1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn TỔ CHỨC DẠY HỌC TỰ CHỌN PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN

82 723 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,33 MB
File đính kèm phu luc.rar (211 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí trong nhà trường phổ thông trung học thông qua việc sử dụng máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại”của tác giả Mai Văn Trinh đã sử dụng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục các từ viết tắt trong luận văn 3

MỞ ĐẦU 4

NỘI DUNG 11

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA, DẠY HỌC TỰ CHỌN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN 1.1 Cơ sở lí luận về dạy học phân hoá, dạy học tự chọn 11

1.1.1 Nguyên tắc phân hoá trong dạy học 11

1.1.2 Hình thức phân hóa trong dạy học 11

1.1.3 Dạy học phân hóa của một số nước trên thế giới 12

1.1.4 Dạy học phân hóa ở trường THPT Việt nam 15

1.2 Cơ sở lí luận về vai trò của đa phương tiện trong dạy học. 18

1.2.1 Một số khái niệm liên quan 18

1.2.2 Đa phương tiện và vai trò của nó trong dạy học 24

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học tự chọn vật lí ở các trường THPT hiện nay với sự hỗ trợ của đa phương tiện 27

1.3.1 Cấu trúc các chủ đề tự chọn vật lí ở trường THPT hiện nay 27

1.3.2 Nội dung của tài liệu tự chọn môn Vật lí 28

1.3.3 Tình hình trang bị và xu hướng sử dụng PTDH tự chọn Vật lí12 28

Kết luận chương 1 33 Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TỰ CHỌN PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN

Trang 2

2.1 Đặc điểm và của phần tự chọn Động lực học Vật rắn Vật lí 12 THPT

34

2.1.1 Cấu trúc của phần tự chọn Động lực học Vật rắn Vật lí 12 THPT .34 2.1.2 Nội dungcủa phần tự chọn Động lực học Vật rắn Vật lí 12 THPT 36

2.2 Xây dựng tư liệu để tổ chức hoạt động dạy học hỗ trợ tổ chức hoạt động dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 THPT 37

2.2.1 Nguyên tắc xây dựng tư liệu 37

2.2.2 Qui trình xây dựng các tư liệu 43

2.2.3 Hệ thống các tư liệu xây dựng được 51

2.3 Thiết kế giáo án dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 với các tư liệu đã xây dựng được 51

2.4 Hưóng dẫn sử dụng tài liệu để tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 62

Kết luận chương 2 65

Chương 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm 66

3.2 Nội dung thực nghiệm 66

3.3 Phương pháp thực nghiệm 66

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 66

3.3.2 Bố trí thực nghiệm 67

3.3.3 Các bước thực nghiệm 67

3.3.4 Xử lý số liệu 68

3.4 Kết quả thực nghiệm 68

3.5 Nhận xét kết quả của việc tổ chức hoạt động dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phuơng tiện 74

Kết luận chương 3 76

Trang 3

KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay thế giới đang bước vào thời kì ngày càng gia tăng của khoa họccông nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Tri thức đã trở thành một tư liệu sảnxuất quan trọng và đóng vai trò tiên quyết đối với sự thành công trong tăng trưởng

và phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục nước ta đang trong thời kì mới hướng tới đàotạo những con người lao động có kiến thức, năng động, sáng tạo với năng lực tư duy

và hành động độc lập cao

Muốn phát triển được giáo dục, một trong những vấn đề cấp thiết có tínhchiến lược là đổi mới phương pháp giáo dục Phương pháp giáo dục được quy địnhtrong Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại mục 2 Điều 4

ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[21].

Muốn đổi mới phương pháp giáo dục, một trong những vấn đề quan trọnghiện nay là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng và sử dụng tài liệuhướng dẫn trong dạy hoc ở trường THPT với sự hỗ trợ của đa phương tiện Như vậytài liệu hướng dẫn đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thông tin nhằmđịnh hướng tìm tòi tri thức để người học phát huy tính tích cực nhận thức, là một bộphận hữu cơ gắn kết cả phương pháp và nội dung dạy học

Nghị quyết của Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

VIII quán triệt: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học "[4]

Trong tình hình công nghệ thông tin phát triển mạnh như hiện nay, nhu cầutìm kiếm, chọn lọc, xây dựng và sử dụng tài liệu thông tin đang trở thành cấp thiếtđối với giáo viên và học sinh trong việc dạy học Đồng thời việc áp dụng cácphương tiện kĩ thuật hiện đại vào quá trình dạy học giúp cải thiện điều kiện, môitrường giáo dục chắc chắn rằng chất lượng dạy và học sẽ được nâng cao

Trang 5

Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới hoạt động học tậpchủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, đề cao khả năng tự học của ngườihọc và đề cao vai trò của người thầy về khả năng dạy cho người học cách học cóhiệu quả nhất.

Để thực hiện chủ trương trên thì một trong những tiếp cận hiện đại là ứngdụng những thành tựu của Công nghệ thông tin trong giáo dục Chỉ thị 58-CT/TWcủa Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục

là: “…đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo

ở mọi cấp học, bậc học và ngành học”[1].

Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục hiệu quả nhất là sử dụng cácphần mềm dạy học vì nó tích hợp được truyền thông đa phương tiện Một số nướctiên tiến như Mỹ, Anh, Đức, Pháp…đã nghiên cứu và đang sử dụng nhiều phầnmềm dạy học ở trường phổ thông Ở nước ta cũng có một số công trình nghiên cứuxây dựng các phần mềm dạy học, nhưng có chưa nhiều số công trình nghiên cứu hệthống về quy trình xây dựng và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để tổchức quá trình dạy học đạt hiệu quả cao

Thực tế của quá trình đào tạo đã chứng minh rằng: Phương tiện dạy học ngàycàng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học hiểu nhanh, nhớ lâu các nộidung học tập, đồng thời lại giảm nhẹ sức lao động của thầy giáo Phương tiện dạyhọc hỗ trợ tốt cho giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh

Sự phát triển các loại phương tiện dạy học sẽ góp phần đổi mới các phươngpháp dạy học Những năm gần đây, băng video, máy vi tính và hệ thống phươngtiện đa năng (multimedia) phát triển rất nhanh, tạo điều kiện cho việc cá nhân hoáviệc học tập; thầy giáo đóng vai trò người hướng dẫn nhiều hơn Muốn vậy, phải cốgắng đạt các kiến thức mới nhờ sự phát huy vai trò của đa phương tiện vào quá trìnhdạy học Do đó, cần có nhiều nghiên cứu phát triển phương tiện dạy học, đặc biệt làphương tiện dạy học đa truyền thông

Đổi mới phương pháp dạy học phải gắn liền với việc xác định mục tiêu dạyhọc Luật Giáo dục 2005 quy định mục tiêu giáo dục THPT: “ nhằm giúp học sinhcủng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ

thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều

Trang 6

kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học,

cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”[22]

Luật Giáo dục 1998 quy định mục tiêu giáo dục THPT như sau: “Giáo dụcTHPT giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoànthiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướngnghiệp để tiếp tục học lên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghềhoặc đi vào cuộc sống lao động”[21]

Như vậy, mục tiêu giáo dục THPT theo quy định tại Luật giáo dục 2005 có

điểm khác với quy định tại Luật giáo dục 1998, là nhấn mạnh “giúp học sinh có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển”.

Để thực hiện được mục tiêu này, cần phải thực hiện dạy học phân hoá ở cấpTHPT Tuy nhiên nhận thức của giáo viên về dạy học phân hoá chưa thật sự sâu sắcNhận thức của các bậc phụ huynh và học sinh về phân luồng, phân ban, dạy học tựchọn nhìn chung chưa đầy đủ

Tài liệu tự chọn vật lí giới thiệu chương trình và các chủ đề tự chọn, cấu trúcmỗi chủ đề bao gồm Mục tiêu; Kiến thức cần nhớ; Bài tập có lời giải và Bài tập tựgiải Như vậy tài liệu cung cấp chủ yếu về kiến thức để giáo viên tham khảo trongquá trình dạy chương trình tự chọn và học sinh tham khảo để tự rèn luyện kỹ năngvận dụng kiến thức giải bài tập Phần gợi ý phương pháp tổ chức dạy hoc còn chungchung và hạn chế do đó không có cơ hội để thiết kế hoạt động nhận thức cho họcsinh theo hướng tích cực Mặt khác dạy học tự chọn là vấn đề hoàn toàn mới mẽ đốivới giáo viên nên nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức thực hiện dạyhọc

Ngoài ra, kiến thức phần Động lực học vật rắn là kiến thức hoàn toàn mới vừađược đưa vào chương trình và sách giáo khoa hiện nay Nhiều giáo viên lâu nămkhông còn nhớ phần kiến thức được học trong phần Cơ học đại cương của cáctrường đại học Do đó việc việc hiểu về kiến thức phần này của giáo viên phần lớn

là chưa sâu sắc, chưa kể đến phải nghiên cứu kiến thức và tìm phương pháp để dạysao cho đạt hiệu quả cao

Xuất phát từ những lý do trên với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng

Trang 7

dạy và học bộ môn vật lí nói chung và chủ đề Động lực học vật rắn lớp12 nói riêng, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: " Tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn QuangLạc, Quách Tuấn Ngọc, Phạm Xuân Quế, Lê Công Triêm,… về việc ứng dụngCNTT trong dạy học Vật lí đã được đăng trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục, cácbáo cáo hội thảo khoa học … Trong đó các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của côngnghệ thông tin trong dạy học hiện nay và việc ứng dụng CNTT một cách có hiệuquả vào QTDH

Các luận án tiến sĩ của nhiều tác giả cũng đề cập tương đối nhiều đến việc ứng

dụng CNTT trong dạy học vật lí như: Đề tài “Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm với sự

hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học một số kiến thức cơ học và nhiệt học trung học phổ thông” của tác giả Trần Huy Hoàng đã đề cập đến việc sử dụng máy vi tính để

tạo ra các thí nghiệm ảo hoặc thí nghiệm mô phỏng, từ đó thiết kế tiến trình dạy học

cho một số bài thuộc phần cơ học và nhiệt học lớp 10 Đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí trong nhà trường phổ thông trung học thông qua việc sử dụng máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại”của tác giả Mai Văn Trinh đã sử dụng

một số ngôn ngữ lập trình để xây dựng một số phần mềm dạy học Vật lí nhằm mụcđích mô phỏng, minh họa các hiện tượng, quá trình vật lí để hỗ trợ giáo viên giảngdạy phần Quang hình và Động học

Luận văn thạc sĩ của tác giả Tạ Thị Thu Hiền với đề tài : “Thiết kế và sử dụng bài giảng theo hướng tích hợp truyền thông đa phương tiện phần Sinh học cơ thể động vật sinh học 11 THPT” Đề tài đã sử dụng các phần mềm máy tính để kìm

kiếm các tư liệu như hình ảnh tĩnh, động trên các địa chỉ trang web từ đó thiết kếcác bài giảng có sử dụng các tư liệu trên

Hiện nay chương trình và nội dung sách giáo khoa đã được thay đổi, các tàiliệu điện tử, cũng như các thông tin ở diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giảng dạy trênmột số địa chỉ website tương đối rộng rãi và cập nhật Tuy nhiên rất ít ai quan tâmđến chương trình tự chọn Đồng thời chưa có tác giả nào nghiên cứu “Tổ chức dạyhọc tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 trung học phổ thông với sự hỗ trợ

Trang 8

của đa phương tiện”.

3 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu đề tài được xác định là:

- Xác định được cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học phân hoá, dạy học tựchọn với sự hỗ trợ của đa phương tiện

- Xác định được cơ sở lí luận về sử dụng thiết bị đa phương tiện vào dạy học

- Đánh giá được thực trạng của việc dạy học tự chọn môn vật lý hiện nay

- Xây dựng được bộ tài liệu hướng dẫn tổ chức dạy học tự chọn phần Độnglực học vật rắn Vật lí 12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện

- Thiết kế được tiến trình dạy học trên cơ sở bộ tài liệu được xây dựng

4 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng được tài liệu dạy học tự chọn phần “Động lực học vật rắn” Vật lí

12 với sự hỗ trợ của đa phương tiện vừa được xây dựng thì sẽ tích cực hóa hoạtđộng nhận thức cho học sinh, nhờ đó mà hiệu quả dạy học tự chọn và chất lượnghọc tập môn vật lý sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu nêu trên nhiệm vụ nghiên cứu gồm những vấn đềsau:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học phân hoá, dạy học tự chọn

5.2 Nghiên cứu cơ sở lí luận về đa phương tiện và vai trò của nó trong dạyhọc

5.3 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài:

- Điều tra cơ bản về tình hình dạy học chương trình tự chọn môn Vật lí nóichung và phần Động lực học vật rắn nói riêng ở trường trung học phổ thông

- Điều tra cơ bản về tình hình dạy học tự chọn vật lí với sự hỗ trợ của đaphương tiện ở trường trung học phổ thông

5.4 Tập hợp các tư liệu hỗ trợ cho việc thiết kế kịch bản các giáo án giảngdạy

Trang 9

5.5 Thiết kế kịch bản các giáo án với sự hỗ trợ của đa phương tiện trong đó

sử dụng chủ yếu phần mềm công cụ (Powerpoint)

5.6 Thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm để chứng minhtính khả thi của đề tài

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực họcvật rắn Vật lí 12 trung học phổ thông với sự hỗ trợ của đa phương tiện

7 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lý 12 ở trườngTHPT với sự hỗ trợ của đa phương tiện

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của Nhà nước và củaNgành Giáo dục đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học

- Nghiên cứu các sách, bài báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiêncứu về cải tiến phương pháp dạy học hướng vào khai thác tài liệu và sử dụng tàiliệu hướng dẫn với sự hỗ trợ của đa phương tiện trong dạy học

- Nghiên cứu các tài liệu về dạy học phân hoá, phân ban, dạy học tự chọn

- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập vật lí10,vật lí 12, vật

lí 12 nâng cao, tài liệu hướng dẫn dạy học tự chọn môn Vật lí, các tài liệu thamkhảo

- Nghiên cứu các luận văn, luận án có liên quan đến đề tài

8.2 Phương pháp chuyên gia

Gặp gỡ và trao đổi với những người giỏi về lĩnh vực mình nghiên cứu, lắngnghe sự tư vấn và giúp đỡ của các chuyên gia, giúp định hướng cho việc triển khai

và nghiên cứu đề tài

8.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Trao đổi với giáo viên và học sinh về tình hình dạy học tự chọn môn Vật lí

Trang 10

nói chung và các chủ đề phần Động lực học vật rắn nói riêng ở trường trung họcphổ thông.

- Trao đổi với giáo viên và học sinh về tình hình dạy học theo với sự hỗ trợcủa đa phương tiện ở trường trung học phổ thông

8.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành giảng dạy một số tiết tự chọn có sự hỗ trợ của đa phương tiện

- Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động của học sinh khi học các giờ học tựchọn có sự hỗ trợ của đa phương tiện So sánh với các lớp ĐC, kết hợp với việctrao đổi ý kiến với giáo viên giảng dạy

8.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sưphạm và kiểm định sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm thực nghiệm

và đối chứng

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học phân hóa, dạy học tự chọn

và dạy học với sự hỗ trợ của đa phương tiện

Chương 2: Tổ chức dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 với

sự hỗ trợ của đa phương tiện

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA, DẠY HỌC

TỰ CHỌN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN

1.1 Cơ sở lí luận về dạy học phân hoá, dạy học tự chọn

1.1.1 Nguyên tắc phân hoá trong dạy học

Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hànhcác hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, sởthích, nhu cầu và các điều kiện học tập, nhằm tạo ra những kết quả học tập tốt nhấtcho người học

1.1.2 Hình thức phân hóa trong dạy học

Phân luồng, phân ban, dạy học tự chọn là các hình thức thực hiện dạy họcphân hoá

 Phân luồng

Phân luồng được thực hiện sau cấp THCS và sau cấp THPT, nhằm tạo ranhững cơ hội cho học sinh tiếp tục học tập hoặc làm việc sau khi đã hoàn thành mộtcấp học Mỗi cơ hội là một luồng Ví dụ sau cấp THCS có những luồng như: tiếptục học THPT; học trung cấp chuyên nghiệp; học nghề; tham gia làm việc tại các cơ

sở lao động, sản xuất…[3]

 Phân ban

Phân ban được thực hiện trong quá trình dạy học ở cấp THPT Khi thực hiệnphân ban, những học sinh có năng lực, sở thích, nhu cầu, điều kiện học tập tươngđối giống nhau được tổ chức thành nhóm học theo cùng một chương trình Mỗinhóm học sinh như vậy gọi là một ban Tùy theo số lượng học sinh mà mỗi ban cóthể chia thành một số lớp Ví dụ, những học sinh có khả năng, nhu cầu, sở thích vềlĩnh vực toán và khoa học tự nhiên có thể học ở ban khoa học tự nhiên; những họcsinh có khả năng, nhu cầu, sở thích về lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn có thểtham gia học ban khoa học xã hội và nhân văn…

 Dạy học tự chọn

Trang 12

Dạy học tự chọn được thực hiện trong quá trình dạy học ở các cấp học Nếuphân ban hướng đến các nhóm học sinh với khả năng, sở thích, nhu cầu, điều kiệnhọc tập tương đối giống nhau thì dạy học tự chọn hướng đến từng cá nhân học sinh.Dạy học tự chọn cho phép mỗi học sinh, ngoài việc học theo một chương trìnhchung còn có thể học một chương trình, với các môn học khác nhau, hoặc có thểhọc các chủ đề khác nhau trong một môn học.

1.1.3 Dạy học phân hóa của một số nước trên thế giới

Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều hình thức phân hóa trong dạy học:

Hoa kì và Canada:

Từ 14 đến 17 tuổi, học sinh sẽ trải qua bốn năm ở bậc trung học phổ thông,trong thời gian này học sinh sẽ có hiểu biết sâu hơn về những môn học ở bậc trung

học cơ sở Tại thời điểm này, học sinh thường có thể chọn những môn tự chọn trong

những lĩnh vực khác nhau (Theo EF)

Anh quốc:

Học sinh bắt đầu học trung học vào năm 11 tuổi, đây là chương trình bắt buộcnăm năm (hay còn gọi là “bậc”) Từ bậc một lên đến bậc sáu (hay lớp 7 đến lớp 11),học sinh trung học sẽ củng cố kiến thức với những môn đã học ở bậc tiểu học, thêmvào ít nhất một ngoại ngữ Vào bậc 4, họ bắt đầu chuẩn bị cho một loạt những kỳ thi

được gọi là Chứng chỉ Giáo dục Trung học (gọi tắt là GCSEs) Học sinh được kiểm tra dựa trên khoảng 9 hay 10 môn học tùy theo lựa chọn của họ.

Úc:

Học sinh bắt đầu bậc trung học cơ sở vào năm lớp bảy, thường là vào khoảng

12 hay 13 tuổi Bậc học trung học cơ sở là chương trình bắt buộc trong bốn năm,trong thời gian này học sinh sẽ tìm hiểu sâu hơn về những môn học ở tiểu học hay,

nếu họ muốn, bắt đầu những môn học nghề để chuẩn bị cho họ một nghề nghiệp.

Vào cuối năm lớp 10, học sinh sẽ phải dự những kỳ thi lấy Chứng nhận Học vấn.Sau đó họ có thể chọn lựa để rời trường học và bắt đầu đi làm, họ có thể vào mộttrường dạy nghề hay học tiếp hai năm nữa để hoàn tất Chứng Nhận Lớp 12 và thỏamãn yêu cầu vào đại học

Trung Quốc:

Trang 13

Tại Trung Quốc, tất cả các học sinh đều phải hoàn tất ít nhất 9 năm học.Chương trình Tiểu học bao gồm 5 năm học và nối tiếp với 4 năm Trung học hoặc 6năm học Tiểu học và 3 năm Trung học Học sinh học Trung học cho đến năm 14, 15

tuổi, sau đó sẽ tiếp tục học phân ban cho đến năm 18 tuổi Những môn học bắt buộc

bao gồm: Trung Văn, Anh Văn, Toán, Vật Lý, Hóa Học, Sinh Học, Lịch Sử, Địa

Lý, Triết Học, Âm Nhạc, Nghệ Thuật, Thể Thao và Tin Học Học sinh có thể chọnhọc thêm các môn như Văn Hóa Trung Quốc, Công Nghệ Điện Tử, Tin Học ÁpDụng… Học sinh cũng sẽ chọn học một số môn Thể Thao trong tuần, thường làBóng Đá, Bóng Rổ, Bóng Chuyền, Cầu Lông và Bóng Bàn Các lớp Âm nhạc cũng

là một phần trong thời khóa biểu của trường

- Thứ hai, thực hiện một chế độ giáo dục nhà trường có khả năng phát huy cátính và tạo cho học sinh tự do chọn lựa những môn học và nơi học mình yêu thích

- Thứ ba, đẩy mạnh quá trình quốc tế hóa giáo dục thông qua tăng cường ápdụng các công nghệ mới trong học tập và giảng dạy, tăng giờ học ngoại ngữ và vănhoá các quốc gia trên thế giới; thực hiện trao đổi, giao lưu học sinh và giáo viêngiữa các trường

- Thứ tư, tiến hành cải cách giáo dục, phân quyền cho các địa phương tổ chứcchỉ đạo việc dạy và học để phát huy tính độc lập tự chủ ở cơ sở qua thể chế tự trị địaphương Năm 1998, Nhật Bản đã phê chuẩn một chương trình cải cách mà theo đócắt giảm chương trình bắt buộc 30% và cho phép các trường có thể tự quyết địnhmột số nội dung giảng dạy cho phù hợp Thực hiện giảm số lượng học sinh trongmỗi lớp chỉ còn 20 - 25 em nhằm nâng cao hiệu quả học tập và giảng dạy

Trang 14

- Thứ năm, tiến hành công cuộc cải cách đại học và phát triển công tác nghiên cứu nhằm nâng cao năng lực phấn đấu, cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế giới.

Các trường đại học mở rộng việc tiếp nhận sinh viên nước ngoài Việc tuyểnsinh cũng có những cải tiến, một số trường chuyển sang thí điểm xét tuyển nhằmgiảm nhẹ khâu thi cử (TheoVYSA: Hội thanh niên sinh viên Việt Nam ở Nhật bản)Như vậy nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến hiện nay trong hệthống giáo dục quốc dân, đối với bậc trung học phổ thông đều có xu hướng tuỳthuộc vào nhu cầu sở thích và năng lực từng cá nhân để định hướng mục tiêu giáodục đào tạo đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu xã hội

Dưới đây là những hình thức chủ yếu đã được áp dụng rộng rãi ở nhìn chungnhiều nước trên thế giới từ trước đến nay

1.1.3.1 Phân ban

Hình thức này ra đời từ khoảng thế kỷ XVIII ở nhiều nước châu Âu Hìnhthức phân ban ngày càng được hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi ở các nước châu

Âu và các nước thuộc địa chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp

Đặc điểm của hình thức này là mỗi trường tổ chức dạy học theo một số ban đãđược quy định, học sinh được phân chia vào học các ban tùy theo năng lực, hứngthú và nhu cầu của các em Chương trình học tập của mỗi ban gồm các môn họcnhất định khác nhau giữa các ban[3]

Hình thức phân ban có ưu điểm là thuận lợi về mặt quản lý dạy học Tuynhiên nó có nhược điểm là khó đáp ứng được sự phân ban đa dạng của học sinh Dovậy hiện nay chỉ còn một số ít nước thực hiện hình thức này ví dụ: Ghinê, Angiêri,Mali, Campuchia

Trang 15

chương trình: Chương trình chuẩn và chương trình nâng cao Học sinh căn cứ vàonăng lực và sở thích của mình để quyết định chọn học loại chương trình nào ở mỗimôn học[3].

Ưu điểm nổi bật của dạy học tự chọn là đáp ứng được yêu cầu phân hóa caocủa học sinh Tuy nhiên nó đòi hỏi cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và năng lực quản

lý cao Xu hướng hiện nay nhiều nước hướng tới hình thức dạy học tự chọn

1.1.3.3 Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn

Đặc điểm của hình thức này là học sinh vừa được phân chia theo học các bankhác nhau, đồng thời học sinh được chọn một số môn học, chủ đề tự chọn ngoàiphần nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban Hình thức này kết hợp được ưuđiểm của cả hai hình thức phân ban và dạy học tự chọn, nó được nhiều nước trên thếgiới áp dụng, ví dụ Pháp, Nga, Singapore, Tây Ban Nha Đây cũng chính là hìnhthức phân hóa mà chúng ta thực hiện ở trường THPT hiện nay

1.1.3.4 Phân luồng kết hợp với dạy học tự chọn

Đặc điểm của hình thức này là cấp THPT được tổ chức thành các loại trườngkhác nhau Chương trình của mọi loại hình trường được xây dựng theo một địnhhướng, thường là về lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kinh tế, côngnghệ… Theo mỗi định hướng này, học sinh phải học theo một số môn bắt buộc theoquy định chung và một số môn tự chọn Việc lựa chọn các môn học theo một sốđịnh hướng xác định hiện đang được áp dụng ở khá nhiều nước như Đức, TrungQuốc, Hàn Quốc, Thụy Điển, Hà Lan, Italia…

1.1.4 Dạy học phân hóa ở trường THPT Việt nam

1.1.4.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học phân hóa, dạy học tự chọn ở trường THPT Việt nam

Hình thức phân hoá trong dạy học ở cấp THPT của nước ta là phân ban kếthợp với dạy học tự chọn

Chương trình chuẩn của THPT

Luật Giáo dục 2005, tại Điều 29 quy định “Chương trình giáo dục phổ thôngthể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi

và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt

Trang 16

động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp

và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông”[22]

Như vậy, chương trình giáo dục phổ thông là một kế hoạch sư phạm bao gồm:

- Mục tiêu giáo dục

- Phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục

- Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ đối với từng môn học sautừng đơn vị kiến thức, sau mỗi lớp học và cấp học

- Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục

- Đánh giá kết quả giáo dục từng môn học ở từng lớp, từng cấp học

Trong chương trình giáo dục phổ thông của nước ta, chuẩn kiến thức, kỹ năng

và yêu cầu về thái độ là những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng và yêu cầu vềthái độ mà mỗi học sinh đều cần phải và có thể đạt được Nói cách khác, chuẩn kiếnthức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ là cơ sở học vấn phổ thông của giáo dục nướcta

Một chương trình với những quy định cụ thể về nội dung giáo dục nhằm đạtđược các chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ như vậy được gọi là

“chương trình chuẩn” Chương trình chuẩn có thể được hiểu là chương trình nhằmđảm bảo giáo dục mang tính phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho tất

cả học sinh trong cả nước

Chương trình nâng cao của THPT

Ở cấp THPT ngoài chương trình chuẩn, để thực hiện dạy học phân hoá, một

số môn học còn có nội dung nâng cao như: toán, vật lý, hóa học, sinh học, ngữ văn,lịch sử, địa lý, ngoại ngữ Chương trình của các môn học với nội dung nâng cao nàygọi là chương trình nâng cao

Tổ chức dạy học tự chọn ở cấp THPT dựa trên các ban đã qui định:

- Ban khoa học tự nhiên (KHTN): Ban này phù hợp với những học sinh cónăng lực, hứng thú, nguyện vọng học sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệp đòihỏikiến thức vềlĩnh vực Toán và khoa học tự nhiên

- Ban khao học xã hội và nhân văn (KHXH-NV): Ban này phù hợp với nhữnghọc sinh có năng lực hứng thú, nguyện vọng sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệp đòihỏi kiến thức về lĩnh vực văn hoá xã hội

Trang 17

- Ban cơ bản: Thực hiện phân hoá linh hoạt bằng dạy học tự chọn ở các mức

độ năng cao khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của các bộ phận học sinh học lên đạihọc, cao đẳng, trung cấp nghề, đi vào lao động sản xuất

Học sinh ban KHTN học theo chương trình nâng cao của 4 môn: Toán, Lí,Hoá, Sinh và chương trình chuẩn của các môn còn lại

Học sinh học ban KHXH-NV học theo chương trình nâng cao của 4 môn:Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ và chương trình chuẩn của các môn còn lại

Học sinh học ban cơ bản sử dụng thời lượng tự chọn (4 tiết/tuần) để học theochương trình sách giáo khoa nâng cao của một số môn có nội dung nâng cao hoặchọc theo tài liệu dạy tự chọn dành cho giáo viên và học sinh

Tổ chức dạy học tự chọn trong các trường học là giải pháp thực hiện dạy họcphân hoá triệt để nhất vì mang đến cơ hội lựa chọn cho từng người học

Tuy nhiên, việc thực hiện dạy học tự chọn đòi hỏi rất nhiều điều kiện:

- Ngoài các môn học truyền thống, phải thiết kế và đưa vào chương trình giáodục nhiều môn học khác để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của học sinh Việc xâydựng chương trình và biên soạn tài liệu dạy học cho các môn học như vậy đòi hỏirất nhiều thời gian

- Phải thiết kế chương trình chuẩn và chương trình nâng cao cho tất cả cácmôn học trong kế hoạch giáo dục Đồng thời, phải biên soạn SGK và tài liệu dạyhọc khác cho cả 2 loại chương trình này Những việc làm trên đòi hỏi quá trìnhchuẩn bị nhiều năm

- Phải chuẩn bị đội ngũ giáo viên cho các môn học mới

- Phải có đủ phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành để có thể bố trí các lớphọc theo sự lựa chọn đa dạng của học sinh

- Ngoài những điều kiện nêu trên, dạy học tự chọn còn đòi hỏi nhiều điều kiệnkhác mà hiện nay nền kinh tế - xã hội của nước ta chưa đáp ứng đầy đủ

Hiện nay trong chương trình THPT có hai loại chủ đề tự chọn:

Ban cơ bản có nguyện vọng học tự chọn thì sẽ học các chủ đề nâng cao trong

số các môn học có nội dung nâng cao (Toán, Lí, Hoá, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoạingữ) Các chủ đề này đề cập đến các nội dung nâng cao, nhằm bổ sung và phát triểnchưong trình chuẩn đạt mức tương đương chương trình nâng cao

Trang 18

Các chủ đề bám sát chương trình chuẩn của các môn học trong kế hoạch giáodục Các chủ đề này nhằm củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kĩ năng củacác môn học

Chương trình giáo dục THPT thể hiện tính phân hoá, nhằm phát triển kĩ năng

và hứng thú cá nhân của học sinh nhưng vẫn đảm bảo tính phổ thông toàn diện.Mức độ phân hoá ở cấp THPT chưa quá sâu và rõ rệt

Phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn có khác phương pháp dạy học các môn học không?

Phưong pháp dạy học phải căn cứ vào trình độ học sinh Đối với các học sinhhọc các chủ đề bám sát cần phải gợi ý, củng cố, làm mẫu,

Đối với học sinh chọn các chủ đề nâng cao thì nên tổ chức và hướng dẫn họcsinh bằng các gợi ý cần thiết để học sinh tự giải quyết, tìm kiếm các mối liên hệgiữa phần đã học và phần năng cao, gơi ý để tiếp tục nghiên cứu phát triển các vấn

đề đó nhằm tạo hứng thú và đáp ứng nguyện vọng của những đối tượng này

1.2 Cơ sở lí luận về vai trò của đa phương tiện trong dạy học

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

1.2.1.1 Phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong quá trình dạyhọc, bao gồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học,các thiết bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác[32]

Các nhà giáo dục phân loại phương tiện dạy học thành 2 phần: phần cứng vàphần mềm

Phần cứng là cơ sở để thực hiện các nguyên lí thiết kế, phát triển các loại thiết

bị cơ, điện, điện tử… theo các yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng Các phươngtiện chiếu, radio, cassette, máy thu hình, máy dạy học, máy tính… được gọi là phầncứng Phần cứng là kết quả tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật trong nhiềuthế kỷ Phần cứng đã cơ giới hóa, điện tử hóa quá trình dạy học, nhờ đó giáo viên cóthể dạy cho nhiều học sinh, truyền đạt nội dung nhiều và nhanh hơn, đạt hiệu quảcao hơn mà tiêu hao sức lực ít hơn

Phần mềm sử dụng nguyên lí sư phạm, tâm lí, khoa học kỹ thuật để cung cấpcho học sinh một khối lượng kiến thức hay cải thiện cách ứng xử cho học sinh

Trang 19

Chương trình môn học, báo chí, sách vở, tạp chí, tài liệu giáo khoa… được gọi làphần mềm Phần mềm được đặc trưng bằng sự phân tích mô tả chính xác đối tượng,

sự lựa chọn mục tiêu, sự củng cố và đánh giá kiến thức

Sự phân loại trên mang tính chất tổng quát Ngoài ra đi sâu vào các loạiphương tiện dạy học cụ thể, chúng ta có thể chia thành nhiều loại tùy theo tính chất,cấu tạo, mức độ phức tạp chế tạo…

1.2.1.2 Phương tiện trực quan

 Khái niệm phương tiện trực quan

Phương tiện trực quan (PTTQ) là một khái niệm phụ thuộc, liên quan với kháiniệm phương tiện dạy học

PTTQ được hiểu như là một hệ thống, bao gồm các dụng cụ, đồ dùng thiết bị kỹthuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học với tư cách là đạidiện cho hiện thực khách quan của sự vật, hiện tượng; tạo điều kiện thận lợi choviệc khám phá, lĩnh hội kiến thức kỹ năng, kỹ xảo về đối tượng nghiên cứu, giúp

HS củng cố, khắc sâu, mở rộng, nâng cao và hoàn thiện tri thức; qua đó rèn luyệnnhững kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát, phântích tổng hợp, hình thành và phát triển động cơ học tập, tích cực làm quen vớiphương pháp nghiên cứu khoa học Từ đó, HS có khả năng vận dụng những tri thức

đã học vào thực tiễn để giải quyết những vấn đề của cuộc sống

Phương tiện dạy học nói chung và PTTQ nói riêng là một công cụ trợ giúp đắclực cho GV trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học ở tất cả các khâu của quátrình dạy học Nếu sử phương tiện dạy học một cách lôgic, hợp lí nó sẽ giúp GVtrình bày bài giảng, tổ chức hoạt động cho HS một cách tinh giản nhưng đầy đủ sâusắc và sinh động, điều khiển quá trình nhận thức của HS theo hướng sáng tạo[11]

 Phân loại các phương tiện trực quan:

Nếu phân loại theo tính chất, thì PTTQ gồm có 2 nhóm sau:

* Nhóm truyền tin: nhóm này cung cấp cho các giác quan của HS nguồn tin

dưới dạng tiếng hoặc hình hoặc cả 2 cùng một lúc

Những phương tiện truyền tin dùng trong giáo dục phần lớn là các thiết bịdùng trong sinh hoạt như: máy tính, máy chiếu, camera, máy ghi âm…

Trang 20

* Nhóm mang tin: là nhóm mà tự bản thân mỗi phương tiện đều chứa đựng

một khối lượng tin nhất định Những tin này bố trí trên các vật liệu khác nhau vàdưới các dạng riêng biệt

Những phương tiện mang tin gồm:

- Những phương tiện mang tin thính giác: là các phương tiện mang tin dướidạng tiếng như: đĩa âm thanh, băng âm thanh, chương trình phát thanh

- Những phương tiện mang tin thị giác: là các phương tiện được trình bày vàbảo lưu dưới dạng hình ảnh như: slide, ảnh, biểu bảng, đồ thị, bản đồ…

- Những phương tiện mang tin nghe nhìn: là nhóm hỗn hợp mang tin dướidạng cả tiếng lẫn hình Có một yếu tố tâm lí rõ ràng là nếu như càng nhiều giácquan tham gia vào việc tiếp nhận những “tác nhân kích thích” thì việc hình thànhnhững khái niệm và ghi nhớ kiến thức càng dễ hơn Trong việc lĩnh hội kiến thứcthì cơ quan thính giác và thị giác đóng vai trò quan trọng nhất và tất nhiên ảnhhưởng tổng hợp của 2 cơ quan đó sẽ mạnh hơn so với từng cơ quan riêng rẽ Từ đó

có thể thấy rằng phương tiện mang tin nghe nhìn chiếm vị trí quan trọng trong việctruyền thụ và tiếp nhận kiến thức

Các phương tiện mang tin nghe nhìn gồm có: phim có tiếng, video, phươngtiện đa chức năng (multimedia)…

- Những phương tiện mang tin dùng cho sự hình thành khái niệm và tập dượt.Các phương tiện này tạo khả năng hình thành những thói quen nghề nghiệp, kĩnăng, kĩ xảo và năng lực ứng xử theo yêu cầu đào tạo

Các phương tiện thuộc loại này gồm có: mô hình (tĩnh và động), các nguyênvật liệu độc đáo (đồ vật, chế phẩm, bộ sưu tập), phương tiện và vật liệu thí nghiệm,tranh lắp hoặc dán, các máy tập luyện, các phương tiện sản xuất[11]

Theo Lê văn Giáo, trong dạy học vật lí, PTTQ có thể phân thành hai nhóm,gồm Các phương tiện dạy học truyền thống và các phương tiện nghe nhìn:

* Các phương tiện trực quan truyền thống:

- Các vật thật trong đời sống và kĩ thuật

- Các thiết bị thí nghiệm được dùng để tiến hành thí nghiệm hoặc thínghiệm học sinh

- Các mô hình vật chất

Trang 21

- Bảng

- Tranh ảnh, biểu bảng và các bản vẽ sẵn

- Các tài liệu in

* Các phương tiện nghe nhìn gồm hai khối: khối mang những tin và khối

chuyển tải thông tin

Khối mang thông tin, gồm:

- Phim học tập: phim đèn chiếu, phim nhựa, phim truyền hình

- Các băng hình, đĩa CD, đĩa DVD, đĩa VCD…

- Băng cassette

- Các phần mềm dạy học

- Giấy bóng trong đã có nội dung; Folie màu

Khối chuyển tải thông tin, gồm:

- Máy vi tính

- Máy chiếu qua đầu

- Máy chiếu đa chức năng

Trong QTDH, để đạt được mục đích dạy học, trước hết GV phải đưa ra đượccác mục tiêu đúng đắn và kế hoạch hợp lí Mục tiêu dạy học là những yêu cầu mà

HS cần phải lĩnh hội được cả về tri thức, kĩ năng, thái độ, hành vi sau mỗi bài học,chương học hay cấp học Để thực hiện được mục tiêu đó, GV cần phải căn cứ vào

Trang 22

nội dung bài dạy, đối tượng HS để dự kiến PTDH (PTTQ) phù hợp Như vậy PTTQvừa là nguồn tri thức, vừa là công cụ để HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năngcủa bài học, môn học.

Như vậy, PTTQ là một yếu tố quan trọng trong QTDH, nó gắn kết các yếu tốcấu trúc của QTDH thành một chỉnh thể toàn vẹn Và việc xây dựng hợp lí mốiquan hệ giữa các yếu tố này sẽ nâng cao chất lượng dạy học

Trong mối quan hệ giữa các thành phần tham gia QTDH, PTTQ chở thôngđiệp đi theo một phương pháp dạy học nào đó

Trong lí luận dạy học, QTDH là một quá trình truyền thông tin bao gồm sựlựa chọn, xắp xếp và truyền đạt thông tin trong môi trường sư phạm thích hợp, tối

ưu cho người học Trong bất kì tình huống dạy học nào cũng có một thông điệptruyền đi, thông điệp đó thường là nội dung của chủ đề được dạy, cũng có thể là cáccâu hỏi về nội dung cho người học và các phản hồi từ người học, kể cả sự kiểm soátquá trình này về sự nhận xét, đánh giá các câu trả lời hay các thông tin khác PTTQchính là cầu nối truyền thông tin từ người thầy tới HS và ngược lại

PTTQ được sử dụng trong QTDH, giúp GV tổ chức và tiến hành hợp lí, cóhiệu quả của QTDH để có thể thực hiện được những yêu cầu của chương trình họctập PTTQ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất khi GV sử dụng nó với tư cách là phươngtiện tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của HS Còn đối với HS thông qualàm việc với PTTQ để hình thành những tri thức, kĩ năng, thái độ và hình thànhnhân cách

PTTQ có vai trò quan trọng trong QTDH, nó thay thế cho những sự vật, hiệntượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thể tiếp cận trựctiếp được PTTQ giúp cho GV phát huy được tất cả các giác quan của HS trong quátrình tiếp thu kiến thức, giúp HS nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng, cáckhái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc rút ra những tri thức và sự vận dụng vàothực tế Như vậy, nguồn tri thức mà HS nhận được trở nên đáng tin cậy và được nhớlâu bền hơn

PTTQ làm cho việc dạy học trở nên cụ thể hơn, vì vậy tăng khả năng tiếp thukiến thức về sự vật, hiện tượng, các quá trình phức tạp mà bình thường HS khó hiểurõ

Trang 23

Sử dụng PTTQ có thể rút ngắn thời gian dạy học mà việc lĩnh hội kiến thứccủa HS lại nhanh hơn, vững chắc hơn.

PTTQ giúp GV có nhiều thời gian và cơ hội thuận lợi để tổ chức, hướng dẫn

HS tự chiếm lĩnh tri thức mới Bên cạnh đó nó còn giải phóng người thầy khỏi mộtkhối lượng các công việc tay chân, do đó làm tăng khả năng chất lượng dạy học

PTTQ dễ dàng gây được cảm tình, sự chú ý của HS và cuốn hút đối với HS

Sử dụng PTTQ, GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiếnthức cũng như sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo của HS

Ngày nay, với những thành tựu của khoa học và công nghệ thì PTTQ càngđược phát triển cùng với sự ra đời của các phương tiện nghe nhìn hiện đại làm choPTTQ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong QTDH Những thành tựu đó đã chophép đưa vào những nội dung diễn cảm và hứng thú làm thay đổi phương pháp vàhình thức tổ chức dạy học, làm tăng nhịp độ của QTDH, tạo nên phong cách mới vàtrạng thái tâm lí mới Nhưng dù PTTQ có hiện đại đến đâu thì nó vẫn chỉ là công cụtrong tay người GV, giúp họ thực hiện có hiệu quả QTDH

có của nó Người dạy - nhà sư phạm phải biết tổ chức và điều khiển quá trình này,phát huy cao độ vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người học, tạo ra hệ thống cácđộng lực, thúc đẩy và phát triển một cách tổng hợp và đồng bộ mọi thành tố của quátrình nói chung và đặc biệt là thành tố người học nói riêng, đáp ứng được yêu cầucủa xã hội đối với sự nghiệp giáo dục

QTDH là sự phối hợp thống nhất các hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạtđộng lĩnh hội tự giác, tích cực tự sáng tạo của trò, nhằm làm cho trò đạt được mụcđích dạy học

Trang 24

Hay nói cách khác QTDH là một quá trình được thiết lập kế hoạch tỉ mỉ vàkhảo nghiệm chặt chẽ nhằm thiết lập một hệ thống truyền tin hợp lí trong một môitrường sư phạm thích hợp để dẫn dắt người học đạt được các mục tiêu học tập đặcbiệt Việc xắp xếp thông tin vào môi trường sư phạm trong QTDH thông thường làtrách nhiệm của người thầy giáo và người thiết kế phương tiện với mục tiêu là đảmbảo cho người học dễ dàng thu nhận và nắm vững các thông tin được thầy giáo phát

đi Mặt khác, trong QTDH, thầy giáo cần phải nắm được mức độ tiếp thu thông tincủa người học và từ đó có những phản hồi cho người học những sự uốn nắn, hướngdẫn, đánh giá, động viên, khen thưởng… kịp thời

1.2.2 Đa phương tiện và vai trò của nó trong dạy học

1.2.2.1 Thế nào là đa phương tiện (multimedia)

Người ta có thể giải thích từ multimedia theo nghĩa đen của thuật ngữ đó bằngcách dẫn ra nhiều phương tiện Tuy nhiên, với tư cách là một thuật ngữ gắn vớiCNTT, có thể hiểu multimedia là phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy vitính, sử dụng nhiều phương tiện truyền thông tin như văn bản, đồ hoạ, hình ảnh (baogồm cả hình tĩnh, hình động) và âm thanh, cùng với sự gây ấn tượng bằng tươngtác[30] Nói gọn hơn, có thể hiểu:

Multimedia = digital text, audio- visual media + hyperlink

1.2.2.2 Vai trò của đa phương tiện trong dạy học

Kỹ thuật siêu liên kết (hyperlink) của CNTT đã giúp kết nối mau lẹ nhiều cơ

sở dữ liệu gồm mọi loại văn bản, đồ hoạ, âm thanh trở thành nguồn tư liệu đa năng

và phong phú, và tăng tốc độ tương tác giữa người sử dụng và nguồn tư liệu Khingồi trước một máy tính có nối mạng là bạn được ngồi trước một kho dữ liệu vôtận, bao gồm các cơ sở dữ liệu ghi trên máy tính và các đĩa CD, DVD kèm theo, và

vô vàn các trang Web liên quan trên toàn thế giới, mà mọi cơ sở dữ liệu đó được kếtnối rất nhanh chóng khi tìm kiếm bằng công cụ siêu liên kết Rõ ràng nếu hiểu "đaphương tiện" theo cách như trên chúng ta mới thấy hết quy mô và sức mạnh diệu

kỳ của nó

Với sự tiến bộ nhanh chóng của CNTT và vi điện tử, các công cụ lưu trữthông tin ngày càng có sức chứa lớn, chẳng hạn một CD-ROM thông thường códung lượng 700 MB, có thể chứa được cỡ 250.000 trang văn bản, cho phép ghi các

Trang 25

hình ảnh động có màu sắc kèm âm thanh, các đĩa DVD còn có sức chứa lớn hơn:các thanh từ, thẻ từ, ổ đĩa cứng tí hon cơ động, ổ cắm cơ động USB có thể chứahàng chục GB, cho phép ghi một khối lượng lớn dữ liệu và hình ảnh chất lượng cao.Kèm với công cụ lưu trữ thông tin, công cụ thu nhận và sao chép thông tin tiện lợitạo điều kiện để ghi sao và chế tạo các dĩa CD, DVD đa phương tiện Đó là các máyảnh digital, các ổ đĩa cho phép ghi CD- ROM với giá không quá cao, và các đĩa CDtrắng rất rẻ (giá khoảng 3000 - 10.000 đ )

Các đĩa CD, DVD chứa multimedia là các công cụ rất quan trọng hỗ trợ giảngdạy và học tập Nhờ đó người ta có thể soạn thảo các từ điển bách khoa chứa rấtnhiều thông tin văn bản, hình ảnh tĩnh, âm thanh, hình ảnh động có âm thanh….thuận tiện cho việc tra cứu Một trong những từ điển bách khoa thông dụng trên CD

là từ điển ENCARTA của hãng Microsoft chứa trên một đĩa DVD hoặc 6 đĩa CD(version 2007), một kho dữ liệu lớn phục vụ học tập và giảng dạy ENCARTA có

cơ sở dữ liệu đồ sộ trên đĩa CD tại chỗ, đồng thời có các danh mục URL (địa chỉInternet - Uniform Resouree - Locator) rất phong phú liên quan đến vấn đề cần tìmkiếm, các địa chỉ này được cập nhật thường xuyên qua internet Do tính phong phú

và cơ động của các CD, DVD chứa multimedia, đây có thể là phương tiện thuộccông nghệ mới hỗ trợ dạy và học linh động nhất, có hiệu quả nhất trong điều kiệnnước ta hiện nay, khi phương tiện internet chưa phổ cập

1.2.2.4 Cấu trúc tài liệu hướng dẫn tổ chức dạy học tự chọn với sự hỗ trợ của đaphương tiện

Tài liệu hướng dẫn dạy học với sự hỗ trợ của đa phương tiện gồm rất nhiềuyếu tố cấu thành Sau đây là những yếu tố cấu trúc chính

Trang 26

- Kênh chữ: Bao gồm các nội dung kiến thức các mục, các bài giảng, các chủ

đề tự chọn đã được gia công sư phạm cho phù hợp với mục tiêu, nội dung vàPPDH Kênh hình (hình tĩnh và hình động) sưu tầm hoặc thiết kế, chọn lọc và đãđược gia công sư phạm cho phù hợp với nội dung của bài giảng, nội dung các chủđề

- Các đoạn phim: Đây là các đoạn phim đã được sưu tầm, chọn lọc và đã giacông sư phạm sư phạm cho phù hợp với mục tiêu, nội dung và PPDH

- Âm thanh: Bao gồm lời giảng của GV, tiếng thuyết minh của từng đoạnphim, hình ảnh, nhạc nền của các đoạn phim đã được xử lí cho phù hợp với từngđoạn và với nội dung dạy học

Kênh chữ: Đây là 1 yếu tố không thể thiếu trong tài liệu hướng dẫn dạy họcvới sự hỗ trợ của đa phương tiện Nó chứa đựng tất cả nội dung, thông tin của từngbài mà GV cần chuyển tải đến cho HS

Kênh hình, phim: Vừa là phương tiện minh họa cho kiến thức của bài, vừa lànguồn tư liệu quan trọng giúp HS tìm tòi, khám phá và lĩnh hội kiến thức

Âm thanh: Đây là một yếu tố rất quan trọng trong tài liệu hướng dẫn Âmthanh có thể gây cảm xúc rất mạnh đối với HS, nó vừa thuyết minh cho các hìnhảnh, các đoạn phim, vừa thuyết minh cho kênh chữ

Các yếu tố cấu trúc tài liệu hướng dẫn tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của đaphương tiện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau Trong lí luận dạy

Kên

h hình

Phi

m

Kên

h chữ

Âm than h

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cấu trúc tài liệu hướng dẫn tổ chức

dạy học với sự hỗ trợ của đa phương tiện

Trang 27

học, nếu biết kết hợp nhiều tác nhân kích thích cùng tác tác động vào các giác quanthì quá trình lĩnh hội tri thức của HS sẽ nhanh hơn, nhớ lâu hơn.

Nếu như tài liệu hướng dẫn chỉ có kênh chữ thì HS sẽ thấy nội dung bài họcrất khô khan, buồn tẻ nhàm chán, và như vậy thì kết quả của QTDH sẽ không cao.Nhưng nếu phần nội dung đó được kết hợp với các hình ảnh minh họa, các đoạnphim và âm thanh thì sẽ thu hút được sự chú ý, kích thích được lòng say mê học tậpcủa HS, và tất nhiên lúc này chất lượng dạy học sẽ được nâng cao

Tóm lại, các yếu tố cấu trúc tài liệu hướng dẫn dạy học với sự hỗ trợ của đaphương tiện có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau trongQTDH Muốn tổ chức dạy học tự chọn với sự hỗ trợ của đa phương tiện thì cần cóđầy đủ các loại tư liệu:

- Tư liệu văn bản (Các kiến thức bổ sung cho giáo viên như các định luật,định lí…các ví dụ minh hoạ, hệ thông các bài tập tự luận có hướng dẫn giải, các câuhỏi trắc nghiệm có đáp án…)

- Tư liệu đa phương tiện (phim video, hình ảnh, hình vẽ, phim thiết kế bằngphần mềm vi tính…)

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học tự chọn vật lí ở các trường THPT hiện nay với sự hỗ trợ của đa phương tiện

1.3.1 Cấu trúc các chủ đề tự chọn vật lí ở trường THPT hiện nay

Qua nghiên cứu tài liệu tự chọn sách dùng cho giáo viên và học sinh Vật lí 10,

11, 12 do Bộ giáo dục - Đào tạo ban hành, cho thấy: cấu trúc các tài liệu của các lớp

có khác nhau (do nhiều nhóm tác giả viết), thiếu tính đồng bộ

Qua điều tra khảo sát thực tế thì tài liệu phục vụ cho dạy học tự chọn vật líTHPT gồm các loại sau:

Lớp

(chủ biên)

(chủ biên)

Trang 28

Trong số tài liệu hướng dẫn dạy học các chủ đề tự chọn vật lí đối với lớp 11

và lớp 12 chỉ có tài liệu dành cho đối tượng học sinh học chương trình cơ bản Cáchọc sinh học chương trình nâng cao không có tài liệu hướng dẫn học các chủ đề tựchọn bám sát Số tiết học các chủ đề tự chọn do giáo viên quyết định Một số trườnggiáo viên thống nhất được với nhau về chương trình, nội dung dạy học tự chọn Một

số trường tuỳ từng giáo viên và tuỳ đối tượng học sinh, giáo viên tự tìm tài liệu và

tự chọn kiến thức để tổ chức dạy tự chọn bám sát cho học sinh

1.3.2 Nội dung của tài liệu tự chọn môn Vật lí

Tài liệu hướng dẫn dạy học tự chọn vật lí cả 3 khối lớp 10, 11, 12 của Bộ giáodục - Đào tạo phát hành do nhiều nhóm tác giả tham gia viết [20;26;27] Tuy nhiênnội dung tài liệu dạy học tự chọn vật lí không được trình bày tương tự như sách giáokhoa Vật lí Nội dung chỉ trình bày các kiến thực vật lí, không thể hiện phương phápdạy học của giáo viên hoặc tự học của học sinh Do vậy tài liệu này chỉ phù hợp vớinhững giáo viên dạy học có năng lực chuyên môn vững vàng và các học sinh khágiỏi Còn đối với giáo viên nói chung và học sinh đại trà chắc chắn gặp nhiều lúngtúng

1.3.3 Tình hình trang bị và xu hướng sử dụng phương tiện dạy học tự chọn Vật

lí 12

Qua thăm dò ý kiến đồng nghiệp ở trường THPT chúng tôi nhận thấy sự hiểubiết của giáo viên về dạy học phân ban, tự chọn chưa thực sự sâu sắc và thực trạngday - học ở trường THPT các chủ đề tự chọn chủ yếu dạy học theo phương pháptruyền thống hầu như rất ít sử dụng các tài liệu như tranh ảnh, hình vẽ, các thínghiệm minh hoạ…Nếu có thì còn nghèo nàn, rời rạc, chưa phong phú, chưa hệthống Ngoài ra hầu như không sử dụng các tài liệu khai thác từ internet kết hợpcác phương tiện dạy học hiện đại để dạy các chủ đề tự chọn Chỉ có một số tiết thaogiảng hoặc thực tập các tiết trong chương trình chính khoá thì có sử dụng phươngtiện dạy học mới và cũng chỉ tập trung ở một số môn học và tập trung vào một sốgiáo viên mới ra trường

Để tìm hiểu cụ thể tình hình dạy học tự chọn vật lí ở các trường THPT, nhucầu của học sinh học tự chọn môn vật lí chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếuđiều tra, quan sát sư phạm, tham khảo giáo án, dự giờ và đã tiến hành khảo sát bằng

Trang 29

hình thức gặp gỡ trực tiếp, phỏng vấn các giáo viên đang giảng dạy bộ môn vật línói chung và đang giảng dạy tự chọn vật lí 12 nói riêng.

* Mục đích điều tra: Nhằm đánh giá thực trạng dạy học tự chọn môn vật línói chung và phần tự chọn Động lực học vật rắn nói riêng ở các trường THPT.Đánh giá tình hình ứng dụng CNTT, khai thác sử dụng đa phương tiện vào dạy học

và nhu cầu của GV về tài liệu hướng dẫn dạy học tự chọn vật lí để góp phần nângcao chất lượng dạy học bộ môn vật lí nói chung

* Đối tượng điều tra: Các GV trực tiếp tham gia giảng dạy bộ môn Vật lí ởcác trương THPT (danh sách GV ở các trường THPT được cung cấp ở phần phụlục)

* Nội dung điều tra: Ngoài việc dự giờ thăm lớp, sử dụng phiếu điều tra.Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và xin ý kiến của các GV về những vấn đề sau:

1 Tình hình trang bị phưong tiên hỗ trợ dạy học

2 Tài liệu phục vụ giảng dạy tự chọn môn vật lí

3 Hình thức tổ chức dạy học mà thầy cô thường dùng trong dạy học tự chọnvật lí

4 Loại phương tiện trực quan giáo viên thưòng sử dụng đối với các dạy học

tự chọn vật lí cần có phương tiện trực quan hỗ trợ

5 PPDH chủ yếu được thầy cô sử dụng để dạy học tự chọn vật lí

6 Mức độ sử dụng CNTT của giáo viên trong dạy học tự chọn vật lí

7 Các tiết dạy học tự chon có ứng dụng CNTT mà giáo viên đã thiết kế và tổchức dạy học

* Kết quả điều tra: Sau khi điều tra, khảo sát và phỏng vấn 30 GV đang trựctiếp giảng dạy bộ môn Vật lí ở các trường THPT, tỉnh Quảng Bình về các vấn đềnêu trên

Thông qua bảng số liệu điều tra, kết hợp với phỏng vấn trực tiếp các GV.Chúng tôi nhận thấy rằng:

- Không có các PTTQ hướng dẫn dành riêng cho việc dạy học tự chọn Giáoviên dạy học tự chọn ở các trường THPT sử dung chủ yếu các phương tiện trựcquan là các tranh, ảnh, mô hình, phần lớn có nguồn gốc từ các công ty thiết bị giáodục, một số tranh, ảnh, sơ đồ, bảng, mô hình do GV tự thiết kế để phục vụ cho công

Trang 30

việc giảng dạy của mình Đa số các GV đều cho rằng, các PTTQ chủ yếu phục vụcho giảng dạy chương trình môn vật lí nói chung và các chủ đề tự chọn nói riêngphần nhiều vẫn chưa đáp ứng hết được việc truyền tải nội dung kiến thức cho HS vàđôi lúc cũng chưa thuận lợi cho GV tổ chức các hoạt động học tập theo ý đồ củamình.

- Các PTTQ mà GV thường sử dụng là tranh, ảnh, hình vẽ với mục đích minhhọa cho các kiến thức trong SGK Mô hình và các thí nghiệm cũng được sử dụngnhưng đa số các GV đều cho rằng việc chuẩn bị, sử dụng chúng trong một số tiếtdạy không đảm bảo đúng thời gian qui định của tiết học Nếu có làm các thí nghiệmchuẩn bị trước thì GV ngại khó việc quay phim ghi lại hình ảnh và chuyển tải đếnhọc sinh quan sát

- Qua thăm dò chúng tôi nhận thấy đa số các giáo viên đều đã có cách nhìntiến bộ về việc đổi mới PPDH ở trường THPT Chính vì vậy kết quả thu được trongphiếu điều tra đã cho thấy không có GV nào sử dụng phương pháp thuyết trìnhtrong dạy học tự chọn GV đều đã cố gắng đổi mới PPDH, tuy nhiên phương phápdạy học mà GV cho là tiến bộ chủ yếu đang được sử dụng vẫn là phương pháp hỏiđáp kết hợp với giảng giải và chủ yếu dạy các tiết học trong chương trình Riêngtrong dạy học tự chọn hầu hét các giáo viên đều coi nhẹ vai trò của chúng đối vớiviệc phát huy tính tích cực tự lực cho học sinh Điều mà hầu hết các giáo viên đềunghỉ rằng dạy tự chọn thì giống như việc học thêm Các em đã được học trongchương trình chuẩn là đủ Phương pháp chủ yếu sử sụng trong dạy học tự chọn làgiáo viên thuyết trình lí thuyết, làm bài tập mẫu, học sinh bắt chước làm theo Cácphương pháp như dạy học giải quyết vấn đề, biểu diễn thí nghiệm, thực hành quansát cũng có sử dụng nhưng rất ít và còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là các phươngpháp dạy học có hỗ trợ của đa phương tiện thì cũng có nhưng giáo viên còn ngại sửdụng hoặc có sử dụng nhưng hiệu quả chưa cao

- Về các trang thiết bị như: máy vi tính, máy chiếu, mạng internet hiện có ở

các trường THPT:

Qua điều tra, khảo sát chúng tôi thấy rằng đa số các trường THPT đều đượctrang bị máy vi tính, máy chiếu đa năng Các trường mà chúng tôi điều tra đều đãnối mạng internet, một số giáo viên đã nối mạng internet tại nhà

Trang 31

- Về hướng sử dụng CNTT trong dạy học

Đa số các trường mà chúng tôi điều tra, khảo sát thì hầu hêt các GV trẻ (dưới

30 tuổi ) được trang bị kiến thức tin học Còn lại đa số GV nói chung và GV vật línói riêng chưa được trang bị kiến thức tin học, hoặc có biết về tin học nhưng trình

độ còn hạn chế Chính vì vậy mà mặc dù trang thiết bị ở các trường THPT tươngđối đầy đủ nhưng lại rất ít được khai thác và sử dụng Đa số GV chỉ sử dụng máytính trong các giờ thao giảng, các giờ thi GV dạy giỏi Hướng sử dụng chủ yếu là đểthiết kế bài giảng bằng phần mềm MS Powerpoint nhưng việc hiểu tiêu chí đánhgiá một bài giảng điện tử có chất lượng cũng còn mơ hồ, đa số GV chỉ thiết kế giáo

án bằng phần mềm Word

- Về đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong dạy học: Gần đây

phong trào dạy học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin tương đối phổ biến và nhìnchung có chất lượng rõ rệt Hầu hết các giáo viên đều được tham gia tập huấn bồidưỡng thường xuyên về sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tuy nhiên thờigian tập huấn hạn chế Nhiều giáo viên chưa chịu khó tự học hoặc học chưa đến nơiđến chốn Do vậy, khi bắt tay vào việc soạn giáo án điện tử, tổ chức hoạt động nhậnthức cho học sinh với sự hỗ trợ của CNTT thì còn lúng túng, nhiều bài giảng quálạm dụng việc trình chiếu…dẫn đến chất lượng dạy học chưa cao Qua thăm dò ýkiến HS thì hầu hết các em cho rằng thầy cô dạy bài giảng điện tử lúc đầu thì rấtthích nhưng sau khi học xong các em không kịp ghi chép, không xác định được nộidung trọng tâm của bài học Các em rất thích thầy dạy dùng bảng đen để ghi cáckiến thức trọng tâm, phân tích giải thích một số hiện tượng, các bài tập… Máy tínhchỉ nên sử dụng để chiếu các hình ảnh, đoạn phim, các hình vẽ và nội dung các câuhỏi, bài tập để cả lớp cùng quan sát theo dõi

- Về những khó khăn thường gặp của GV khi sử dụng đa phưong tiện trong dạy học.

Đa số các GV đều cho rằng khó khăn lớn nhất đối với họ là chưa có nhiềukiến thức về tin học vì vậy việc họ sử dụng máy tính rất khó khăn, từ đó họ ngạikhông dám sử dụng các trang thiết bị hiện đại mà nhà trường đang có Còn những

GV đã tương đối thành thạo vi tính thì lại thiếu các nguồn tư liệu hỗ trợ cho việcdạy học như các hình ảnh (tĩnh và động), các đoạn phim phù hợp với nội dung bài

Trang 32

dạy, do trình độ tiếng Anh của còn hạn chế nên chưa biết cách khai thác các nguồn

tư liệu phong phú và có giá trị trên mạng internet Vì vậy hạn chế tính ứng dụng của

đa phương tiện trong dạy học dẫn đến chất lượng dạy học có phần hạn chế so với xuhướng của thời đại

- Nhu cầu của GV về tài liệu hướng dẫn dạy học tự chọn với sự hỗ trợ của đa phương tiện.

Chúng tôi đã gặp gỡ trao đổi với các GV, mời họ tham gia dự giờ các tiết dạyhọc tự chọn mà tác giả tiến hành thực nghiệm Trao đổi và nhận xét định tính hiệuquả các tíết dạy Hầu hết các giáo viên đều mong muốn được trang bị các kiến thức

về tin học bằng cách tham gia các lớp tập huấn về kĩ năng sử dụng máy tính và tậphuấn về các tài liệu dạy học có sử dụng các trang thiết bị CNTT, dạy học có sự hỗtrợ của đa phương tiện Ngoài ra, do họ ngại để tìm kiếm, chỉnh sửa các tài liệu, cáctranh ảnh, phim…phù hợp với nội dung từng chủ đề trong các tài liệu hướng dẫndạy học tự chọn của Bộ giáo dục đào đạo trang cấp ở trường Nếu có các tư liệu đaphương tiện được cung cấp, khai thác thì giáo viên còn lúng túng trong việc việcthiết kế bài giảng để tổ chức hoạt động dạy học Vì vậy GV có nhu cầu rất cao vềviệc được hỗ trợ, cung cấp các tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động dạy học với sự

hỗ trợ của đa phương tiện

Trang 33

3 Điều kiện cơ sở vật chất nước ta còn nhiều bất cập chưa đồng bộ, songchúng ta vẫn có thể phát huy tối đa vai trò của phương tiện dạy học truyền thống kếthợp với phương tiện dạy học hiện đại để tổ chức hoạt động dạy học tự chọn nóichung và dạy học tự chọn phần Động lực học vật rắn nói riêng đạt hiệu quả cao gópphần nâng cao chất lượng dạy học vật lí ở trường phổ thông.

Trang 34

 Cấu trúc chương trình phần cơ học:

Ở bậc THPT cấu trúc phần cơ học được thiết kế như sau:

Đối với ban cơ sở việc nghiên cứu chuyển động cơ học của chất điểm, chuyểnđộng quay của vật rắn, cân bằng của chất điểm, cân bằng của vật rắn, các định luậtbảo toàn kết thúc ở lớp 10, phần dao động và sóng được tiếp tục nghiên cứu ở lớp

12 Đối với ban khoa học tự nhiên việc nghiên cứu chuyển động cơ học của chấtđiểm, cân bằng của chất điểm và vật rắn ở lớp 10, phần dao động và sóng được tiếptục nghiên cứu ở lớp 12 Ngoài ra ban khoa học tự nhiên nghiên cứu thêm phần cơhọc chất lưu ở lớp 10, và phần động lực học vật rắn ở lớp 12[18]

Trang 35

Việc đưa phần động lực học vật rắn vào một chương của chương trình vật lí

12 nâng cao có tác dụng trang bị thêm kiến thức cho đối tượng ban khoa học tựnhiên có trình độ nhận thức cao hơn so với ban cơ sở Trong khi đó ban cơ sở chỉđưa thêm một bài “Chuyển động tịnh tiến của vật rắn - chuyển động quay của vậtrắn quanh một trục cố định” vào chương III - Vật lí 10 Điều này thể hiện “chươngtrình đã tính đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội và nền giáo dục của nước tatrong vòng hơn một thập kỉ sắp tới, nên cần thiết phải nâng cao hơn một chút yêucầu về nội dung học vấn” ( Mục tiêu GD-ĐT)

 Cấu trúc chương trình tự chọn nâng cao phần Động lực học vật rắn:

Dạy học tự chọn phần động lực học vật rắn Vật lí 12 THPT hiện nay tuỳ thuộcvào cách lựa chọn của từng trường:

* Học sinh học chương trình cơ bản thì có thể chọn các môn học tự chọnnâng cao (Toán, Lí, Hoá ) hoặc các chủ đề tự chọn nâng cao

Nếu chọn môn Vật lí là môn học tự chọn nâng cao thì GV tổ chức dạy họctheo sách giáo khoa Vật lí 12 nâng cao hoặc tổ chức dạy học theo sách giáo khoaVật lí 12 kết hợp với dạy học chủ đề nâng cao của môn Vật lí 12 Tài liệu chủ đề tựchọn nâng cao của môn Vật lí 12 có 8 chủ đề dạy trong 35 tiết trong đó chủ đềĐộng lực học vật rắn dạy trong 8 tiết Nếu dạy theo sách giáo khoa Vật lí 12 nângcao thì phần Động lực học vật rắn dạy trong 9 tiết

Phân phối chương trình vật lí 12 nâng cao của chương Động lực học vật rắn: Nội dung Tổng sốtiết Lí thuyết Thựchành Bài tập Kiểmtra

Chủ đề tự chọn nâng cao phần Động lực học vật rắn Vật lí 12 gồm 4 bài dạytrong 8 tiết Tuỳ đối tượng học sinh, giáo viên có thể tự chủ động phân chia số tiết líthuyết và bài tập cho hợp lí Cấu trúc mỗi bài gồm phần:

I- Lí thuyết

II- Bài tập ví dụ

Cuối mỗi bài có một số câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tự luận

Trang 36

* Học sinh học chương trình 12 nâng cao thì học các chủ đề tự chọn bám sát

“Hiệu trưởng các trường THPT lập Kế hoạch dạy học chủ đề bám sát (chọn môn

học; ấn định số tiết/tuần cho từng môn, tên bài dạy) cho từng lớp, ổn định trong

từng học kỳ trên cơ sở đề nghị của các tổ trưởng chuyên môn và giáo viên chủnhiệm lớp" (Trích chương trình khung 2009-2010 của bộ GD-ĐT)

Thăm dò ý kiến một số trường, ví dụ trường THPT Lệ thủy, THPT Đào Duy

Từ tỉnh Quảng Bình: đối với học sinh học chương trình Vật lí 12 nâng cao thì cácchủ đề tự chọn môn Vật lí là 0,5 tiết /tuần (tức là 17,5 tiết / năm) khi đó tổ chuyênmôn thống nhất chủ đề tự chọn Riêng phần Động lực học vật rắn thường thống nhấtdạy với thời lượng là 2 tiết

2.1.2 Nội dung của phần tự chọn Động lực học Vật rắn Vật lí 12 THPT

 Sách giáo khoa Vật lí 12 nâng cao, trong chương động lực học vật rắn có 5 bài học lí thuyết dạy trong 6 tiết, đó là:

1 - Chuyển động quay của vật rắn quanh một trục cố định

2 - Phương trình động lực học của vật rắn quay quanh một trục cố định

3 - Momen động lượng - Định luật bảo toàn momen động lượng

4 - Động năng của vật rắn quay quanh một trục cố định

5 - Bài tập về động lực học vật rắn

Ngoài ra có 2 tiết bài tập và 1 tiết kiểm tra cuối chương

 Tài liệu các chủ đề tự chọn nâng cao Vật lí 12 gồm 4 bài:

1- Chuyển động quay của vật rắn xung quanh một trục cố định

2- Phưong trình động lực học của chuyển động quay của vật rắn quayquanh một trục cố định

3 - Động năng của vật rắn quay quanh một trục cố định

4 - Mômen động lượng

Đặc điểm của phần này là việc hình thành kiến thức cơ bản cho học sinh có sửdụng nhiều công thức toán học, có liên hệ với phần cơ học chất điểm Biểu hiệnhoặc ứng dụng các định luật, định lí…liên quan đến nhiều hiện tượng trong thực tế.Với khuôn khổ là quyển sách giáo khoa (hoặc tài liệu chủ đề tự chọn) thì tác giảsách giáo khoa chỉ giới thiệu một số hình vẽ (đen trắng) hoặc minh hoạ một số hìnhảnh mô tả các biểu hiện của định luật, các ứng dụng trong thực tế…Các đoạn phim

Trang 37

minh hoạ cho các biểu biện của định luật, ứng dụng các định lí cần có các phươngtiện chuyển tải đến học sinh Ngoài ra đây là một trong những phần kiến thức mớiđược đưa vào chương trình Vật lí THPT hiện nay, các giáo viên đang trực tiếp giảngdạy phần này cũng chưa hề được học trong chương tình THPT của họ

Phân tích đặc điểm của phần động lực học vật rắn cho thấy việc cung cấp tàiliệu hưóng dẫn dạy học phần Động lực học vật rắn với sự hỗ trợ của đa phương tiện

là cần thiết

2.2 Xây dựng tư liệu để tổ chức hoạt động dạy học

2.2.1 Nguyên tắc xây dựng tư liệu để tổ chức hoạt động dạy học

Khi xây dựng và sử dụng tư liệu để thiết kế bài giảng để tổ chức hoạt độngdạy học tự chọn với sự hỗ trợ của đa phương tiện muốn mang lại hiệu quả cao cầnđảm bảo các nguyên tắc sau:

2.2.1.1 Nguyên tắc quán triệt mục tiêu dạy học

Phải xác định yêu cầu cần đạt được của người học sau khi học xong bài học

đó chứ không phải là việc mô tả những yêu cầu của nội dung chương trình quyđịnh Đó không phải là tên chủ đề của bài học mà là cái đích HS phải đạt tới, lànhiệm vụ học tập mà HS phải hoàn thành

Mục tiêu dạy học phải được diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu, được thể hiện bằng các từhoặc cụm từ hành động có thể định lượng được kết quả học tập của HS (định nghĩa, giảithích, chứng minh…) Căn cứ vào mục tiêu, khi thiết kế bài giảng theo hướng tích hợptruyền thông đa phương tiện, mỗi mục tiêu phải được cụ thể hoá bằng hệ thống câu hỏi,các PHT dưới các dạng khác nhau kết hợp với việc quan sát các hình ảnh, các đoạnvideo, các file ảnh động để định hướng các hoạt động học và tự học cho HS Tiến trình

tổ chức cho học sinh từng bước giải quyết được các câu hỏi, PHT đó cũng đồng thời làquá trình thực hiện các mục tiêu dạy – học đã đề ra PHT theo từng nội dung dạy học,phải gắn liền với việc sưu tầm và sử dụng các hình ảnh tĩnh, file ảnh động, file phimtương ứng phù hợp với nội dung và ý đồ về PPDH

Một kịch bản tốt là phải bám sát vào mục tiêu dạy học, nghĩa là từ các hìnhảnh trực quan cùng với những câu hỏi dẫn dắt cho phép định hướng sự suy nghĩ, tìmtòi phát hiện ra tri thức mới trong bài học Qua đó, rèn luyện kỹ năng tư duy và

Trang 38

hành động - một yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cáchhọc sinh.

Sau đây là một ví dụ minh hoạ:

Xác định mục tiêu dạy bài 1: Chuyển động quay của vật rắn xung quanh mộttrục cố định

* Kiến thức:

- Phân biệt được chuyển động tịnh tiến và chuyển động quay

- Nêu được cách xác định vị trí của vật rắn trong chuyển động quay quanhmột trục cố định

- Nêu được khái niệm toạ độ góc, vận tốc góc

- Viết được biểu thức của tốc độ góc, gia tốc góc và nêu được đơn vị đo tốc

độ góc, gia tốc góc

- Viết được các phương trình động học của chuyển động quay của vật rắn

quanh một trục cố định

- Viết được các công thức liên hệ giữa vận tốc góc và vận tốc dài, gia tốc góc

và gia tốc dài của một điểm trên vật rắn[8]

* Kỹ năng:

- Vận dụng các công thức liên hệ giữa vận tốc góc và vận tốc dài, gia tốc góc

và gia tốc dài của một điểm trên vật rắn

- Vận dụng các công thức động học để giải một số bài tập đơn giản

GV cho HS quan sát đoạn phim chuyển động chiếc đu quay từ đó HS mới chỉ

ra được bộ phân nào trên chiếc đu chuyển động tịnh tiến, bộ phận nào chuyển động

Trang 39

quay Qua đó vừa giúp học sinh tìm tòi kiên thức mới, vừa củng cố kiến thức đã học

HS: quan sát hình vẽ, suy nghĩ và trả lời

GV hướng dẫn để HS trả lời được:

Khi vật rắn quay quanh trục thẳng đứng cố định thì các điểm Mi, Mj trên vậtđều vạch những đường tròn nằm trong các mặt phẳng vuông góc với trục quay, cóbán kính bằng khoảng cách từ điểm đó đến trục quay, có tâm ở trên trục quay Cácđiểm Mi, Mj của vật đều có cùng một góc quay

Trang 40

Từ đó gợi ý cho học sinh thấy rằng chuyển động ấy có hai đặc điểm:

* Mỗi điểm trên vật vạch một đường tròn nằm trong mặt phẳng vuông góc với

trục quay, có bán kính bằng khoảng cách từ điểm đó đến trục quay, có tâm ở trêntrục quay

* Mọi điểm của vật đều quay được cùng một góc trong cùng một khoảng thờigian

GV hỏi: Dựa vào hai đặc điểm trên ta có thể xác định vị trí của vật rắn trongchuyển động quay như thế nào?

HS: thảo luận và trả lời

GV: dựa vào hai đặc điểm trên ta có thể xác định vị trí của vật rắn trongchuyển động quay như sau:

* Vị trí của một vật rắn quay quanh một trục cố định được xác định bằng tọa

độ góc  của vật

2.2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với nội dung dạy học

Kịch bản giáo án gồm các dạng câu hỏi, các hình ảnh, âm thanh, video…tạothành một tổ hợp để mã hoá nội dung dạy học Tuy nhiên,để mã hoá nội dung dạy -học cần đảm bảo tính chính xác khoa học Nếu hình ảnh, âm thanh, các dạng câuhỏi định hướng hoạt động cho HS… không hợp lý, nghĩa là không đảm bảo đượctính chính xác của nội dung thì hoạt động tìm tòi kiến thức của HS sẽ không đạtmục tiêu dạy học

Ví dụ muốn cung cấp cho học sinh kiến thức định luật bảo toàn mômen độnglượng thì GV cho học sinh quan sát thí nghiệm (làm trực tiếp hoặc chiếu phim)người có hai tay cầm hai quả tạ đứng trên ghế xoay (ghế Gucôpxki)

2.2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm

Nội dung DH thể hiện trong bài giảng phải được bố cục rõ ràng, đầy đủ phùhợp với nội dung trong SGK, dung lượng kiến thức phù hợp với sự phân bố thờigian Nội dung kiến thức phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS và thuận lợicho GV trong quá trình tổ chức các hoạt động trên lớp Bố cục các hình ảnh, các fileảnh động, file phim kết hợp với các câu hỏi mà GV đưa ra phải hợp lý để khi HS

Ngày đăng: 04/10/2016, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ chính trị(2000), Chỉ thị 58 – CT/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 58 – CT/TW của Bộ Chính trị
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2000
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2001
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Hỏi đáp về phân ban Trung học phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về phân ban Trung học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
4. David Haliday - Robert Resnick - Jearl Walker (2007), Cơ sở vật lý tập I, (bản dịch tiếng Việt), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở vật lý tập I
Tác giả: David Haliday - Robert Resnick - Jearl Walker
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết lần II BCH TW Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết lần II BCH TW Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
6. Lương Duyên Bình (2004), Vật lí đại cương Cơ - nhiệt, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí đại cương Cơ - nhiệt
Tác giả: Lương Duyên Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
7. Lương Duyên Bình (2006), Vật lí 10 ban KHTN - SGV thí điểm bộ 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 10 ban KHTN - SGV thí điểm bộ 2
Tác giả: Lương Duyên Bình
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2006
8. Lương Duyên Bình (2006), Vật lí 12 ban KHTN - SGK thí điểm bộ 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vật lí 12 ban KHTN - SGK thí điểm bộ 2
Tác giả: Lương Duyên Bình
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2006
9. Lương Duyên Bình (2006), Vật lí 12 ban KHTN - SGV thí điểm bộ 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12 ban KHTN - SGV thí điểm bộ 2
Tác giả: Lương Duyên Bình
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2006
10. Lê Văn Giáo, Lê Công Triêm, Lê Thúc Tuấn (2006), Thiết kế bài dạy học và trắc nghiệm khách quan môn vật lí THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài dạy học vàtrắc nghiệm khách quan môn vật lí THPT
Tác giả: Lê Văn Giáo, Lê Công Triêm, Lê Thúc Tuấn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Lê văn Giáo (2005), Thí nghiệm và phương tiện trực quan trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm và phương tiện trực quan trong dạy học vật lí ởtrường phổ thông
Tác giả: Lê văn Giáo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
12. Tô Xuân Giáp (2000), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
13. Tạ Thị Thu Hiền (2007), Thiết kế và sử dụng bài giảng theo hướng tích hợp truyền thông đa phương tiện phần Sinh học cơ thể động vật sinh học 11 THPT, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng bài giảng theo hướng tích hợptruyền thông đa phương tiện phần Sinh học cơ thể động vật sinh học 11THPT
Tác giả: Tạ Thị Thu Hiền
Năm: 2007
14. Trần Ngọc Hợi (2006), Vật lí đại cương các nguyên lí ứng dụng Cơ nhiệt, tập1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí đại cương các nguyên lí ứng dụng Cơ nhiệt, tập1
Tác giả: Trần Ngọc Hợi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết (2008), Bài tập Vật lí 12 Nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Vật lí 12 Nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2008
16. Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết (2008), Sách giáo khoa Vật lý 12 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Vật lý 12 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
17. Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết (2008), Sách giáo viên Vật lý 12 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Vật lý 12 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
18. Nguyễn Thế Khôi (2008), Vật lí 12 nâng cao - SGK, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12 nâng cao - SGK
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
19. Lê Quang Long, Nguyễn Đức Thâm (1996), Phương pháp giảng dạy Vật lý, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy Vật lý
Tác giả: Lê Quang Long, Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
20. Vũ Quang (2008), Tài liệu chủ đề tự chọn Nâng cao Vật lí 12 dùng cho giáo viên và học sinh, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chủ đề tự chọn Nâng cao Vật lí 12 dùng cho giáo viênvà học sinh
Tác giả: Vũ Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1:  Các yếu tố cấu trúc tài liệu hướng dẫn tổ chức  dạy học với  sự hỗ trợ của đa phương tiện - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố cấu trúc tài liệu hướng dẫn tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của đa phương tiện (Trang 27)
Bảng 2.1. Bảng thống kê các tư liệu đã sưu tầm và thiết kế - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 2.1. Bảng thống kê các tư liệu đã sưu tầm và thiết kế (Trang 52)
Hoạt động 2: Hình thành dạng khác  của  phương trình động lực học vật rắn quay quanh một trục cố định - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
o ạt động 2: Hình thành dạng khác của phương trình động lực học vật rắn quay quanh một trục cố định (Trang 57)
Hoạt động 3: Hình thành khái niệm mômen động lượng của vật rắn đối với trục quay - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
o ạt động 3: Hình thành khái niệm mômen động lượng của vật rắn đối với trục quay (Trang 58)
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần (Trang 70)
Bảng 3.2. Phân loại trình độ qua các lần kiểm tra        Phân loại - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 3.2. Phân loại trình độ qua các lần kiểm tra Phân loại (Trang 70)
Hình  3.1. Biểu đồ phân phối tần suất điểm của lớp - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
nh 3.1. Biểu đồ phân phối tần suất điểm của lớp (Trang 71)
Đồ thị 3.2. Đường  lũy tích trường THPT.THCS Dương Văn An - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
th ị 3.2. Đường lũy tích trường THPT.THCS Dương Văn An (Trang 71)
Bảng 3.4. Bảng phân phối tần suất lũy tích Nhóm - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 3.4. Bảng phân phối tần suất lũy tích Nhóm (Trang 71)
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng (Trang 72)
Bảng 3.6. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 3.6. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra Lần (Trang 73)
Bảng 3.8. Bảng phân phối tần suất Nhóm - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 3.8. Bảng phân phối tần suất Nhóm (Trang 73)
Bảng 3.7. Phân loại trình độ qua các lần kiểm tra               Phân loại - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
Bảng 3.7. Phân loại trình độ qua các lần kiểm tra Phân loại (Trang 73)
Đồ thị 3.3. Biểu đồ phân phối tần suất điểm của lớp - Luận Văn TỔ CHỨC  DẠY HỌC TỰ CHỌN  PHẦN ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN VẬT LÍ 12   VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN
th ị 3.3. Biểu đồ phân phối tần suất điểm của lớp (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w