Nhằm giúp các em học sinh có thêm nhiều tư liệu tham khảo cho bài viết văn của mình. Những bài văn mẫu mới với nhiều dạng đề khác nhau. Từ những dạng đề cảm nhận đến phân tích, phân tích toàn bài đến phân tích từng đoạn thơ cụ thể. Đến với Tổng hợp các bài văn mẫu bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm Văn mẫu lớp 12 Bài 4 các em học sinh sẽ tìm kiếm được cho mình những tài liệu hay, bổ ích cho học tập của mình.
Trang 1VĂN MẪU 12: ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
TỔNG HỢP BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH 9 CÂU ĐẦU TRONG BÀI
THƠ ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM”
BÀI MẪU 1:
Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Ông từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin nay đã nghỉ hưu Các tác phẩm tiêu
biểu: Đất ngoại ô,Trường ca Mặt đường khát vọng Đất nước là bài thơ được trích từ
chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc Đoạn thơ ta sắp phân tích sau đây là đoạn thơ để lại dấu ấn về Đất Nước thân thương, bình dị trong trái tim mỗi con người:
1 Khái quát: Khác với các nhà thơ cùng thế hệ – thường tạo một khoảng cách khá xa để chiêm ngưỡng và ngợi ca đất nước, với các từ ngữ, hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ, có tính chất biểu tượng Nguyễn Khoa Điềm đã chọn điểm nhìn gần gũi để miêu tả một đất nước tự nhiên, bình dị mà không kém phần thiêng liêng, tươi đẹp Hình ảnh đất nước trong đoạn thơ đầu hiện lên muôn màu muôn vẻ, sinh động lạ thường, lắng đọng trong tâm tưởng ta qua những nét đẹp về phong tục, tập quán, văn hóa, truyền thống mang đậm dấu ấn con người Việt
Với Nguyễn Khoa Điềm, đất nước ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình chúng
ta, từ lời kể chuyện của người mẹ, miếng trầu của bà, các phong tục tập quán quen thuộc (tóc mẹ thì bới sau đầu) cho đến tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ, hạt gạo ta ăn hàng
ngày, cái kèo cái cột trong nhà… Tất cả những điều đó làm cho Đất nước trở thành cái
gần gũi, thân thiết, bình dị trong cuộc sống hàng ngày của con người
2 Nội dung cần phân tích, cảm nhận
Câu thơ mở đầu được nhà thơ viết theo thể câu khẳng định:
Trang 2“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”
Theo cách giải thích của Nguyễn Khoa Điềm thì “Đất nước là một giá trị lâu bền, vĩnh hằng; đất nước được tạo dựng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này sang đời khác Cho nên “khi ta lớn lên đất nước đã có rồi!” (Nguyễn Khoa Điềm – Tác giả và Tác phẩm) Cách nói “Đất Nước đã có rồi” đã thể hiện niềm tự hào mãnh liệt về sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử Đất Nước cũng như Trời
và Đất, khi ta sinh ra Đất đã ở dưới chân, Trời đã ở trên đầu Cũng như vậy, không biết Đất Nước có tự bao giờ nhưng khi ta lớn lên ta đã thấy Đất Nước của mình rồi, nó hiện diện quanh ta với những gì yêu thương nhất
Hai câu thơ tiếp theo nhà thơ diễn tả vẻ đẹp của Đất Nước trong chiều sâu văn hóa, phong tục Những từ ngữ như Đất Nước “có trong”, Đất Nước “bắt đầu” là những từ ngữ diễn tả rất nhẹ nhàng về sự ra đời của Đất Nước:
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Tác giả mượn chất liệu văn học dân gian để diễn tả về Đất Nước Đối với trẻ thơ, Đất Nước thân thương qua lời kể “Ngày xửa ngày xưa” của bà của mẹ… Có nghĩa là Đất Nước đã có từ lâu đời Đất Nước có từ trước khi những câu truyện cổ ra đời rồi khi những câu truyện cổ có mặt trong đời sống tinh thần của ta, ta lại thấy Đất Nước hiện diện trong truyện cổ Đó là Đất Nước của một nền văn học dân gian đặc sắc với những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết Chính những câu chuyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành chăm bẵm cho ta cái chân thiện mĩ và lớn lên ta biết yêu đất nước con người Về ý nghĩa của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên:
Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Trang 3Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần
(Truyện cổ nước mình)
Không chỉ “có trong những cái ngày xửa ngày xưa”, Nguyễn Khoa Điềm còn xác định cái buổi ban đầu ấy qua một nét sống giản dị nhưng đậm đà của những người mẹ, người bà Việt Nam Đó là phong tục ăn trầu: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ
bà ăn” Đất Nước lớn lao, kỳ vĩ sao lại chứa đựng trong một miếng trầu bé nhỏ? Hình thức câu thơ chứa đựng sự phi lí nhưng lại hoàn toàn hợp lí bởi tất cả những điều lớn lao đều bắt nguồn từ những điều bé nhỏ Ví không có những dòng suối nhỏ sao trở thành dòng sông, ví như không có những dòng sông sao có thể trở thành biển cả Cho nên nhắc đến “miếng trầu” chắc hẳn là nhắc đến một điều sâu thẳm Câu thơ gợi nhớ về câu truyện
cổ tích “Sự tích trầu cau” được xem là xưa nhất trong những câu truyện cổ Tục ăn trầu cũng từ câu truyện này mà nên Như vậy là thẩm thấu vào trong miếng trầu dung dị ấy là
4000 năm phong tục, 4000 năm dân ta gìn giữ phong tục ăn trầu Miếng trầu là biểu tượng của tình yêu, vật chứng cho lứa đôi cũng là biểu tượng tâm linh của người Việt Từ phong tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen cũng ra đời Hoàng Cầm trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” cũng đã từng nhắc đến nét đặc trưng ấy:
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Một Đất Nước không thể thiếu truyền thống mà một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta là truyền thống đánh giặc giữ nước:
“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”.
Nhà thơ lại liên tưởng song hành về sự lớn mạnh của đất nước qua ý thơ “Đất Nước lớn lên…” Chữ “lớn lên” là để chỉ sự trưởng thành của Đất Nước Câu thơ gợi nhắc cho ta nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng, mới lên ba đã biết xông pha trận mạc Đứa bé ấy đã vươn vai trở thành chàng trai Phù Đổng Thiên Vương nhổ tre làng Ngà đánh giặc Từ đó, Thánh Gióng trở thành biểu tượng khỏe khoắn của tuổi trẻ Việt Nam kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Tố Hữu cũng đã có thơ:
Trang 4Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép thành roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi
(Tố Hữu)
Truyền thống vẻ vang ấy đã theo suốt chặng đường dài của lịch sử dân tộc mãi đến hôm nay trong thời đại chống Mỹ bao tấm gương tuổi trẻ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ giống nòi Phải chăng, đó chính là vẻ đẹp của các chị, các anh đã tạc vào lịch sử Việt Nam dáng đứng kiêu hùng bất khuất: Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi…
Vẻ đẹp ấy song hành với hình ảnh cây tre Việt Nam Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình nhưng cũng kiên cường bất khuất trong tranh đấu Tre đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa với dân tộc
“Một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ”, bởi:
“Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường”.
Từ truyền thống đánh giặc ngoại xâm Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục khai thác thêm nhiều yếu tố mang vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của con người Việt:
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Trang 5Đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam, không ai khác là những người
mẹ với phong tục “búi tóc sau đầu” (tóc cuộn thành búi sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp nữ tính, thuần hậu rất riêng) Nét đẹp ấy gợi nhớ ca dao:
Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để chi dài cho rối lòng anh
Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục gắn dòng suy tưởng đến con người ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ gìn tôn tạo mảnh đất thân yêu Ở đó đạo lí
ân nghĩa thủy chung đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp:
“Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Hay:
“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”
Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc trong câu thơ nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung ở đời Quy luật của tự nhiên là gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn Quy luật trong tình cảm con người là con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa càng đong đầy Có lẽ chính vì vậy mà Đất Nước còn ghi dấu ấn của cha của mẹ bằng Hòn trống mái, núi Vọng Phu… đi vào năm tháng Từ cha mẹ thương nhau mới đi đến “Cái kèo cái cột thành tên” Câu thơ gợi nhắc cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt Đó là tục làm nhà sử dụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió, thú dữ Đó cũng là ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau;
Trang 6siêng năng tích góp mỡ màu dồn thành sự sống Từ đó, tục đặt tên con cái Kèo, cái Cột cũng ra đời
Đâu chỉ có những vẻ đẹp trên, dân tộc ta còn có truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng” Câu thơ gợi nhắc bài ca dao:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Thành ngữ “Một nắng hai sương” gợi nên sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta những ngày long đong, lận đận trong đời sống nông nghiệp lạc hậu Đó là truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó Để làm ra hạt gạo ta ăn hàng ngày, người nông dân phải trải qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của giai cấp nông dân bao đời nay
Câu thơ cuối cùng khép lại một câu khẳng định với niềm tự hào: Đất Nước có từ ngày đó “Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn ngày đó là ngày ta có
truyền thống, có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước Đúng như lời Bác dặn trước lúc đi xa “Rằng muốn yêu Tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca” Dân ca, ca dao là đặc trưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu Đất Nước trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa nước nhà Bởi văn hóa chính là Đất Nước Thật đáng yêu đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơ dung dị, ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm
3.Tổng kết nghệ thuật: Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào việc vận dụng khéo léo chất liệu văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu, tục búi tóc, truyền thống đánh giặc, truyền thống nông nghiệp Nhà thơ sáng tạo thành ngữ dân gian, ca dao tục ngữ, thành ngữ… Tất cả làm nên một đoạn thơ đậm đà không gian văn hóa người Việt Ngôn
Trang 7ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm tình nhưng vẫn mang đậm hồn thơ triết lí
Tóm lại, bằng cảm nhận rất đỗi thân thương, gần gũi Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho chúng ta một hình ảnh Đất Nước bình dị nhưng không kém phần tươi đẹp Đọc đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung, ta cảm nghe như cội nguồn dân tộc, cội nguồn văn hóa đang thấm vào tận từng mạch hồn ta, dòng máu ta Điều đó càng làm ta thêm yêu thêm quý quê hương Tổ quốc mình
Trang 8BÀI MẪU 2:
Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ thuộc thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta Thơ ông đã phản ánh khá sinh động hình ảnh hào hùng của nhân dân ta, đất nước ta trong cuộc đấu tranh một mất một còn với
kẻ thù để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Hay nói một cách khác, thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện một tình yêu nước, yêu chân lí cách mạng tha thiết, bộc lộ niềm tự hào dân tộc cao độ, niềm tin chắc chắn vào tương lai tất thắng của cách mạng Đặc biệt là Nguyễn Khoa Điềm luôn có ý thức nhắc nhở thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau phải biết gìn giữ và phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc Điều này được Nguyễn Khoa Điềm bộc lộ khá rõ trong đoạn thơ sau:
Em ơi em
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.
Đoạn thơ đã thể hiện được cái “tâm" của nhà thơ đối với đất nước Nhà thơ mong muốn thế hệ hôm nay đừng bao giờ quên đi nguồn cội của mình, đừng đánh mất quá khứ, bởi quá khứ đã làm nên hiện tại, không có quá khứ thì làm sao có hiện tại Dân tộc ta có lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước Đó là một quá khứ bi thương nhưng rất hào hùng của dân tộc Chính cái quá khứ ấy đã hun đúc làm nên bề dày truyền thống của dân tộc, làm cho dân tộc vẫn tồn tại đến ngày hôm nay qua bao cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội về nhiều mặt như quân số, kinh tế, vũ khí chúng ta thắng kẻ thù bằng sức mạnh của lòng yêu nước Chính vì vậy mà trong đoạn thơ này, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nhắc nhở, khuyên nhủ thế hệ hôm nay hãy nhìn rất xa vào quá khứ của dân tộc:
Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm đất nước
Trang 9Nhìn về quá khứ rất xa để thấy được năm tháng nào cũng người người lớp lớp bất phân già trẻ, gái trai cũng luôn vừa cần cù làm lụng để kiếm miếng ăn vừa đánh giặc cứu nước, bất chấp hy sinh, gian khổ, bất chấp trước bạo lực của kẻ thù:
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ông cha ta ngày trước đã luôn đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết, họ sẵn sàng
hy sinh những tình cảm riêng tư của mình như tình yêu, tình chồng vợ để đi đánh giặc cứu nước với một thái độ dứt khoát mà không hề so đo, tính toán, phân bì, hơn thiệt Hơn nữa, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng của dân tộc ta là một chủ nghĩa yêu nước, anh hùng tập thể,bất phân già trẻ, đàn ông hay đàn bà:
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
Đúng là nhiều người đàn bà anh hùng cả anh và em đều nhớ Chúng ta làm sao quên được những người đàn bà đã đi vào lịch sử của dân tộc trong quá khứ như bà Trưng,
bà Triệu
Và trong cái chiều dài của lịch sử dân tộc ấy, có biết bao lớp người con gái, con trai giống như lớp tuổi chúng ta bây giờ, họ đã sống và chết một cách giản dị và bình tâm không ai nhớ mặt đặt tên, nhưng mà nhà thơ đã khẳng định vai trò của họ đối với đất nước thật vô cùng to lớn Họ chính là những con người bình thường, giản dị, nhưng có một tình cảm sâu đậm đối với đất nước Khi đất nước lâm nguy, bị kẻ thù xâm chiếm, họ tạm gác lại những tình cảm riêng tư, lên đường đi chiến đấu, đem máu xương của mình hiến dâng cho Tổ quốc Chính họ là những con người “làm ra Đất Nước”
Trang 10Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt, đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.
Điều này còn được nhà thơ khẳng định rõ trong hai câu thơ cũng ở trong trích đoạn này:
Để Đất Nước này là Đất Nước nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại.
Lời nhắn nhủ của nhà thơ đối với thế hệ hôm nay hết sức thuyết phục, bởi nó không phải là lời giáo huấn suông, mà lời giáo huấn ấy dựa trên một sự thật rõ ràng, hiển nhiên từ hiện thực lịch sử sinh động của dân tộc ta
Hiện thực ấy qua từng thời đại đã làm nên bề dày truyền thống yêu nước của lịch
sử dân tộc
Tóm lại, trong đoạn thơ trên, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã bộc lộ tấm lòng yêu nước thiết tha, lòng tự hào dân tộc cao độ của mình và nhà thơ muốn truyền lại cảm xúc trào dâng ấy đến với thế hệ hôm nay với mong ước những thế hệ hôm nay đừng bao giờ quên đi truyền thống tốt đẹp ấy của dân tộc, phải biết kế thừa, gìn giữ và phát huy những truyền thống tốt đẹp ấy, để đưa đất nước đi xa hơn “đến những tháng ngày mơ mộng" trong tương lai