TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Văn bản hành chính tiếng Việt VBHC là loại văn bản được sử dụng trong hoạt động quản lí, tổ chức và điều hành xã hội để truyền đạt thông tin quản lí như các qu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIỄN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
GƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 TS VŨ THỊ SAO CHI
2 TS ĐỖ THỊ HIÊN
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
Đỗ Thị Thanh Nga
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, lãnh đạo Khoa Ngôn ngữ học cùng toàn thể các cán bộ, các Thầy giáo, Cô giáo của Học viện đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu trong thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Thị Sao Chi và TS Đỗ Thị Hiên – tập thể người hướng dẫn khoa học đã luôn tận tình, nghiêm túc và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận án của mình
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu, hoàn thành nhiệm vụ được giao Cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã luôn đồng hành, động viên để tôi thực hiện luận án được đúng tiến độ
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 48
CHƯƠNG 2: HÀNH VI NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HÀNH VI TÁI HIỆN) 50
2.1 ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 50
2.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHUNG 52
2.3 HÀNH VI NGÔN NGỮ TÁI HIỆN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT 54
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 90
CHƯƠNG 3: LẬP LUẬN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT 93
3.1 CẤU TRÚC LẬP LUẬN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT 93 3.2 CÁC CHỈ DẪN LẬP LUẬN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT 115
3.3 KHẢO SÁT LẬP LUẬN TRONG VĂN BẢN TỜ TRÌNH 132
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 147
KẾT LUẬN 150
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
PHỤ LỤC 165
Trang 5QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
9 Bảng 9: Thống kê tần số tác tử lập luận trong VBHC 115
10 Bảng 10: Thống kê kết tử lập luận 2 vị trí trong VBHC thông
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
2 Biểu đồ 2: Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1
trong HVTH tường minh
58
3 Biểu đồ 3: Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp1 trong
HVTH tường minh
59
4 Biểu đồ 4: Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp2
trong HVTH tường minh
64
5 Biểu đồ 5: Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp2 trong
HVTH tường minh
65
6 Biểu đồ 6: Thống kê các loại PNNVTH trong VBHC 71
7 Biểu đồ 7: Thống kê các nhóm HVTH trong VBHC 77
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Văn bản hành chính tiếng Việt (VBHC) là loại văn bản được sử dụng trong hoạt động quản lí, tổ chức và điều hành xã hội để truyền đạt thông tin quản lí như các quy định, quyết định, mệnh lệnh, ý kiến trao đổi, giao dịch, cam kết, thỏa thuận về công việc…, thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan, tổ chức, công dân với đối tác liên quan trên cơ sở pháp lí VBHC vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của quá trình quản
lý, là hình thức để cụ thể hoá pháp luật, điều chỉnh những quan hệ thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, tổ chức
Nội dung chủ yếu của VBHC là phản ánh các thông tin mang tính pháp lí, quản lí
và những thông tin này có sự ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của các cơ quan, đơn
vị, tổ chức trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ Do đó, việc truyền tải thông tin trong VBHC phải đảm bảo sự chính xác, rõ ràng, chặt chẽ
Để biểu đạt thông tin trong VBHC, ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng Muốn VBHC đạt hiệu quả giao tiếp thì ngôn ngữ sử dụng phải phản ánh đúng mục đích giao tiếp của văn bản; ngôn ngữ phải đạt tính trang trọng, lịch sự, tuân thủ đúng tôn ti, trật
tự hành chính; phải trình bày vấn đề có lí lẽ, mạch lạc hay nói cách khác là phải lập luận chặt chẽ và nội dung thông tin của văn bản phải được diễn đạt một cách tường minh…
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, ngôn ngữ VBHC đã được quan tâm từ nhiều phía: Nhà nước, chủ thể soạn thảo, đối tượng tiếp nhận và các nhà nghiên cứu Chẳng hạn, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã có những quy định về ngôn ngữ trong VBHC tại các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật
2008, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Thông tư liên tịch số 55/TTLT- VPCP-BNV ngày 06/5/2005 của Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội vụ Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, Thông
tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hướng dẫn thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch,
Trang 9Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 09/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Hướng dẫn thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản hành chính Hoặc các tài liệu hướng dẫn kĩ thuật soạn thảo văn bản của các cơ sở đào tạo nghiệp vụ hành chính cũng dành một phần nhất định hướng dẫn sử dụng ngôn ngữ trong văn bản để đảm bảo tính chính xác, phổ thông, nhất quán Riêng đối với các nhà nghiên cứu, ngôn ngữ hành chính đã được quan tâm từ phương diện phong cách học Các kết quả nghiên cứu đã phần nào làm sáng tỏ đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ hành chính hoặc yêu cầu về cách sử dụng ngôn ngữ trong VBHC nhằm đạt hiệu quả giao tiếp
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về ngôn ngữ VBHC trên phương diện dụng học Chúng tôi cho rằng,
lí thuyết dụng học – lí thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người dùng nếu được soi chiếu vào VBHC thì sẽ làm sáng tỏ được nhiều nội dung của ngôn ngữ VBHC Chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy được trong VBHC, hành vi ngôn ngữ nào là hành
vi chủ đạo, các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành vi đó như thế nào…; hoặc lập luận được tổ chức như thế nào, có khác biệt gì so với lập luận đời thường để đạt hiệu quả giao tiếp hành chính… Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn
đề tài: “Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng Việt từ góc độ dụng
học” với mong muốn làm sáng tỏ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ hành chính trên một số
phương diện chủ yếu của dụng học như: hành vi ngôn ngữ (HVNN); cấu trúc, cách thức lập luận và ngữ cảnh sử dụng chúng trong VBHC để đạt hiệu quả giao tiếp
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận án hướng đến mục đích làm sáng tỏ một số đặc điểm của ngôn ngữ hành chính trên phương diện dụng học như: HVNN, cách thức lập luận, ngữ cảnh chi phối tới cách thức sử dụng HVNN và lập luận… để từ đó giúp cho việc định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ khi soạn thảo VBHC
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 10- Hệ thống hóa một số vấn đề nằm trong lí thuyết đại cương của dụng học về HVNN, lập luận và một số vấn đề lí thuyết cơ bản về VBHC để làm cơ sở lí luận cho nghiên cứu của đề tài
- Khảo sát các HVNN có trong VBHC, xác định HVNN chủ đạo trong VBHC Nghiên cứu trường hợp hành vi tái hiện (HVTH) trong VBHC
- Nhận diện, phân loại các dạng lập luận trong VBHC; xác định, miêu tả cấu trúc, quan hệ lập luận, hiệu lực lập luận trong VBHC; các chỉ dẫn lập luận (tác tử, kết tử, ) thường dùng trong VBHC Khảo sát lập luận trong thể loại tờ trình (TTr)
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ VBHC tiếng Việt hiện đại trên phương diện dụng học
3.2 Phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu
Dụng học là khoa học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, tức là cách sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục đích cụ thể Theo Nguyễn Thiện Giáp, ngữ dụng học nghiên cứu những mối quan hệ giữa các hình thức ngôn ngữ và những người sử dụng các hình thức ấy; nghiên cứu cái nghĩa ngữ cảnh, nghiên cứu hiện tượng cái được thông báo lớn hơn cái được nói như thế nào
và nghiên cứu sự thể hiện của khoảng cách tương đối giữa người nói và người nghe [34, Tr.14,15,16]
Độ bao phủ của lí thuyết dụng học rất rộng, gồm nhiều nội dung như: hội thoại, quy chiếu và chỉ xuất, hành vi ngôn ngữ, nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn và lập luận
Do đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ trong VBHC – ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp gián tiếp bằng văn bản viết với yêu cầu khắt khe về sự chính xác, tường minh, không dung chứa nghĩa hàm ẩn, cho nên phạm vi nghiên cứu được chúng tôi giới hạn, tập trung vào hai phương diện chính yếu là HVNN (nghiên cứu trường hợp HVTH) và lập luận
Để đảm bảo tính hiện đại, thời sự, nguồn ngữ liệu khảo sát được chúng tôi lựa chọn là một số thể loại VBHC của các cơ quan, tổ chức từ cấp Trung ương đến địa phương được ban hành từ năm 2005 đến nay Số lượng là 129 VBHC (1067 trang A4)
Trang 11thuộc các thể loại: Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư, chỉ thị, quyết định, báo cáo, tờ trình, biên bản, công văn, thông báo, hợp đồng, đơn và một số loại giấy như giấy giới thiệu, giấy xác nhận…
4 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó có một số phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp miêu tả: phương pháp này được sử dụng để miêu tả các HVNN chủ đạo, miêu tả các dạng lập luận được sử dụng trong VBHC tiếng Việt
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: phương pháp này sẽ giúp cho việc nhận diện, phân tích đặc điểm, đánh giá vai trò của một số HVNN chủ đạo trong VBHC; đồng thời phương pháp này không chỉ giúp cho việc tìm hiểu lập luận bộ phận mà còn tìm hiểu cấu trúc, đặc điểm của đại lập luận trong VBHC
- Thủ pháp thống kê: giúp thống kê, xử lí tư liệu ngôn ngữ Nhờ phương pháp này mà luận án có được các bảng thống kê về tần số xuất hiện các HVNN trong VBHC, tần số xuất hiện từng HVNN trong từng thể loại văn bản và tần suất sử dụng chúng; tần suất sử dụng các cấu trúc lập luận, tần suất sử dụng các tác tử, kết tử lập luận trong VBHC làm cơ sở để phát hiện ra những đặc điểm sử dụng các HVNN, cấu trúc lập luận hay các tác tử, kết tử lập luận trong VBHC
- Thủ pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh đặc điểm của HVTH với đặc điểm của một số hành vi khác như hành vi điều khiển (HVĐK), hành vi cam kết (HVCK) trong VBHC để tìm ra một số đặc trưng chung của HVNN trong loại hình văn bản này Hoặc để tìm sự tương đồng, khác biệt của các thành phần lập luận trong văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), văn bản cá biệt (VBCB) và VBHC thông thường
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
Thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ trong VBHC tiếng Việt từ góc độ dụng học, luận án đã xác định HVĐK và HVTH là hai HVNN chủ đạo trong VBHC tiếng Việt Do đặc điểm và hoàn cảnh sử dụng nên hành vi tuyên bố (HVTB), HVCK xuất
Trang 12hiện với tần số thấp hơn Riêng hành vi biểu cảm (HVBC) rất ít được sử dụng do đặc trưng của VBHC quy định
Khảo sát trường hợp HVTH trong VBHC, luận án đã chỉ ra được: Dấu hiệu để nhận diện HVTH; đưa ra khái niệm HVTH trong VBHC; chỉ ra đặc điểm biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi của HVTH trong VBHC; phân loại HVTH trong VBHC và đặc biệt là xác định được ngữ cảnh sử dụng HVTH trong VBHC
Về phương diện lập luận, luận án đã chỉ ra những điểm riêng biệt của lập luận trong VBHC là luôn dùng luận cứ pháp lí (LCPL) và luận cứ thực tế (LCTT) để làm
cơ sở lập luận; lập luận trong VBHC có sự hồi chiếu, liên kết với các văn bản bên ngoài và với những sự việc, vấn đề của thực tế quản lí, thực tế hoạt động có liên quan tới cơ quan, đơn vị, tổ chức Luận án xác định được mô hình lập luận trong VBQPPL, VBCB và trong VBHC thông thường; chỉ ra cách trình bày luận cứ để có kết luận tường minh cho VBHC Kết luận trong VBHC phải đúng quy định về pháp lí, phù hợp thực tiễn thì văn bản mới có tính khả thi Luận án xác định được các loại tác tử, kết tử dùng cho VBHC Ngoài những tác tử thông thường, VBHC dùng một loại tác tử đặc
biệt, đó là sử dụng thành phần tên loại, cơ quan ban hành, thời gian ban hành văn bản
để tăng hiệu lực lập luận VBHC thông thường dùng nhiều kết tử lập luận, VBQPPL không dùng kết tử vì cả văn bản là một lập luận đơn
Trên cơ sở lập luận của VBHC nói chung, luận án khảo sát lập luận trong tờ trình (TTr) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cấu trúc lập luận điển hình, đặc điểm và cách trình bày luận cứ, kết luận trong TTr để giúp cho việc đệ trình lên cấp có thẩm quyền đạt hiệu quả cao nhất
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
- Ý nghĩa lý luận: Luận án đóng góp một phần vào việc làm sáng tỏ những đặc điểm của ngôn ngữ hành chính trên phương diện dụng học, cụ thể là về HVTH và về lập luận trong một dạng văn bản cụ thể - VBHC
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho việc soạn thảo VBHC tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức hiện nay và cho công
tác giảng dạy bộ môn Kỹ thuật soạn thảo VBHC và Tiếng Việt thực hành trong các
trường đại học, cao đẳng đào tạo về nghiệp vụ hành chính
Trang 137 CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên cứu của luận án được tổ chức thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Hành vi ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng Việt (Nghiên cứu trường hợp hành vi tái hiện)
Chương 3: Lập luận trong văn bản hành chính tiếng Việt
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Nghiên cứu về ngữ dụng học
Trên thế giới, trong khoảng 30 năm qua, ngữ dụng học đã phát triển mạnh mẽ và ngày càng có một vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ học Số lượng các chuyên khảo về ngữ dụng học cũng như các công trình đề cập tới những phương diện khác nhau của ngành này ngày một tăng
Ở Việt Nam, ngữ dụng học cũng được quan tâm nghiên cứu Bên cạnh việc tìm hiểu sâu về mặt lý luận thì các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới việc ứng dụng các lý thuyết này vào nghiên cứu từng kiểu loại văn bản để nâng cao hiệu quả giao tiếp, hiệu quả tác động của văn bản cũng như chỉ ra các đặc điểm về chiếu vật, chỉ xuất; về lập luận, về hội thoại, về các HVNN đang tồn tại trong các thể loại văn bản/diễn ngôn Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ VBHC
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ hành chính
1.1.2.1 Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hành chính từ góc độ phong cách học
Nghiên cứu ngôn ngữ hành chính dưới góc độ phong cách học có các tác giả nước ngoài tiêu biểu: V K Bhatia [140], N.M Cogina [16], V.M Bugôxơlapxki [8], L.G.Báclát [5] Các tác giả cho rằng phong cách hành chính công vụ luôn có hiện tượng dùng lặp đi, lặp lại những câu, những từ, những cấu trúc có sẵn và đó chính là
“khuôn sáo hành chính”; màu sắc phong cách đặc biệt của văn bản hành chính - công
vụ là yêu cầu phải thực hiện, bắt buộc phải thi hành điều đã được thông báo; những
quy luật của phong cách hành chính - công vụ không cho phép những sự thay đổi về
hình thức của tài liệu theo cá tính của tác giả
Ở Việt Nam các nhà phong cách học khi nghiên cứu đã thật sự quan tâm đến phong cách hành chính công vụ và VBHC Điển hình là Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa [9], Nguyễn Hữu Đạt [26], Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái
Hòa [65]; Cù Đình Tú [115] Trong công trình của mình, các tác giả đều đưa ra khái
Trang 15niệm, chức năng, đặc trưng của phong cách hành chính – công vụ và phân loại các văn bản hành chính – công vụ Các nhà phong cách học Việt Nam đều cho rằng, phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ có tính chính xác, mạch lạc, tính nghiêm túc khách quan và tính khuôn mẫu Ngôn ngữ hành chính mang tính lí trí, khô khan, lạnh lùng, không biểu cảm…
Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học
tiếng Việt [9] khi bàn về phong cách hành chính – công vụ đã cho rằng, ngôn ngữ hành
chính – công vụ thực hiện chức năng thông báo và làm nhiệm vụ giao dịch giữa nhân dân với cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước với nhân dân, giữa cơ quan này với
cơ quan khác, giữa nước này với nước khác Tuy nhiên, tác giả chưa bàn tới sự chi phối của ngữ cảnh giao tiếp hành chính tới việc sử dụng ngôn ngữ mà chỉ đơn thuần chỉ ra bốn đặc trưng của phong cách này là tính khuôn mẫu, tính có hiệu lực, tính ngắn gọn và tính chính xác
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt [65] đã bàn khá
cụ thể về phong cách hành chính – công vụ Theo đó, các tác giả đã đưa ra định nghĩa về phong cách hành chính – công vụ là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong
đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực hành chính – công vụ Nói một cách cụ thể hơn, đó là vai của nhà luật pháp, người quản lí, người làm đơn, người xin thị thực, người làm biên bản, người kí hợp đồng…tất cả những ai tham gia vào guồng máy tổ chức, điều hành các mặt của đời sống xã hội Tác giả cũng cho rằng, phong cách hành chính – công vụ được sử dụng trong những hoàn cảnh theo nghi thức, trong tình thế vai bằng nhau hay không bằng nhau giữa những người giao tiếp
Dựa vào hai tiêu chí là nội dung ý nghĩa sự vật – logic và đặc điểm về kết cấu, về
tu từ các tác giả đã phân loại văn bản hành chính – công vụ thành các kiểu/thể loại cụ thể Đặc biệt, các tác giả đã xác định chức năng của ngôn ngữ trong phong cách hành chính – công vụ là chức năng giao tiếp lí trí (thông báo) và chức năng ý chí (sai khiến) Đặc trưng của phong cách này là tính chính xác – minh bạch, tính nghiêm túc – khách quan và tính khuôn mẫu đã chi phối đặc điểm của việc dùng từ ngữ trong văn bản hành chính – công vụ là màu sắc tu từ học sách vở vừa phải; tỉ lệ phần trăm cao của các phương tiện khuôn mẫu; hệ thống thuật ngữ ít trừu tượng hơn so với phong
Trang 16cách khoa học; khuôn sáo hành chính luôn luôn được tái hiện; từ Hán Việt chiếm tỉ lệ khá lớn; từ ngữ được lựa chọn khắt khe, không thể có những từ ngữ chung chung, mơ
hồ, mang tính hình ảnh, biểu tượng…Cú pháp sách vở, rập khuôn; chủ yếu sử dụng câu tường thuật, cầu khiến, không sử dụng câu hỏi, cảm thán; dùng nhiều câu phức với các thành phần đồng chức; dùng câu tỉnh lược, câu tách biệt cú pháp…
Như vậy, khi đề cập tới vai giao tiếp của văn bản hành chính – công vụ, các tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa đã tiếp cận VBHC ở góc độ dụng học Điều này có nghĩa là vai giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp sẽ chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong VBHC
Còn Hữu Đạt, khi bàn về phong cách hành chính – công vụ trong [26], tuy không
gọi tên vai giao tiếp như Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, nhưng tác giả đã chỉ ra
đặc điểm về quan hệ của người tham gia giao tiếp trong phong cách này là tính không bình đẳng trong quan hệ của người tham gia giao tiếp Tính không bình đẳng này thể hiện ở tính trên – dưới, tổ chức – cá nhân với mục đích nhằm thực thi công việc sự vụ Tác giả cho rằng, tính chất của văn bản phụ thuộc trực tiếp vào các vai giao tiếp và phạm vi giao tiếp, trong đó phạm vi giao tiếp đóng vai trò quyết định Trong phong cách hành chính – công vụ, ngôn ngữ hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện chức năng thông báo Tính khuôn mẫu; tính phi biểu cảm; tính hệ thống, đồng bộ, thống nhất; tính ngắn gọn, súc tích, không đa nghĩa; tính trang trọng và tính quốc tế; tính quy ước
và khả biến theo thời gian là những đặc trưng của phong cách hành chính – công vụ Như vậy, nhìn một cách tổng quan, các tác giả đều thống nhất cho rằng, chức năng thông báo là chức năng cơ bản của phong cách hành chính – công vụ Các công trình nghiên cứu về sau của Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa và của Hữu Đạt ngoài việc đưa ra khái niệm, phân loại văn bản hành chính – công vụ đã đứng trên góc nhìn của dụng học để chỉ ra vai giao tiếp, đặc điểm về quan hệ của người tham gia giao tiếp Nói cách khác, vấn đề ngữ cảnh và sự chi phối của nó tới việc sử dụng ngôn ngữ trong VBHC đã bắt đầu được các tác giả đề cập tới
1.1.2.2 Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong văn bản hành chính
Nếu như có rất nhiều công trình nghiên cứu về các HVNN trong các tác phẩm văn chương hay văn bản quảng cáo thì đến nay chưa có nhiều công trình chuyên sâu
Trang 17nghiên cứu về HVNN trong VBHC Hai công trình tiêu biểu là Hành động ngôn từ cầu
khiến trong văn bản hành chính của Vũ Ngọc Hoa [47], Hành động cam kết trong văn bản hành chính của Đoàn Diễm Hường [57]
Vũ Ngọc Hoa [47] với đề tài: “Hành động ngôn từ cầu khiến trong văn bản hành
chính” đã chỉ ra đặc điểm của biểu thức ngôn hành cầu khiến trong VBHC là mang
tính bao trùm, tính khuôn mẫu, tính lặp lại nhiều lần một động từ ngôn hành cầu khiến, một phụ từ cầu khiến trong một biểu thức ngôn hành cầu khiến và tính trực tiếp của biểu thức ngôn hành cầu khiến Ngoài sự mô tả các đặc trưng, tác giả còn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tính bao trùm, tính khuôn mẫu, tính lặp lại của biểu thức ngôn hành cầu khiến Dựa theo dấu hiệu chỉ dẫn lực ngôn trung, tác giả phân loại biểu thức ngôn hành cầu khiến trong VBHC được phân loại thành: biểu thức ngôn hành cầu khiến tường minh là là các biểu thức ngôn hành có các động từ ngôn hành cầu khiến:
xin, kiến nghị, đề nghị, yêu cầu, chỉ thị… dùng ở chức năng ngôn hành; và biểu thức
ngôn hành nguyên cấp là những biểu thức ngôn hành cầu khiến không có động từ ngôn
hành cầu khiến mà có động từ tình thái nên/cần/phải/(không) được/mong, các cụm từ
có trách nhiệm/có nhiệm vụ/có nghĩa vụ/có bổn phận/chịu trách nhiệm/có quyền/có thể
hoặc quan hệ của biểu thức ngôn hành với ngữ cảnh Tác giả đã phân tích khá kĩ cường độ lực ngôn trung cầu khiến phụ thuộc vào các yếu tố: loại BTNH cầu khiến, vị thế của người phát ngôn và người tiếp nhận, phần mở rộng của BTNH cầu khiến, những phát ngôn trước hoặc sau phát ngôn cầu khiến và loại VBHC Như vậy, yếu tố ngữ cảnh đã chi phối rất mạnh tới việc lựa chọn và sử dụng hành động ngôn từ cầu khiến trong VBHC Tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu đặc điểm của lịch sự ở hành động ngôn từ cầu khiến trong VBHC và miêu tả hai nhóm biện pháp thể hiện phép lịch
sự khi cầu khiến trong VBHC: Những biện pháp thể hiện sự thừa nhận, tuân thủ các chuẩn mực luật pháp và các chuẩn mực xã hội khác; những biện pháp trang trọng hóa
HĐNTCK
Đoàn Diễm Hường [57] khi nghiên cứu về HVCK trong VBHC đã phân loại biểu thức ngữ vi cam kết thành biểu thức ngữ vi cam kết tường minh trong VBHC là biểu thức ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành động ngôn ngữ cam kết, trong đó, động từ ngữ vi của nhóm cam kết được dùng đúng theo hiệu lực ngữ vi; biểu thức ngữ
Trang 18vi cam kết nguyên cấp trong VBHC là những cách thức nói năng có hiệu lực ở lời cam kết mà không dùng động từ ngữ vi Ngoài ra, tác giả cũng bàn khá kĩ về phát ngôn cam kết trong VBHC với việc chỉ ra vai trò của hành động cam kết trong VBHC là trong nhiều trường hợp bộc lộ trực tiếp mục đích tạo văn bản của chủ thể và chi phối toàn bộ đích ở lời của hầu hết các phát ngôn trong văn bản, hoàn cảnh nảy sinh lời cam kết trong VBHC và phân chia phát ngôn cam kết trong VBHC thành 3 loại: i) phát ngôn cam kết nảy sinh từ thỏa thuận giữa hai bên, ii) phát ngôn cam kết nảy sinh từ yêu cầu,
đề nghị hoặc khai báo của chủ thể, iii) phát ngôn cam kết nảy sinh từ yêu cầu chính thức của người đọc Với việc chỉ ra hoàn cảnh phát sinh lời cam kết trong VBHC, tác giả đã gắn ngữ cảnh với việc lựa chọn và sử dụng phát ngôn cam kết trong VBHC để tạo hiệu quả giao tiếp và đạt mục đích ban hành văn bản
Như vậy, trong số 5 hành vi ngôn ngữ theo sự phân loại của J.R Searle thì HVĐK, HVCK trong VBHC đã được quan tâm nghiên cứu Còn các hành vi như HVTH, HVTB và HVBC trong loại văn bản này cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được tác giả nào nghiên cứu
1.1.2.3 Nghiên cứu lập luận trong văn bản hành chính
Đã có nhiều nghiên cứu về lập luận trong các tác phẩm văn học, chính luận hay quảng cáo Tuy nhiên, bàn về lập luận trong VBHC, mới chỉ có Nguyễn Thị Hường
khi nghiên cứu Biểu hiện của mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trình thuộc VBHC
– công vụ [59] đã bàn đến quan hệ lập luận trong các văn bản tờ trình và tìm ra các
quan hệ lập luận xuất hiện phổ biến trong loại văn bản này bao gồm: i) Quan hệ lập luận giản đơn với hai dạng: dạng lập luận chứa quan hệ đồng hướng giữa các luận cứ với kết luận, dạng lập luận chứa quan hệ nghịch hướng giữa các luận cứ với kết luận;
ii) Quan hệ lập luận phức tạp (tam đoạn luận) với hai dạng: dạng tam đoạn luận hoàn
chỉnh, dạng tam đoạn luận giản ước Trong đó dạng tam đoạn luận hoàn chỉnh hầu như không xuất hiện trong các văn bản tờ trình được khảo sát; iii) Mạng quan hệ lập luận rất ít được dùng trong tờ trình Tác giả cũng chỉ ra một số lỗi như chưa đảm bảo chặt chẽ quan hệ giữa tiền đề và kết luận, dùng từ không chính xác dẫn đễn cách hiểu không chính xác về nội dung của tờ trình
Trang 19Tuy nhiên, tác giả chỉ nêu ra những kiểu cấu trúc lập luận dùng trong tờ trình để làm cơ sở phân tích mạch lạc trong loại văn bản này mà ít hoặc chưa nghiên cứu kĩ các thành phần lập luận, chỉ dẫn lập luận trong tờ trình, từ đó rút ra đặc điểm, cách trình bày luận cứ và trình bày kết luận trong tờ trình như thế nào
Xem xét tổng thể các công trình nghiên cứu như vừa kể trên, chúng tôi chưa thấy
có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về lập luận trong VBHC, đặc biệt là các thành phần luận cứ, kết luận, tác tử, kết tử trong VBHC Đây là cơ sở để chúng tôi hướng đề tài nghiên cứu về lập luận trong VBHC
1.1.2.4 Nghiên cứu ngôn ngữ hành chính ở phương diện ứng dụng thực tế
Ở phương diện này, ngôn ngữ hành chính được nghiên cứu gắn với sự hành chức của nó trong giao tiếp công sở và đặc biệt là trong tạo lập VBHC
Về phía Nhà nước, ngôn ngữ trong VBHC đã được đề cập đến trong Điều 5 Luật Ban hành VBQPPL, Điều 6 Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân [76], [77], Điều 18 Thông tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27/12/2011 [110], Điều 11 Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội
vụ hướng dẫn kĩ thuật trình bày văn bản hành chính [111] đều đặt ra quy định về ngôn ngữ trong VBHC
Các tác giả nghiên cứu về thể thức, thẩm quyền, kĩ thuật soạn thảo văn bản quản
lí nhà nước, VBHC như Tạ Hữu Ánh [4], Vương Đình Quyền [97], Nguyễn Văn
Thâm [106]; Nguyễn Văn Thâm, Lưu Kiếm Thanh, Lê Xuân Lam, Bùi Xuân Lự với [106], Nguyễn Thế Truyền [126], Bùi Khắc Việt [136]… đã lồng ghép một số nhận xét về vai trò của ngôn ngữ trong VBHC, sơ lược nêu ra những yêu cầu về việc dùng ngôn ngữ để soạn thảo văn bản nhằm diễn đạt chính xác nội dung pháp lí, quản lí Dương Thị Hiền [43], Lê Hùng Tiến [112] khi phân tích đặc điểm ngôn ngữ văn bản luật pháp tiếng Việt theo đường hướng phân tích diễn ngôn đã đề cập đến vai trò của các phương tiện từ vựng, ngữ pháp trong việc thể hiện chức năng của văn bản luật pháp là “chỉ dẫn, đặt ra nghĩa vụ, ban phát quyền hành và các hình phạt”
Vũ Thị Sao Chi [14] đã nghiên cứu, trình bày một cách hệ thống các vấn đề lí luận về ngôn ngữ hành chính, khảo sát và đánh giá ngôn ngữ trong các VBHC được ban hành trong thời gian gần đây Nguyễn Văn Khang [62] đã chỉ ra các đặc điểm
Trang 20khác biệt của tiếng Việt trong giao tiếp hành chính so với các lĩnh vực giao tiếp khác Đối với giao tiếp hành chính thì mục đích luôn rõ ràng, cụ thể Nói cách khác, dường như, không có giao tiếp nào có mục đích rõ ràng như giao tiếp hành chính Vì thế, hiệu quả của giao tiếp hành chính luôn đặt lên hang đầu, thậm chí luôn “có sẵn” để định hướng giao tiếp
Nhìn chung: ngôn ngữ VBHC đã dành được sự quan tâm nghiên cứu đáng kể,
Riêng về góc độ hành vi ngôn ngữ, đã có sự nghiên cứu sâu về HVCK hoặc bước đầu
về HVCK trong VBHC Tuy nhiên, tìm kiếm thêm các hành vi khác tồn tại trong VBHC, xác định hành vi nào là hành vi chủ đạo trong VBHC nào thì chưa có công tŕnh nào bàn đến
Về phương diện lập luận, mới chỉ có Nguyễn Thị Hường khi nghiên cứu về mạch
lạc trong VBHC có trình bày một phần về lập luận trong thể loại báo cáo và tờ trình để
làm rõ sự mạch lạc trong văn bản Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về lập luận trong VBHC
Từ lịch sử nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ, về lập luận và về ngôn ngữ VBHC như trình bày ở trên, chúng tôi thấy cần có sự nghiên cứu sâu về HVTH tái hiện và tìm hiểu kĩ về các phương diện của lập luận trong loại văn bản này Qua đó, tìm hiểu ngữ cảnh xuất hiện HVTH trong VBHC và sự lập luận trong VBHC
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Như đã trình bày ở trên, dụng học bao gồm rất nhiều lĩnh vực Song, trong phạm
vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các HVNN trong VBHC để xác định những HVNN nào được dùng phổ biến trong loại văn bản này; trên cơ sở đó, khảo sát một trong số về một số HVNN chủ đạo và lập luận trong VBHC Vì vậy, những cơ sở lí luận tiền đề của luận án là lí thuyết về HVNN và lập luận Ngoài ra, VBHC chính là ngữ cảnh mà ở đó diễn ra các hành vi ngôn ngữ mang tính đặc thù, tiêu biểu của giao tiếp hành chính Chức năng, đặc điểm, thể loại, đặc thù của giao tiếp ngôn ngữ trong lĩnh vực hành chính sẽ chi phối tới việc lựa chọn loại hành vi ngôn ngữ, chi phối tới tỉ lệ, đặc điểm, biểu thức ngôn hành, lực ngôn trung của từng hành vi; chi phối tới cách thức, cấu trúc lập luận trong VBHC sao cho chặt chẽ, logic, phù hợp
Trang 21với phong cách văn bản Do đó, luận án cũng sẽ tìm hiểu khái quát về giao tiếp trong lĩnh vực hành chính, phong cách ngôn ngữ hành chính và các thể loại VBHC
1.2.1 Khái quát về hành vi ngôn ngữ
1.2.1.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Các nhà ngữ dụng học cho rằng, hành động được thực hiện bằng ngôn ngữ được gọi là hành vi ngôn ngữ (còn gọi là hành động ngôn từ, hành động nói)
Austin cho rằng có 3 loại HVNN lớn: hành vi tạo lời (acte locutoire), hành vi mượn lời (acte perlocutoire) và hành vi ở lời (acte illcutoire) (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [11, Tr 88])
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung
Hành vi mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng
ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận
O Ducrot nói rõ thêm về hành vi ở lời Theo ông, hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời và hành vi mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [11, Tr 90]) Trong luận án này, HVNN được hiểu theo nghĩa hẹp là hành động ở lời bởi trong
số ba HVNN nêu trên, hành động ở lời là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học
1.2.1.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ
Phân loại của J.R Searle:
Trong Speech Acts, J.R.Searle tiến hành phân loại các động từ ngôn hành Ông
chỉ ra những hạn chế trong bảng phân loại của J L.Austin vì ông cho rằng J.L.Austin không định ra các tiêu chí phân loại, do đó kết quả phân loại có khi giẫm đạp lên nhau – dẫn theo Đỗ Hữu Châu [11, Tr.123]
Trang 22Dựa vào 4 tiêu chí: đích ngôn trung, hướng khớp ghép giữa lời với hiện thực, trạng thái tâm lí được thể hiện và tiêu chí nội dung mệnh đề, J.R Searle đã phân lập
thành năm phạm trù HVNN (phạm trù - chữ dùng của Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2012), Giáo trình Ngữ dụng học, Nxb Đại học sư phạm) Mỗi phạm trù lại gồm
những nhóm từ lớn đến nhỏ khác nhau Đó là các phạm trù:
1) Tái hiện: Có đích ngôn trung là miêu tả sự tình; hướng khớp ghép là làm cho
từ ngữ khớp với thực tại; trạng thái tâm lí là niềm tin vào điều được miêu tả; nội dung
mệnh đề biểu đạt một sự tình Phạm trù tái hiện gồm nhiều hành vi ngôn ngữ như:
trình bày, giải thích, miêu tả, mách, tường thuật, báo cáo, thuyết minh, lập biên bản, tường trình, tố cáo, khai, khai báo, tổng kết…
2) Điều khiển: Có đích ngôn trung là đặt người tiếp nhận vào trách nhiệm thực hiện hành vi nào đó trong tương lai; hướng khớp ghép là làm cho thực tại khớp với từ ngữ; trạng thái tâm lí là sự mong muốn của người phát ngôn; nội dung mệnh đề biểu đạt hành vi trong tương lai của người tiếp nhận Phạm trù này có các hành vi ngôn ngữ
như: ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, cho phép, cấm buộc, chỉ thị, khuyên, khuyến nghị, chỉ
định…
3) Cam kết: Có đích ngôn trung là đặt người phát ngôn vào trách nhiệm thực hiện một hành vi nào đó; hướng khớp ghép là làm từ ngữ khớp với thực tại; trạng thái tâm lí
là ý định của người phát ngôn; nội dung mệnh đề biểu đạt hành vi trong tương lai của
người phát ngôn Thuộc phạm trù này là các hành vi: cam đoan, cam kết, hứa, hứa
hẹn, thề, bảo đảm, thỏa thuận…
4) Biểu cảm (bộc lộ): Đích ngôn trung là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành vi ngôn ngữ (vui thích/khó chịu, mong muốn/ rẫy bỏ,v.v…); trạng thái tâm lí thay đổi tùy theo từng loại hành vi; nội dung mệnh đề là một hành động hay trạng
thái, tính chất nào đó của Sp1 hay của Sp2 Phạm trù này gồm các hành vi như: vui
thích/khó chịu, mong muốn, rẫy bỏ, xin lỗi, chúc mừng, hoan nghênh, cảm ơn, tán thưởng, khen, chê, thán phục, trầm trồ…
5) Tuyên bố: Đích ngôn trung là làm thay đổi sự việc qua phát ngôn; hướng khớp ghép vừa là lời – hiện thực, vừa là hiện thưc – lời; nội dung mệnh đề biểu đạt
Trang 23một sự tình Phạm trù này gồm các hành vi như: tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ,
buộc tội…
Trong luận án, chúng tôi sử dụng cách phân loại HVNN của J.R.Searle Tức là,
có 5 phạm trù HVNN: tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm và tuyên bố
1.2.1.3 Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi
Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn – sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành
vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi gọi là biểu thức ngữ vi
Phát ngôn ngữ vi tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vi Trong giao tiếp hàng ngày, phát ngôn ngữ vi thường mở rộng, có biểu thức ngữ vi và thành phần mở rộng Biểu thức ngôn ngữ được dùng để thực hiện hành vi ở lời là biểu thức ngữ vi Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành vi ở lời Như vậy, về nguyên tắc, trừ những trường hợp được sử dụng gián tiếp, thì có bao nhiêu hành vi ở lời thì có bấy nhiêu kiểu biểu thức ngữ vi Biểu thức ngữ vi là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ nghĩa của các hành vi ở lời Nhờ các biểu thức ngữ vi, chúng ta nhận biết được các hành vi ở lời
Đỗ Hữu Châu cho rằng, mỗi biểu thức ngữ vi được đánh dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn Nhờ những dấu hiệu này mà biểu thức ngữ vi được phân biệt với nhau
J.R.Searle gọi các dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs)
Đóng vai trò IFIDs là:
- Các kiểu kết cấu/cấu trúc: các cấu trúc khác nhau ứng với một hành vi ngôn
ngữ khác nhau Ví dụ: Có X không?, X phải không? Thực hiện hành vi ngôn ngữ hỏi;
không được X, cấm X ! lại thực hiện hành vi ngôn ngữ cấm đoán;
- Những từ chuyên dụng cho biểu thức ngữ vi Thí dụ: các từ ngữ chuyên dùng
trong các biểu thức hỏi như: thế nào, tại sao…;
- Ngữ điệu: Cùng là một cấu trúc cú pháp hoặc cùng các từ ngữ được sắp xếp
giống nhau nhưng nếu phát âm với những ngữ điệu khác nhau /hoặc viết với dấu câu khác nhau thì biểu thức ngữ vi sẽ ứng với hành động ngôn từ khác nhau
- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể tạo nên nội dung mệnh
đề được nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh
Trang 24- Các động từ chỉ HVNN (động từ ngôn hành): là những động từ “khi được dùng trong những điều kiện nhất định thì ngay việc sử dụng nó cũng chính là cái hành động
mà nó biểu hiện” [88, Tr 224] Còn Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Động từ ngữ vi – động
từ ngôn hành là những động từ mà khi phát âm ra cùng với biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị” [11, Tr.97]
Austin cho rằng động từ ngữ vi chỉ được dùng trong chức năng ngữ vi (hiệu lực ngữ vi) khi trong phát ngôn nó được dùng ở ngôi thứ nhất (người nói Sp1) thời hiện tại thể chủ động và thức thực thi
Biểu thức ngữ vi thực chất là những kiểu câu cụ thể, thực có trong tất cả các ngôn ngữ Các loại biểu thức ngữ vi: biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp
Austin trong How to do things with words đã gọi các biểu thức ngữ vi có động từ
ngữ vi là biểu thức ngữ vi tường minh và gọi những biểu thức tuy vẫn có hiệu lực ở lời nhưng không có động từ ngữ vi là biểu thức ngữ vi nguyên cấp hay biểu thức ngữ vi hàm ẩn (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [11, Tr.101]) Theo Đỗ Hữu Châu, để xác định một phát ngôn nào đó thực hiện hành vi nào, tức xác định phát ngôn đó là biểu thức ngữ vi nguyên cấp nào, chúng ta phải dựa vào:
- Ngữ cảnh;
- Khả năng tái lập hoặc bổ sung các dấu hiệu chỉ dẫn ở lời IFIDs cho phát ngôn đó;
- Phát ngôn hồi đáp của người nghe (Sp2)
Thí dụ phát ngôn: Mai tôi sẽ đến trở thành biểu thức hứa hẹn nếu chúng ta có thể tường minh hóa nó thành: Tôi hứa mai tôi sẽ đến Và nếu Sp2 hồi đáp, Thí dụ: Tốt
quá, tôi sẽ đón anh ở bến xe
Nhưng sẽ trở thành biểu thức đe dọa nếu Sp1 bổ sung thêm: Liệu chừng! Mai tôi
sẽ đến
Trong thực tế ngôn ngữ, phổ biến và thường xuyên là các biểu thức ngữ vi nguyên cấp Như thế, các biểu thức ngữ vi nguyên cấp và năng lực làm chủ được các biểu thức ngữ vi nguyên cấp – với các IFIDs đặc trưng tương ứng với hành vi ở lời là
cơ sở để lí giải các phát ngôn nghe được, đọc được
Trang 25Trong luận án, chúng tôi thống nhất với các tác giả về quan điểm biểu thức ngữ
vi tường minh là biểu thức chứa động từ ngôn hành; biểu thức ngữ vi nguyên cấp là biểu thức không chứa động từ ngôn hành
1.2.1.4 Điều kiện thực hiện hành vi ngôn ngữ
Theo Đỗ Hữu Châu, “điều kiện sử dụng các hành động ở lời (HVNN) là những điều kiện mà một hành động ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ
cảnh của sự phát ngôn ra nó” [11, Tr.111] còn gọi là những “quy tắc để cho việc thực
hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó” [11, Tr.116]
Mỗi HVNN đòi hỏi có những điều kiện nhất định để nó thực hiện Muốn nói điều
gì đó thì cần có người nghe và hiểu điều mình nói Thí dụ người ra lệnh phải ở thế trên, bậc trên của người nhận lệnh Đó là điều kiện để thực hiện có hiệu quả một HVNN, mà cụ thể là hành vi ở lời, được gọi là điều kiện dùng của nó
Searle cho rằng có 4 điều kiện, mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau tuỳ theo từng phạm trù, từng loại và từng hành vi ở lời cụ thể Đó là:
1) Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành vi Nội dung
mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín,
miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín, tức là những câu hỏi chỉ
có hai khả năng trả lời có hoặc không; phải, không phải Gọi là hàm mệnh đề vì phát
ngôn ngữ vi tương ứng với hành vi hỏi đưa ra hai khả năng (tương tự như hai biến, hai nghiệm trong một hàm toán học), người trả lời phải chọn lấy một mà trả lời Nội dung
mệnh đề có thể là một hành động của người nói (như hứa hẹn) hay một hành động của
người nghe (lệnh, yêu cầu)
2) Điều kiện chuẩn bị: Đây là điều kiện liên quan tới những hiểu biết của người
thực hiện hành động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền lợi, về trách nhiệm, về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận hành động Cũng thuộc điều kiện chuẩn bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối với hành động ở lời mà mình đưa ra
3) Điều kiện chân thành (điều kiện tâm lí): Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm
lí của người thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra
Trang 26Điều kiện tâm lí còn có nghĩa là người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động ở lời mà mình thực hiện Hứa hươu hứa vượn là hứa không chân thành
4) Điều kiện căn bản: Theo điều kiện này thì người thực hiện một hành động ở
lời nào đó khi phát ngôn ra biểu thức ngữ vi tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm mà hành động ở lời tạo ra biểu thức ngữ vi đó đòi hỏi
Vận dụng quan điểm này của J.R.Searle, chúng tôi xem xét điều kiện sử dụng HVTH
Thứ nhất: Điều kiện nội dung mệnh đề
Điều kiện nội dung mệnh đề biểu thị bản chất nội dung của HVTH Điều kiện này ứng với tiêu chí nội dung mệnh đề trong sự phân loại các HVNN của J.R.Searle HVTH có nội dung mệnh đề là bất cứ mệnh đề nào nhằm miêu tả, kể lại, trần thuật lại một sự tình nhằm làm cho đối tượng tiếp nhận biết sự tình đó Với tính chất nội dung mệnh đề như thế, HVTH thuộc loại hành vi cung cấp thông tin cho đối tượng tiếp nhận
và tác động tới nhận thức của đối tượng tiếp nhận bằng việc nêu ra những thông tin về
sự vật, sự việc, hiện tượng được nói đến Riêng trong VBHC, nội dung mệnh đề của HVTH rất phong phú, đa dạng nhưng phải có liên quan đến hoạt động quản lí của cơ quan, tổ chức (tức là những thông tin có tính pháp lí, quản lí), liên quan tới cá nhân, tổ chức, cơ quan tiếp nhận, thực hiện văn bản Thí dụ:
(1) Để thống nhất việc khen thưởng thành tích trong việc thực hiện Nghị định số
150/2006/NĐ-CP, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Thành phố hướng dẫn như sau: ( )
1 Căn cứ xét khen thưởng: ( )
2 Đối tượng và hình thức khen thưởng: ( )
3 ( )
(Công văn số 50/HDTĐ-KT ngày 27/3/2012 của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Thành phố Hà Nội V/v hướng dẫn khen thưởng tổng kết Nghị định số 150/2006/NĐ-CP) Trong thí dụ trên, nội dung mệnh đề là toàn bộ thông tin về công tác thi đua khen thưởng mà Hội đồng Thi đua- khen thưởng Thành phố hướng dẫn các cơ quan, cá nhân biết để thực hiện chính xác, theo đúng nội dung Nghị định 150/2006/NĐ-CP
Thứ hai: Điều kiện chuẩn bị
Trang 27Khi thực hiện HVTH, người phát ngôn (Sp1) có hiểu biết về khả năng thực hiện hành vi của người tiếp nhận (Sp2) Trong lĩnh vực hành chính, khả năng thực hiện hành vi này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận đã được quy định trong các văn bản pháp luật
Khi thực hiện HVTH, Sp1 có hiểu biết về vị thế xã hội của người tiếp nhận Vị thế xã hội của Sp1 và Sp2 trong lĩnh vực hành chính được xác định theo tiêu chí chức
vụ (với cá nhân) và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn (đối với tổ chức, cơ quan) chứ không theo các tiêu chí tuổi tác, giới tính, kinh tế, học vấn như các lĩnh vực khác Vị thế của Sp2 khi tiếp nhận HVTH trong VBHC là cá nhân, tổ chức, cơ quan liên quan tới cơ quan ban hành văn bản; là đối tượng có nhu cầu, có quyền, được cung cấp/được tiếp nhận thông tin liên quan tới hoạt động quản lí
Đồng thời, khi thực hiện HVTH trong VBHC, Sp1 có bằng cứ (có lí do) để cho rằng nội dung mệnh đề là đúng Tức là những thông tin được tái hiện chính là những
sự vật, sự việc, sự kiện, hiện tượng đã hoặc đang hoặc sẽ diễn ra trong thực tế quản lí Sp1 xác định mình chính là chủ thể cung cấp tin cho Sp2 Sp2 là cấp trên, cấp dưới, cơ quan ngang cấp hoặc công dân cần được cung cấp thông tin Còn Sp2 có trách nhiệm tiếp nhận thông tin và thực hiện.Thí dụ:
(2) Căn cứ Kế hoạch của UBMTTQ Việt Nam quận Tây Hồ về việc tổ chức Hội nghị
tiếp xúc cử tri để những người ứng cử đại biểu HĐND thành phố Hà Nội và Đại biểu HĐND quận Tây Hồ nhiệm kì 2016-2021 vận động bầu cử tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội,
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông báo việc phối hợp tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cụ
thể như sau:
1) Thời gian, địa điểm: (…)
2) Thành phần tham dự:
- Đại diện lãnh đạo Đảng ủy, BGH nhà trường;
- Thành viên Tổ bầu cử Trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
- BCH Đoàn Trường; Ban cán sự, BCH Chi đoàn các lớp
3) Phân công tổ chức thực hiện (…)
(Công văn số 578/ĐHNV ngày 10/5/2016 về việc tham dự Hội nghị tiếp xúc cử tri)
Ở thí dụ trên, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là Sp1 Trong quan hệ với Sp2, Sp1
là cấp trên, có trách nhiệm tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri; còn Sp2 được xác định ở
Trang 28mục Thành phần tham dự có trách nhiệm tham gia, đối thoại với người ứng cử đại
biểu Quốc hội và HĐND các cấp Việc tổ chức Hội nghị tiếp cúc cử tri là việc làm đúng pháp luật về bầu cử và được pháp luật cho phép
Thứ ba: Điều kiện chân thành
Khi thực hiện HVTH, Sp1 tin rằng nội dung mệnh đề là đúng Đối với VBHC, Sp1 nắm rõ thông tin mình cung cấp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức tiếp nhận văn bản
là thông tin gì, thông tin diễn ra như thế nào, độ tin cậy của các thông tin đó ra sao…
Ở thí dụ tại Công văn số 578/ĐHNV dẫn ở trên, mọi thông tin về thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung của Hội nghị được Trường Đại học Nội vụ Hà Nội xác định một cách chính xác Do đó, các đối tượng liên quan sẽ tiếp nhận đầy đủ và thực hiện chính xác như những yêu cầu nêu trong văn bản
Thứ tư: Điều kiện căn bản
Điều kiện căn bản chỉ ra trách nhiệm mà SP1 hoặc Sp2 bị ràng buộc khi thực hiện HVTH Trong lĩnh vực hành chính, khi thực hiện HVTH, Sp1 phải đảm bảo rằng nội dung mệnh đề đã phản ánh chính xác những sự vật, sự việc, sự kiện, hiện tượng có liên quan đến hoạt động quản lí của cơ quan, tổ chức (tức là những thông tin có tính pháp lí, quản lí)
1.2.2 Khái quát về lập luận
1.2.2.1 Khái niệm lập luận
Nguyễn Đức Dân đưa ra một định nghĩa khái quát: “Lập luận là hoạt động ngôn
từ Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một/ một số kết luận hay chấp nhận một/ một số kết luận nào đó” [19, Tr.165]
Theo Đỗ Hữu Châu, “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [11, Tr.155] Lập luận được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, nó chỉ sự lập luận, tức hành vi lập luận; thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận, tức toàn bộ cấu trúc của lập luận, cả về nội dung, cả về hình thức
Trang 29Dựa theo sự phân biệt về phương pháp lập luận và lĩnh vực lập luận, các nhà nghiên cứu phân biệt hai loại lập luận là lập luận theo logic hình thức và lập luận phi hình thức (lập luận trong ngôn ngữ tự nhiên)
Lập luận theo logic hình thức là lập luận đi tới cách đánh giá về giá trị chân lí đúng sai của sự kiện Nói cách khác, lập luận theo logic đi tới đích về giá trị chân lí Loại lập luận này đòi hỏi phải theo những quy luật logic Ở đây, chân lí được khẳng định qua các tiên đề và các quy tắc duy diễn theo các phương pháp suy luận hình thức như suy luận quy nạp ( quy nạp hoàn toàn và quy nạp không hoàn toàn), suy luận diễn dịch (suy luận một tiền đề, suy luận hai tiền đề) Trong logic, từ một hoặc một số phán đoán (mệnh đề) đã biết, ta suy ra phán đoán mới Sự suy ra đó gọi là một phép suy luận hay một lập luận Có hai phương pháp suy luận: diễn dịch và quy nạp “Suy luận quy nạp là suy luận mà kết luận là tri thức chung được khái quát từ những tri thức riêng lẻ, cụ thể Đây là tiến trình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, đi từ cái cụ thể đến cái khái quát” [19, Tr.183] Suy luận diễn dịch là “phép suy luận từ một phán đoán hay một số phán đoán, chúng ta suy đoán ra một số phán đoán khác, theo những quy tắc hình thức” [19, Tr.184]
Lập luận theo logic phi hình thức là thao tác mà người lập luận đưa ra những lí lẽ làm cho người tiếp nhận chấp nhận kết luận nào đó hoặc đi tới một xác tín nào đó Nói cách khác là lập luận để đi tới đích về tính hiệu quả Sự lập luận ở đây theo những tri thức, lí lẽ, phong tục, tập quán của một xã hội, một dân tộc mà hầu hết các cá nhân sống trong xã hội đó đều tuân thủ”
Trong luận án, chúng tôi thống nhất cách hiểu: Lập luận là hành vi ngôn ngữ
mà người viết (người nói) đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người đọc (người nghe) đến một hoặc một số kết luận hay chấp nhận một hoặc một số kết luận nào đó mà người viết (người nói) muốn đạt tới
1.2.2.2 Cấu trúc lập luận
Từ khái niệm lập luận đã trình bày ở trên, có thể thấy trong lập luận có các thành phần: lí lẽ (gọi là luận cứ), kết luận và cơ sở của lập luận Quan hệ giữa luận cứ và kết luận tạo thành quan hệ lập luận
Trang 30Theo Nguyễn Đức Dân [19], trong một lập luận, có 3 thành tố logic là: tiền đề (luận cứ), kết đề và lí lẽ Tiền đề là một hoặc nhiều dữ kiện xuất phát làm căn cứ cho lập luận, từ đó suy ra kết đề Kết đề (kết luận) là một khẳng định đích hay là một khẳng định mục tiêu Lí lẽ (còn gọi là luật suy diễn hay là luận chứng) là những yếu tố
mà nhờ đó từ tiền đề chúng ta suy ra kết đề Những yếu tố này có thể là những nguyên
lí, quy luật tự nhiên, những định lí, định luật, quy tắc trong các ngành khoa học tự
nhiên, kĩ thuật, và cũng có thể là những lí lẽ trong logic đời thường
Sơ đồ khái quát của một lập luận:
D C
(tiền đề, sự kiện) (kết đề)
L
(lí lẽ, luật suy diễn)
Theo Đỗ Hữu Châu [11], trong lập luận, lí lẽ được gọi là luận cứ Vì vậy, luận cứ
và kết luận là những thành phần trong lập luận
a) Luận cứ
Luận cứ là tiền đề của lập luận Theo Bùi Minh Toán [114], luận cứ có thể là những sự việc, hiện tượng trong thực tế, có thể là những lí lẽ thông thường hay những tiền đề, định luật khoa học…
Nguyễn Đức Dân [19] khi bàn về các phương thức gây hiệu quả lập luận cho rằng
có có các loại luận cứ: i) Luận cứ là định nghĩa: định nghĩa khoa học hay định nghĩa thông
thường như: Thời gian là vàng; 2) Luận cứ là cấu trúc so sánh: Là hình thức so sánh ngang bằng, không ngang bằng đều có thể dùng làm luận cứ cho lập luận như: Tăng
lương nhưng thực tế không tăng: Lương tăng bao nhiêu thì giá cả tăng bấy nhiêu
Trong lập luận trên, cấu trúc so sánh Lương tăng bao nhiêu thì giá cả tăng bấy
nhiêu được dùng làm luận cứ cho kết luận Tăng lương nhưng thực tế không tăng
+ Trích dẫn: đây là sự thuật lại một lời nói, một sự kiện, theo cách trực tiếp hay gián tiếp Thí dụ:
Trang 31(3) Căn cứ Công văn số 2165/BNV – CCHC, ngày 22/7/2008 của Bộ Nội vụ về việc
hướng dẫn qui định mức phụ cấp đối với cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả ở các cấp; trong đó có qui định: “ … Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả ở các cấp hưởng mức phụ cấp tối đa là 200.000 đồng/ người/tháng, do HĐND cấp tỉnh quyết định phù hợp khả năng ngân sách của địa phương…” ;
(Tờ trình số 51/TTr – UBND ngày 01/12/2009 của UBND tỉnh Bắc Ninh V/v quy định phụ cấp đối với cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thực hiện theo
cơ chế một cửa tỉnh Bắc Ninh)
Để trình HĐND tỉnh Bắc Ninh xem xét, quyết định việc qui định mức phụ cấp đối với cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, UBND tỉnh Bắc Ninh đã viện dẫn trực tiếp ý kiến chỉ đạo của Bộ Nội vụ (phần in đậm đặt trong dấu ngoặc kép)
+ Sự miêu tả, tường thuật lại sự kiện, nêu dữ kiện, những con số để củng cố thêm
cho lí lẽ Vậy nội dung miêu tả cũng là một loại luận cứ Thí dụ:
(4) II Hoạt động hợp tác quốc tế
- Tham dự Hội nghị Hiệu trưởng các trường Đại học thuộc khối Pháp ngữ (AUF); tiếp đón và làm việc với đại diện Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Hà Nội;
- Họp với Vụ Kinh tế đối ngoại – Bộ Kế hoạch đầu tư để xin tư vấn và chuẩn bị chương trình hợp tác giữa Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và Cục Lưu trữ Quốc gia Campuchia trong năm 2015 tại Kỳ họp Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Campuchia lần thứ 14;
- Xây dựng các chương trình hợp tác với Đại học Hồ Nam, Trung Quốc; Xúc tiến triển khai các hoạt động hợp tác trong năm 2015 với Trường Đại học Niagara (Mỹ);
- Báo cáo Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nội vụ về tình hình hợp tác với Campuchia từ năm
2012 đến nay và tình hình hợp tác với Liên bang Nga
(Báo cáo số 212/BC-ĐHNV ngày 25/5/2015 của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tổng kết công tác tháng 5 và phương hướng, nhiệm vụ tháng 6 năm 2015)
Để đi đến kết luận khẳng định Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong tháng 5 năm
2015 đã triển khai tốt hoạt động hợp tác quốc tế, báo cáo trên liệt kê 4 công việc mà Phòng Hợp tác quốc tế đã thực hiện
Trang 32- Về sự hiện diện, trong một lập luận, có thể có một luận cứ nào đó hàm ẩn Thí
dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng Con không nên chơi với nó Lập luận này thiếu một luận cứ: Nó không ngoan.
b) Kết luận
Kết luận là một khẳng định được rút ra từ các luận cứ
Về vị trí, kết luận có thể ở đầu, giữa hoặc cuối so với luận cứ
Về sự hiện diện, kết luận có thể hiện diện tường minh, tức là được nói rõ ra hoặc
có thể hàm ẩn, người lập luận không nói ra, người tiếp nhận phải căn cứ vào ngôn cảnh để suy ra
Thí dụ:
- Kết luận tường minh:
(5) Cơn bão Ketsana có sức tàn phá nặng nề và ảnh hưởng trực tiếp đến huyện Nam Đông
(p) Nhưng nhờ sự chủ động và nỗ lực cao của các cơ quan, ban, ngành, các địa phương và nhân dân trên địa bàn huyện (q) nên đã góp phần hạn chế thiệt hại do bão gây ra (r)
- Kết luận hàm ẩn: Mẫu quảng cáo mỹ phẩm:
- (6) Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng Nhưng không gì ngăn được bạn nổi lên với sản phẩm X
Kết luận hàm ẩn trong quảng cáo nêu trên chính là mục tiêu mà nhà quảng cáo muốn hướng đến Sản phẩm X rất đáng lựa chọn vì dùng nó sẽ làm cho bạn sáng hơn những người khác
1.2.2.3 Quan hệ lập luận
Theo Đỗ Hữu Châu, “Thuật ngữ quan hệ lập luận dùng để chỉ quan hệ giữa các thành phần của một lập luận với nhau Có quan hệ lập luận giữa luận cứ với luận cứ và
có quan hệ giữa luận cứ và kết luận” [11, Tr.156]
Về đặc tính của quan hệ lập luận, Đỗ Hữu Châu cho rằng, giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận Có luận cứ đồng hướng và có luận cứ nghịch hướng Nếu các luận cứ đều hướng tới một kết luận chung thì các luận cứ có quan hệ đồng hướng lập luận; nếu có luận cứ/ một số luận cứ hướng tới kết luận (r) còn luận cứ/ một
số luận cứ khác hướng tới kết luận ngược lại với (r) thì các luận cứ có quan hệ nghịch hướng lập luận
Trang 33Thí dụ về quan hệ đồng hướng lập luận: (7) Với tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp phần lớn đã chuyển mục đích sử dụng thành đất ở (p), các doanh nghiệp thành lập nhiều (q), số lượng nhà cho thuê tại phường trên 1.000 hộ và dân nhập cư tạm trú chiếm tỉ lệ
50%, đa số trong tuổi lao động (k) nên phường gặp rất nhiều khó khăn trong quản lí (r)
(Tờ trình Số: 51/TTr-UBND của UBND quận Gò Vấp ngày 04 tháng 7 năm 2006 Về điều chỉnh địa giới hành chính, chia tách các phường đông dân)
Thí dụ về quan hệ nghịch hướng lập luận: (8) Đa số cán bộ công chức có nguyện
vọng được nghỉ bù (p) nhưng do điều kiện về biên chế (q) nên đơn vị chỉ giải quyết cho hưởng 200% lương so với ngày làm việc bình thường, nếu bố trí nghỉ bù sẽ không có người
thay thế (r)
(Báo cáo số: 113/BC-UBND ngày 30/9/2009 của UBND TP Hồ Chí Minh Về thực trạng tổ chức làm việc ngày thứ bảy hàng tuần tại các cơ quan hành chính nhà nước nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)
Riêng đối với luận cứ nghịch hướng thì luận cứ nào hướng đến chấp nhận kết luận sẽ là luận cứ có lực lập luận (luận cứ có tác dụng lập luận) Nói cách khác, kết luận của lập luận là do luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh nhất trong các luận cứ quyết định [11, Tr.177] Luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh thường đặt sau luận cứ có hiệu lực lập luận yếu hơn
Đối với tam đoạn luận, hai mệnh đề làm luận cứ là đại mệnh đề, tiểu mệnh đề và một mệnh đề là kết luận Đại tiền đề là mệnh đề nêu cái chung, cái khái quát; tiểu mệnh đề nêu cái riêng, cái bộ phận so với cái chung nêu ở đại tiền đề Quan hệ giữa các tiền đề với nhau và giữa các tiền đề với kết luận trong tam đoạn luận rất chặt chẽ
1.2.2.4 Cơ sở lập luận
Cơ sở lập luận là những yếu tố mà nhờ nó chúng ta xuất phát từ luận cứ để suy ra kết luận Trong ngôn ngữ tự nhiên, các cơ sở lập luận (topos) là các chân lí có tính chất kinh nghiệm, các quy ước cộng đồng trong đó có các quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức, quy phạm văn hoá Các chân lí có tính chất kinh nghiệm còn được gọi là lẽ thường Đỗ Hữu Châu [11, Tr.198] cho rằng, tất cả các phát ngôn của chúng ta đều bị chi phối bởi một hoặc những lẽ thường nào đó Lẽ thường là những câu thúc xã hội vô hình, có khi vô thức, nhưng quy định chặt chẽ lời nói và cách xử sự của con người
Trang 34trong cuộc sống xã hội Không thể thống kê hết các lẽ thường bởi có những lẽ thường phổ quát của nhân loại, có những lẽ thường của từng khu vực trên thế giới, của từng quốc gia, dân tộc, chủng tộc, địa phương, cộng đồng nghề nghiệp, văn hoá… Trong lập luận đời thường, chính lẽ thường làm nên lập luận
1.2.2.5 Phân loại lập luận
a) Lập luận đơn và lập luận phức hợp
Dựa vào số lượng luận cứ và kết luận, có thể phân chia lập luận thành 2 loại là lập luận đơn và lập luận phức hợp Lập luận đơn là lập luận chỉ có một kết luận, các thành phần còn lại đều là luận cứ
Lập luận phức hợp là lập luận mà có R là kết luận chung, đi từ các kết luận bộ phận r1, r2, r3… Từ luận cứ p1, q1 ta có kết luận r1; r1 đóng vai trò luận cứ để có kết luận r2; r2 đóng vai trò luận cứ để có kết luận r3… cứ thế tiếp tục cho đến khi ta có kết luận chung, tổng thể R Lập luận phức hợp có 2 dạng chính:
b) Lập luận diễn dịch, quy nạp, so sánh, nhân quả, phản đề
Dựa vào tính chất, vị trí quan hệ giữa luận cứ và kết luận, có thể phân chia lập luận thành: lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp, lập luận so sánh, lập luận phản đề và lập luận nhân quả
Quy nạp là “quá trình suy nghĩ, vận động từ sự xem xét những hiện tượng, đối tượng riêng lẻ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa chúng với nhau, từ đó nhân lên thành nhận định khái quát, trừu tượng về những dấu hiệu chung của chúng (…) Khi chứng minh, biện luận, phương pháp này có sức thuyết phục lớn vì nó dựa trên sự kiện thực
Trang 35tế, trên những nhận xét cụ thể, được công nhận dần dần rồi từng bước chắc chắn tới kết luận cuối cùng [10, Tr 208-209]
Diễn dịch là “quá trình vận động của tư duy từ cái chung, cái khái quát, đến cái riêng, cái cụ thể (…) Diễn dịch là phương pháp lập luận được sử dụng rộng rãi nhất
Nó có sức thuyết phục lớn nếu tiền đề nêu lên là một chân lí hiển nhiên và những luận
Lập luận so sánh: là đối chiếu các đối tượng, các vấn đề, các sự kiện để phát hiện
ra những nét giống nhau hay khác nhau giữa chúng nhằm đi đến khẳng định, bênh vực,
đề cao hay bác bỏ một vấn đề nào đó
Lập luận phản đề: là quá trình lập luận xuất phát từ một luận điểm cần bác bỏ, người lập luận đưa ra lí lẽ, dẫn chứng để chứng minh luận điểm đó trái ngược với chân
lí, với sự thật
1.2.2.6 Các chỉ dẫn lập luận
Trong lập luận, các chỉ dẫn lập luận có vai trò rất quan trọng Về cơ bản, tác tử
(operateurs) cùng với các kết tử (connecteurs) được xếp vào nhóm các chỉ dẫn lập luận Chỉ dẫn lập luận được coi là những dấu hiệu hình thức nhờ chúng mà người nghe nhận ra được hướng lập luận và đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan hệ lập luận Đồng thời, chỉ dẫn lập luận có giá trị quy ước được các thành viên trong một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận Hễ cứ xuất hiện những chỉ dẫn trên thì tất cả mọi người trong cùng một cộng đồng phải thống nhất rằng cái lập luận nghe được phải được hiểu như vậy và tổ chức lập luận sao cho phù hợp với chúng Như vậy, tìm hiểu các chỉ dẫn lập luận chính là tìm ra các dấu hiệu hình thức mà nhờ chúng người nghe, người đọc nhận ra được hướng lập luận và các đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan hệ lập luận
Trang 36Do đó, để tạo lập nên những lập luận chặt chẽ và giàu sức thuyết phục cũng như
để hiểu được lập luận, hiểu được diễn ngôn, việc nghiên cứu hoạt động và chức năng của các chỉ dẫn lập luận là vô cùng quan trọng và cần thiết
a) Tác tử lập luận
Theo Đỗ Hữu Châu, tác tử lập luận là một yếu tố tình thái khi được đưa vào nội dung miêu tả nào đấy sẽ là thay đổi tiềm năng lập luận của nó, độc lập với thông tin
miêu tả vốn có của nó [11, Tr.180] So sánh: (1) Bây giờ mới 8 giờ và Bây giờ đã 8
giờ thì hướng tới 2 kết luận: (1) Từ từ đã, chưa vội đâu và (2) Muộn rồi, khẩn trương lên do 2 tác tử mới và đã thay đổi tiềm năng lập luận
Theo Nguyễn Đức Dân, tác tử lập luận là những yếu tố tác động vào một phát
ngôn sẽ tạo ra một định hướng nghĩa tạo nên tiềm năng cho một lập luận xác định
Trong tiếng Việt, tác tử lập luận có số lượng không nhiều Thí dụ:
Hướng về kết luận “khẩn trương lên”, có tác tử đã… rồi; hướng về kết luận “cứ
từ từ”, có tác tử mới… thôi; hướng về kết luận “ít, nhẹ”, có tác tử chỉ… là nhiều; hướng về kết luận “nhiều, nặng”, có tác tử những, là ít; hoặc: Không… thì cũng, đã… lại, đã… mà lại, vả lại, lại, chán, đấy chứ, thì có, có, thôi, những, kia, không thì…
b) Kết tử lập luận
Theo Đỗ Hữu Châu, kết tử lập luận là những yếu tố như các liên từ đẳng lập, liên
từ phụ thuộc, các trạng từ và các trạng ngữ… phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thành một lập luận duy nhất Nhờ kết tử mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kết luận của một lập luận [11, Tr.184]
Theo Nguyễn Đức Dân, kết tử lập luận là yếu tố liên kết tiền đề với kết đề trong
một lập luận Kết tử lập luận thường thấy là tuy… nhưng; tuy … song; “còn… đã …;
mới … đã…; chưa… đã…; đã … vẫn …; đã … còn …; đã … vẫn còn …; đã … vẫn chưa…; đã… cũng vẫn; đã … cũng còn…; mới … cũng đã…
Phân loại kết tử lập luận:
- Dựa theo số lượng luận cứ và kết luận trong lập luận, kết tử được chia thành: kết tử 2 vị trí, kết tử 3 vị trí
Trang 37Kết tử 2 vị trí là những kết tử chỉ cần có một luận cứ và một kết luận là đủ thành một lập luận, không nhất thiết phải có thêm luận cứ Kết tử 2 vị trí là những cặp liên từ tạo nên câu ghép:
+ vì… nên…, bởi vì cho nên, bởi vì thành ra, bởi vì thành thử, do nên,
tại nên…, bởi vì… nên…,
+ Hễ…thì, nếu thì, giả sử thì, giá như thì
+ và, hoặc… hoặc…,
+ để, để cho, giúp cho
+ chắc chắn, đương nhiên, nhất định, thế nào cũng, tất nhiên…
Thí dụ: Do điều kiện ngân sách tỉnh còn nhiều khó khăn, nên chưa có chủ trương đầu
tư xây dựng được Kho lưu trữ chuyên dụng của tỉnh theo đúng yêu cầu về kỹ thuật.
Kết tử 3 vị trí là những kết tử đòi hỏi phải có hai luận cứ và một kết luận mới
thành một lập luận Kết tử 3 vị trí gồm: nhưng, mặc dù…Thí dụ:
(9) Đối với các thửa đất ở thuộc vị trí 2, 3,4 cách chỉ giới hè đường, phố từ 200m trở
lên được xem xét giảm giá (mức quy định là 5%, 10%,15%), kiến nghị không áp dụng quy
định này trong GPMB vì thực tế áp dụng tại một số dự án vấp phải sự phản ứng của những người bị thu hồi đất có cùng vị trí nhưng giá đất đền bù chênh lệch nhau dẫn đến tiến độ
Kết tử dẫn nhập luận cứ là kết luận đưa ra một nội dung (hay một hành vi ở lời)
vào làm luận cứ cho một lập luận [19, Tr.185] Đó là những kết tử như: vì, tại vì, vả
lại, hơn nữa, chẳng những…mà còn, không những…mà còn, đã…lại (lại còn), không phải…mà là, v.v…Thí dụ:
(10) Về tuổi của người lái xe, nhất là đối với lái xe kinh doanh vận tải hành khách qua
tổng kết 6 năm thi hành Luật năm 2001, có nhiều ý kiến tham gia, đặc biệt là các địa phương
đề nghị theo hướng nâng độ tuổi của lái xe chở người vì lý do để bảo đảm an toàn giao thông, nhất là đối với vận tải hành khách, việc nâng độ tuổi, thâm niên kinh nghiệm của lái xe
Trang 38ô tô chở người là cần thiết nhằm bảo đảm người lái có tâm lý ổn định, có kinh nghiệm để xử
lý các tình huống giao thông trên đường và ứng xử với khách
(Tờ trình số 27/TTr-CP ngày 01/4/2008 của Chính phủ trình Quốc hội Dự án Luật Giao thông đường bộ sửa đổi)
Kết tử dẫn nhập kết luận là kết tử nối một nội dung (hoặc một hành vi ở lời) đóng
vai trò kết luận cho lập luận với luận cứ [19, Tr.185] Đó là những kết tử như: thì, nên,
vậy nên, cho nên, vậy, dù thế nào cũng, dù sao cũng, vì vậy… Thí dụ:
(11) Thực hiện dán tem hàng nhập khẩu là biện pháp tích cực để chống nhập lậu và tiêu
thụ hàng nhập lậu Công tác này có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân và có các loại hình
kinh doanh, lại phải triển khai trong thời gian ngắn Do đó, sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp
Vì vậy, ủy ban nhân dân thành phố yêu cầu các cấp, các ngành cần coi đây là một công tác
trọng tâm, đột xuất; phải tập trung chỉ đạo sát sao theo yêu cầu của Chỉ thị này và Thông tư
số 30/1998/TTLT - BTC - BNV - TCHQ ngày 16/3/1998 của Liên bộ Tài Chính - Thương mại
- Nội vụ - Tổng cục Hải quan
(Chỉ thị của UBND Thành phố Hà Nội về việc tăng cường công tác chống nhập lậu)
- Dựa theo định hướng lập luận, kết tử được chia thành kết tử đồng hướng và kết
tử nghịch hướng lập luận
Kết tử đồng hướng lập luận là những kết tử kết nối các luận cứ cùng hướng đến một
kết luận Đó là những kết tử như: và, hơn nữa, thêm vào đó, vả lại, lại còn, đã…lại,
chẳng những…mà còn, huống hồ, huống chi, quả thật, thật vậy, nữa là…Thí dụ:
(12) Năm 2009, Hậu Giang chịu ảnh hưởng chung của tình hình khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp (sản xuất giảm, hàng hoá khó tiêu thụ, công nhân thiếu việc làm, mất việc, các doanh nghiệp đầu tư chậm lại…) ảnh hưởng đến nền kinh tế
nước ta; thêm vào đó, sự xuất hiện của dịch cúm A/H1N1, đã gây thêm khó khăn cho sản xuất
và đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân
(Báo cáo số 205/BC-UBND ngày 04/12/2009 của UBND tỉnh Hậu Giang kiểm điểm sự chỉ đạo điều hành năm 2009 và nhiệm vụ công tác năm 2010 của UBND tỉnh)
Kết tử nghịch hướng lập luận là những kết tử nối các luận cứ hướng đến những
kết luận phủ định nhau, thậm chí ngược chiều nhau Đó là những kết tử: nhưng, thế
mà, thực ra, tuy nhiên, tuy… nhưng, tuy vậy… Thí dụ:
Trang 39(13) Trong thời gian qua, Quảng Nam đã tích cực chỉ đạo các ngành, cơ quan, doanh
nghiệp thuộc nguồn nộp lưu thực hiện việc chỉnh lý và bảo quản tài liệu Tuy nhiên, do hạn
chế diện tích và điều kiện bảo quản của Kho lưu trữ, một số lượng lớn tài liệu khoảng hơn 1.200 mét hiện nay chưa được thu về bảo quản, phải gửi lại các đơn vị không được bảo quản thống nhất, dễ mất mát và hư hỏng Đây là một khó khăn trở ngại rất lớn trong quá trình thực hiện quy định của Nhà nước về lưu trữ tài liệu
(Báo cáo số 146/BC-UBND ngày 27/10/2009 của UBND tỉnh Quảng Nam Đầu tư xây dựng Kho lưu trữ chuyên dụng tỉnh Quảng Nam)
1.2.3 Khái quát về giao tiếp trong lĩnh vực hành chính
1.2.3.1 Đặc thù của giao tiếp trong lĩnh vực hành chính
Ngữ dụng học nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp Theo Đỗ Hữu Châu, [11,15], giao tiếp là một hoạt động có các nhân tố sau đây góp phần hình thành nên: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn
- Ngữ cảnh gồm:
+ Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân
+ Hiện thực ngoài diễn ngôn là các yếu tố vật chất, xã hội, văn hóa có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của cuộc giao tiếp Hiện thực ngoài diễn ngôn gồm đề tài diễn ngôn, hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường (hoàn cảnh giao tiếp hẹp), ngữ huống giao tiếp
- Ngôn ngữ: Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống tín hiệu là các ngôn ngữ
S – Setting: thời gian, không gian
Scence: (tạm dịch thoại cảnh): thoại trường tâm lí (psychological setting): quy
ước, phi quy thức; hội lễ (festive) trang trọng (serious)
Trang 40P – Participants: người tham gia: người nói/người phát; người nghe/người nhận,
thính giả
E- Ends (Purposes) đích: mục đích, hiệu quả
A – Acts sequence: chuỗi hành vi: thông điệp, hình thức và nội dung
K – Key: giọng: sắc điệu (tone), cách thức hay tinh thần
I – Instrumentalities (tính phương tiện): đường kênh (không khí hay viết…) và
hình thức (ngôn ngữ chung, phương ngữ, ngữ vực) như là phương tiện nói
N – Norms of interaction (chuẩn mực của tương tác): đặc tính bị chi phối bởi quy
tắc của sự nói (liên tục, thì thầm trong nhà thờ…)
Norms of interpretation (chuẩn mực thuyết giải) cách thức theo đó mà người này
thuyết giải hành vi của người kia
Genres (loại thể): thơ, bài giảng…
(Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [11, 39])
Do tính chất hành chính quy định cho nên bên cạnh những đặc điểm chung của giao tiếp như vừa nêu trên, giao tiếp trong lĩnh vực hành chính còn có những đặc thù riêng, khác với các lĩnh vực giao tiếp khác
Tác giả Vũ Thị Sao Chi trong Nghiên cứu, khảo sát ngôn ngữ hành chính phục
vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam [14] đã chỉ ra rằng, thực hiện chức
năng quản lí, tổ chức điều hành công việc chung của xã hội hay của cơ quan, tổ chức
có liên quan đến lợi ích công cộng, tập thể hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, đặc thù
nổi bật của giao tiếp hành chính đó là hoạt động giao tiếp mang tính chất pháp lí, tính chất công vụ, đòi hỏi lí trí cao, do đó hạn chế, thậm chí triệt tiêu yếu tố cảm
tính, chủ quan cá nhân Điều đó được phản ánh rõ nét ở tất cả các nhân tố trong giao tiếp hành chính Các nhân tố cụ thể trong giao tiếp hành chính gồm: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đề tài giao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung và hình thức của phát ngôn
a) Về hoàn cảnh giao tiếp
Trên thực tế, Nhà nước quản lí các lĩnh vực hoạt động trong xã hội thông qua các quy phạm pháp luật Những luật lệ được hình thành đã xác lập các quy tắc xử sự chung, tạo nên “hành lang” pháp lí, hướng dẫn, điều chỉnh, chi phối tất cả các quan hệ