phát triển BĐS trong nền kinh tế quốc dân
1.2.1 Làm tăng giá trị đất đai và thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong sự phát triển các dự án BĐS, đặc biệt là BĐS thương mại, có thể dễ dàng nhận thấy là số lượng các công trình xây dựng ngày càng tăng lên Điều này làm phong phú thêm các hình thức của tài sản BĐS và làm tăng thêm giá trị của đất nơi có công trình xây dựng đó Đồng thời, việc phát triển các dự án BĐS sẽ kéo theo nhu cầu về một loạt nhu cầu về vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, trang
Trang 15thiết bị, công nghệ xây dựng, thông tin Khi phát triển các dự án BĐS thì các
ngành sản xuất cung cấp những hạng mục này cũng phát triển theo, từ những hạng
mục như sản xuất sắt thép, xi măng, gạch ốp lát, sơn, đến máy móc thiết bị như
máy phát điện, điều hoà, bơm nước, và các hàng hoá tiêu dùng như đồ nội thất,
đồ nhà bếp, Nếu việc quản lý BĐS tốt và thị trường BĐS phát triển mạnh thì
nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá khác cũng tăng lên và ngược lại
Đối với các nhà đầu tư hoặc kinh doanh bất động sản, khi việc kinh doanh
bất động sản phát triển thuận lợi họ sẽ tiếp tục đầu tư, mở rộng hoạt động kinh
doanh của mình, thậm chí sử dụng lợi nhuận từ việc kinh doanh BĐS để đầu tư
vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác để tăng khả năng sinh lời và giảm rủi ro
Do đó, vốn sẽ chuyển dịch từ thị trường BĐS sang thị trường khác và làm ngành
sản xuất kinh doanh đó phát triển 1.2.2 Huy động vốn cho nền kinh tế
Khi việc phát triển các dự án BĐS góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển thì
bản thân nó đã là quá trình tăng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Sự phát triển
của BĐS chính là sự tăng lên của tài sản cố định trong xã hội, và là nguồn vốn đầu
tư phát triển quan trọng trong nền kinh tế quốc dân BĐS là đối tượng để đầu tư
trong thời gian dài, là nơi gom vốn và có thể chuyển vốn từ người này sang người
khác thông qua giao dịch mùa bán Vì BĐS có giá vốn trên thị trường, nên BĐS
có thể được chuyển thành tiền thông qua việc bán hay vay vốn tín dụng bằng thế
chấp Kinh doanh phát triển BĐS thường mang lại lợi nhuận lớn, do vậy sức hấp
dẫn vốn đầu tư vào BĐS lớn, thu hút được vốn đầu tư trong và ngoài nước Khi
việc vận hành, quản lý và kinh doanh BĐS phát triển, tốc độ chu chuyển của vốn
nhanh hơn, đó chính là một cách bổ sung thêm vốn cho đầu tư phát triển Bản thân
sự vận hành của khu vực BĐS sẽ mang đến những hiệu quả lớn theo cấp số nhân
trong vòng quay kinh tế nhờ sự liên hệ mật thiết và đa dạng, tạo ra cầu về những
hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra bởi nền kinh tế trong nước Các giao dịch
thế chấp BĐS để vay vốn, góp vốn liên doanh bằng BĐS là những giao dịch làm
tăng thêm vốn cho đầu tư phát triển Trong kinh doanh BĐS, khi thực hiện thế chấp BĐS, nguồn vốn được tăng lên gấp đôi vì nhờ đó, huy động được vốn nhàn rỗi mà BĐS vẫn sử dụng phát huy được tác dụng Góp vốn liên doanh bằng BĐS chính là tạo ra vốn đối ứng để thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế
1.2.3 Tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước
Hoạt động của các công ty quản lý và kinh doanh BĐS sẽ tác động tới BĐS
và mang lại những kết quả là:
+ Làm tăng giá trị của bất động sản: Từ một mảnh đất các nhà đầu tư bỏ vốn xây dựng công trình, từ vận hành và khai thác công trình sẽ làm phát sinh thêm doanh thu và lợi nhuận
+ Kích thích các trao đổi hàng hoá BĐS trên thị trường, làm tăng các quan
hệ giao dịch về BĐS, khối lượng giao dịch cũng nhiều hơn do quá trình mua đi, bán lại, thuê đi, thuê lại…
Những tác động đó đã góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế: thuế từ hoạt động xây dựng, tư vấn, thiết kế, thuế mua bán BĐS, chuyển nhượng BĐS, thuế trước bạ, thuế kinh doanh môi giới BĐS, thuế thu nhập doanh nghiệp (từ các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cho thuê BĐS), thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (đối với những dự án có vốn đầu tư nước ngoài), thuế thu nhập cá nhân (với các doanh nhân nước ngoài và những nhân viên Việt Nam có thu nhập cao từ hoạt động kinh doanh BĐS), thuế chuyển nhượng cổ phần (với các doanh nghiệp chuyển đổi hình thức đầu tư hoặc thay đổi đối tác), Ngoài ra, nhà nước sẽ có được thêm doanh thu từ các ngành sản xuất kinh doanh phục vụ cho việc phát triển các dự án BĐS
Kinh doanh và phát triển BĐS góp phần quan trọng trong việc khai thác và
sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, tận dụng và phát triển BĐS để đáp
Trang 16ứng nhu cầu của nhân dân, tăng nguồn thu ngân sách cho nhà nước Những vùng
đất giá trị thấp hoặc đang khai thác hiệu quả thấp, sau khi quy hoạch sẽ có giá trị
tăng lên, nhân dân được đáp ứng về nhu cầu cư trú, làm việc Khi nhu cầu tiêu
dùng BĐS tăng lên (nhu cầu về nhà ở, văn phòng, khách sạn ), nhu cầu về các
tiện ích sinh hoạt cũng tăng lên như điện, nước, gas, viễn thông, và nhà nước sẽ
có thêm nguồn thu lớn từ các dịch vụ tiện ích này
1.2.4 Mở rộng các thị trường trong và ngoài nước, mở rộng quan hệ quốc tế
Thị trường chung của mỗi quốc gia là một thể thống nhất của các loại thị
trường vốn, thị trường lao động, thị trường hàng hoá, thị trường BĐS Do đó, sự
phát triển của hoạt động kinh doanh BĐS có ảnh hưởng đến tất cả các thị trường
đó và thị trường chung của mỗi quốc gia Tác giả Hernando De Soto, nguyên cố
vấn về kinh tế và chính trị cho Tổng thống Peru, trong cuốn Mystery of Capital
đã viết: “Sự khác biệt quan trọng nhất giữa các nền kinh tế phát triển và kém phát
triển là sự tồn tại hay không tồn tại một thị trường BĐS hữu hiệu và hiệu quả”[6]
Khi thị trường BĐS phát triển, nó sẽ yêu cầu thị trường vốn phải phát triển theo
để đầu tư phát triển Nếu có nhiều giao dịch BĐS được thực hiện hoặc nhiều dự
án đầu tư vào BĐS để xây dựng, bán và cho thuê, vốn đổ vào thị trường sẽ tăng
lên Các ngân hàng sẽ hoạt động tích cực hơn nhờ các nghiệp vụ cho vay, định
giá, thế chấp, vốn nhàn rỗi sẽ được đưa vào thị trường Khi đó, thị trường sức
lao động và thị trường các loại hàng hoá, trong đó có các hàng hoá đầu vào cho
thị trường BĐS như vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị vận hành trong các toà
nhà, đồ trang trí nội thất, kỹ thuật công nghệ, cũng phát triển theo tương ứng
Đồng thời, khi một công trình xây dựng vào sử dụng và kinh doanh, chẳng hạn,
một khách sạn 5 sao, sẽ đòi hỏi một loạt dịch vụ đi kèm: dịch vụ làm sạch, dịch
vụ bảo dưỡng máy móc thiết bị (điều hoà trung tâm, máy phát điện, hệ thống cung
cấp nước, hệ thống cứu hoả, ), dịch vụ cây cảnh, dịch vụ giặt là, dịch vụ an ninh
bảo vệ, Như vậy, người chủ của khách sạn này phải ký hợp đồng với một loạt các nhà cung cấp những dịch vụ nói trên với chất lượng tương xứng với toà nhà của mình Khi nhiều toà nhà làm khách sạn được đưa vào sử dụng, chẳng những thị trường cho thuê khách sạn phát triển mà sẽ kéo theo sự phát triển của các thị trường dịch vụ phục vụ cho dịch vụ cho thuê khách sạn và sự phát triển này cũng
có cạnh tranh, đặc biệt là khi các khách sạn cũng cạnh tranh lẫn nhau về chất lượng dịch vụ Điều đó cho thấy, khi thị trường bất động sản sôi động, nó kích thích những thị trường khác phát triển
Trong hội nhập quốc tế, thị trường trong nước gắn chặt với thị trường ngoài nước Sự phát triển của các dự án BĐS góp phần tạo điều kiện cho các chủ thể là người nước ngoài tham gia giao dịch và đầu tư vào phát triển BĐS trong nước, đồng thời còn cho phép họ đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư kinh doanh các lĩnh vực khác và thậm chí có thể cư trú và sinh sống tại đó Tại các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một kênh huy động vốn vô cùng quan trọng Nếu chỉ bằng các nguồn lực trong nước, bản thân các quốc gia này không thể có được những công trình xây dựng chất lượng cao, quy mô lớn dùng cho các mục đích như làm khách sạn, văn phòng, căn hộ cao cấp, trung tâm thương mại Bất cứ nhà đầu tư nào khi quyết định đầu tư vào một địa phương cũng đều cần đến địa điểm giao dịch, làm việc, cư trú, giải trí, có chất lượng tốt Nếu thị trường BĐS phát triển, sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu này thì nhà đầu tư sẽ thuận lợi hơn trong việc triển khai các dự án sản xuất kinh doanh của mình Thông qua đó mà
mở rộng quan hệ quốc tế, tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước, các dân tộc, đẩy nhanh quá trình hội nhập của quốc gia đó
1.2.5 Giữ gìn ổn định xã hội
Việc quản lý và phát triển các dự án BĐS, trong đó có đất đai, luôn gắn liền với các chính sách về đất đai Việc kinh doanh và phát triển BĐS sẽ được thể hiện
Trang 17trong sự phát triển của thị trường BĐS Ở bất cứ quốc gia nào, thị trường BĐS
cũng là thị trường quan trọng bởi lẽ nó góp phần tạo ra sự ổn định xã hội Chính
sách đất đai không phù hợp (không có sự quản lý tốt) sẽ dẫn đến sự rối loạn của
thị trường, gia tăng nạn đầu cơ, buôn bán, lũng đoạn giá cả, làm cho giá cả lên
xuống thất thường… Điều đó sẽ tác động xấu đến niềm tin của người dân đối với
các chủ trương, chính sách của nhà nước, sẽ hạn chế sự phát triển của BĐS hoặc
thậm chí dẫn đến tình trạng đóng băng thị trường BĐS Do đó, các hoạt động sản
xuất, đời sống của con người và các hoạt động xã hội nói chung cũng bị ảnh hưởng
theo Nhà nước, thông qua việc xây dựng pháp luật (luật đất đai, luật đầu tư, luật
kinh doanh BĐS, các văn bản dưới luật, ) và hoạch định các chính sách về BĐS,
cũng như tổ chức và thực hiện có hiệu quả các chính sách này, quản lý tốt hoạt
động kinh doanh BĐS trên thị trường sẽ xoá bỏ được tình trạng “kinh doanh
ngầm”, tham nhũng, trốn thuế, đầu cơ, và các tệ nạn khác xung quanh hoạt động
kinh doanh và phát triển BĐS Thị trường BĐS hoạt động lành mạnh sẽ góp phần
điều hoà cung cầu, bình ổn giá cả BĐS, do đó sẽ góp phần làm cho xã hội được
ổn định hơn
1.2.6 Tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân
Các dự án kinh doanh và phát triển BĐS và các dịch vụ BĐS luôn thu hút
rất nhiều lao động tham gia, từ những công việc đòi hỏi lao động trí thức như
quản lý, tư vấn, tiếp thị, kỹ thuật … đến những công việc lao động chân tay như
làm sạch, chăm sóc cây cảnh, khuân vác,… Vì vậy, việc phát triển các dự án BĐS
đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động
Về mặt xã hội, khi các dự án đầu tư và BĐS tăng lên, bộ mặt của đô thị
cũng như nông thôn sẽ thay đổi Một thành phố với nhiều công trình xây dựng đẹp
với chất lượng cao, được quy hoạch hợp lý sẽ khẳng định “đẳng cấp” của quốc
gia Thị trường BĐS phát triển buộc các nhà đầu tư, các nhà sản xuất hàng hoá
đầu vào và cung ứng các dịch vụ đi kèm phải không ngừng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất hàng hoá và dịch vụ Do đó, điều này không những góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển BĐS, phát triển sản xuất mà còn đáp ứng tiêu dùng thông qua các công trình phục vụ cho các hoạt động phục
vụ nhu cầu văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí, giao tiếp cộng đồng,… Xã hội ngày càng phát triển, quan niệm tiêu dùng của nhân dân ngày càng thay đổi theo chiều hướng yêu cầu ngày càng cao lên Ngày càng xuất hiện những cá nhân có thu nhập cao, có điều kiện sử dụng những căn hộ tiện nghi cao cấp, các sự kiện quan trọng cũng muốn tổ chức tại các khách sạn, nhà hàng lớn, ngày nghỉ cuối tuần cần có nơi vui chơi giải trí, mua sắm, nhu cầu tiêu dùng cao hơn nhu cầu tiết kiệm Việc phát triển kinh doanh BĐS đáp ứng các nhu cầu này và có thể mở ra những hạng mục mới, tiếp tục kích thích nhu cầu tiêu dùng và mức sinh hoạt chung được nâng lên
Tóm lại, thị trường BĐS là một bộ phận của thị trường xã hội, do đó, sự phát triển của thị trường này sẽ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường hàng hoá, và nói chung là tác động tốt đến
sự phát triển thị trường chung, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của con người, qua
đó mà nâng cao đời sống của nhân dân
1.2.7 Góp phần đổi mới chính sách
Quan sát các hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản lý và phát triển BĐS cũng như các phản ứng của thị trường BĐS đối với các chính sách, nhà nước có thể nhận ra những điểm chưa hợp lý trong các chính sách của mình, đặc biệt là các chính sách đối với đất đai để từ đó sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách này Quan hệ đất đai là quan hệ kinh tế xã hội, được thực hiện chủ yếu qua thị trường Khi chính sách quản lý đất đai và BĐS không hợp lý sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh BĐS và thị trường BĐS, sẽ làm xuất hiện các
Trang 18hiện tượng tiêu cực Ví dụ, chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng không hợp lý
sẽ dẫn đến việc kiện tụng, không chấp hành quyết định làm chậm tiến độ của cả
dự án, gây lãng phí vốn, tăng chi phí Chính sách hành chính nhà đất rườm rà
(nhiều ban bệ, nhiều cửa, nhiều con dấu ) sẽ dẫn đến hiện tượng quan liêu, tham
nhũng Khung giá cả BĐS không hợp lý sẽ dẫn đến hiện tượng đầu cơ BĐS hoặc
đóng băng thị trường BĐS, làm giá cả thị trường sai lệch với bản chất thực tế
Hoạt động quản lý và phát triển BĐS góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới
quản lý đất đai, nhà ở, các công trình công cộng và các cơ sở kinh tế xã hội khác
Từ thị trường đất đai và BĐS, nhà nước sẽ thấy rõ những bất cập của các chính
sách trong hệ thống quản lý đất đai và những chính sách liên quan như chính sách
xây dựng, chính sách tài chính, Qua đó, nhà nước sẽ không chỉ đổi mới, bổ sung
và hoàn thiện các chính sách mà còn giám sát chặt chẽ các công tác tổ chức thực
hiện các chính sách đó, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp từ nhà đầu tư cho
đến những nhà kinh doanh, môi giới và quản lý BĐS để đảm bảo sự phát triển của
một thị trường BĐS lành mạnh
1.3 Một số bài học kinh nghiệm về quản lý và phát triển BĐS ở một số
nước trong khu vực Châu Á - Thái bình dương
1.3.1 Quản lý thị trường nhà ở tại Singapore thông qua Ủy ban Phát triển
nhà
Mặc dù là một quốc gia phát triển với GNP bình quân đầu người thuộc diện
cao nhất thế giới, vấn đề nhà ở cho các đối tượng dân cư khác nhau ở đây cũng
không đơn giản, đặc biệt, Singapore có diện tích nhỏ (nghĩa là quỹ đất vô cùng
hạn chế) trong khi lại thu hút nhiều người nhập cư Vì vậy, vấn đề nhà ở cho nhân
dân là mối quan tâm hàng đầu của chính phủ trong việc quản lý lĩnh vực bất động
sản
Chính phủ Singapore đã có những biện pháp quản lý thị trường nhà ở rất hiệu quả để hỗ trợ tài chính đáng kể cho những người thuộc diện có thu nhập không cao mà điển hình là việc thành lập Uỷ ban Phát triển nhà ở Singapore đầu
tư vào các căn hộ cho nhân dân Uỷ ban phát triển nhà được thành lập từ những năm 80 với dự định chỉ xây nhà cho thuê nhưng sau 4 năm, chính phủ quyết định phải bán những căn hộ đó Thủ tướng Lý Quang Diệu cho rằng, phải để người dân
có sở hữu một tài sản nào đó để họ gắn bó, chăm lo cho nó và cả đất nước Để dân chúng có thể mua được nhà, chính phủ cung cấp các khoản tiền vay để sao cho mỗi tháng họ có thể trích dưới 20% thu nhập trả tiền mua nhà Đồng thời, thiết lập Quỹ nhà ở Trung ương (là một dạng quỹ bảo hiểm) bắt buộc cả xã hội tham gia, giá bán nhà được trợ cấp sẽ thấp hơn giá trên thị trường
Hiện nay, hơn 80% dân số, tương đương với 3,5 triệu người dân ở đây được sống trong những căn hộ và Uỷ ban này quản lý hơn 880.000 căn hộ, trong đó 90% thuộc sở hữu cá nhân [17]
Chương trình nhà ở của Singapore có được thành công trên là nhờ kế hợp nhiều yếu tố Quy hoạch các khu chung cư được thiết kế hợp lý ngày từ đầu nhằm mang lại trí tưởng tượng sáng tạo và tăng sức hấp dẫn cho người mua Diện tích mỗi căn hộ cũng khác nhiều so với cách đây 40 năm Trước kia, người dân chỉ cần những căn nhà có diện tích 35 m2, nay tối thiểu phải 60 m2 với 2-3 phòng ngủ Các nhà kiến trúc, xây dựng cũng rất quan tâm đến tính cộng đồng vì Singapore là quốc gia mang tính đa văn hoá với nhiều dân tộc cùng chung sống Đồng thời, mỗi khu đô thị mang một bản sắc riêng Đặc biệt, ai mua căn hộ ở gần
bố mẹ sẽ được ưu tiên và được trợ cấp nhiều hơn
Những năm 90, chính phủ có chương trình đổi mới khu căn hộ cũ để nó tiếp tục hấp dẫn và người dân sẽ không chuyển đi nơi khác Chẳng hạn, những khu nhà ở có thời gian 30 năm sẽ được cải tiến nội thất, trong đó cứ mỗi một đô la chi phí, người dân sẽ chỉ phải bỏ ra 20 cent, còn lại, chính phủ sẽ bỏ ra 80 cent Trước
Trang 19khi thực hiện một phương án nào đó, nhà quản lý sẽ tiến hành bỏ phiếu, nếu người
dân ủng hộ thì sẽ tiến hành
Ngoài ra, chính phủ cũng có hệ thống tái phát triển khu cũ bằng cách tăng
cường xây dựng các khu mới xen kẽ Những gia đình nào cư trú được 40 năm rồi
có thể di rời sang căn hộ gần đó có điều kiện sinh hoạt tốt hơn, còn những gia đình
trẻ có thể chuyển đến ở những khu căn hộ cũ
Chính phủ cũng đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước vào chương trình nhà ở,
tháng 7 năm 2003, Singapore thực hiện chính sách công ty hoá các cơ quan thuộc
Uỷ ban Phát triển nhà như xây dựng, thiết kế Năm 2006, chính phủ mở rộng
các dự án và áp dụng nguyên tắc thị trường một cách mạnh mẽ hơn
1.3.2 Quản lý nhà nước đối với thị trường đất đai ở Malaysia
Tại Malaysia, những chính sách đô thị nhìn chung thực sự thành công trong
việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Malaysia 8%/
năm chính là bằng chứng cho điều này [18] Mục tiêu chủ yếu của Malaysia là
tăng trưởng cùng với công lý và công bằng xã hội Các chính sách đô thị đã được
soạn thảo để giúp đạt được mục tiêu kép tái cơ cấu xã hội và giảm nghèo
Vì những diện tích lớn ở Malaysia được sở hữu trong thời kỳ thuộc địa nên
trong nhiều trường hợp chính phủ phải thu hồi đất tư khi muốn thực hiện những
dự án quy mô lớn Malaysia có những luật thu hổi đất đai rất mạnh, không những
cho những dự án công cộng mà còn để bán lại cho tư nhân Chính phủ can thiệp
vào phát triển đất đai thông qua việc kiểm soát quy hoạch về đất đai Không ai có
thể tiến hành bất kỳ hình thức phát triển đất đai nào nếu không được sự cho phép
của chính quyền địa phương
Để ngăn chặn việc tích tụ đất của những người mua được đất rẻ để xây nhà
ở, tiểu bang ban hành quy định là đất phải được phát triển trong vòng hai năm kể
từ khi chuyển quyền sở hữu
Để ngăn chặn những người mua được đất bán lại để thu lợi nhuận nhanh chóng, các lô nhà phải kèm theo điều kiện là chúng không thể được bán hoặc chuyển nhượng nếu không được chính quyền tiểu bang cho phép
Chính quyền ban hành một loạt thuế, thuế thu nhập BĐS được dùng để giảm thiểu sự đầu cơ đất và BĐS Chính sách yêu cầu chủ đầu tư tư nhân phải dành một phần các toà nhà mới xây cho một nhóm người Malaysia nhất định Điều này dựa trên quan điểm rằng nếu để mặc cho tác động của thị trường thì nhiều nhóm kinh
tế xã hội có thể bị tính giá cắt cổ trên thị trường đất, nhà nước yêu cầu các nhà đầu tư đất đai tư nhân phải dành một phần nhất định trong các kế hoạch phát triển của họ cho những người nghèo, tỷ lệ giảm giá trên giá quảng cáo từ 5%-15% được quy định tuỳ từng tiểu bang Chính phủ cũng yêu cầu những nhà đầu tư tư nhân phải xây dựng một tỷ lệ 30% nhất định cho những căn hộ giá rẻ trong chương trình xây nhà của họ
Đối với người nước ngoài, chính phủ cho phép có thể mua bất động sản có giá trị trên 250.000 Ringit mà không phải in phê duyệt của Uỷ ban Đầu tư Nước ngoài và sẽ không có quy định nào về việc sử dụng hay hạn chế số lượng căn nhà được phép mua Bất cứ người nước ngoài nào muốn sống tại Malaysia đều có thể mua bất động sản cho riêng mình, theo ước tính sẽ nằm trong khoảng giá từ 700.000 đến 900.000 Ringit [29] Đây là tín hiệu cho thấy Malaysia đang từng bước xoá bỏ quan liêu Tuy nhiên, chính phủ sẽ có những biện pháp để bảo vệ người mua trong nước bằng các quy định phân bổ suất mua và giảm giá khi mua bất động sản Bằng quy định này, chính phủ mong muốn sẽ xây dựng được một môi trường kinh doanh thân thiện với các thủ tục hành chính nhanh gọn hơn để thu hút các dự án đầu tư vào những năm tới
1.3.3 Kinh nghiệm đền bù giải phóng mặt bằng và quản lý hiện tượng bong bóng về nhà đất ở Trung Quốc
Trang 20Cũng giống như Việt nam, tại Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu:
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng
thuộc sở hữu toàn dân còn đất ở thuộc khu vực nông thôn và đất nông nghiệp
thuộc sở hữu của tập thể nông dân lao động Theo quy định của Luật Đất đai Trung
Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá
nhân sử dụng theo các hình thức: Cấp đất (giao đất, không thu tiền sử dụng đất);
xuất nhượng đất (giao đất có thu tiền sử dụng) và cho thuê đất
Trong trường hợp nhà nước cần thu hồi đất của người đang sử dụng dùng
vào mục đích công cộng, vì lợi ích quốc gia, nhà nước sẽ có chính sách đền bù và
tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất Do sự khác nhau về hình thức sở hữu
đất đai ở thành thị và nông thôn nên có sự phân biệt về bồi thường nhà ở giữa hai
khu vực này Đối với trường hợp bồi thường nhà ở tại thành thị, chủ yếu, nhà nước
bồi thường bằng tiền căn cứ vào giá thị trường BĐS tại thời điểm thu hồi do các
tổ chức tư vấn về giá đất đưa ra Còn đối với trường hợp bồi thường nhà ở tại khu
vực nông thôn, khi thu hồi chính quyền có cách thức bồi thường linh hoạt hơn:
Tiền bồi thường về sử dụng đất đai chỉ bồi thường cho tập thể, tiền bồi thường về
hoa màu thì người nông dân hoặc người nhận khoán ruộng đất được hưởng, Để
giải quyết các khó khăn về việc làm cho nông dân khi bị thu hồi ruộng đất, nhà
nước thực hiện chính sách chi trả tiền dưỡng lão hàng năm cho những người cao
tuổi, hỗ trợ tiền đi tìm việc mới cho những người đang ở độ tuổi lao động
Quyết định của chính phủ từng bước xoá bỏ việc sở hữu nhà nước trong
lĩnh vực nhà cửa vào đầu những năm 1990 đã mở đường cho sự phát triển của thị
trường nhà ở Trung Quốc Việc thiết lập thị trường nhà thứ cấp vào năm 1999 đã
tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh BĐS cùng với việc cho phép các ngân
hàng thương mại được thực hiện dịch vụ thế chấp đã làm tăng khả năng mua nhà
của nhân dân, cả hai biện pháp này đã kích thích cầu về BĐS Chính phủ, nhờ thu
thêm được lợi ích từ các loại thuế BĐS và doanh thu bán đất đã có những khuyến khích về tài chính để kích thích việc phát triển của lĩnh vực
BĐS, do đó đã làm tăng hiện tượng “bong bóng” trong thị trường nhà đất Từ
2001 đến 2003, ước tính thu được 910 tỷ NDT chỉ từ việc bán đất so với 6,7 tỷ NDT năm 1998 [20] Hơn nữa, trong những năm gần đây, vốn nước ngoài được
đổ vào thị trường nhà đất do dự đoán đồng NDT sẽ lên giá Nhiều nhà đầu tư trong nước chuyển sang đầu cơ do giá cả bất động sản tăng cao và không có dấu hiệu giảm xuống, chỉ trong thời gian ngắn có thể thu lợi lớn từ các căn hộ Theo dự đoán, khoảng 20% tổng số các bất động sản sẽ tại các thành phố lớn sẽ không có người ở Thị trường BĐS tại Thượng Hải là một sự phản ánh độ nóng của ngành kinh doanh BĐS trong vài năm qua Giá bán trung bình của các căn hộ chung cư
đã tăng gấp đôi từ 6.000 NDT/ m2 cuối tháng 6/2004 lên 13.000 NDT/ m2 vào tháng 2/2005 Trong năm 2004, theo số liệu của Ngân hàng Nhân dân
Trung hoa (People’s Bank of China), 76% các khoản vay mới tại Thượng Hải là
để phục vụ ngành BĐS [21] Từ tháng 3/2005, chính phủ đã sử dụng các biện pháp làm dịu thị trường BĐS tập trung vào việc quản lý chặt chẽ việc cho vay của ngân hàng và hạn chế kinh doanh BĐS như:
+ Đánh thuế nhận vốn bằng 10% đối với các căn hộ không có người ở trong vòng hai năm kể từ khi mua
+ Tăng lãi suất vay thể chấp lên 20 điểm + Tăng số tiền yêu cầu thanh toán ban đầu của các khoản vay thế chấp từ 20% lên 30% tổng giá trị BĐS
+ Cấm người đi vay thế chấp hai lần + Đánh thuế suất gấp đôi đối với doanh thu bán hàng và thuế bất động sản của những căn hộ cao cấp tại Thượng Hải
+ Công bố rộng rãi các kế hoạch cung cấp đất cho các dự án xây nhà ở Các biện pháp trên đã làm chậm việc tăng giá BĐS:
Trang 21“ Theo thống kê của eHomeday, một website chuyên về giao dịch BĐS của
Thượng Hải, tỷ lệ tăng giá trung bình tại 35 thành phố lớn và vừa là 8%
vào quý 2 năm 2005, so với 12,5% vào quý 1 năm 2005 và 14,4% vào năm
2004 Giá bán trung bình của các căn hộ đã giảm từ rất cao là 13.000 NDT/
m 2 vào tháng 2/2005 xuống khoản 7.200 NDT/ m 2 vào cuối tháng 7/2005
Theo điều tra của Ngân hàng Nhân dân Trung hoa về tiết kiệm gia đình tại
khu vực thành thị vào tháng 5/2005, tỷ lệ các hộ gia đình dự định mua nhà
vào quý 3 năm 2005 đã sụt xuống 290 điểm so với quý trước xuống chỉ còn
19,1% Tuy nhiên, bất chấp các nguy cơ rủi ro về BĐS, những người mua
vẫn tìm cách điều chỉnh các kế hoạch của họ ở tầm ngắn hạn để đối phó
với các biện pháp chặt chẽ vì điều này không cho thấy quyền lợi của họ
trong thị trường BĐS đã hết Kết quả điều tra vào tháng 7/2005 cho thấy
70% những người được hỏi tin rằng giá nhà vẫn tiếp tục tăng trong tương
lai so với chỉ 11% số người tin rằng giá nhà sẽ giảm xuống” [22]
Hiện nay, thị trường BĐS của Trung Quốc vẫn được ví như một thỏi nam
châm thu hút được rất nhiều công ty nước ngoài và người Hoa ở nước ngoài Việc
các công ty này từ đầu đến không quan trọng bằng việc năng lực cạnh tranh của
họ ra sao Với nhiều thể chế thị trường được hoàn thiện hơn, cuộc cải cách nhà ở
sâu rộng, thị trường tài chính hoàn thiện hơn và chính sách giao dịch chuyển quyền
sử dụng đất công khai, các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài càng tự tin hơn khi
quyết định đầu tư vào Trung Quốc
1.3.4 Hệ thống quản lý bất động sản Torrens của Australia
Australia là nước có hệ thống quản lý đất đai và thị trường BĐS đạt tới trình
độ phát triển rất cao Trong đó, hệ thống quản lý BĐS “Torrens” ở của nước này
được coi là một trong những hệ thống quản lý BĐS hữu hiệu và hiệu quả nhất trên
thế giới Đây là hệ thống quản lý BĐS được thiết lập từ năm 1858 bởi Thủ tướng Nam Australia, lúc đó là Sir Robert Torrens với ba nguyên tắc chính là: + Nguyên tắc cái gương: Bảo đảm rằng cơ quan đăng ký phản ánh đầy đủ các lợi ích hợp pháp trên mảnh đất
+ Nguyên tắc màn che: Có nghĩa là sau khi đã đăng ký, không cần phải xem xét
“phía sau tờ trước bạ” để xác định các lợi ích trước đó đối với mảnh đất + Nguyên tắc bảo đảm: Các thông tin trên tờ trước bạ được bản đảm bởi nhà nước
Hệ thống Torrens cần phải có bốn tính chất: nhanh chóng, đơn giản, chi phí thấp, và phù hợp với đòi hỏi của cộng đồng Bổ sung cho hệ thống Torrens, gần đây Australia còn quản lý BĐS qua hệ thống “trước bạ không gian” (Strata Title)
để chứng nhận quyền sở hữu đối với các căn hộ thuộc nhà cao tầng Về cơ bản, toàn bộ hệ thống quản lý BĐS ở Australia dựa trên nguyên tắc thị trường tự do về đất đai và BĐS Đất đai được coi như một loại hàng hoá thông thường như các hàng hoá khác Quản lý BĐS là hoạt động độc quyền của nhà nước cho dù có sự tham gia của rất nhiều tác nhân tư nhân như đo đạc địa chính, giao dịch BĐS hay định giá BĐS Những hoạt động này được điều tiết, quy định rất chặt chẽ và nhưng
bên tham gia đều phải có giấy phép
Australia quan niệm đất đai nói riêng và các BĐS nói chung là nguồn lực
cơ bản của quốc gia, việc phân bổ và quản lý đất đai có hiệu quả đóng góp vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Về danh nghĩa, đất đai thuộc về nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, các cá nhân có quyền nắm giữ lâu dài (free hold) hoặc nắm giữ có thời hạn (lease hold) đối với một mảnh đất cụ thể (bao gồm cả không gian và dưới mặt đất nhưng không có quyền khai thác khoáng sản) Hiện nay đất ở Australia có ba loại sở hữu: đất tư nhân, đất công cộng và đất thuộc sở hữu của thổ dân, trong đó, phần lớn là loại sở hữu tập thể Gắn với mỗi mảnh đất chỉ có một chủ đất duy nhất, có thể là tư nhân, cộng đồng hoặc nhà nước Một số quyền và lợi ích liến quan đến BĐS của chủ đất có thể
Trang 22được buôn bán, trao đổi trên thị trường Ở Australia, thị trường đất đai và BĐS đã
được tạo dựng vững vàng, xét cả về khung pháp lý, thể chế và vận hành Thị
trường giao dịch BĐS hoàn toàn chính thức và xấp xỉ 100% các giao dịch đất đai
ở Australia được thực hiện một cách chính thức, nghĩa là có đăng ký tại các cơ
quan quản lý đất đai của nhà nước
Chính phủ khuyến khích đầu tư vào BĐS đối với những người mua nhà lần
đầu và các chính sách cho vay của các thể chế tài chính bằng cách làm cho các
khoản vay để mua nhà trở nên dễ dàng hơn Khoảng 80-90% các BĐS được mua
bằng cách vay tiền ngân hàng 70% hộ gia đình Australia sở hữu một căn hộ hoặc
một phòng ở độc lập Hầu hết người dân sinh sống trong các căn nhà có tổng diện
tích đất xung quanh khoảng 500 đến 1000 m2 Ngày càng có nhiều người dân
sống trong các căn hộ chung cư với mức giá thấp
Tại Australia hiện nay, số vốn huy động dựa trên thế chấp BĐS lên tới 200
tỷ USD mỗi năm (Australia có khoản 10 triệu mảnh đất và khoảng 70% số đó
được thế chấp tại ngân hàng Ước tính đất đai chiếm trên 50% tài sản của
Australia) Nhà nước trợ giúp việc hình thành thị trường BĐS chính thức chủ yếu
thông qua các biện pháp:
+ Thiết lập và duy trì các cơ quan đăng ký đất đai và BĐS
+ Bảo đảm tính hợp pháp không thể xâm phạm của các trước bạ đất và BĐS
+ Duy trì các bản đồ, thông tin địa chính
+ Thiết lập sự quản lý về địa không gian
+ Tài trợ cho việc phối hợp và xây dựng cơ sở dữ liệu
+ Đặt ra các tiêu chuẩn (như tiêu chuẩn đối với các nhà đo đạc địa chính, môi giới
đất đai)
Chính phủ Australia cũng can thiệp mạnh vào đầu tư BĐS dưới các hình thức như
sở hữu công cộng BĐS, các luật lệ xây dựng, quy hoạch trợ cấp và thuế BĐS
Chương 2:
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN
CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI
2.1 Tình hình đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực BĐS tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình đầu tư vào các dự án BĐS tại Việt Nam
Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã giảm xuống trong vài năm Nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã triển khai trước đó đã bị chậm tiến độ hoặc bị đình trệ trong một thời gian Tuy nhiên,
từ năm 2003, FDI tại Việt Nam đã tăng lên mạnh mẽ trở lại với các nhà đầu từ lớn nhất từ Singapore, Đài loan, Nhật bản, Hàn quốc, Hong Kong Những tác nhân làm cho FDI vào Việt Nam ngày càng tăng lên là do Việt Nam duy trì tăng trưởng
Trang 23kinh tế khả quan trong một thời gian dài liên tục và có tình hình chính trị ổn định
Ngoài ra, Luật Đầu tư 2005 (có hiệu lực từ 1/7/2006) có nhiều quy định đảm bảo
bình đẳng cho các nhà đầu tư của Việt Nam và nước ngoài Triển vọng gia nhập
WTO trước đây và nay là việc Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO cũng
là một trong những yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ làn sóng đầu tư vào Việt Nam
Tính trong giai đoạn từ năm 1988-2007, Việt Nam đã thu hút 7.086 dự án
đầu tư có vốn nước ngoài với tổng vốn đầu tư lến đến 64.178.837.749 USD , với
vốn đầu tư đã thực hiện được là 28.946.446.447 USD Trong đó, tổng số các dự
án đầu tư vào BĐS thương mại (khách sạn, văn phòng, căn hộ, khu đô thị mới) là
306 dự án (chiếm 4,3%) với tổng vốn đầu tư là 12.678.713.770USD (chiếm
19,7%) với vốn đầu tư đã thực hiện được là 4.314.281.592USD (Bảng 2.1) Có
thể thấy rằng, về tỷ lệ số dự án đầu tư vào BĐS thương mại không cao trong tổng
số các dự án nhưng tỷ lệ về vốn đầu tư của các dự án này lại rất cao Theo dự đoán
của Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch Đầu tư), con số các dự án đầu tư sẽ còn
tăng lên rất nhiều trong năm 2007 và BĐS là một trong những lĩnh vực hấp dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài hiện nay
Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2007
(Tính tới ngày 22/4/2007 và chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Công nghiệp và xây dựng 4.754 40.093.704.399 17.253.097.757 19.852.424.296
Công nghiệp dầu khí 32 2.005.241.815 1.648.241.815 5.148.473.303
XD Khu đô thị mới 7 3.177.764.672 884.920.500 111.294.598
ra linh hoạt, chủ động hơn khi bỏ tiền vào các dự án BĐS tại Việt Nam
2.1.2 Những nhân tố tác động đến đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực BĐS Việt Nam
2.1.2.1 Môi trường chính trị pháp luật:
Trang 24Dưới góc độ của các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam là đất nước có tình
hình chính trị ổn định nhất trong khu vực, không xảy ra các cuộc biểu tình hay
bạo động Chính phủ Việt Nam đang tích cực thực hiện đường lối đổi mới nhằm
thu hút vốn đầu tư nước ngoài Kể từ năm 2003, rất nhiều văn bản pháp luật đã
được ban hành với nhiều quy định mới rõ ràng hơn và có nhiều điểm khuyến khích
các nhà đầu tư nhiều hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực BĐS như Luật Đất đai năm
2003, Luật Xây dựng năm 2003, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003,
Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Nhà ở năm 2006, , Quy
chế Khu đô thị mới năm 2006, Luật Kinh doanh BĐS
+ Trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2003, nhà nước không thừa nhận
việc mua bán quyền sử dụng đất (mặc dầu thừa nhận giá trị của nó) nên các quan
giao dịch BĐS phải thông qua nhà nước với các thủ tục rất phức tạp (ví dụ, thay
vì chuyển dịch quyền sử dụng đất theo quan hệ dân sự giữa các bên thì nhà nước
can thiệp bằng cách thu hồi và và giao lại), chính quan hệ hành chính nhà nước
trong giao dịch tạo các ức chế với thị trường và tạo kẽ hở phát sinh tiêu cực Luật
Đất đai năm 2003 đã khắc phục tồn tại trên, thừa nhận quyền sử dụng đất như một
loại hàng hoá tham gia vào thị trường BĐS Luật Đất đai 2003 cũng có qui định
mới cho phép: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn
hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được
Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyều
sử dụng đất” [9] Điều này khuyến khích Việt Kiều về Việt Nam đầu tư và hoạt
động kinh doanh và rất nhiều Việt Kiều có dự định đầu tư vào BĐS
Luật Đầu tư năm 2005 (Số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 có hiệu lực từ
1/7/2006) đã có rất nhiều sửa đổi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài về các thủ
tục hành chính, đăng ký đầu tư, các quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài Điểm
nổi bật là Luật Đầu tư mới đã không có sự phân biệt giữa các nhà đầu tư trong
nước và nước ngoài Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài có thể đi lại, hoạt động tại
Việt Nam không cần xác định thời hạn Thời hạn của các dự án đầu tư cũng được kéo dài đến 50 năm và có thể gia hạn không quá 70 năm [11] Vì vậy, khi đã được cấp phép cho một dự án đầu tư tại Việt Nam , nhà đầu tư có thể thực hiện dự án khác mà không cần phải thành lập một công ty mới, tài khoản mới, kể cả ở những lĩnh vực đầu tư khác Các thủ tục cấp phép cũng đơn giản và nhanh chóng hơn
Bộ Kế hoạch đầu tư đã giao cho Sở Kế hoạch Đầu tư tại từng địa phương tiến hành thẩm định và cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài Điều này cũng cho phép việc giám sát thực hiện và quản lý dự án của nhà nước được chặt chẽ hơn Nhà nước cũng đang tích cực thực hiện cải cách hành chính để tạo điều kiện thuận lợi về mặt thủ tục giấy tờ đối với các nhà đầu tư không những chỉ trong giai đoạn xin cấp phép cho dự án mà còn trong suốt quá trình thực hiện dự
Việt Nam đã trở thành thành viên của APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương) năm 1998, là nước chủ nhà của Hội nghị APEC
2006 Năm 2006 cũng là một năm đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của Việt Nam với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào tháng 12 năm 2006 và Hoa Kỳ thông qua Quy chế Thương mại Bình thường vĩnh viễn với Việt Nam Những sự kiện này đã mang đến rất nhiều thuận lợi cho môi trường kinh tế, chính trị đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tác động tích cực đến thị trường bất động sản và hoạt động đầu tư vào lĩnh vực này Tâm lý nghi ngại về
Trang 25tính pháp lý, ổn định của môi trường kinh doanh ở Việt Nam của các nhà đầu tư
nước ngoài đã phần nào được gạt bỏ Đồng thời, kể từ khi mở cửa nền kinh tế,
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao và ky kết hiệp định thương mại với rất
nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển như Nhật bản, Hàn
quốc, Các nước EU, Mỹ, , và đã thu hút một lượng lớn các dự án ODA từ những
nước này vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng Đó là những dự án mở đường cho dòng đầu
tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ sau sự kiện gia nhập WTO
Tuy nhiên, mặt hạn chế của môi trường chính trị, pháp luật Việt Nam là
vẫn còn hiện tượng quan liêu, tham nhũng trong giải quyết các thủ tục triển khai
dự án khiến tiến độ của dự án bị chậm lại, hoặc dự án không được thực hiện đúng
như thiết kế Một thực tế là hầu hết các dự án muốn được cấp phép nhanh chóng,
nhà đầu tư phải mời đối tác Việt Nam (và những bên có liên quan) đi tham quan
nước ngoài, cam kết cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính dưới hình thức nào đó
Mặt khác, hệ thống quy định của pháp luật còn thiếu đồng bộ hoặc chồng chéo
làm các nhà đầu tư gặp nhiều phiền hà trong các khâu thực hiện dự án
2.1.2.2 Môi trường kinh tế:
Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế trong nhiều năm qua
và đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hành chính bao cấp sang kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là giai
đoạn đặc biệt cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài để cơ cấu lại nền kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng phát triển công nghiệp, dịch vụ Chính sách mở cửa đã thúc
đẩy quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế Việt Nam và các tổ chức nước ngoài
Do vậy, trong thời gian tới, nhất định nhu cầu về nơi ở và làm việc sẽ tăng vọt lên
khi ngày càng nhiều nhà đầu tư đến Việt Nam và Hà Nội sinh sống, làm việc
Việt Nam đang giữ mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong nhiều năm qua Tỷ lệ
tăng GDP trung bình trong vòng 10 năm qua là 7%/ năm Theo số liệu của Tổng
cục Thống kê, năm 2005, tỷ lệ tăng GDP là 8,43% và năm 2006 là 8,17% so với
năm trước Chính phủ Việt Nam phấn đấu đạt mức tăng GDP là 8,2% trong năm
2007 (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Tốc độ tăng GDP của Việt Nam những năm gần đây
Nguồn: Báo cáo về tốc độ tăng GDP của Việt Nam năm 2006 (Tổng cục Thống kê)
Với tốc độ tăng trưởng như vậy, Việt Nam đã được UNESCAP (Ủy ban Kinh tế và Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc đánh giá là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực Mức tiêu dùng của người dân đã có sự thay đổi đáng kể Yêu cầu về sinh hoạt và giải trí đã tăng cao với yêu cầu chất lượng ngày càng cao hơn và ngày càng nhiều người Việt Nam trở thành đối tượng khách hàng mà những nhà đầu tư nước ngoài hướng tới (đặc biệt là những dự án phát triển căn hộ, khu đô thị mới)
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế Cụ thể là, các nguồn tài nguyên chưa được khai thác và quản lý tích cực, có hiệu quả; nguồn lao động dồi dào chưa được huy động và phân bổ hợp lý, đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, chất lượng lao động chưa cao và đồng đều; trang thiết bị sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, trình độ quản lý kém Bởi vậy, việc các tổ chức kinh tế nước ngoài tìm kiếm thị trường, tìm cơ hội đầu tư kinh doanh là cần thiết và phù hợp với khuynh hướng tổ chức sản xuất tại nơi cung cấp nguyên liệu, lao động, tiêu
Trang 26thụ sản phẩm theo nhu cầu của thị trường trong khu vực và xuất khẩu ra thị trường
thế giới nhằm thu được nhiều lợi nhuận
Về phía các nhà đầu tư, các nhà tài trợ đã cam kết một mức vốn ODA kỷ
lục cho năm 2007 và điều này làm khả năng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài
vào Việt Nam trong những năm tới là rất lớn Mặt khác, dòng vốn đầu tư nước
ngoài tiếp tục có xu hướng chuyển mạnh sang các nước đang phát triển, nhất là
các nền kinh tế mới nổi, có tốc độ tăng trưởng cao, có lợi thế về lao động, tài
nguyên và chính sách đầu tư thông thoáng, trong đó có Việt Nam Trong khi đó,
những rủi ro do tập trung đầu tư quá lớn vào Trung Quốc đã bộc lộ rõ trong năm
2005, làm cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các tập đoàn lớn điều chỉnh
chiến lược đầu tư dài hạn, trong đó có việc phân bổ nguồn vốn đầu tư sang một số
nước khác trong khu vực, trong đó Việt Nam là nước được nhiều tập đoàn xuyên
quốc gia quan tâm Như dự báo, các tập đoàn của Nhật Bản đã thực hiện chiến
lược phân bổ nguồn vốn đầu tư theo mô hình Trung Quốc +1 Điều này đã tạo cơ
hội mới cho Việt Nam trong việc tăng cường thu hút đầu tư của các tập đoàn Nhật
Bản
Thị trường BĐS của Việt Nam sau một thời gian đóng băng đã sôi động
trở lại, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán Giá vàng
cũng tăng mạnh trong thời gian qua và giá đất, giá BĐS cũng đang tăng lên (cả
giá mua bán và cho thuê) Trong khi đó, thị trường vốn trong nước lại rất hạn chế,
điều này sẽ làm các chủ đất tìm kiếm nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển
các dự án kinh doanh BĐS Hợp tác giữa chủ đầu tư trong nước và nhà đầu tư
nước ngoài trong việc triển khai các dự án sẽ diễn ra sôi động hơn
Thủ tục vay vốn ngân hàng và khả năng vay vốn từ các ngân hàng để đầu
tư vào BĐS đã dễ dàng hơn trước, đặc biệt các nhà đầu tư có thể vay vốn từ các
ngân hàng trong nước với mức lãi suất từ 10-11%/ năm (Lãi suất gửi tiết kiệm tiền
đồng hiện nay khoảng 9%/ năm)
Năm 2006, tổ chức Standard & Poor’s đã nâng cấp định mức tín nhiệm của
hệ thống tài chính tiền tệ của Việt Nam lên một bậc Ngoài ra, theo báo cáo năm
2007 của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) về xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam và các nước trong khu vực, Việt Nam đứng thứ 104/175, trên cả Philippine (126/175) và Indonesia (135/175) [29] Những yếu tố này cũng góp phần đưa Việt Nam thành mục tiêu của nhiều nhà đầu tư nước ngoài
Nhu cầu về văn phòng, căn hộ cho thuê và khách sạn có sự gia tăng đột biến, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, và các khu công nghiệp Cùng với sự tăng lên nhanh chóng của dòng vốn đầu tư, hàng loạt các nhà đầu tư nước ngoài đã đến Việt Nam làm nảy sinh nhu cầu về văn phòng, nhà ở, khách sạn, đất đai phục vụ sản xuất, kinh doanh,
Trang 27à xây dựng nhà xưởng Điều này đã kích thích thị trường BĐS cả trung lẫn d i hạn
Trong thời gian qua, rất nhiều công ty đa quốc gia đã đặt văn phòng hoặc
mở rộng văn phòng tại Việt Nam Ngoài ra, các công ty, ngân hàng lớn của Việt
Nam cũng phát triển mạnh mẽ, không ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh và có
nhu cầu xây mới, cải tạo, thuê và cho thuê trụ sở làm việc như VNPT (Tổng Công
ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam), Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam
(Vinalines), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam , Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam , Các doanh nghiệp này cũng kêu gọi vốn đầu tư từ các doanh nghiệp
nước ngoài để có thể vừa có nơi làm việc lại vừa có lợi nhuận từ việc kinh doanh
toà nhà của mình
Thị trường bất động sản tại các nước Đông Nam Á hiện đã bão hoà nên
Việt Nam trở thành một thị trường nhiều tiềm năng đầu tư và kinh doanh BĐS
đối với các nhà đầu tư nước ngoài Giai đoạn từ 2003 chính là một thời kỳ phát
triển mới nhiều triển vọng tốt đẹp của nền kinh tế Việt Nam Chính vì vậy, các
nhà đầu tư có thể yên tâm phát triển các dự án BĐS mà không lo đến đầu ra của
dịch vụ này cũng như khả năng thu hồi vốn và sinh lời từ các dự án, nhất là trung
và dài hạn
Thị trường chứng khoán của Việt Nam cũng đã hình thành và phát triển với
tốc độ nhanh chóng thu hút sự tham gia của nhiều nhà đầu tư Một mặt, lợi nhuận
từ chứng khoán sẽ được chuyển sang đầu tư trực tiếp vào các dự án bất động sản,
mặt khác, chính các công ty kinh doanh BĐS sẽ niêm yết trên sàn giao dịch chứng
khoán để thu hút vốn đầu tư Ví dụ, gần đây, công ty cổ phần Vincom, một công
ty có rất nhiều dự án BĐS lớn như Toà nhà Vincom City Towers (kinh doanh văn
phòng và trung tâm thương mại) ở Hà nội, Khu du lịch Vinpear Land tại Hòn Tre,
Nha Trang, Khánh hoà, Dự án cải tạo công viên Lê nin và dự án sân gôn … đã
phát hành cổ phiếu và chuẩn bị niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, quỹ đầu
tư BĐS Vinaland cũng có ý định niêm yết trong tương lai gần
2.1.2.3 Môi trường văn hoá:
Trong những năm gần đây, do sự phát triển của công nghệ thông tin và những chính sách mở cửa trong giáo dục, đào tạo và văn hoá của nhà nước Việt Nam , trình độ văn hoá xã hội và nhận thức của người lao động đã được nâng lên rất nhiều Thanh niên Việt Nam ham hiểu biết, chịu khó học tập, có ý chí tiến thủ
và ngày càng trở nên năng động, có thể dễ dàng thích ứng với môi trường và nhịp
độ làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hầu hết những người Việt Nam tìm việc trong các dự án đầu tư nước ngoài đều phải trang bị vốn tiếng Anh hoặc ngôn ngữ của nước chủ đầu tư (Nhật, Pháp, Đức, Trung Quốc, )
và kỹ năng sử dụng máy tính, các loại thiết bị văn phòng để sử dụng trong công việc Vì vậy, sự bất đồng ngôn ngữ không còn là việc cản trở các đối tác trong việc ký kết thoả thuận hay cùng nhau kinh doanh, quản lý dự án Ngày càng có nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học ở nước ngoài về làm việc tại Việt Nam , cùng với việc mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học trong nước, trình độ chuyên môn của người lao động cũng tăng lên rất nhiều so với trước đây
Việt Nam là nước tương đối bình đẳng trong việc sử dụng lao động nam
và nữ Điều này xuất phát từ thực tế là chất lượng lao động trí thức Việt Nam trong các ngành kinh tế và dịch vụ tương đối đồng đều giữa nam và nữ, thậm chí
có ngành, nữ có nhiều thuận lợi hơn Phụ nữ Việt Nam khéo tay, cần cù và có tính kiên nhẫn Mặt khác, đời sống của nhân dân Việt Nam còn chưa cao nên trong một gia đình, mọi thành viên đều phải nỗ lực lao động để trang trải các chi phí sinh hoạt và giải trí Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài có thể có nhiều cơ hội tuyển dụng được nhân sự vào những vị trí phù hợp với yêu cầu công việc của mình Tuy nhiên, người lao động Việt Nam có nhược điểm là ý thức kỷ luật và
Trang 28à
tự giác chưa cao, tinh thần trách nhiệm đối với công việc đôi lúc vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu của công việc Điều này đòi hỏi phải có sự đào tạo v giám sát
thực hiện đối với người lao động
Trong việc điều hành các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vẫn còn
một số điểm khác biệt về cách nhận thức, tiếp cận công việc hay quan điểm trong
kinh doanh, quản lý, thủ tục hành chính giữa đối tác nước ngoài và Việt Nam ,
đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ Điều này xuất phát từ việc ngành công nghiệp
dịch vụ tại Việt Nam vẫn chưa phát triển và do sự khác biệt về văn hoá phương
đông và phương tây, hay đơn giản chỉ là sự khác biệt về nền văn hoá giữa các
quốc gia khác nhau
Ví dụ: Trong các liên doanh BĐS có vốn của Nhật bản, Người Nhật rất quan
tâm đến chi tiết mà mong muốn thể hiện rõ ràng bằng văn bản tất cả các chi tiết
cụ thể, dù là nhỏ nhất trong các thoả thuận, giấy tờ Trong khi đó, người Việt có
xu hướng sử dụng các từ ngữ mang ý nghĩa chung chung hoặc quá rộng nên đôi
khi dẫn đến sự hiểu nhầm Khác với người Việt Nam – thường quan tâm đến con
dấu trong các văn bản, Người Nhật xem chữ ký quan trọng hơn con dấu Trong
quản lý, người Nhật thích quản lý theo kiểu trực tuyến, thông tin đi thẳng từ trên
xuống hoặc có trình tự Điều này có ưu điểm là mệnh lệnh được thực hiện chính
xác, đúng đối tượng tuy nhiên có thể nảy sinh quan liêu Người Việt lại có thể
quan tâm đến những thông tin đan xen, vượt cấp, thông tin có thể nhanh hơn nhưng
đôi khi lại thiếu chính xác Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự bất đồng
trong lãnh đạo của các công ty liên doanh có vốn đầu tư của Nhật bản
Do trình độ phát triển kỹ thuật của các đối tác nước ngoài và Việt Nam
khác nhau, đôi lúc việc kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng bởi quan điểm “thế nào là
hiện đại? thế nào là đẹp? thế nào là tiện lợi?”, đặc biệt là trong việc quản lý kinh
doanh bất động sản thương mại như cho thuê văn phòng, căn hộ, khách sạn, khu
giải trí, Ví dụ: về màu sắc nội thất, người châu Âu thích những màu sặc sỡ, tươi sáng, người Nhật thích những màu lạnh, trầm Khi dự án đặt ra nhằm hướng vào khách thuê người Nhật thì sẽ không thể trang trí theo kiểu nội thất Âu Hoặc đối với người nước ngoài nhãn hiệu, thương hiệu một số sản phẩm có thể khẳng định được chất lượng, nhưng người Việt thường không tin tưởng những hàng hoá có nguồn gốc sản xuất từ nước thứ ba Nếu không dung hoà được thì khả năng nảy sinh mâu thuẫn trong quản lý rất cao Vì vậy, khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư cần nghiên cứu để chọn hình thức đầu tư và quản lý dự án thích hợp
2.2 Tình hình đầu tư và kinh doanh bất động sản tại Hà Nội
2.2.1 Tầm quan trọng của việc phát triển các dự án BĐS có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội
Hà nội là thủ đô của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam , là trung tâm
văn hoá và chính trị của cả nước và trung tâm kinh tế lớn thứ hai sau Thành phố
Hồ Chí Minh Hà nội có diện tích tự nhiên là 92,1 nghìn hecta và là một thành phố
cổ với 1000 năm lịch sử Vì vậy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới khi Việt Nam đã gia nhập WTO, mục tiêu của Hà Nội trong những năm tới là trở thành thủ đô văn minh, hiện đại, có thể sánh vai với các thành phố lớn khác trong khu vực Chính quyền Hà Nội đã có định hướng tăng quy hoạch phát triển kinh tế –
xã hội của thủ đô giai đoạn 2001 – 2010 nhằm phát huy đối đa các tiềm năng của mình và thu hút các nguồn vốn FDI, ODA để có thể tăng trưởng các chi tiêu kinh
tế cơ bản của thành phố lên từ 1,5 đến 2,5 lần vào năm 2010 Trong đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng và bất động sản đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đổi mới bộ mặt của thành phố Lĩnh vực này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn
để có thể phát triển và điều này chỉ có thể được giải quyết thông qua kêu gọi đầu
tư nước ngoài
Trang 29à Các dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản thường có qui mô lớn, vị
trí đẹp, thiết kế nổi bật, công nghệ hiện đại và cách quản lý chuyên nghiệp Với
những công trình này, Hà Nội có thể có đầy đủ điều kiện cung cấp trụ sở làm việc,
khu vực cư trú, vui chơi giải trí, cho các nhà đầu tư từ nước ngoài đến sống và
làm việc tại đây, đồng thời đáp ứng được nhu cầu làm việc v sinh hoạt ngày càng
cao của nhân dân Với cơ sở hạ tầng và vật chất đầy đủ, khả năng cạnh tranh của
Hà Nội sẽ được tăng lên để thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế và phát triển
ngành du lịch, một trong những thế manh của thành phố
Đầu tư nước ngoài vào bất động sản sẽ tạo điều kiện về vốn để thực hiện đúng
quy hoạch xây dựng và cơ cấu xây dựng của thành phố Hà Nội sẽ được mở rộng
về diện tích, phát triển được đô thị hoá các khu vực lân cận, từ đó vừa không làm
mất đi nét cổ kính riêng biệt lại vừa hiện đại hoá phù hợp với sự phát triển kinh tế
chung của đất nước và khu vực
Cùng với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài khác, các dự án BĐS góp phần làm
tăng GDP, tăng nguồn thu cho ngân sách thành phố qua các đóng góp về thuế,
phí, Trong năm 2006, khối đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 15% tổng đầu tư
xã hội trên địa bàn, đóng góp 16% GDP, 38% tổng kim ngạch xuất khẩu, tạo 10%
tổng thu ngân sách cho thành phố và thu hút 71 nghìn lao động [16]
Các dự án BĐS do nước ngoài đầu tư đã thu hút rất nhiều lao động tại Hà Nội,
giải quyết công ăn việc làm , tăng thu nhập cho người lao động Sự hấp dẫn về thu
nhập cùng những đòi hỏi cao về trình độ buộc là những yếu tố buộc người lao
động có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ và tay nghề để được nhận
vào làm việc tại các doanh nghiệp này Sự cạnh tranh tự nhiên giữa các doanh
nghiệp và người lao động đã giúp cho lực lượng lao động của Hà nội có trình độ
và tác phong làm việc hiện đại, năng động và chuyên nghiệp hơn Phát triển đầu
tư nước ngoài vào các dự án BĐS giúp Hà nội tiếp nhận công nghệ hiện đại và
kinh nghiệm quản lý tiên tiến, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, tài chính và quản
lý Cùng với sự xuất hiện của các công trình ngày càng hoàn thiện về thiết kế, cảnh quan, tiện ích sử dụng là kinh nghiệm quản lý cùng với các kỹ năng quan trọng như kỹ năng hoạch định chiến lược, điều hành sản xuất, quản trị marketing, tài chính, nhân sự, cũng được đưa vào Đây là cơ hội để học tập những kiến thức
và kỹ năng quí báu mà đội ngũ các nhà quản lý trong nước có thể nghiên cứu và học tập để áp dụng cho các hoạt động kinh doanh của mình Bên cạnh đó, việc tiếp nhận sự khác biệt về văn hoá, môi trường kinh tế, pháp luật, chính trị, sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách của thành phố có điều kiện ra soát lại những qui định của mình để có sự điều chỉnh cho phù hợp, làm các chính sách được ban hành ngày càng có hệ thống và tính khả thi cao hơn, kết hợp được hài hoà lợi ích của nhà nước, nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước và người lao động
Sự xuất hiện của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực BĐS nói riêng đã tạo nên một sự cạnh tranh trong không khí hoạt động của các doanh nghiệp trong nước và trong thành phố Đó là việc cạnh tranh của các doanh nghiệp tự hoàn thiện sản phẩm hoặc dịch vụ của mình với mong muốn trở thành người cung cấp hay nhà thầu cho các dự án Mặt khác, việc cạnh tranh này cũng
có thể là tự cải thiện chất lượng dịch vụ BĐS của các nhà phát triển bất động sản hoặc kinh doanh dịch vụ BĐS trong nước để không bị thất thế trước các dự án, công trình của nước ngoài Ở khía cạnh nào, cũng làm cho doanh nghiệp trong nước năng động hơn và các sản phẩm, dịch vụ được cung cấp ra ngày càng có chất lượng tốt hơn
2.2.2 Những thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản ở Hà Nội
2.2.2.1 Tình hình đầu tư vào BĐS tại Hà nội
Theo thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính tới ngày 22/4/2007, Hà nội đã thu hút 814 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn
Trang 30à đầu tư 10.251.931.996 USD, là thành phố đứng thứ 2 trong cả nước (sau Thành
phố Hồ Chí Minh) về thu hút đầu tư nước ngoài Có thể nhận thấy, trong những
năm gần đây, đầu tư nước ngoài vào Hà nội đã tăng lên nhanh chóng cả về số
lượng dự án lẫn tổng vốn đầu tư đăng ký (Bảng 2.3) Điều này chứng tỏ,
Hà nội có sức hấp dẫn rất lớn với các nhà đầu tư nước ngoài Năm 2007, Hà nội phấn đấu thu hút vốn đầu tư đăng ký từ 1,5 tỷ USD trở lên với trên 200 dự án
Bảng 2.3: Kết quả thu hút vốn ĐTNN của Hà Nội trong những năm gần đây
Đơn vị tính: triệu USD
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2/2007 Hạng mục
Số dự án cấp phép 44 60 66 74 110 194 33
Tổng vốn ĐT đang ký 200 362 162 293 1.585 1.120 145,5 Tổng vốn ĐT thực hiện 85 175 200 270 300 - -
Nguồn: Báo cáo tóm tắt kết quả đầu tư nước ngoài 2006và kế hoạch định hướng 2007 (Sở KH và ĐT Hà nội)
Trong các dự án đầu tư nước ngoài vào Hà Nội, có rất nhiều dự án phát triển BĐS và c ó số vốn rất lớn Theo thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Xem Phụ lục 1 và Phụ lục 2), tính đến tháng 3 năm 2007, đã có
36 dự án có vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phát triển văn phòng và căn hộ
và 30 dự án có vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khách sạn và du lịch đã chính thức được cấp phép triển khai xây dựng và đi vào hoạt động Ba dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Hà nội đang được triển khai là Dự án phát triển Khu đô thị mới Nam Thăng long (liên doanh với) Singapore với tổng vốn đầu tư 2,1 tỷ USD; dự
án phát triển Khu đô thị mới Bắc Thăng Long (liên doanh với Thái lan) với tổng vốn đầu tư là 236 triệu USD và dự án Tổ hợp văn phòng, căn hộ, trung tâm thương mại và giải trí của Công ty Coralis VietNam (100% vốn Luxembourg) Tháng 1/2006, dự án Khu đô thị Tây Hồ Tây (Hàn Quốc) với tổng vốn đầu tư 314 triệu USD đã được cấp giấy phép đầu tư
Trong năm 2006 và đầu năm 2007, có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang tiến hành thủ tục xin cấp phép trong lĩnh vực BĐS với các dự án có qui mô đầu tư rất lớn như dự án khách sạn 5 sao tại khu X1 (1,98ha) của tập đoàn Charmvit (Hàn
Trang 31Quốc) với vốn đầu tư khoảng 80-100 triệu USD; dự án tổ hợp khách sạn 5 sao tại
khu X2 (4 ha) của tập đoàn Riviera (Nhật bản) với vốn đầu tư 550 triệu USD, dự
án tổ hợp khách sạn 5 sao trên đường Phạm Hùng của tập đoàng KeangNam (Hàn
Quốc) với vốn đầu tư dự kiến 500 triệu USD; dự án Công viên Tuổi trẻ Thủ đô là
liên doanh của tập đoàn RAFIN (Ba lan) với Tổng công ty Du lịch Hà nội với mục
đích xây tổ hợp khách sạn, trung tâm thương mại, văn phòng và căn hộ cao cấp
với tổng số vốn khoảng 200 triệu USD; dự án West Gate xây dựng và kinh doanh
tổ hợp văn phòng, khách sạn, trung tâm thương mại và căn hộ bán lẻ của tập đoàn
Orix (Nhật bản) liên doanh với Tổng công ty Gốm và Thuỷ tinh Việt Nam
(Viglacera) trên diện tích 35.000 m2 đối diện với Trung tâm Hội nghị Quốc gia
với số vốn dự định hơn 100 triệu USD, Bên cạnh đó, rất nhiều các nhà đầu tư
nước ngoài và Việt Kiều đã đến Hà nội để khảo sát, tìm vị trí và đối tác đầu tư vào
lĩnh vực BĐS
Trong những lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài của thành phố Hà nội
hiện nay có việc ưu tiên các dự án đầu tư phát triển các khu đô thị mới Bắc Sông
Hồng cùng các trung tâm văn phòng, thương mại, triển lãm, đào tạo nghiên cứu –
phát triển đi cùng và các dự án cải tạo và phát triển các khu tập thể cũ trong thành
phố thành những khu dân cư đô thị hiện đại với hạ tầng hoàn chỉnh
2.2.3 Tình hình kinh doanh bất động sản ở Hà nội hiện nay
Theo quan điểm của một công ty chuyên nghiệp về quản lý và phát triển BĐS là
Công ty CBRE Việt Nam , các toà nhà thương mại ở Hà Nội được chia thành 3
hạng: hạng A, hạng B và hạng C như trong bảng sau (Bảng 2.4)
Bảng 2.4: Phân hạng các toà nhà
(Nguồn: Công ty Quản lý và Tiếp thị BĐS CB Richard Ellis VietNam )
Tuỳ vào đối tượng khách hàng mà nhà kinh doanh BĐS muốn cung cấp dịch vụ mà nhà đầu tư sẽ lựa chọn quy mô, vị trí đất đầu tư phù hợp với ngân sách
và mục đích của mình
2.2.3.1 Tình hình kinh doanh văn phòng cho thuê:
Trang 32Thị trường văn phòng cho thuê của Hà Nội hiện nay đang sôi động hơn bao giờ
hết Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến giới kinh doanh tin rằng sẽ
tiếp tục xảy ra sốt giá với các văn phòng hạng A là dòng vốn đầu tư nước ngoài
đang đổ vào Việt Nam ngày một lớn Số công ty, văn phòng đặt trụ sở tại Hà Nội
đang tăng lên mạnh mẽ cùng với sự có mặt của đông đảo các doanh nhân nước
ngoài và Việt Kiều Bản thân một số doanh nghiệp trong nước có năng lực về tài
chính cũng muốn chuyển vào các toà văn phòng cao cấp để hưởng dịch vụ tốt hơn
và nâng cao hình ảnh, thương hiệu của mình với các đối tác Vì vậy, đối tượng
khách hàng mà các toà nhà hạng A nhắm tới giờ đây không chỉ là những công ty,
văn phòng nước ngoài mà còn là những công ty lớn hoặc kinh doanh thành công
tại Việt Nam Xu hướng của hầu hết các khách thuê văn phòng là muốn làm việc
tại một toà nhà hiện đại, tiện nghi có cách quản lý chuyên nghiệp Trong khi số
lượng các toà nhà hạng A và B tại Hà nội không đủ để đáp ứng nhu cầu đó (Biểu
2.1)
Biểu 2.1: Diện tích cho thuê và diện tích còn trống tại các toà
nhà văn phòng hạng A và hạng B
(Nguồn: Công ty Quản lý và Tiếp thị BĐS CB Richard Ellis VietNam )