1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng việt từ góc độ dụng học (TT)

27 502 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 626,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Văn bản hành chính tiếng Việt VBHC là loại văn bản được sử dụng trong hoạt động quản lí, tổ chức và điều hành xã hội để truyền đạt thông tin quản lí như các qu

Trang 1

1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS VŨ THỊ SAO CHI

2 TS ĐỖ THỊ HIÊN

Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1) Đỗ Thị Thanh Nga (2012), “Một vài trao đổi về việc dùng từ trong văn bản

quản lí nhà nước”, Tạp chí NCKH trường ĐHSPII (Số 18/2012)

2) Đỗ Thị Thanh Nga (2012), “Những yêu cầu khi dùng từ Hán Việt trong văn

bản hành chính”, Tạp chí Ngôn ngữ (số 6/2012)

3) Đỗ Thị Thanh Nga (2015),“Ngôn ngữ văn bản quy phạm pháp luật từ góc

nhìn cấu trúc câu”, Hội thảo khoa học Quốc tế 2015 - Viện Ngôn ngữ học (Viện Hàn

lâm khoa học xã hội Việt Nam)

4) Vũ Thị Sao Chi, Đỗ Thị Thanh Nga (2016), “Đặc điểm hành vi ngôn ngữ tái

hiện trong văn bản hành chính”, Tạp chí ngôn ngữ (số 2/2016)

5) Đỗ Thị Thanh Nga (2016), “Hành vi ngôn ngữ và việc thực hiện hành vi ngôn

ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Di sản (số 3/2016)

6) Vũ Thị Sao Chi, Đỗ Thị Thanh Nga (2016), “Đặc điểm cấu trúc lập luận trong

văn bản tờ trình”, Tạp chí Ngôn ngữ (số 3/2016)

7) Đỗ Thị Thanh Nga (2016) “Chỉ dẫn lập luận trong văn bản hành chính tiếng

Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (số 5/2016)

8) Đỗ Thị Thanh Nga (2016), “Cách trình bày luận cứ lập luận trong văn bản

quản lí nhà nước”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông (số 6/2016)

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Văn bản hành chính tiếng Việt (VBHC) là loại văn bản được sử dụng trong hoạt động quản lí, tổ chức và điều hành xã hội để truyền đạt thông tin quản lí như các quy định, quyết định, mệnh lệnh, ý kiến trao đổi, giao dịch, cam kết, thỏa thuận về công việc…, thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan, tổ chức, công dân với đối tác liên quan trên cơ sở pháp lí Do đó, việc truyền tải thông tin trong VBHC phải đảm bảo sự chính xác, rõ ràng, chặt chẽ Để biểu đạt thông tin trong VBHC, ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng Ngôn ngữ VBHC đã được quan tâm từ nhiều phía: Nhà nước, chủ thể soạn thảo, đối tượng tiếp nhận và các nhà nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu đã phần nào làm sáng tỏ đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ hành chính hoặc yêu cầu về cách

sử dụng ngôn ngữ trong VBHC nhằm đạt hiệu quả giao tiếp

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về ngôn ngữ VBHC trên phương diện dụng học Chúng tôi cho rằng, lí thuyết dụng học - lí thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người dùng nếu được soi chiếu vào VBHC thì sẽ làm sáng tỏ được nhiều nội dung của ngôn ngữ VBHC như: sẽ thấy được trong VBHC, hành vi ngôn ngữ nào là hành vi chủ đạo, các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành vi đó như thế nào…; hoặc lập luận được tổ chức như thế nào,

có khác biệt gì so với lập luận đời thường để đạt hiệu quả giao tiếp hành chính…

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Nghiên cứu ngôn ngữ trong

văn bản hành chính tiếng Việt từ góc độ dụng học” làm đề tài nghiên cứu

2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, luận án hướng đến mục đích làm sáng tỏ một số đặc điểm của ngôn ngữ hành chính trên phương diện dụng học như: hành vi ngôn ngữ (HVNN), ngữ cảnh chi phối tới cách thức sử dụng HVNN và mô hình, cách thức lập luận… để từ đó giúp cho việc định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ khi soạn thảo VBHC

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Hệ thống hóa các vấn đề nằm trong lí thuyết đại cương của dụng học về HVNN, lập luận và một số vấn đề lí thuyết cơ bản về VBHC để làm cơ sở lí luận cho nghiên cứu của đề tài

- Khảo sát các HVNN có trong VBHC, xác định HVNN chủ đạo trong VBHC Nghiên cứu trường hợp: Hành vi ngôn ngữ tái hiện (HVTH) trong VBHC

- Nhận diện, phân loại các dạng lập luận trong VBHC; xác định, miêu tả cấu trúc, quan hệ lập luận, hiệu lực lập luận trong VBHC; các chỉ dẫn lập luận (tác tử, kết tử) thường dùng trong VBHC Khảo sát lập luận trong thể loại tờ trình (TTr)

Trang 5

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NGỮ LIỆU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ VBHC tiếng Việt hiện đại trên phương diện dụng học

Để đảm bảo tính hiện đại, thời sự, nguồn ngữ liệu khảo sát được chúng tôi lựa chọn là một số thể loại VBHC của các cơ quan, tổ chức từ cấp Trung ương đến địa phương được ban hành từ năm 2005 đến nay Số lượng là 129 VBHC (1067 trang A4) thuộc các thể loại: Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư, chỉ thị, quyết định, báo cáo, tờ trình, biên bản, công văn, hợp đồng, đơn và một số loại giấy như giấy giới thiệu, giấy xác nhận

4 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó có một

số phương pháp cơ bản sau: phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích diễn ngôn, thủ pháp thống kê và thủ pháp so sánh

5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

Thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ trong VBHC tiếng Việt từ góc độ dụng học, luận án đã xác định hành vi điều khiển (HVĐK) và HVTH là hai HVNN chủ đạo trong VBHC tiếng Việt Do đặc điểm và hoàn cảnh sử dụng nên hành vi tuyên bố (HVTB), hành vi cam kết (HVCK) xuất hiện với tần số thấp hơn Riêng hành vi biểu cảm (HVBC) rất ít được sử dụng do đặc trưng của VBHC quy định

Khảo sát trường hợp HVTH trong VBHC, luận án đã chỉ ra được: Dấu hiệu để nhận diện HVTH; đưa ra khái niệm HVTH trong VBHC; chỉ ra đặc điểm biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi của HVTH trong VBHC; phân loại HVTH trong VBHC và đặc biệt là xác định được ngữ cảnh sử dụng HVTH trong VBHC

Về phương diện lập luận, luận án đã chỉ ra những điểm riêng biệt của lập luận trong VBHC là luôn dùng luận cứ pháp lí (LCPL) và luận cứ thực tế (LCTT) để làm

cơ sở lập luận; lập luận trong VBHC có sự hồi chiếu, liên kết với các văn bản bên ngoài và với những sự việc, vấn đề của thực tế quản lí, thực tế hoạt động có liên quan tới cơ quan, đơn vị, tổ chức Luận án xác định được mô hình lập luận trong VBQPPL, VBCB và trong VBHC thông thường; chỉ ra cách trình bày luận cứ để có kết luận tường minh cho VBHC Kết luận trong VBHC phải đúng quy định về pháp lí, phù hợp thực tiễn thì văn bản mới có tính khả thi Luận án xác định được các loại tác tử,

Trang 6

kết tử dùng cho VBHC Ngoài những tác tử thông thường, VBHC dùng một loại tác

tử đặc biệt, đó là sử dụng thành phần tên loại, cơ quan ban hành, thời gian ban hành

văn bản để tăng hiệu lực lập luận VBHC thông thường dùng nhiều kết tử lập luận, VBQPPL không dùng kết tử vì cả văn bản là một lập luận đơn

Trên cơ sở lập luận của VBHC nói chung, luận án khảo sát lập luận trong tờ trình (TTr) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cấu trúc lập luận điển hình, đặc điểm và cách trình bày luận cứ, kết luận trong TTr để giúp cho việc đệ trình lên cấp có thẩm quyền đạt hiệu quả cao nhất

6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

- Ý nghĩa lý luận: Luận án đóng góp một phần vào việc làm làm sáng tỏ những đặc điểm của ngôn ngữ hành chính trên phương diện dụng học, cụ thể là về HVTH,

về lập luận trong một dạng văn bản cụ thể - VBHC

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc soạn thảo VBHC tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức hiện nay và cho công tác giảng dạy bộ môn Kỹ thuật soạn thảo VBHC và Tiếng Việt thực hành trong các trường đại học, cao đẳng đào tạo về nghiệp vụ hành chính

7 CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên cứu của luận án được tổ chức thành 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 2: Hành vi ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng Việt (Nghiên cứu trường hợp hành vi tái hiện)

Chương 3: Lập luận trong văn bản hành chính tiếng Việt

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong phần này, chúng tôi tổng quan tình hình nghiên cứu theo các nhóm: i) Nhóm các công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ (bao gồm các nghiên cứu về tiểu loại/nhóm hành vi ngôn ngữ, các nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ trong một thể loại văn bản, một diễn ngôn cụ thể hay sáng tác của một tác giả); ii) nhóm các nghiên cứu về lập luận (bao gồmcác nghiên cứu về một dạng lập luận/ về các chỉ dẫn lập luận, các nghiên cứu về lập luận trong một thể loại văn bản, một diễn ngôn, một sáng tác của một tác giả); iii) nhóm các nghiên cứu về ngôn ngữ hành chính (bao gồmcác nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hành chính từ góc độ phong cách học, các nghiên cứu

về hành vi ngôn ngữ trong văn bản hành chính, các nghiên cứu về lập luận trong văn bản hành chính và các nghiên cứu ngôn ngữ hành chính ở phương diện ứng dụng thực tế)

Nhìn chung: Ngôn ngữ VBHC đã dành được sự quan tâm nghiên cứu đáng kể

Riêng về góc độ hành vi ngôn ngữ, đã có sự nghiên cứu sâu về hành vi cầu khiến của

Trang 7

Vũ Ngọc Hoa hoặc bước đầu về hành vi cam kết trong VBHC của Đoàn Diễm Hường Tuy nhiên, tìm kiếm thêm các hành vi khác tồn tại trong VBHC, xác định hành vi nào là hành vi chủ đạo trong VBHC nào thì chưa có công trình nào bàn đến

Về phương diện lập luận, mới chỉ có Nguyễn Thị Hường khi nghiên cứu về

mạch lạc trong VBHC có trình bày một phần về lập luận trong thể loại báo cáo và tờ

trình để làm rõ sự mạch lạc trong văn bản Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu

một cách toàn diện về lập luận trong VBHC

Từ lịch sử nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ, về lập luận và về ngôn ngữ VBHC, chúng tôi thấy cần có sự nghiên cứu sâu về HVTH và tìm hiểu kĩ về các phương diện của lập luận trong loại văn bản này Qua đó, tìm hiểu ngữ cảnh xuất hiện HVTH trong VBHC và sự lập luận trong VBHC

Chương 2 HÀNH VI NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HÀNH VI TÁI HIỆN)

2.1 ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hướng khảo sát: Trước hết, các HVNN trong VBHC được thống kê, tập hợp và phân loại theo tiêu chí phân loại của J.R Searle với 5 phạm trù: 1) hành vi điều khiển (HVĐK), HVTH, hành vi cam kết (HVCK), hành vi tuyên bố (HVTB), hành vi biểu cảm (HVBC) Sau đó, chúng tôi tiến hành miêu tả cụ thể một HVNN chủ đạo trong VBHC Để xác định được chính xác các hành vi ở lời, chúng tôi dựa vào các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs) mà J.R Searle đã đưa ra

2.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHUNG

Luận án thống kê các HVNN từ 129 VBHC (1067 trang A4 văn bản)

Trang 8

ý chí, tình cảm cá nhân Do yêu cầu về tính chính xác, tường minh, khách quan, nghiêm túc của ngôn ngữ hành chính, cho nên trong VBHC chúng tôi nhận thấy không có các HVNN được sử dụng theo lối gián tiếp, chẳng hạn không có phát ngôn hỏi dùng với mục đích điều khiển, phát ngôn trần thuật dùng với mục đích biểu cảm

2.3 HÀNH VI NGÔN NGỮ TÁI HIỆN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT

2.3.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ tái hiện trong văn bản hành chính

Theo quan điểm của J R.Searle, HVTH có đích ngôn trung là miêu tả lại sự tình đang được nói đến Đích ngôn trung của HVTH có bản chất là cung cấp thông tin hiện thực, từ HVTH, người phát ngôn (Sp1) cung cấp cho người tiếp nhận (Sp2) một thông tin nhất định mà Sp1 biết để Sp2 cũng nắm được thông tin này Thông tin cung cấp cho Sp2 rất phong phú, có thể là về người hoặc sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến Như vậy, chức năng cung cấp thông tin là chức năng điển hình của HVTH

Do đó, xét về tính tác động trực tiếp, HVTH tác động tới nhận thức của Sp2 Đây

chính là điểm mấu chốt giúp nhận diện HVTH và khu biệt nó với các hành vi ngôn ngữ

khác Từ đây, luận án đưa ra khái niệm HVTH như sau: HVTH là hành vi ngôn ngữ

mà người phát ngôn mô tả lại sự tình để người tiếp nhận nắm bắt được thông tin nhất định về người hay sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến

2.3.2 Đặc điểm biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi của HVTH trong văn bản hành chính

2.3.2.1 Biểu thức ngữ vi của HVTH trong văn bản hành chính

a) Biểu thức ngữ vi tái hiện tường minh

BTNVTH tường minh được xác định với cấu trúc điển hình sau:

± Sp1 + Động từ ngữ vi tái hiện± Sp2 + Nội dung mệnh đề Chú thích: + luôn xuất hiện; ± có thể xuất hiện hoặc có thể không

Sở Xây dựng kính báo cáo UBND tỉnh về địa điểm xây dựng mở rộng

Trung tâm y tế thị xã Uông Bí tại Khu 8, phường Quang Trung, thị xã Uông Bí với các nội dung chính sau: ( )

(Tờ trình số 284/SXD-QH ngày 11/6/2009 của Sở Xây dựng Quảng Ninh)

* Vị trí thứ nhất - Sp1:

Trang 9

Về mặt cương vị, Sp1 trong BTNVTH tường minh là người hay nói chung là chủ thể phát ngôn, đồng thời cũng chính là chủ thể của hành động tái hiện (tức chủ thể cung cấp thông tin) Trong VBHC, chủ thể cung cấp thông tin (Sp1) thường là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trong một tổ chức nhất định có chức năng, nhiệm vụ phải thông tin cho đối tác có liên quan biết để nắm được tình hình hoạt động công tác

Về mặt cấu tạo, Sp1 luôn phải ở ngôi thứ nhất (số ít hoặc số nhiều) Do tính chất công vụ của VBHC cho nên Sp1 trong BTNVTH tường minh thường được hiện thực

hóa bằng đại từ nhân xưng trung tính ngôi thứ nhất (số ít tôi và số nhiều chúng tôi),

hoặc danh từ/ cụm danh từ chỉ tên cơ quan, tổ chức hay chức danh pháp lí của đối tượng phát ngôn

Bảng 2: Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1 trong HVTH tường minh

Chức danh pháp lí của cá nhân 7 5,0

* Vị trí thứ hai - động từ ngữ vi tái hiện:

Trong BTNVTH tường minh, đảm nhiệm vai trò động từ ngữ vi là các động từ nói năng biểu hiện hành động tái hiện Hệ thống động từ nói năng biểu hiện HVTH trong tiếng Việt hết sức phong phú Tuy nhiên, trong VBHC, do tính chất pháp lí, công vụ, thiên về lí trí của loại văn bản này mà chỉ cho phép sử dụng các động từ ngữ

vi tái hiện có sắc thái trung tính hoặc trang trọng, mang tính chấp pháp hành chính

Trang 10

như: báo cáo, tường trình, trình bày, thông tin, thông báo, khai, kê khai, khai báo, tố

cáo, giải thích, hướng dẫn, giới thiệu, dự đoán, dự báo, nhận định xác định, nhận thấy, thấy, có ý kiến, ghi nhận, ; không sử dụng các động từ ngữ vi tái hiện mang

tính khẩu ngữ hoặc tính biểu cảm cao như: kể, mách, tâu, phô, giảng giải,

* Vị trí thứ ba - Sp2:

Về mặt cương vị, trong HVTH, Sp2 là người hay chủ thể tiếp nhận phát ngôn đồng thời cũng chính là đối tượng được cung cấp, thụ hưởng thông tin từ Sp1 Trong VBHC, cũng như Sp1, Sp2 thường là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân với tư cách là thành viên trong xã hội hoặc trong một bộ máy tổ chức nhất định, tức là có chức danh pháp lí

Về mặt cấu tạo, Sp2 luôn ở ngôi thứ hai (số ít hoặc số nhiều) Cũng do tính chất công vụ của VBHC nên Sp2 trong BTNVTH tường minh thường được hiện thực hóa bằng danh từ/ cụm danh từ chỉ tên cơ quan, tổ chức hay chức danh pháp lí của đối tượng tiếp nhận thông tin và khi đó tư cách pháp lí cũng như vị thế xã hội của Sp2 được nhấn mạnh

Bảng 5: Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp2 trong HVTH tường minh

(Ông/ bà) chức danh pháp lí của cá nhân 23 24,5

(Ông/ bà) tên riêng của cá nhân 0 0

Sp2 trong HVTH tường minh có thể được nêu rõ, cũng có thể được lược bỏ

Bảng 6: Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp2 trong HVTH tường minh

* Vị trí thứ tư - Nội dung mệnh đề

Nội dung mệnh đề trong BTNVTH tường minh nêu ra những thông tin về sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến Trong VBHC, thông tin được cung cấp ở phần nội dung mệnh đề rất phong phú, đa dạng nhưng phải có liên quan đến hoạt động quản lí của cơ quan, tổ chức Thành phần nội dung mệnh đề luôn xuất hiện đầy đủ Điều đó đã nói nên vai trò trọng yếu của thành phần này trong BTNVTH tường minh

Về mặt cấu tạo, vì tính chất của phần nội dung mệnh đề trong BTNVTH tường minh là phản ánh về sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến, cho nên nó thường có cấu tạo là cụm từ hoặc câu, thậm chí chuỗi câu với nhiều phần, đoạn khi mà nội dung mệnh đề phản ánh nhiều sự vật, sự việc, hiện tượng hoặc phản ánh một sự vật, sự việc, hiện tượng nhưng có nhiều tính chất, hoạt động phức tạp

Trang 11

Về xu hướng sử dụng, trong 412 HVTH có 197 HVTH được sử dụng theo cấu trúc của BTNVTH tường minh, chiếm 47,8% Điều đó cho thấy đây là cấu trúc khá

ưa dùng khi tạo lập phát ngôn tái hiện trong VBHC (Bảng 4 trong luận án)

b) Biểu thức ngữ vi tái hiện nguyên cấp

BTNVTH nguyên cấp là biểu thức ngữ vi có hiệu lực ở lời là tái hiện sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến nhưng trong đó không xuất hiện động từ ngữ vi tái hiện, đồng thời Sp1 và Sp2 cũng không được hiển ngôn trong biểu thức ngữ vi Như vậy, BTNVTH nguyên cấp ứng với nội dung mệnh đề trong BTNVTH tường minh Một số cấu trúc điển hình của BTNVTH nguyên cấp:

- Cấu trúc "X + là/ có nghĩa là/ được hiểu là + y" → thể hiện hành vi giải thích

- Các cấu trúc: "Thời gian, địa điểm + chủ thể + đã/ đang + vị từ + ."; hoặc

"Theo thông tin/ nguồn tin/ báo cáo của X + " → thể hiện hành vi trần thuật

- Cấu trúc "Thời gian, địa điểm + chủ thể + có thể sẽ + vị từ + đối thể + đích

thể " → thể hiện hành vi phán đoán, dự báo

- Cấu trúc "X là/ có/ gồm " → thể hiện hành vi giới thiệu

Về cấu trúc, BTNVTH nguyên cấp có thể có cấu tạo là câu, hoặc chuỗi câu

Về xu hướng sử dụng, chúng tôi thống kê được trong 412 HVTH có 215 HVTH được sử dụng theo cấu trúc của BTNVTH nguyên cấp, chiếm 52,2%, nhiều hơn 4,4%

so với số lượng những HVTH được sử dụng theo cấu trúc BTNVTH tường minh Điều đó cho thấy đây là cấu trúc rất được ưa dùng khi tạo lập phát ngôn tái hiện trong VBHC

2.3.2.2 Phát ngôn ngữ vi của HVTH trong văn bản hành chính

Khi đi vào VBHC, phục vụ cho mục đích giao tiếp nhất định, các mô hình cấu trúc BTNVTH trên đây được hiện thực hóa với những phát ngôn ngữ vi tái hiện (PNNVTH) Có những PNNVTH tối thiểu, chỉ có các thành phần nằm trong BTNVTH, đồng thời cũng có những PNNVTH ngoài thành phần thuộc BTNVTH còn có thành phần mở rộng

Bảng 7: Thống kê các loại PNNVTH trong VBHC

Kết quả khảo sát cho thấy, số PNNVTH mở rộng chiếm tỉ lệ cao hơn, phản ánh

xu hướng sử dụng PNNVTH mở rộng nhiều hơn trong VBHC PNNVTH trong VBHC có những đặc điểm nổi bật sau đây: a) Phát ngôn ngữ vi tái hiện trong VBHC

có quy mô, dung lượng lớn; b) Phát ngôn ngữ vi tái hiện ngoài BTNVTH là thành phần nòng cốt còn có thành phần mở rộng; c) Lặp lại phát ngôn ngữ vi tái hiện cốt

Trang 12

lõi, chủ hướng; d) Phát ngôn ngữ vi tái hiện thường có cấu tạo theo khuôn chung - tạo thành quy cách diễn đạt khuôn mẫu ở từng thể loại VBHC

2.3.3 Phân loại HVTH trong văn bản hành chính

Căn cứ vào tiêu chí đích ngôn trung và tính chất của nội dung mệnh đề, chúng tôi phân loại HVTH trong VBHC thành các nhóm: trần thuật, giải thích, thông báo, giới thiệu, xác nhận, phán đoán Kết quả khảo sát như sau:

đồng thời cũng là nhóm có số lượng động từ ngữ vi phong phú nhất, đó là: tường

trình, trình bày, báo cáo, khai, khai báo, kê khai, kiểm điểm,

Hành vi trần thuật được sử dụng khi cần phản ánh thông tin về tình hình hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc những thông tin có liên quan, tác động tới hoạt động của cơ quan, đơn vị Từ đó giúp cho người quản lí có được căn cứ thực tế để đưa ra những quyết định quản lí đúng đắn, hoặc giúp cho các đối tượng có liên quan nắm được tình hình thực tế để có cơ sở đóng góp, xây dựng nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác được giao Chính vì vậy, hành vi này thường xuất hiện và là hành vi nòng cốt, chủ hướng trong các kiểu loại văn bản như: báo cáo, biên bản, tờ trình, công văn, bản kiểm điểm, bản kê khai,

2.3.3.2 Hành vi giải thích

Hành vi giải thích là hành vi người phát ngôn lí giải, hướng dẫn để người tiếp nhận hiểu rõ và nhận thức đúng về đối tượng, sự vật, sự việc, hoặc biết cách triển khai, thực hiện đúng hoạt động công tác được giao Theo kết quả khảo sát HVTH trong VBHC, nhóm hành vi giải thích chiếm tỉ lệ 11,7% Hai động từ ngữ vi được sử

dụng phổ biến nhất để thực hiện hành vi giải thích đó là: giải thích, hướng dẫn

Hành vi giải thích thường được sử dụng trong các văn bản luật hoặc dưới luật như nghị định, thông tư, hướng dẫn, để giải thích rõ hoặc hướng dẫn chi tiết, cụ thể

về những chính sách, quy định của nhà nước đề ra Cũng có khi hành vi giải thích được sử dụng trong một số văn bản hành chính thông thường như công văn hướng dẫn, trả lời, để hướng dẫn cấp dưới thực hiện tốt nhiệm vụ được giao hoặc giúp cho

Trang 13

công dân nắm được các thủ tục, quy trình hành chính cần thiết khi tham gia, giao dịch với các cơ quan chức năng

2.3.3.3 Hành vi thông báo

Hành vi thông báo là hành vi người phát ngôn báo tin cho người tiếp nhận biết

về sự vật, sự việc, hiện tượng đã, đang hoặc sẽ xảy ra để có thể chủ động tham gia hoặc ứng phó khi cần thiết Theo kết quả khảo sát HVTH trong VBHC, nhóm hành vi thông báo chiếm tỉ lệ 3,2 % Những động từ ngữ vi được sử dụng phổ biến nhất để

thực hiện hành vi thông báo đó là: thông báo, thông cáo, thông tin, báo tin

Hành vi thông báo thường được sử dụng trong một số kiểu loại văn bản hành chính thông thường như: thông cáo, thông báo, giấy báo Hành vi thông báo trong những kiểu loại văn bản này khác nhau ở tầm quan trọng của nội dung thông tin và phạm vi truyền tin, tác động: thông cáo - thông tin cho toàn dân trong địa phương, khu vực hoặc quốc gia biết về một sự kiện trọng đại (ví dụ: thông cáo về kết quả bầu

cử đại biểu Quốc hội, ); thông báo - thông tin rộng rãi cho các thành viên trong một

cơ quan, đơn vị, tổ chức, hoặc cho các đối tượng hợp tác bên ngoài biết về những sự việc, hiện tượng có liên quan (ví dụ: thông báo về chương trình Tết trồng cây đầu xuân, thông báo tuyển sinh ); giấy báo - thông tin cho cá nhân về sự việc có liên quan tới chính cá nhân đó (ví dụ: giấy báo trúng tuyển đại học, giấy báo học phí, )

nhất để thực hiện hành vi giới thiệu đó là: giới thiệu

Hành vi giới thiệu thường được sử dụng ở phần mở đầu của một số kiểu loại văn bản hành chính thông thường như: giấy giới thiệu, giấy đăng kí, hợp đồng, đơn, báo cáo, công văn giao dịch, để cung cấp cho đối tác giao tiếp biết một số thông tin cần thiết về cá nhân (tên tuổi, nơi cư trú, cơ quan công tác, ) hoặc về cơ quan, tổ chức (chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, ) Từ đó đi đến thiết lập quan hệ hoặc trao đổi, giao dịch công việc ở phần tiếp theo Chẳng hạn, người viết đơn thường mở đầu nội dung đơn bằng hành vi giới thiệu về bản thân, sau đó mới đưa ra mong muốn, đề nghị của mình với cơ quan, tổ chức có liên quan để giải quyết nguyện vọng

Hành vi giới thiệu cũng có thể được đưa vào phần mở đầu của báo cáo với mục đích giới thiệu khái quát về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan, đơn vị, làm cơ sở cho việc báo cáo, kiểm điểm kết quả công tác ở phần tiếp theo

2.3.3.5 Hành vi xác nhận

Hành vi xác nhận là hành vi người phát ngôn nhận chân sự tồn tại hoặc bản chất của người, vật, việc Theo kết quả khảo sát HVTH trong VBHC, nhóm hành vi xác

Ngày đăng: 04/10/2016, 18:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.Thống kê các HVNN trong VBHC - Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng việt từ góc độ dụng học (TT)
Bảng 1. Thống kê các HVNN trong VBHC (Trang 7)
Bảng 7: Thống kê các loại PNNVTH trong VBHC - Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng việt từ góc độ dụng học (TT)
Bảng 7 Thống kê các loại PNNVTH trong VBHC (Trang 11)
Bảng 9: Thống kê tần số tác tử lập luận trong VBHC - Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng việt từ góc độ dụng học (TT)
Bảng 9 Thống kê tần số tác tử lập luận trong VBHC (Trang 19)
Bảng 10: Thống kê kết tử lập luận 2 vị trí trong VBHC thông thường - Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng việt từ góc độ dụng học (TT)
Bảng 10 Thống kê kết tử lập luận 2 vị trí trong VBHC thông thường (Trang 20)
Bảng 11: Thống kê kết tử lập luận 3 vị trí trong VBHC thông thường - Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng việt từ góc độ dụng học (TT)
Bảng 11 Thống kê kết tử lập luận 3 vị trí trong VBHC thông thường (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w