1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng các dân tộc thiểu số ở tỉnh hòa bình trong lịch sử đến năm 1945

70 447 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 589,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất liệu dệt nên tấm thảm đó là lịch sử, là ngôn ngữ, là hoạt động kinh tế, các phong tục tập quán liên quan đến vai trò thiết yếu của con người, 54 dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ VĂN LỰC

THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1945

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ VĂN LỰC

THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1945

Chuyên ngành: Lịch sử địa phương

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Lực

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành khóa luận này, em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Lực

Em cũng xin cảm ơn các thầy cô khoa Sử - Địa cùng các bạn lớp K52 ĐHSP Lịch sử, thư viện Trường Đại học Tây Bắc, thư viện tỉnh Hòa Bình, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình triển khai thực hiện đề tài này

Đây là công trình đầu tiên của em cộng với những khó khăn về tài liệu khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy, cô và các bạn sinh viên

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 05 năm 2015

Người thực hiện

Hà Văn Lực

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài 4

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

3.2 Mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài 4

4 Cơ sở tài liệu và và phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Cơ sở tài liệu 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Cấu trúc của đề tài 5

Chương 1 : KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH 6

1.1 Vị trí địa, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 6

1.1.1 Vị trí địa lí 6

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 6

1.1.2.1 Địa hình 6

1.1.2.2 Khí hậu 7

2.1.2.3 Sông ngòi 8

1.1.3.1 Tài nguyên đất đai 9

1.1.3.2 Tài nguyên khoáng sản 9

1.1.3.3 Tài nguyên rừng 10

1.2 Tình hình dân cư, kinh tế văn hóa, xã hội 10

1.2.1 Tình hình dân cư 10

1.2.1.1 Dân số 10

1.2.1.2 Dân tộc 11

1.2.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình trước năm 1945 11

Trang 5

1.2.2.2 Văn hóa, xã hội 12

1.2.2.3 Truyền thống lịch sử 12

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1858 15

2.1 Dân tộc Mường 15

2.1.1 Nguồn gốc lịch sử 15

2.1.2 Địa vực cư trú 16

2.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 16

2.1.4 Đặc trưng văn hóa 20

2.2 Dân tộc Thái 21

2.2.1 Nguồn gốc lịch sử 21

2.2.2 Địa vực cư trú 23

2.2.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 23

2.2.4 Đặc trưng văn hóa 25

2.3 Dân tộc Tày 28

2.3.1 Nguồn gốc lịch sử 28

2.3.2 Địa vực cư trú 28

2.3.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 29

2.3.4 Đặc trưng văn hóa 30

2.4.1 Nguồn gốc lịch sử 31

2.4.2 Địa vực cư trú 32

2.4.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 32

2.4.4 Đặc trưng văn hóa 33

2.5 Dân tộc H’Mông 35

2.5.1 Nguồn gốc lịch sử 35

2.5.2 Địa vực cư trú 36

2.5.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 36

2.5.4 Đặc trưng văn hóa 38

Tiểu kết 39

Trang 6

Chương 3: THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH TỪ

NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1945 40

3.1 Dân tộc Mường 40

3.1.1 Địa vực cư trú 40

3.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 40

3.1.3 Đặc trưng văn hóa 43

3.2 Dân tộc Thái 45

3.2.1 Địa vực cư trú 45

3.2.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 45

3.2.3 Đặc trưng văn hóa 50

3.3.1 Địa vực cư trú 52

3.3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 52

3.3.3 Đặc trưng văn hóa 53

3.4.1 Địa vực cư trú 54

3.4.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 55

3.4.3 Đặc trưng văn hóa 55

3.5.1 Địa vực cư trú 56

3.5.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 56

3.5.3 Đặc trưng văn hóa 58

Tiểu kết 59

KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngay từ khi hình thành dân tộc ở thời đại Hùng Vương, Việt Nam đã là quốc gia có đa thành phần dân tộc Cho đến nay Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống trải rộng ở khắp mọi miền của đất nước từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược

Dân tộc Việt Nam có bề dày truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, kiên cường bất khuất trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và lao

động xây dựng đất nước, đúng như Hồ Chủ tịch đã khẳng định:“Đồng bào Kinh

hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau No đói giúp nhau”

Có thể nói, đất nước Việt Nam đẹp như một bức tranh khảm hay như một tấm thảm dệt màu sắc hài hòa của 54 dân tộc anh em Quả đúng như vậy một tấm thảm không biết đan dệt bằng bao nhiêu đường chỉ ngang dọc, bao nhiêu sợi chỉ pha màu sắc khác nhau Tấm thảm văn hóa Việt Nam được dệt bằng 54 sợi màu chủ đạo, bằng hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa của mỗi dân tộc Chất liệu dệt nên tấm thảm đó là lịch sử, là ngôn ngữ, là hoạt động kinh tế, các phong tục tập quán liên quan đến vai trò thiết yếu của con người, 54 dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nên một đất nước đa dạng về truyền thống văn hóa, mỗi dân tộc đều có truyền thống nét văn hóa đặc sắc riêng nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sinh sống

Đóng góp vào thành quả và tinh hoa văn hóa chung đó có các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã cùng nhau đoàn kết, đồng lòng xây dựng và bảo vệ quê hương của mình Mỗi dân tộc đều có nét truyền thống văn hóa riêng góp phần vào công cuộc gìn giữ

và xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

Thế nhưng cho đến nay những hiểu biết và nghiên cứu về các dân tộc thiểu

số tỉnh Hòa Bình đặc biệt là trước năm 1945 vẫn còn nhiều hạn chế Vì thế việc

lựa chọn “Thực trạng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình trong lịch sử đến

năm 1945” làm đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 8

Về khoa học

+ Tái hiện một cách cụ thể, chi tiết hoàn chỉnh từ nguồn gốc ra đời đến đời sống kinh tế, văn hóa, địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình + Vai trò và vị trí của đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình nó riêng và Việt Nam nói chung

+ Làm đa dạng và phong phú thêm bức tranh văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam

trình và bài báo khoa học cụ thể là:

+ Cuốn: “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” tác giả Nguyễn Văn

Huy là bức tranh toàn cảnh về tất cả các dân tộc Việt Nam, về đời sống văn hóa trong đó có các dân tộc thiểu số trong tỉnh Hòa Bình [6]

+ Cuốn: “Văn hóa truyền thống một số tộc người Hòa Bình” của PGS -

TS Nguyễn Thị Thanh Nga (NXB văn hóa dân tộc 2007) có những nghiên cứu đến đời sống văn hóa các dân tộc ở Hòa Bình Tuy nhiên chưa nói được đầy đủ tất các dân tộc thiểu số trong tỉnh [11]

+ Cuốn: “Địa chí Hòa Bình” do Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban

nhân dân tỉnh Hòa Bình ( NXB Chính trị 2005) có nghiên cứu đến nguồn gốc cũng như đời sống văn hóa của các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình nhưng một cách khái quát và chưa thật sự đầy đủ [14]

Trang 9

+ Cuốn: “Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam” của Ban dân tộc Khu Tây

Bắc, xuất bản 1975 Đây là công trình có liên quan nhiều nhất đến đề tài, cuốn sách bước đầu đã đề cập đến một số vấn đề về kinh tế - xã hội, địa bàn cư trú, truyền thống lịch sử văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc trong đó có người Mường Riêng đối với người Mường, ngoài việc vắn tắt về đặc điểm kinh tế xã hội, công trình cũng đã đề cập đến cả về lĩnh vực tôn giáo, chữ viết và mối quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Bắc - Việt Nam… Tuy nhiên, sự đề cập đó còn rất sơ lược, chung chung; thậm chí một số thuật ngữ, nhận định, sự kiện vẫn cần phải được trao đổi thêm [16]

+ Cuốn: “Các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam (dẫn liệu nhân

chủng học)” Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1976 Đây cũng là công

trình có liên quan nhiều nhất đến đề tài, cuốn sách bước đầu đã đề cập đến một

số vấn đề về kinh tế - xã hội, địa bàn cư trú, truyền thống lịch sử văn hoá các dân tộc ở miền Bắc trong đó có người Mường Đối với cộng đồng dân tộc Mường, ngoài việc vắn tắt về đặc điểm kinh tế xã hội, công trình cũng đã đề cập đến cả về lĩnh vực tôn giáo, chữ viết và mối quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Bắc

- Việt Nam… tuy nhiên, sự đề cập đó còn rất sơ lược, thậm chí một số thuật ngữ, nhận định, sự kiện vẫn cần phải được làm rõ thêm [4]

+ Cuốn: “Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược

1858-1930”, Tập 1 (Sơ thảo) của Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản năm

1972 Công trình đã khái quát được những nét chung về phong trào yêu nước chống Pháp của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, trong đó có sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mường, nhất là cuộc khởi nghĩa của Lương Bảo Định và một số cuộc khởi nghĩa do các thủ lĩnh dân tộc Thái khởi xướng và lãnh đạo từ 1858 đến năm 1930… tuy nhiên, cuốn sách vẫn chưa làm rõ được cụ thể, chi tiết về quá trình tộc người của cộng đồng người Mường, về vị trí vai trò của cộng đồng người Mường trong công cuộc lao động xây dựng đất nước và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc [2]

+ Cuốn: “Một số vấn đề lịch sử và văn hóa Tây Bắc” Nhà xuất bản Đại

học Sư phạm, Hà Nội năm 2011 cũng đã đề cập khái quát những vấn đề cơ bản

về địa bàn cư trú, đặc điểm kinh tế xã hội, bản sắc văn hóa của dân tộc Mường

Trang 10

từ 1954 đến nay tuy nhiên sự đề cập đó còn rất vắn tắt và chung chung, nhiều vân sđề khoa học về dân tộc Mường vẫn chưa được làm rõ [10]

Có thể nói cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu vế thực trạng các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình trong lịch sử đến năm 1945 môt cách hoàn chỉnh, toàn diện Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học cũng đã định hướng và cũng là nguồn tài liệu quý cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này Làm rõ những vấn đề khoa học mà các công trình khác chưa có điều kiện thực hiện

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng của đề tài là thực trạng các dân tộc của tỉnh Hòa Bình trong lịch sử đến năm 1945

+ Làm rõ thực trạng của các dân tộc thiểu số Hòa Bình trong lịch sử đến

năm 1945

3.2 Mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài

+ Tái hiện một cách cụ thể, chi tiết hoàn chỉnh từ nguồn gốc ra đời đến đời sống kinh tế, văn hóa, địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình + Vai trò và vị trí của đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình nói riêng và Việt Nam nói chung

+ Làm đa dạng và phong phú thêm bức tranh văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam

+ Bổ sung nguồn tài liệu của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình vào kho tàng văn hóa Việt Nam

+ Làm tài liệu để biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương, trong các trường phổ thông, đại học, cao đẳng ở Tây Bắc

+ Góp phần giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số

4 Cơ sở tài liệu và và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở tài liệu

Đề tài dựa vào các tài liệu lưu trữ ở Trung ương và địa phương, bằng tiếng

Trang 11

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ chí Minh, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra còn kết hợp các phương pháp khác như: phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá tư liệu, sưu tầm tư liệu…

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, tài liệu tham khảo đề tài có kết cấu 3 chương

Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình

Chương 2: Thực trạng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình trong lịch

sử đến năm 1958

Chương 3: Thực trạng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình từ năm

1958 đến năm 1945

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH

1.1 Vị trí địa, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí

Hòa Bình là tỉnh miền núi giáp với đồng bằng sông Hồng và vùng núi Tây Bắc; phía bắc giáp Phú Thọ, phía tây giáp Sơn La, phía nam giáp Thanh Hóa và Ninh Bình, phía đông giáp Hà Nội và Hà Nam Tỉnh Hòa Bình trải dài từ 20018’ đến 2108’ vĩ độ Bắc và từ 104050’ đến 105052’ kinh Đông Hòa Bình có diện tích tự nhiên là 4.811km2

- đứng hàng thứ 30 và với số dân 757.637 người (năm 1999) [13, tr.79]

Hòa Bình án ngữ cửa ngõ miền Tây Bắc của Tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 80km về phía tây theo quốc lộ 6 Hòa Bình có vị trí địa lí quan trọng, là đầu mối giao thông nối liền miền xuôi với miền núi Tây Bắc trên trục kinh tế Hà Nội – Hà Đông – Hòa Bình – Mộc Châu – Sơn La – Lai Châu Theo đường 15, Hòa Bình là điểm xuất phát của tuyến đường Trường Sơn lịch sử, nay nối Hòa Bình với miền tây Thanh Hóa Hơn hết, Hòa Bình chiếm vị trí trung chuyển giữa miền Tây Bắc núi non trùng điệp, giàu tiềm năng tài nguyên thiên nhiên nhưng thiếu lao động, với miền đồng bằng châu thổ sông Hồng phì nhiêu nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng, có nguồn lực lao động lớn nhất cả nước Với vị trí như vậy đã tạo những điều kiện nhất định để cho cư dân phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Địa hình

Nhìn chung, địa hình của tỉnh Hòa Bình nổi bật với những đặc điểm sau: Hòa Bình là một tỉnh miền núi điển hình Hầu như toàn bộ diện tích của tỉnh là núi và cao nguyên Giữa núi và cao nguyên là những thung lũng sông suối, không có một đồng bằng nào đáng kể và đúng nghĩa của nó Núi đều thuộc

Trang 13

dưới 1000m, tập trung chủ yếu các huyện phía tây của tỉnh như Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc Rải rác có một số đỉnh núi cao xấp xỉ 1400m như Phu Canh (1420m), Pà Cò (1343m), Núi Biên (1198m)… chỉ có một diện tích rất nhỏ bé của các bề mặt đồng bằng, thung lũng là có độ cao tuyệt đối từ 20 đến 40m, tập trung ở Lạc Thủy và Yên Thủy

Địa hình Hòa Bình thấp dần từ Tây sang Đông Phía tây của tỉnh là các đỉnh núi có độ cao trung bình trên 500m, một số đỉnh núi cao trên 100m như Hang Kia (1044m), dải núi đá vôi Pà Cò (1343m) Phu Canh (1420m) Khu vực trung tâm của tỉnh có độ cao giảm xuống 300m Khu vực phía đông giáp với Hà Nội,

độ cao trung bình chỉ còn dưới 100m [13, tr.84]

Hướng chủ yếu của địa hình là tây bắc – đông nam Hầu hết các dãy núi hay thung lũng đều chạy theo hướng tây bắc – đông nam Các dãy núi phía tây thuộc hệ Trường Sơn, nằm ở tả ngạn sông Đà, kéo dài từ Mai Châu qua Tân Lạc

và kết thúc ở nam Yên Thủy

Do ảnh hưởng của đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, ở vùng núi quá trình xâm thực chia cắt địa hình diễn ra mạnh mẽ, mạng lưới thủy văn dày, độ dốc lớn, mật độ chia cắt địa hình cao, quá trình xâm thực, lở đất đất trượt phát triển mạnh Ở các khu vực đá vôi hình thành các dạng địa hình cacxtơ độc đáo như động Thác Bờ, động Cô Tiên, hang Luồn (Yên Bồng – Chi Nê); nhiều lòng chảo cacxtơ rộng thuận lợi cho việc tập trung dân cư và phát triển nông nghiệp

1.1.2.2 Khí hậu

Hòa Bình mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với một mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa và một mùa hạ dài, nóng, mưa nhiều Khí hậu Hòa Bình mang tính chất rõ nét do có chế độ bức xạ nội chí tuyến mang lại một nền nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình hàng năm ở các nơi trong tỉnh thường trên dưới 230

C

Tính chất gió mùa đã tạo nên sự khác biệt rất rõ rệt giữa hai mùa Về mùa đông, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, đặc biệt trong 3 tháng (XII, I, II), nhiệt độ không khí giảm đi rõ rệt Trung bình tháng ở thành phố Hòa Bình dưới

200C Vào thời kì này, lượng mưa rất ít, ở thành phố Hòa Bình chỉ đạt 128,8mm

Trang 14

Mùa hạ ở Hòa Bình thường kéo dài hơn các nơi khác trong vùng Từ tháng III đến tháng XI không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 200

C Trong mùa

hạ, lượng mưa và số ngày mưa cao Mùa mưa thương bắt đầu từ tháng V đến tháng X, tập trung đông nhất vào tháng VII, VIII, IX với lượng mưa trung bình tháng khoảng 300 – 400mm Vì thế, lượng mưa bình quân năm ở Hòa Bình khá cao, thường từ 1800 – 2200mm

Một đặc điểm khác của khí hậu Hòa Bình là hay có biến động chủ yếu do gió mùa kết hợp với địa hình gây nên Những số liệu quan trắc qua nhiều năm cho thấy các cực trị khác biệt rất xa so với khoảng cách trung bình Nhiệt độ cao nhất đo được ở Mai Châu là 410C (ngày 12/5/1996), ở thành phố Hòa Bình tới 41,20C (ngày 16/5/1940), trong đó nhiệt độ thấp nhất cũng hạ xuống tới 1,90C ở thành phố Hòa Bình và Mai Châu Lượng mưa ở Thành phố Hòa Bình chỉ trong ngày 21/9/1975 đã đạt tới 340,6mm Các cơn giông cũng thường hay xảy ra vào mùa hạ, trung bình tới 70 ngày có giông trong một năm [13, tr 86, 87]

Nhìn chung, lượng nhiệt và độ ẩm dồi dào đã tạo điều kiện cho các nghành sản xuất nông lâm nghiệp phát triển, khôi phục nhanh chóng thảm thực vật rừng Tuy nhiên những biến động thời tiết cũng gây nhiều trở ngại bất thường cho sản xuất và đời sống

2.1.2.3 Sông ngòi

Hòa Bình có mạng lưới thủy văn tương đối dày đặc Trong tỉnh có 11 con sông chính, thuộc các hệ thống sông Đà, sông Bưởi… có sông Đà là sông lớn nhất nằm trong hệ thống sông Hồng chảy qua các huyện Mai Châu, Tân Lạc, Đà Bắc, thành phố Hòa Bình, Kì Sơn với tổng chiều dài lên đến 100km Sông Đà có đặc điểm tương đối dốc và chảy siết vì vậy có tiềm năng thủy điện lớn, đồng thời còn có giá trị về giao thông Ngoài sông Đà trong tỉnh còn có nhiều sông như sông Bôi (125km), sông Bưởi (130km), sông Bùi (32km) Ngoài ra trong tỉnh còn có hệ thống suối, hồ, ao, đầm… đa dạng tạo điều kiện cho việc cung cấp tưới tiêu đồng ruộng Hệ thống sông suối mang lại nguồn thủy sản và phát triển du lịch

Trang 15

1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

1.1.3.1 Tài nguyên đất đai

Nguồn gốc tạo nên các loại đất trên địa bàn tỉnh Hòa Bình là các loại đá trầm tích, mác ma và đá biến chất Trên mỗi loại đá phát triển một loại đất với những tính chất khác nhau Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng ẩm và lạnh khô khác biệt khá rõ rệt là một trong những điều kiện hình thành đất feralit, lọai đất điển hình của tỉnh

Hòa Bình có 7 nhóm đất chính với 23 loại đất khác nhau Gồm nhóm đất phù sa, nhóm đất dốc tụ, nhóm đất đen trên sản phẩm phong hóa đá vôi, nhóm đất bạc màu, nhóm đất feralit có diện tích lớn nhất

Nhìn chung nhóm đất feralit là nhóm đất điển hình của tỉnh chiếm phần lớn diện tích và gấp khoảng 18 lần đất phù sa Đại bộ phận đât feralit có tầng trung bình và dày, phát triển trên địa hình dốc dưới 300, nhiều khả năng thâm canh lâm nghiệp và trồng cây công nghiệp lâu năm, một phần để trồng cây công nghiệp ngắn ngày và cây lương thực

Loại đất phù sa ven các con sông tạo điều kiện trồng các loại cây ngắn ngày như: lạc, đậu, rau, củ, lúa… cây lâu năm như chè, vải nhãn và đặc biệt trồng rừng nguyên liệu

1.1.3.2 Tài nguyên khoáng sản

Do đặc điểm kiến tạo và cấu trúc địa chất phức tạp, đa dạng nên Hòa Bình

là tỉnh có nguồn khoáng sản phong phú, với tiềm năng ở mức độ khác nhau Nhiều loại khoáng sản được thăm dò, khai thác sử dụng từ lâu Có loại đang được nghiên cứu và khai thác bước đầu

Khoáng sản trong tỉnh có thể chia thành 4 nhóm chính: nhiên liệu (than), kim loại (vàng, sắt, đa kim, đồng, chì, kẽm, thủy ngân, atimoan và boxit), phi kim loại (pirit, phốtphorit, cao lanh, sét) và nước khoáng

Với tiềm năng khoáng sản đa dạng và phong phú như trên, Hòa Bình đã và đang tiến hành nghiên cứu, định hướng quy hoạch, khai thác và sử dụng một cách hợp lí

Trang 16

1.1.3.3 Tài nguyên rừng

Nằm ở vùng nhiệt đới ẩm nên giới sinh vật của Hòa Bình khá phong phú và

đa dạng Nông – lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng lâm nghiệp với diện tích tương đối lớn tạo cho Hòa Bình có nguồn tài nguyên phong phú, với nhiều loại gỗ quý như: lim, lát, dò, de… dùng trong xây dựng và nhiều loại sử dụng trong dân dụng như: tre, nứa, song, mây… ngoài ra còn có nhiều sản vật quý như: nấm hương, linh chi, măng, mộc nhĩ… rừng còn nhiều loại cây thuốc quý như: sa nhân, hoài sơn, hà thủ ô, ngũ gia bì, thổ phục linh… trong rừng có nhiều loại động vật quý hiếm

1.2 Tình hình dân cƣ, kinh tế văn hóa, xã hội

1.2.1 Tình hình dân cư

1.2.1.1 Dân số

Đến năm 1999 dân số tỉnh Hòa Bình đạt 757.645 người So với năm 1975 khi còn là một bộ phận của tỉnh Hà Sơn Bình dân số Hòa Bình khi đó mới có 432.200 người đã tăng thêm 325.445 người, bình quân mỗi năm tăng 3,01% Cùng với thời gian này (1975 – 1999), mức tăng dân số cả nước là 2,4% Tuy vậy hiện nay dân số Hòa Bình mới xếp thứ 46 và bằng 0,99% dân số cả nước Hòa Bình là tỉnh có biến động dân số vào loại mạnh và kéo dài hàng ¼ thế

kỉ qua Sự biến động nảy sinh trong điều kiện kinh tế lịch sử đặc biệt Đó là việc xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình đã bắt đầu giai đoạn nhập cư lao động với quy mô chưa từng có, đồng thời với việc phân bố dân cư khi quần cư vùng lòng hồ ngập chìm trong nước Mức tăng dân số cao liên tục suốt thập kỉ 80:

1980 – 1985 là 3,1%, 1986 – 1990 là 4,25% Bước sang thập kỉ 90, dân số tăng bình quân trung bình 1,39% Tuy vậy từ năm 1996 đến nay, mức tăng dân số đã

hạ thấp [13, tr 91]

Mật độ dân số trung bình của tỉnh năm 1999 là 152 người/km2 Như vậy so với các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc thì Hòa Bình có mật độ vào hàng trung bình, nhưng so với vùng Tây Bắc thì có mật độ dân số cao hơn hẳn (Sơn La: 61 người/km2, Lai Châu; 35 người/km2

) [13, tr 96] Đến nay dân số của tỉnh

Trang 17

ngày càng tăng cung cấp nguồn lao động tạo điều kiện thuận lợi để phát triển

kinh tế

1.2.1.2 Dân tộc

Hòa Bình là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào Mường chiếm số đông nhất (trên 60% dân số) Người Mường chiếm đại bộ phận dân số các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Kì Sơn, Lạc Sơn, Yên Thủy Ngoài ra còn sống đan xen với các dân tộc khác ở các huyện, thị còn lại Người Mường Hòa Bình chiếm 43,3% số người thuộc dân tộc Mường cả nước [13, tr 94] Dân tộc Kinh đứng thứ hai trong kết cấu dân tộc của tỉnh với trên 30% dân

số, có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội và có mặt ở hầu hết các huyện, thị trong tỉnh Đồng bào Thái chỉ tụ cư ở huyện Mai Châu, chiếm tới trên 61% dân số toàn huyện Ngoài ra trong tỉnh còn có các dân tộc khác như: Tày sống tập trung ở Đà Bắc, người Dao chủ yếu ở Đà Bắc và Kim Bôi, người H’Mông sinh sống ở xã Hang Kia và Pà Cò của Mai Châu Các dân tộc ít người khác số lượng không đáng kể

Các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết trong quá trình sinh sống tạo thành một cộng đồng văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc

1.2.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình trước năm

1945

1.2.2.1 Kinh tế

Trước năm 1945 kinh tế Hòa Bình kinh tế Hòa Bình chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nghèo nàn, sản xuất mang tính tự cung, tự cấp, đặc biệt là ở vùng núi cao kinh tế mang nặng tập quán du canh, du cư, đốt nương làm rẫy Cuộc sống chủ yếu dựa vào lượng ruộng nước ít ỏi và nương rẫy, hái lượm rau

củ quả… có sẵn trong tự nhiên và nền kinh tế nông ngiệp cũng phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Ruộng đất phần lớn nằm trong tay các địa chủ điển hình ở đây là các Lang Đạo Dưới ách thống trị của thực dân phong kiến kết hợp với chế độ Lang Đạo hà khắc nền kinh tế nông nghiệp hết sức lạc hậu, phương thức canh tác lạc hậu, năng suốt lao động thấp, thêm vào đó là sự bóc lột tàn bạo của bọn

Trang 18

thực dân và chế độ nhà Lang với hàng loạt thuế khóa, phu phen, tạp dịch, đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng khó khăn

Sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau ngày giải phóng đời sống của nhân dân ngày càng được ổn định Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng với sự quyết tâm của nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế Hòa Bình ngày một đổi thay và có sự phát triển kinh tế đáng kể Nhân dân Hòa Bình đang cùng nhân dân cả nước góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh

1.2.2.2 Văn hóa, xã hội

Hòa Bình là một tỉnh có bề dày lịch sử văn hóa, với nền văn hóa bản địa phong phú và đa dạng Là trung tâm của nền văn hóa Hòa Bình, với sự ra đời của nghề nông trồng lúa nước Các cư dân trong tỉnh đã đoàn kết trong quá trình sinh sống và lao động tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Sau khi thực dân Pháp xâm lược đã thực hiện chính sách ngu dân nô dịch, chúng khuyến khích các phong tục mê tín dị đoan trong nhân dân, du nhập và bắt nhân dân tiếp nhận các tệ nạn xã hội… trường học không được mở, chỉ có một vài trường chỉ dành cho con các nhà Lang Chính sách của thực dân Pháp đã làm cho 90% dân số trong tỉnh bị mù chữ Thêm nữa đó là chính sách cai trị, bóc lột hà khắc, của thực dân pháp cùng chế độ nhà Lang làm cho đời sống nhân dân

vô cùng cực khổ

Sau khi đất nước được giải phóng, với cách chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa, xã hội đời sống văn hóa tinh thần được cải thiện, số người được đi học và biết chữ tăng lên Hiện nay với sự đoàn kết của nhân dân trong tỉnh đã cũng nhau xây dựng quê hương Hòa Bình ngày càng giàu mạnh

1.2.2.3 Truyền thống lịch sử

Hòa Bình là tỉnh có truyền thống lịch sử lâu đời, nhân dân các dân tộc trong tỉnh có truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước Ngay từ những năm đầu công nguyên, trước sự thống trị tàn bạo của phong kiến phương Bắc nhân dân câc dân tộc tỉnh Hòa Bình đã cùng

Trang 19

nhau hưởng ửng cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng đánh đuổi sự đô hộ của quân Đông Hán

Thế kỉ XV, phong kiến nhà Minh xâm lược và thống trị nước ta Năm 1409, Trần Quý Khoáng dựng cờ khởi nghĩa chống quân Minh dựa vào sự ủng hộ của đồng bào Mường, lập căn cứ vào vùng núi Nghệ An Trên đường tiến quân ra Bắc được đông đảo đồng bào Mường Hòa Bình hưởng ứng Đồng bào đã anh dũng cầm cự với địch tại châu Quảng Oai (Kì Sơn xưa thuộc châu Quảng Oai) Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn (Thanh Hóa), dải đất liền mạch với địa bàn cư trú của đồng bào Mường Thanh Hóa và Hòa Bình che chở giúp đỡ Trong cuộc tiến quân ra giải phóng Đông Quan (Hà Nội), kết thúc cuộc kháng chiến 10 năm gian khổ giành độc lập dân tộc, nghĩa quân đã được nhân dân Hòa Bình hết lòng ủng hộ

Thế kỉ XVIII, tập đoàn phong kiến phương Bắc Mãn Thanh đem quân xâm lược nước ta Mùa xuân năm 1789, Nguyễn Huệ đem quân từ Phú Xuân ra đánh quân Thanh Trên đường qua Lạc Sơn – Kim Bôi, nghĩa quân được nhân dân Hòa Bình tận tình giúp đỡ, lập nhiều chiến công dũng cảm vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Nguyễn Huệ

Ngoài ra nhân dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết chống lại chế độ phong kiến hà khắc, với các cuộc khởi nghĩa nông dân do Trần Tuân, Phùng Chương lãnh đạo (cuối thế kỉ XV), Nguyễn Duy Hưng (nửa đầu thế kỉ XVIII), đặc biệt cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Lương lãnh đạo vào nửa cối thế kỉ XIX đã lấy vùng Mường Bi (Tân Lạc) và Mường Âm (Yên Thủy) làm căn cứ

Tiếp nối truyền thống đánh giặc cứu nước của ông cha, khi thực dân Pháp xâm lược, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Hòa Bình đã nêu cao truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất, đã anh dũng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước Dưới sự tập hợp, lãnh đạo của các tù trưởng, sĩ phu yêu nước Nhân dân trong tỉnh đã giành được nhiều thắng lợi ở: Chợ Bờ, Yên Lãng, Niên Kỉ… làm cho thực dân Pháp

và bè lũ tay sai bao phen khiếp sợ Đặc biệt với sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống yêu nước, đánh giặc cứu nước được phát huy cao độ, kết thành một làn

Trang 20

sống mạnh mẽ nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước, làn song cách mạng

đó là cách mạng Tháng Tám năm 1945, là cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mĩ, làm nên chiến thắng Lê Lợi, chiến dịch Hòa Bình tạo tiền đề cho chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu

Trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nhân dân Hòa Bình ra sức thi đua sản xuất, chi viện sức người, sức cử cho nhân dân Miền Nam Đồng thời cùng với nhân dân Miền bắc nhân dân Hòa Bình đã góp phần làm thất bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, hoàn thành tốt nghĩa vụ hậu phương lớn với tiền tuyến lớn, góp phần quan trọng vào chiến thắng trên chiến trường chính Miền Nam, buộc Mĩ phải kí hiệp định Pari, rút hết quân về nước, đập tan ngụy quyền Sài Gòn, đưa lại nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Ngoài truyền thống đấu tranh yêu nước, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình còn có truyền thống cần cù, sáng tạo, truyền thống đoàn kết, nhân ái giúp

đỡ tương trợ lẫn nhau… tạo nên một cộng đồng có nét văn hóa truyền thống riêng, góp phần vào truyền thống văn hóa toàn thể dân tộc Việt Nam

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, đất đai, sông ngòi của Hòa Bình thuận lợi cho con người sinh sống và hội tụ các cộng đồng cư dân trong vùng và từ nơi khác đến làm ăn sinh sống làm ăn trên mảnh đất này Sự hòa huyết giữa các cộng đồng cư dân Hòa Bình hình thành nên một cộng đồng cư dân thống nhất,

họ cùng nhau lao động xây dựng quê hương đất nước và góp sức cùng cả dân tộc Việt Nam đấu tranh bảo vệ Tổ quốc

Trang 21

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH TRONG

LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1858 2.1 Dân tộc Mường

2.1.1 Nguồn gốc lịch sử

Trước đây, tên tự gọi của người Mường là Mol, Mual, Mon, Moan, Mó…

có nghĩa là “người” Hiện nay, Mường là tên gọi chính thức Ngày xưa Mường

là một từ chỉ địa vực hành chính tương đương một châu, huyện hay một xã lớn như Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động Trải qua một thời

gian dài Mường đã trở thành tên gọi chính thức của một dân tộc Theo sử thi Đẻ

đất đẻ nước thì người Mường được sinh ra từ rất sớm, khi mà trên thế gian này

chưa có cỏ cây muông thú Người Mường được sinh ra từ trứng con chim Nhần:

"Con Nhần Vãi xuống Mường Pưa Những trứng pầm lầm, pộc lộc

Ba góc 4 vuông Tuông nào thành tuông ấy Gươm xỉa không vào Dao chém không dứt…

Trứng nhần đã nở

Và trước nghe réo rắt tiếng Táo (Người Kinh) rồi đến Ngô, Lào, Rự (Thái), Xá (Dao),

Lá xá tiếng Mường ra sau” [1, tr 214, 217]

Dựa trên kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, khảo cổ học, dân tộc học, dân tộc Mường và dân tộc Việt trước đây mấy ngàn năm có chung tổ tiên là người Lạc Việt, chủ nhân của nền văn hóa Sơn Đông rực rỡ ở Việt Nam Nghiên cứu cho rằng đặc điểm nhân chủng học người Việt và người Mường có nhiều điểm giống nhau Các nhà ngôn ngữ cũng phát hiện được tiếng Mường và tiếng Việt cổ xưa kia chỉ là một Suốt thời kì bắc thuộc, sự phân ly thành hai dân tộc diễn ra bởi chính sách áp bức bóc lột của bọn đô hộ phong

Trang 22

kiến ngoại tộc Người Việt vùng đồng bằng phải sống chung với bọn phong kiến nước ngoài nhưng họ lại có điều kiện tiếp xúc và học tập những tinh hoa của các nền văn hóa lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, Chiêm Thành, trải qua hàng ngàn năm

họ trở thành người Kinh hiện nay Người Mường chính là một bộ phận của người Việt cổ sống ở vùng rừng núi lâu ngày cho nên trong đời sống sản xuất cũng như trong đời sống sinh hoạt, đồng bào vẫn giữ nét văn hóa cổ

2.1.2 Địa vực cư trú

Sự phân bố cư trú của người Mường ở Hòa Bình gắn liền với nguồn gốc lịch sử, môi trường tự nhiên của khu vực cũng như tập quán sản xuất của người Mường Là chủ nhân lâu đời nhất của mảnh đất Hòa Bình, người Mường cư trú

ở khắp các huyện, thị trên địa bàn tỉnh nhưng mức độ phân bố cư trú không đồng đều Tại Hòa Bình người Mường cư trú ở các khu vực địa hình thấp, độ cao trung bình là 300m, nơi mà trước kia trung tâm trù phú nhất của người Mường là Mường Bi (Tân Lạc) trong đó còn có nhiều mường nhỏ như: Mường

Cá, Mường Dâm, Mường Lò, Mường Cần, Mường Sỉ, Mường Dọi, Mường Bận, Mường Nhung Mường Vang (Lạc Sơn), Mường Thàng (Kì Sơn), Mường Động (Kim Bôi)

2.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Về kinh tế nông nghiệp: sự hình thành cách làm ruộng và trồng lúa, truyện

cổ tích người Mường vẫn còn lưu giữ câu chuyện về Lịch sử làm ra ruộng lúa

Truyện kể khi loài người chỉ biết săn bắt và làm cách sinh nhai, ông Tá Bố Lèm trong một hôm vào rừng lấy cỏ gianh, nửa đêm gặp trời mưa lụt lội, ông đã nhìn thấy ngay dưới chân mình có bãi hình con ốc, khe có cá, có nước, có thể ra chỗ này vỡ ruộng đắp bai, khai nương lấy nước Ông đã cắm đất rồi về kể với dân làng, rồi dân làng kéo vào rừng chặt cây săng pét, săng po (là những thứ cây rừng) để khai mương đắp ruộng Những con trai, con gái khỏe mạnh thì đem những đàn trâu đen ra cày ngang, đem đàn bò vàng ra cày lại, cày đi cày lại nhiều lần và vỡ thành ruộng, đắp thành bai

Truyện còn kể về kinh nghiệm gieo trồng lúa của người Mường: Mạ tháng

Trang 23

Tháng 7 lúa lên xanh, tháng 8, 9 lúa ra đòng và tháng 10 bông lúa đã chín vàng

Và cũng từ đấy người Mường thoát khỏi cuộc sống săn bắt có gạo để ăn Trong truyện còn có một chi tiết về việc dân làng đi lấy giống lúa giống ở Mường Búng, Mường Bống

Đẻ đất đẻ nước còn cho thấy một quy trình từ chọn giống lúa, đến gieo mạ,

cấy lúa và gặt hái của người Mường như sau: các loại giống lúa ở Mường gồm

có lúa vàng, lúa dé, nếp nghè, nếp trứng khe, chăm ốc, nếp củ ong (nếp hoa vàng), nếp củ đen (nếp hạt cau); cách làm ruộng, đắp mương: “đi chặt cọc đắp bai, chặt cây đắp mương, đốn cây gỗ to làm chống, gióng cây mương làm máng dài dài”; cách làm cày để cấy: “Chặt cây nang nách làm ách, dây rạch làm ướng, dây sen tướng làm chão, cây bông bái, bông báo làm bừa, cây chò chỉ làm cày”; quy trình gieo mạ và gặt hái: tháng tư, vãi mạ xuống nắc (ruộng để gieo mạ), gieo

mạ xuống nà (ruộng), tháng bảy lúa non lên, tháng 8 lúa chửa đòng đòng, tháng 9 đòng cong trổ lúa, tháng 10 lúa chín đỏ; gặt lúa đem phơi và gác trên gác bếp; rồi xay làm gạo Từ đó mọi người trong làng không bị đói nữa [14, tr 176]

Sống ở khu vực miền núi người Mường đã biết khai thác đất tự nhiên để có đất canh tác Họ biết tận dụng những khu đất có mặt bằng tương đối bằng phẳng trong thung lũng và khắp mọi nơi để làm ruộng, cho nên mặc dù không có những cánh đồng rộng lớn như người Việt ở đồng bằng sông Hồng, nhưng người mường ở Hòa Bình cũng không thiếu đất canh tác Với kinh nghiệm làm thủy lợi được tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác, dựa vào nước ven sông và những con suối chảy, họ biết cách thiết lập hệ thống mương, bai, xe nước, ống nước dẫn nước tự tạo chạy ngang dọc trên các cánh đồng, nhằm đưa nước lên chân ruộng cao và đi khắp mọi nơi một cách đều đặn phục vụ cho việc trồng lúa nước Ruộng thường được trồng lúa nếp dùng làm cây lương thực chính, làm nguyên liệu để nấu rượu cần và cơm lam khá ngon Tập quán trồng lúa nước đã thâm nhập vào tín ngưỡng cuẩ người Mường Trong các dịp lễ hội rửa lá lúa, lễ hội cầu mưa gạo nếp được dùng đồ xôi cúng lễ

Các sản phẩm hoa màu như ngô, sắn và các loại rau đậu thường được người Mường trồng trên nương Những nương có vị trí thuận lợi, màu mỡ cũng được

Trang 24

người Mường trồng lúa gọi là lúa cạn Người Mường rất thành thạo từ khâu lựa chọn đất để làm nương cho đến phương thức canh tác rên các sườn dốc Những sản phẩm thu được từ nương là nguồn rau quả quan trọng trong đời sống hàng ngày Trong sản xuất gia đình chăn nuôi cũng là nguồn thu nhập đáng kể như trâu, bò, gà lợn… phát triển nhằm phục vụ đời sống; hái lượm và đánh cá với các sản phẩm thu được gồm các loại lâm thổ sản, rau, măng, hoa quả, cá, ốc… là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho bữa ăn hàng ngày, cùng với hái lượm là săn bắn các loại thú

Nghề thủ công: trồng bông, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, dệt cạp váy là những công việc quen thuộc, từ lâu đã trở thành tập quán của người Mường Việc ra đời nghề tằm quang gắn liền với cảnh quan, môi trường, với tập quán và

sự phân công lao động xã hội Mường xưa và trước hết là đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Lần theo dấu vết của những tác phẩm văn học dân gian Mường Hòa Bình, có thể thấy nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải của người Mường ra đời từ rất sớm, từ lúc đẻ đất, đẻ nước đã có rồi, tuy nhiên nghề thủ công này vẫn chỉ đóng khung trong phạm vi gia đình, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày trong gia đình và chỉ một phần nhỏ để trao đổi buôn bán Trong quá trình sản

xuất chưa có trao đổi, phân công lao động xã hội Ngoài ra dựa vào Đẻ đất đẻ

nước chúng ta còn biết đến các nghề thủ công khác như: Nghề làm rượu cần có

thủy tổ là bà Dạ Dịt, Dạ Rậm, Dạ Tủ và cô gái Mường xinh đẹp Lò Ò Liệng Thủy tổ của nghề dâu tằm là các cụ bà Dạ Dịt là người chăn tằm, Dạ Mằn là người ươm tơ để kén, các bà truyền nghề cho nàng Dạ Kịt biết chăn tằm, ươm tơ kéo sợi để dệt thành vải Còn mụ Dạ Dần cũng được người Mường coi là tổ sư làm ra những chiếc trống đồng kim khí chính vì vậy trống của những thầy mo Mường thường mang theo to bằng đầu ngón tay có tên là trống Dạ Dần

Về xã hội tổ chức xã hội người Mường từng tồn tại nhiều tên gọi khác nhau như: tù trưởng, thổ tù, quan lang, thổ lang, thứ lang hay thổ đạo, nhà lang Trên thực tế còn nhiều tên gọi khác nhau để chỉ tổ chức xã hội nguyên thủy người Mường Tuy nhiên các tên gọi trên đều phản ánh quan hệ xã hội Mường Một số

Trang 25

này: lang đạo - nhà lang mang ý nghĩa tổng quát, phản ánh tương đối khách quan xã hội Mường truyền thống

Một mường nhỏ có thể có vài làng đến chục làng, thường ở trung tâm mường được người Mường gọi là chiềng Trong tổ chức xã hội Mường cổ – nhà lang trước kia tự phân thành hai tầng lớp khép kín, không chuyển hóa lẫn nhau

về mặt con người Tất nhiên đẳng cấp người Mường không như đẳng cấp ở Ấn

Độ “Đẳng cấp” thống trị nhà lang tập hợp thành những tông tộc phụ hệ Mỗi tông tộc như vậy chiếm giữ một Mường Mường đó bao gồm một thung lũng hẹp giữa chân núi hay gồm nhiều thung lũng chạy dài nối liền nhau như Mường Bi Địa giới cũng để phân định mường này với mường kia, tộc này với tộc khác Ngoài ra mỗi tông nhà lang còn có sự phân biệt ở tộc dang riêng – ví dụ họ Đinh Thế, Đinh Công, họ Quách, Quách Đình, Bạch Công, Hoàng… theo tập quán người Mường Hòa Bình, “đẳng cấp” thống trị cha truyền con nối làm lang Dĩ nhiên, không loại trừ những trường hợp đặc biệt, ngoại lệ Khi nhà lang chống lại triều đình trung ương, bị tiêu diệt hay thất bại trong cuộc chiến tranh giành quyền lợi tông tộc, hay

ức hiếp nhân dân trong mường quá mức sẽ bị nhân dân hạ bệ, thay thế “Đẳng cấp” bị trị là Mol hay Mol Mường (người Mường), họ không tập hợp nhau thành tông tộc mà ở phân tán trong nhiều mường thành các gia đình nhỏ, hoặc các gia đình cùng tông tộc nhưng lại cư trú ở các mường khác nhau

Tổ chức thống trị nhà lang được thiết lập trong từng mường, từng làng thuộc chiềng hay mường cũng phỏng theo tổ chức tông tộc nhà lang trên danh nghĩa được quản toàn mường, gọi là lang cun, trên thực tế lang cun chỉ quản một

số làng ở trung tâm mường mà người Mường gọi là chiềng Còn các con trưởng của các chi nhánh thứ thì quản từng làng hay một cụm làng ở ngoài gọi là lang tao (lang tạo – lang đạo) Lang tạo phụ thuộc vào lang cun Dưới giúp việc lang cun và lang tạo là ậu, ậu vị trí thấp hơn là ậu ún

Về mặt kinh tế nhà lang dựa vào quyền chiếm hữu và khai thác ruộng lang, thông qua chế độ ruộng nhà lang, nhà lang thể hiện tương đối đầy đủ quyền lực thống trị của mình ở từng mường Các hình thức khai thác ruộng lang cho thấy nghĩa vụ lao động nặng nề của những người dân ở trong mường – những kẻ bị

Trang 26

trị của chế độ nhà lang Lang cun là chúa đất ở Mường Bi Toàn bộ rừng núi, đặc biệt là ruộng đất trong phạm vi mường đều thuộc về chúa đất

2.1.4 Đặc trưng văn hóa

Trong đời sống văn hóa người Mường ở Hòa Bình mang đậm chất tự nhiên

và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Ngôi nhà truyền thống của người Mường Hòa Bình là nhà sàn Nhà sàn được làm bằng tre, gỗ, nứa, lá Cách bố trí mặt bằng cũng phản ánh được đời sống văn hóa xã hội của người Mường Người Mường theo chế độ phụ hệ nên trong ngôi nhà có hai cầu thang Cầu thang chính dành cho nam và khách, được đặt ở đầu hồi phải Cầu thang phụ dành cho phụ

nữ và sân phơi được đặt ở đầu hồi trái Nhà chia làm hai phần theo chiều ngang, bên ngoài là phần thờ tổ tiên và tiếp khách nam giới, phía trong là bếp và nơi sinh hoạt của phụ nữ theo chiều dọc nhà được chia thành các phần bên trên và dưới, thông thường người cao tuổi thường ngồi ở trên còn người địa vị thấp hơn ngồi dưới Bếp được đặt ngay trong nhà, còn trâu bò nhốt ở dưới gầm sàn

Người Mường thường dựa vào trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm săn bắt làm nguồn thức ăn chính Trong bữa ăn hàng ngày của người Mường cơm nếp được sử dụng thường xuyên không chỉ no bụng mà nó còn có giá trị dinh dưỡng vốn có của nó lại dễ ăn trong điều kiện khó khăn và khan hiếm các nguồn thực phẩm hàng ngày như thịt, cá, mỡ, dầu Do vậy lúa nếp được trồng nhiều hơn lúa

tẻ Bên cạnh việc trồng cây lương thực chính là lúa, ngô người Mường còn chăn nuôi gia súc để tạo ra nguồn thực phẩm cung cấp chất dinh dưỡng cho các bữa

ăn Rau ăn hàng ngày được hái từ trong rừng và vườn nhà Bằng kinh nghiệm tích lũy lâu đời, người Mường biết được loại ra ngon nhất là rau khắng Các loại măng rừng như măng nứa, tre, vầu, bương cũng cung cấp cho người Mường rau

ăn quanh năm Sông, suối là nguồn cung cấp thủy sản cho buôn làng, tôm, cua,

cá, ốc là nguồn thực phẩm hàng ngày của dân bản Ngoài ra người Mường còn săn bắt, hái lượm bổ sung vào nguồn thức ăn Món ăn, thức uống của người Mường cũng rất phong phú như: rượu cần, nước chấm ớt, đĩa quéch (tai, đuôi, mũi, lưỡi lợn), nghách lưỡi, ốc cá, canh lóng, cá ướp chua…

Trang 27

Trang phục của phụ nữ Mường thường là mặc áo ngắn và váy có dải thắt lưng và khăn đội đầu, trang phục của nam giới là áo cánh và áo dài và quần may ống rộng cả áo và quần thường có màu nâu Người Mường Hòa Bình tin vào thuyết vạn vật hữu linh và luôn trân trọng thờ cúng các linh hồn đó Các nghi lễ thờ cúng này đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống người Mường Người Mường tin rằng, con người khi chết đi sẽ thành ma và về thế giới bên kia Bên kia thế giới chết đi ma sẽ về quẫy nhiễu con cháu, làm cho con cháu bị đau ốm,

do đó người ta phải cúng ma để ma không về nhà nữa Hầu hết các xóm mường đều có thờ thành Hoàng, ngoài thành Hoàng họ còn thờ thành Tản Viên, Chúa Thượng Ngàn, Thổ công, thần đá, thần cây Ngoài ra người Mường cũng thờ cúng tổ tiên, họ tin rằng người đã chết vẫn tồn tại ở thế giới khác, có điều đặc biệt là người Mường không chỉ thờ họ nội mà thờ cả họ ngoại, đây là điểm khác biệt với nhiều dân tộc khác ở nước ta Trong văn hóa tinh thần người Mường còn có rất nhiều lễ hội như: xuống đồng (khuổng mùa), sắc bùa (xéc bùa), cầu mùa, cầu mưa, lễ cơm mới, lễ đu treo…

2.2 Dân tộc Thái

2.2.1 Nguồn gốc lịch sử

Người Thái là tộc người đã sinh sống lâu đời ở miền Tây Bắc nước ta Căn

cứ vào địa giới hành chính cũ của nước ta thì họ sống ở châu cực Bắc Vì vậy trong những cuộc thiên di lớn của họ xuống phía Nam đều có thể coi là những cuộc di chuyển trong nội bộ miền Tây Bắc thời ấy

Sử nước ta ghi, thời nhà Lý có các tù trưởng Ngưu Hống (ý chỉ người Thái – TG) đã về kinh đô dâng cống vật cho triều đình Tư liệu lịch sử này đã chứng

tỏ vào đời Lý (thế kỷ thứ XI) và có thể trước nữa, quý tộc Thái đã làm chủ nhiều vùng ở miền Tây Bắc

Một số tác giả nước Pháp đã viết về người Thái Tây Bắc (H Roux, Sylvestre…) đều có ý cho rằng người Thái chỉ có mặt Tây Bắc sau những cuộc thiên di lớn của họ từ phương Bắc xuống Có ý kiến cho rằng nhận xét này thiếu

cơ sở Cho đến nay, căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu hiện có người Thái đã có mặt ở Tây Bắc từ trước những cuộc thiên di lớn của họ từ phương Bắc xuống,

Trang 28

thậm chí tổ tiên của họ có thể là một thành phần trong những nhóm cư dân bản địa của các nghành người Việt cổ

Sách kể chuyện bản mường của người Thái, cũng như những truyền thuyết dân gian đã nói về quê hương xa xưa của người Thái là vùng có ba dải đất lớn, được tưới nước bởi chín con sông là sông Hồng và sông Đà Ta có thể vùng rộng lớn này như hình rẻ quạt bao gồm các miền khu vực sông Hồng, sông Đà, sông Mã, sông Nậm U, sông Nậm Na… kéo dài đến vùng Bạch Hạc Có truyền thuyết còn nói tổ tiên của người Thái ra đời từ đất Mường Thanh (Điện Biên) mà xưa kia gọi là Mường Then, Mường Bỏ Té, ở đây còn di tích “quả bầu thần” trong

đó có các giống người trong đó có người Thái đã chui ra… truyền thuyết Ải Lậc Cậc rất phổ biến trong người Thái kể về một vị thần đã có công tạo ra những cánh đồng Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than… cũng nó lên sự gắn

bó rất lâu đời của tổ tiên người Thái với mảnh đất này Người Mường Hòa Bình cũng có truyền thuyết nói về Mường Thanh là đất của người Rự Rự là âm đọc lệch của Lự - một trong những nghành người Thái cổ ở Tây Bắc

Qua tư liệu về người Thái nhất là dựa vào những điều sách chữ Thái cổ (Quam tô mương, Piết mương, Phanh mương, Táy pú xớc…) đã ghi lại, bước đầu chúng ta có thể có một số nhận xét: Từ lâu đời quê hương của người Thái cũng như một số anh em khác nằm trong một vùng rộng lớn với những trung tâm nổi tiến như khu vực Xíp - xong - păn - na (Vân Nam), khu Mường Om, Mường Ai (thuộc các châu Tung Lăng, Hoàng Nham), khu Mường Bỏ Té (nay thuộc Tây nam Vân Nam, thượng Lào giáp Điên Biên) và Mường Thanh (Điện Biên) Trong những trung tâm ấy có những nơi thuộc miền đất cũ của Việt Nam

Từ đó sự có mặt của những nhóm lẻ tẻ người Thái xen lẫn các nhóm tộc anh em khác ở Tây Bắc, một vùng không xa những nơi liền kề là chắc chắn Nhưng rõ ràng là sự có mặt đông đúc của người Thái ở Tây Bắc hiện nay là phải qua các đợt thiên di lớn của họ sau này

Đợt thiên di sớm nhất của người Thái trắng từ phía bắc vào các thung lũng Mường Lay, Mường Tùng, Phong Thổ, Bình Lư… có thể đã được tiến hành

Trang 29

trong thế kỉ thứ VII, cùng với nhóm người Tạng – Miến, vào thời kì thịnh hưng của nước Nam Chiêu

Ở phía Bắc những người Thái trắng sau khi làm chủ được thung lũng Mương Lay đã chạy dọc sông Đà xuống Mường Chiên (Quỳnh Nhai) Mường Chiến (xã Mường Chiến – Mường La) và nhập vào cánh đông Phù Yên hòa với người Mường Một chi khác sau khi làm chủ được thung lũng Mường So (Phong Thổ) đã tách một nhóm thiên di sang cùng mường Hước – Pước Kha hay Pa Kha (Bắc Hà – Lào Cai) theo dọc sông Hồng rẽ sang sông Đà, rồi tới lập nghiệp ở vùng Mộc Châu, vùng Mường Khòng, Thanh Hóa và vùng Mai Châu (Hòa Bình) tính đến nay được khoảng trên dưới 600 năm tức khoảng đầu thế kỉ XIV Thời gian này phù hợp với thời gian các bộ phận thái ở vùng biên giới Việt Hoa biến động và tìm cách tràn xuống Tây Bắc, miền Hòa Bình, vùng núi Thanh Hóa

và tràn sang cả Trung Lào, Hạ Lào

2.2.2 Địa vực cư trú

Một trong những đặc trưng nổi bật của sự phân bố dân cư người Thái ở Hòa Bình là sự cư trú tập trung của người Thái ở Mai Châu Cư trú ở hầu hết các xã trong đó có các xã có 100% là người Thái như Nà Mèo, Nà Phòn, Chiềng Châu, các xã có người Thái chiếm trên 50% như Tòng Đậu, Mai Hịch, Mai Hạ, Xăm Khòe, Bao La, Piềng Vế, Vạn Mai

2.2.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Người Thái ở Hòa Bình chủ yếu là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước ở miền thung lũng, nằm giữa những dãy núi cao Bằng cách khai thác các thung lũng, tận dụng phù sa của các con sông, suối trong vùng, đồng bào Thái ở đây đã tạo nên những cánh đồng màu mỡ như Mường Pa, Mai Thượng, Mai Hạ (Mai Châu) Cũng như người Thái ở Việt Nam họ rất giỏi thiết lập các hệ thống thủy lợi nhỏ để ruộng có nước, với sự kết hợp bốn biện pháp mương (đào mương), phai (đắp phai), lai (nắn dòng và lập hệ thống con), lin (đặt máng) Người Thái

có các kỹ thuật canh tác cổ truyền với các biện pháp vừa cày bừa, vừa sử dụng

sức kéo của trâu bò, trong việc làm đất

Trang 30

Ngoài ra sống ở những thung lũng và nơi rừng núi hiểm trở, nương rẫy là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống và sản xuất của người Thái Trên nương rẫy người Thái cố thể sản xuất rau, quả, cây lương thực và các loại sản phẩm như bông, chàm để nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm, phục vụ cho may mặc của họ Với tập quán sản xuất của cư dân làm ruộng nước, làm nương, chăn nuôi gia súc làm nghề thủ công, xã hội người Thái đã hình thành một nền kinh tế tự cấp, tự túc mang đậm tính tự nhiên và còn phổ biến cho đến nay Trong dân ca Mai Châu xưa có nhắc đến các chàng trai sang Lào buôn trâu, bò mang vải vóc

đi đổi hàng, tiền bạc Mai Châu nằm trên trục đường buôn bán sang Lào và đã trở thành ngã ba ngã ba giao lưu văn hóa giữa người Lào, Thái và Mường

Người Thái cũng là tộc người biết chăn nuôi gia súc, gia cầm và đây cũng

là một hình thức kinh tế quan trọng của người Thái ở Hòa Bình Ngoài chăn nuôi các loại gia súc như trâu bò, lợn, gà hình thức nuôi cá trong ao cũng phổ biến là nguồn cung cấp thức ăn

Bên cạnh trồng trọt người thái còn săn bắt, hái lượm, đánh bắt cá với các mức tương đối quan trọng, nên người Thái có câu tục ngữ:

“Con yêu con lớn bởi nhiều rau xanh

Bởi những cây măng trong rừng” [11, tr 163]

Công việc hái lượm do phụ nữ và trẻ em thực hiện Sản phẩm hái lượm rất phong phú như rễ cây, lá cây, các loại củ, hoa quả, nấm ở trong rừng, những loại rau mọc ngoài ruộng… các loại lá, củ, rêu, tảo, cá, cua, ốc ở dưới suối Họ hái lượm quanh năm, khi đi rừng kiếm củi, làm nương… không ngày nào họ không kiếm ra rau củ Người Thái sống gắn bó chặt chẽ với sông, suối nên đánh cá nơi sông, suối được coi như một nguồn sống và đóng vai trò quan trọng trong các loại hình kinh tế Hàng năm người Thái có hình thức đánh cá tập thể gọi là tục phai Săn bắn cũng là một hình thức phổ biến đi săn, bắn là niềm vui của nam giới với hình thức săn tập thể phổ biến ở bản làng Thái

Trong các nghành nghề thủ công, người Thái Mai Châu trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải từ xa xưa Truyền thống này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ

Trang 31

hoạt văn hóa của người Thái Nghề dệt thổ cẩm cổ truyền ngoài có vai trò phục

vụ đời sống còn phản ánh tiêu biểu những đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa Thái Từ những chất liệu vải lụa dệt ra họ tự cắt may, thêu thùa cho mình những

bộ trang phục đặc sắc phù hợp với lứa tuổi, tầng lớp và hoạt động xã hội

Nền kinh tế chưa có sự phân công lao động lớn như chăn nuôi vẫn chưa tách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp nên chưa xuất hiện thị trường tập trung Phần lớn nền kinh tế là tự cung, tự cấp lương thực thực phẩm cho đến công cụ lao động như: cuốc, xẻng, các đồ dùng sinh hoạt, vật dụng gia đình bằng nghề thủ công truyền thống

Về xã hội người Thái sống định cư, cư trú thành bản ở những thung lũng màu mỡ, ven các sông, suối các cánh đồng giữa núi Họ cư trú trong các nhà sàn thành từng cụm, nhiều cụm thành một bản có khoảng 40 – 50 nóc nhà, nhiều là

100 nóc Mỗi bản của người Thái có nhiều gia đình, dòng họ khác nhau, có đất thổ canh, thổ cư, bãi cỏ chăn nuôi, khu mộ, nguồn nước riêng Bản của người Thái thường lui vào chân núi, nơi có độ dốc thoải, các bản nằm thành vành đai ở chân núi nhiều bản thành một mường

Bản làng là đơn vị dân cư nhỏ nhất trong hệ thống tổ chức hành chính của người Thái Trong bản những ngôi nhà sàn san sát nhau không có hàng rào ngăn cách với một đặc điểm là các nóc nhà không nằm trên cùng một đường thẳng Người Thái quan niệm: mỗi nhà có một “hồn chủ”, “hồn chủ” đi đâu đều qua nóc nhà nên để tránh cho “hồn chủ” khỏi bị nhầm, người ta làm mái nhà lệch nhau để “hồn chủ” không bị nhầm nóc nhà khác, gây cho gia chủ ốm đau và những điều phiền toái Hướng nhìn vừa xa, thoáng mát và nhìn ra cánh đồng

2.2.4 Đặc trưng văn hóa

Người Thái có tập quán sống trong các nhà sàn làm bằng các vật liệu như

gỗ, tre, nứa, vầu và lợp bằng cỏ tranh Chỗ đặt nhà thích hợp là những vị trí vừa phải, không cao quá, không thấp quá, có độ dốc thoải để dễ thoát nước mưa, có nguồn nước ngầm ở phía dưới để làm giếng nước ăn Nền nhà phải được đắp lên cao hơn so với xung quanh Hướng nhà thường quay lưng vào núi và hướng mặt

ra cánh đồng Dân tộc Thái có câu tục ngữ “ở nhà gác, sàn có cột” [14, tr 129]

Trang 32

Trong khuôn viên thường có các mảnh vườn nhỏ trồng rau, gia vị Ngôi nhà của người Thái thường có hệ thống dây buộc, chằng khá công phu Cửa được làm theo quy cách nghiêm ngặt, do vậy bất cứ nơi đâu nhà của người Thái cũng làm theo một hình thức Về mặt hình thức nhà sàn của người Thái có mái hình chữ nhật với lan can quanh nhà Những nếp sinh hoạt của người Thái cũng phản ánh tâm lí, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp sống ở vùng núi Quần thể không gian cư trú của người Thái bao gồm các phần: nhà ở, nhà phụ, chuồng gia súc và vườn tược xung quanh Cột nhà sàn làm bằng gỗ tốt không bị mối mọt, được chôn cất đưới đất hoặc kê trên những hòn đá tảng: xung quanh cột trụ chính là hàng chục cột trụ con đỡ phần sàn Gầm sàn đủ cao, thoáng, cầu thang thường được bố trí ở hai đầu hồi nhà Bố cục trong nhà phản ánh trật tự xã hội mang tính phụ quyền: phía trên bàn thờ và là chỗ ngồi của các bậc già cả, phía dưới để vật dụng gia đình, phía ngoài tiếp khách, phía trong là nơi sinh hoạt gia đình và phụ nữ đi lại Gian giữa ngôi nhà là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi kiêng cữ, linh thiêng nên khi ngủ người Thái không bao giờ quay chân về phía bàn thờ Chủ nhà bao giờ cũng nằm cạnh bàn thờ rồi mới đến con cháu

Người Thái ăn uống không cầu kì, các món ăn khá đa dạng từ nguồn thực phẩm có sẵn mà họ nuôi trồng và thu lượm được, thường cơm nếp, thịt gà, cá, măng, canh rau rừng… việc tìm kiếm thức ăn trong thiên nhiên là công việc hàng ngày của đàn bà và trẻ con Bằng những kinh nghiệm của mình họ đã kiếm được từ rừng mùa nào thức ấy, từ lá rừng đến quả rừng, củ rừng, nấm rừng, măng rừng Đánh bắt cá trên sông, suối gắn bó chặt chẽ với người Thái, việc đánh cá có tầm quan trọng không kém so với hoạt động sản xuất lương thực,

điều này thể hiện rõ trong câu tục ngữ: “Pay kin pa, mà kin kháu” (Đi ăn cá, về

nhà ăn cơm) [14, tr 637] Săn bắn tập thể cũng phổ biến trong bản làng người Thái, họ săn bắn các loại thú từ nhỏ như: gà rừng, cáo, nhím, chồn đến loại thú

to dữ như: hổ, gấu, lợn lòi… một số món ngon của người Thái như: cơm lam, lạp pò, nặm pịa, da trâu nấu canh bon, đuôi trâu hoặc đuôi bò, thịt trâu khô, măng đắng, tôm, ếch, cá nướng, thịt chuột rừng Trong văn hóa giao tiếp người

Trang 33

đạm, khách sẽ được no say bởi không khí chân tình của chủ nhà, thể hiện qua cách tiếp khách, vị trí chỗ ngồi của khách trong mâm cơm, các món truyền thống thể hiện lòng tự hào dân tộc, thái độ cởi mở khi tiếp chuyện… xét ở khía cạnh sinh thái nhân văn, văn hóa của người Thái phản ánh mối quan hệ bền vững giữa con người và môi trường tự nhiên từ tập quán tạo dựng bản làng đến ngôi nhà, người Thái đều gắn bó, hòa mình với thiên nhiên trong khu vực và mang đậm bản sắc văn hóa đời sống tinh thần của người Thái Về trang phục trang phục cả nam và nữ đều giản dị, gần gũi với môi trường, cảnh quan và lối sống, không đòi hỏi sặc sỡ và cầu kỳ Con gái mặc áo cóm và váy, trên người có đeo một số trang sức như xà tích, vòng đeo cổ, trên đầu thì đội khăn

Tín ngưỡng dân gian của người Thái gắn với quan niệm vạn vật hữu linh, mỗi ngôi nhà, bờ suối, gốc cây, hòn đá, cánh rừng, các đồ vật xung quanh… đều

có ngụ hồn và chịu sự cai quản của then luông, người Thái cho rằng mọi vật trong cuộc sống đều được quy định bởi các phi (ma), bên cạnh phi còn có mí khoăn (hồn) Tín ngưỡng Thái còn có lực lượng siêu nhiên thuộc dòng nữ để bảo vệ linh hồn con người, quan niệm người Thái còn cho rằng có hai thế giới song song tồn tại là mường người và mường trời, trong đó có Then Luông là đứng đầu mường trời Như vậy người Thái cho rằng hạnh phúc, may mắn, bất hạnh đều do phi và Then chi phối, chính vì vậy từ xưa người Thái đã có tục thờ cúng để bày tỏ nguyện vọng, quan niệm của con người trong thế giới thực tại và trong thế giới hư vô Ngoài ra người Thái còn thờ cúng tổ tiên, những người sống chung trong một gia đình khi chết đi sẽ thành phi hườn (ma nhà) Bàn thờ

là một ngôi nhà nhỏ (tượng trưng) thờ tổ tiên ba đời của chủ nhà Người Thái quan niệm ma nhà luôn ở bên con cháu, chăm sóc mọi mặt của đời sống gia đình, còn những ma ở mường trời hay mường rừng thì chỉ các ngày lễ mới được gọi về Trong đời sống văn hóa của người Thái Hòa Bình có nhiều lễ hội như: xên bản xên mường, lễ cúng ruộng (xên nà), cúng nương (xên háy), lễ cơm mới (khau mớ)…

Trang 34

2.3 Dân tộc Tày

2.3.1 Nguồn gốc lịch sử

Cũng như người Thái, tổ tiên người Tày là một tộc người trong khối những người Việt cổ xây dựng đất nước Văn Lang và về sau là Âu Lạc Người Tày ở Tây Bắc tập trung ở vùng ngoài huyện Văn Chấn liền với khu vực người Tày thuộc các tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang Nhiều người vẫn nhớ tổ tiên của họ từ Lục Yên (Yên Bái) và từ Tuyên Quang truyền về Nhưng cũng có những nhóm người gốc là người Kinh từ Phú Thọ chuyển lên và dần dần “Tày hóa”

Người Tày vùng ngoài Văn Chấn tự nhận mình là Tày khao (Tày trắng), vì

ở sát người Thái đen và người Kinh, người Mường, người Tày đã tiếp thu những yếu tố văn hóa của các nghành Thái và Việt – Mường nên người Tày ở đây cũng

có nét khác vùng Việt Bắc

Trong cuốn: "Góp phần tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai

Châu" tác giả cũng cho rằng Đà Bắc (Hòa Bình) có người tự nhận là Tày Đón

được gọi là Thổ Tác giả cho rằng đây là nhóm Thái Trắng Người Thổ Đà Bắc

tự nhận là “Phúa Tày” (người Thái) hay “Cồn Tày Đón” (người Thái Trắng) Sau phân tích nguồn gốc, đặc điểm xã hội, lịch sử, xã hội, tâm lý của nhóm người trên, hai tác giả đi đến kết luận nhóm dân cư Thổ ở Đà Bắc giống với nhóm người Thái nhiều tiêu chuẩn Dẫu vậy người Thổ vẫn được gọi là người Tày Cũng có ý kiến cho rằng người Tày đến Hòa Bình gồm hai bộ phận Bộ phận đông nhất là người Tày – Thái (như trên) Một bộ phận khác là người Tày từ các tỉnh của khu Việt Bắc tới Bộ phận này giống người Tày của vùng Việt Bắc Người Tày đến Hòa Bình cuối thế kỷ XIX và cư trú tập trung ở huyện Đà Bắc

2.3.2 Địa vực cư trú

Người Tày ở Hòa Bình chủ yếu tập trung ở huyện Đà Bắc Tại Đà Bắc người Tày cư trú tập trung ở một số xã như: Tân Minh, Trung Thành, Đoàn Kết, Đồng Ruộng, Rân Pheo, Đồng Chum, Mường Chiềng, Giáp Đắt Họ còn sống xen kẽ với người Mường ở Mường Tuổng, Suối Nánh, Đồng Nghê Khu vực

cư trú nói trên của người Tày nằm ở khu vực vùng núi cao

Trang 35

2.3.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Nghề chính của người Tày ở Hòa Bình là nông nghiệp trồng lúa nước Dựa vào điều kiện tự nhiên của khu vực, họ đã có một nền kinh tế sản xuất nông nghiệp khá phát triển với các mô hình: làm ruộng nước ở thung lũng, làm rẫy bằng và dốc, trồng vườn cây đặc sản và chăn nuôi gia súc, đánh bắt cá, săn bắn Người Tày cũng có kinh nghiệm lúa nước, ngô, khoai, sắn như người Thái và người Kinh Người Tày không có tập quán ăn độn như nhiều cư dân thuộc nhóm Môn - Khơme bởi những vụ lúa màu mỡ với kĩ thuật đào mương, bắc máng, đắp phai lấy nước tưới tiêu cho đồng ruông Chăn nuôi gia súc cùng với nguồn thực phẩm đánh bắt được từ suối, trong rừng cung cấp dinh dưỡng và làm phong phú thêm bữa ăn trong gia đình người Tày

Người Tày còn nổi tiếng với nghề thủ công tạo ra những sản phẩm có giá trị, tiêu biểu là nghề trồng bông dệt vải, tạo ra những tấm vải chăn phục vụ nhu cầu thiết yếu cho người dân

Người Tày có kĩ thuật rèn đúc phát triển, sản xuất công cụ sản xuất: cuốc chim, cuốc bướm, cuốc bạt, dao phát, dao chặt củi, dao nhọn, lưỡi cày… rất nhiều sản phẩm đa dạng phản ánh trình độ cao và khả năng sang tạo đáp ứng với nhu cầu sản xuất của vùng cao

Về xã hội: làng người Tày được bao bọc xung quanh các quả đồi, ngọn núi, những ngôi nhà sàn thấp hẳn ở phía dưới tựa lưng núi, mặt trước ôm ấp lấy đồng ruộng và những con suối uốn lượn Không gian sinh tồn nằm gọn trong những lòng chảo, thung lũng hẹp, cảnh đẹp hữu tình giao hòa với thiên nhiên và con người Mỗi làng bản đều có rừng cấm để bảo vệ nguồn nước và giữ gìn những giá trị tâm linh về các vị thần rừng, thần nước trong hệ thống đa thần của người Tày Nhiều ngôi nhà sàn chen chúc nhau tạo thành bản làng đông đúc, không rải rác như bản Mông hay một số dân tộc khác Mỗi bản thường có 5 đến 30 nóc nhà của từ 2 đến 10 dòng họ Có những bản cư trú thành cụm, người Tày không

là đơn vị sản xuất mà là cộng đồng về mặt xã hội Mọi sinh hoạt của đời sống văn hóa sản xuất… chỉ tồn tại trong ranh giới bản Đơn vị nhỏ nhất tạo thành bản là các gia đình phụ hệ mà người chồng có quyền làm chủ mọi việc Ý thức

Ngày đăng: 04/10/2016, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (2011), Mo kể chuyện đẻ đất đẻ nước, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo kể chuyện đẻ đất đẻ nước
Tác giả: Đinh Văn Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2011
2. (1972) Ban dân tộc Khu Tây Bắc “Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược 1858-1930”, Tập 1 (Sơ thảo) của Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược 1858-1930
4. (1976) Các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam (dẫn liệu nhân chủng học). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam (dẫn liệu nhân chủng học)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
5. Phạm Công Hoan – Ma Thanh Sợi (2012), Phong tục tang ma của người Tày ở Nghĩa Đỗ, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tang ma của người Tày ở Nghĩa Đỗ, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
Tác giả: Phạm Công Hoan – Ma Thanh Sợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Thời đại
Năm: 2012
6. Nguyễn Văn Huy (chủ biên) (2003), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
7. Hoàng Thị Thu Hường (2012),“Đại thư” sách dùng trong nghi lễ của người Dao Quần Chẹt, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại thư” sách dùng trong nghi lễ của người Dao Quần Chẹt
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hường
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc
Năm: 2012
8. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), (2010), Đại cương lịch sử Việt Nam tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam tập 1
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Chu Viết Luân (2005), Hòa Bình thế và lực mới trong thế kỉ XXI, Nhà xuất bản giáo dục chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa Bình thế và lực mới trong thế kỉ XXI
Tác giả: Chu Viết Luân
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục chính trị Quốc Gia
Năm: 2005
10. Phạm Văn Lực (2011), Một số vấn đề lịch sử và văn hóa Tây Bắc. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử và văn hóa Tây Bắc
Tác giả: Phạm Văn Lực
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2011
11. Nguyễn Thị Thanh Nga (chủ biên) (2007), Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc
Năm: 2007
12. Hoàng Văn Páo - Cao Thị Hải (2012), Lễ hội dân gian dân tộc Tày, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian dân tộc Tày
Tác giả: Hoàng Văn Páo - Cao Thị Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
13. Lê Thông (2004), Địa lí các tỉnh Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí các tỉnh Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
14. Tỉnh Ủy - HĐND - Ủy Ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình (2005), Địa chí Hòa Bình, Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Hòa Bình
Tác giả: Tỉnh Ủy - HĐND - Ủy Ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia
Năm: 2005
15. Tỉnh Ủy Hòa Bình (1993), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, (tập 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Tỉnh Ủy Hòa Bình
Năm: 1993
16. Bùi Văn Tịnh – Cầm Trọng – Nguyễn Hữu Ưng (1975), Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam, Ban dân tộc Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Tịnh – Cầm Trọng – Nguyễn Hữu Ưng
Năm: 1975
3. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy – Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình (2007), Lịch sử tỉnh Hòa Bình Khác
17. Ủy ban nhân dân huyện Mai Châu – Sở văn hóa thông tin Hà Sơn Bình (19870, Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái mai Châu Khác
18. Viện dân tộc học (1992), các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam Khác
19. Trần Quốc Vượng (chủ biên) (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w