SKKN Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 3 SKKN Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 3 SKKN Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 3 SKKN Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 3 SKKN Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 3
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ.
“ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất nước đi lên Chủ nghĩa xãhội” là mục tiêu của Đảng và Nhà nước Muốn đạt được mục tiêu này cần phảiphát triển nhanh và mạnh về Giáo dục và Đào tạo, phát huy nguồn lực conngười, yếu tố cơ bản của phát triển nhanh và bền vững Chính vì thế, bậc Tiểuhọc là bậc nền tảng được ví như nền móng của một ngôi nhà, móng có chắc thìnhà mới vững Vì vậy mục tiêu đề ra với giáo dục Tiểu học là: Làm rõ hơn quanđiểm giáo dục toàn diện và thiết thực đối với người học; Chuẩn bị những kiếnthức, kỹ năng, thái độ để học sinh tiếp tục học lên các cấp trên Như chúng ta đãbiết, chữ viết là một trong những phát minh vĩ đại của con người Chữ viết làcông cụ đắc lực trong việc ghi lại, truyền bá toàn bộ kho trí thức của nhân loại.Ngoài ra, chữ viết còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phẩm chất đạođức cho học sinh như tính cẩn thận, tính kỷ luật, khiếu thẩm mĩ Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng cũng đã nêu rõ “Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người: Dạy cho học sinh viết đúng, viết đẹp, viết cẩn thận là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy
cô và bạn đọc bài vở của mình”
Ngày nay trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, thời đại bùng nổthông tin, chữ viết cũng có máy vi tính làm thay, vậy việc rèn chữ viết có quantrọng không? Từ lâu Bộ giáo dục và Đào tạo đã có tổ chức thi viết đẹp cho giáoviên và học sinh Tiểu học Việc này đã khơi dậy trong học sinh, giáo viên và xãhội về ý thức cần viết chữ đẹp Ngày 14/6/2002 Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào
tạo đã ban hành mẫu chữ viết (QĐ Số: 31/2002/QĐ-BGD&ĐT) Đây chính là
việc nhìn nhận tầm quan trọng và ý nghĩa của chữ viết Vậy vấn đề đặt ra là làmsao rèn chữ viết đẹp cho học sinh chính là yêu cầu bức xúc của người giáo viên.Bởi chữ viết là hết sức cần thiết và cấp bách
Qua nhiều năm trực tiếp đứng lớp với ý thức lương tâm, trách nhiệm nghềnghiệp tôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không ngừng tích lũy kinh nghiệm về chữ
Trang 2viết để sớm giúp các em có được chữ viết đúng, đẹp thông qua đề tài “ Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 3”
Đề tài mà tôi nghiên cứu cũng được nêu nhiều trong sách, báo nhưng đó làphương pháp luyện viết chung Do đặc điểm riêng của từng vùng miền, của từngtrường mà mức độ học sinh tiếp thu khác nhau Mặt khác mỗi lớp có đặc thùriêng nên tôi bắt đầu nghiên cứu tìm ra kinh nghiệm hữu hiệu nhất giúp các emrèn chữ viết Đặc biệt là đối với học sinh lớp 3, các em vừa ở lớp hai lên nên chữviết của các em hầu như là chưa viết đúng cỡ và viết rất nguệch ngoạc Do đó,tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này để có thêm một số kinh nghiệm trong việc rènchữ viết cho các em
Với đề tài “ Kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp 3” là năm học
tiếp theo tôi áp dụng thực hiện nhằm giúp học sinh viết chữ đúng, đẹp, kịp thờiđáp ứng dạy theo chuẩn kiến thức và kỹ năng ban đầu thuận lợi cho phát huyviết chữ đẹp ở những lớp trên Đó chính là lí do khiến tôi chọn đề tài này
Trang 3B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1 Thực trạng:
Năm học 2014- 2015 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3B Lớp có
27 học sinh trong đó có 15 em nam và 12 em nữ Các em nhìn chung đều có ýthức học tập tốt, có tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, gia đìnhquan tâm, đó là thuận lợi để tôi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của mình
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 3, qua tìm hiểu học sinh tôi thấy:
- Học sinh lớp 3 viết chưa đảm bảo tốc độ, viết chữ chưa đúng cỡ theo quy định
- Có nhiều học sinh viết bài còn chữa, xóa; chất lượng về vở sạch chữ đẹp đạtkết quả thấp trong các đợt kiểm tra Bên cạnh đó, giáo viên và học sinh còn gặprất nhiều khó khăn trong giờ viết Cụ thể:
+ Học sinh còn viết sai nhiều về độ cao các con chữ (đặc biệt là ở những bàichính tả đầu tiên), nét chữ chưa chuẩn, sai cách ghi dấu thanh, khoảng cách giữacác con chữ
+ Một số học sinh chưa nắm chắc quy tắc chính tả: ng - ngh, g - gh, c- k nên khi viết học sinh dễ viết sai
+ Học sinh còn sai lỗi phương ngữ: dấu hỏi, dấu ngã
+ Trong các buổi học, học sinh thường viết chính tả đẹp và đúng hơn khi làm bàikiểm tra trong các đợt kiểm tra định kì hoặc trong các vở khác
Trước tình hình đó tôi đã tiến hành chấm vở sạch chữ đẹp cho học sinh và kiểm tra việc sử dụng bút, thước của học sinh
Kết quả như sau: Tổng số lớp 27em
Trang 4Về đồ dùng cần thiết cho luyện viết:
Qua điều tra thực trạng của việc dùng vở và sử dụng bút của học sinh tôi thấy
về ưu điểm học sinh đã được trang bị đầy đủ vở có ô ly, thước, bút Về bút viết,tôi yêu cầu cả lớp viết bút kim hoặc bút mực, không viết bút bi Một điều quantrọng tác động rất lớn đến chữ viết của học sinh đó là việc ngồi học bàn ghếđúng quy cách, nếu bàn ghế vừa tầm các em được ngồi thoải mái thì chữ viếtcũng sẽ đẹp hơn nếu bàn quá cao hoặc ghế quá thấp thì học sinh phải với để viếtdẫn đến dễ hư mắt và chữ viết không thể đẹp được
Tất cả những vấn đề nêu trên chỉ là cơ sở vật chất để bước đầu phục vụ tốt choviệc rèn chữ cho học sinh
2 Kết quả thực trạng
a, Về học sinh:
+ Chưa nắm chắc về âm vần nên khi phân tích để viết một số tiếng khó còn lúngtúng, không phân tích được
+ Một số học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút chưa đúng
+ Đôi lúc các em còn viết ngoáy, ý thức chưa cao, chưa tự giác rèn chữ viết.+ Các em đa phần là con nông dân, tuy điều kiện vật chất đầy đủ nhưng điềukiện hướng dẫn các em viết bài hoặc dạy các em tư thế ngồi hoặc cách cầm bútthì hạn chế nên không sửa cho các em được hoặc có sửa thì cũng không đúng + Một nguyên nhân nữa là do khối lượng kiến thức của lớp 3 so với lớp 1, 2nhiều hơn nên học sinh phải tăng tốc độ viết trong giờ học, giờ làm bài nên chữviết thường không nắn nót, không viết đúng quy cách, sai kích cỡ, khoảng cáchgiữa các chữ không đều Hiện tượng viết sai nét, sai cỡ chữ, hở nét, thừa nét,thiếu dấu hoặc đánh dấu không đúng vị trí diễn ra thường xuyên
b, Giáo viên:
Trang 5+ Giáo viên luôn quan tâm đến phong trào vở sạch chữ đẹp, chấm chữa bài chohọc sinh thường xuyên Song khi chấm bài cho học sinh, học sinh viết sai lỗichính tả thì giáo viên chỉ gạch chân, ít sửa sai cho các em Giáo viên mới chútrọng đến chữ viết đúng nên khi học sinh viết sai chữ thì giáo viên gạch chân lỗisai, còn khi học sinh viết sai nét, giáo viên đều bỏ qua Vì vậy, khi giáo viênnhận xét, đánh giá bài viết của các em, các em không biết phải sửa thế nào chođúng, cho đẹp.
+ Bản thân một số giáo viên còn sửa qua loa
+ Trong các giờ chính tả, tập viết, giáo viên chưa thực sự tổ chức tiết học sôinổi, chưa có sự đổi mới phương pháp, hình thức dạy học thực sự mà còn mangtính hình thức
c, Phụ huynh học sinh.
- Một số em có cả bố mẹ đi làm ăn xa để mặc các em ở nhà với ông bà già
- Bản thân một số phụ huynh còn viết sai chính tả
- Khi học sinh nói sai, viết sai không được sửa, và khi nhìn thấy phụ huynh viếtsai thì các em cho đó là đúng, đâu có biết như vậy là sai Chỉ có phần ít là các
em biết phát hiện đúng sai, do đó các em cứ theo cái sai đó dẫn đến các em sẽviết sai
d, Một số nguyên nhân khác
Trong thời gian nghỉ hè hầu như là các em chỉ ôn lại bài đọc mà không chú ý đến viết chính tả và luyện chữ nên khi vào năm học mới, lên lớp 3 bài chính tả đầu tiên các em viết sai nhiều và không đúng cỡ chữ
*Trên đây là những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng chất lượng chữ viết
của học sinh lớp 3 Do vậy, tìm các giải pháp“Rèn chữ viết cho học sinh lớp 3”
là việc làm cần thiết và quan trọng.
II Các giải pháp và tổ chức thực hiện
1 Các giải pháp thực hiện
1.Nghiên cứu lý thuyết
2 Khảo sát, phân loại đối tượng
Trang 63 Luyện tập thực hành.
4 Nêu gương
2 Các biện pháp thực hiện
a, Chuẩn bị điều kiện, vật chất:
Ngay từ đầu năm tôi đã giáo dục để các em hiểu tầm quan trọng, ý nghĩa, tácdụng của viêc giữ vở sạch, rèn chữ đẹp Tôi còn cho các em xem những bộ vởsạch, chữ đẹp từ những năm trước và động viên các em hăng say rèn luyện đểđạt được những bộ vở sạch, chữ đẹp như các anh chị và các bạn
- Đầu năm tôi quy định mẫu vở, bút kim, bút mực viết cho các em cả lớp cùng thống nhất
- Mỗi em có một tờ giấy thấm; một giẻ để lau bút, trong mỗi vở đều có một tờ giấy kê tay để vở không bị giây bẩn, không bị ướt mồ hôi khi viết
- Ngoài ra tôi còn hướng dẫn học sinh cách gọt bút chì, cách bơm mực ( không bơm quá đầy, chỉ bơm 1/2 sức chứa của bút )
- Khi viết không ấn bút, mở nắp nhẹ nhàng dưới ngăn bàn, nếu bút bẩn cần lấy giẻ lau lau sạch rồi mới viết
- Trước khi viết cần thử bút ra giấy nháp, khi nào thấy mực ra đều đặn, nét đẹp mới viết vào vở
- Tôi luôn nhắc nhở học sinh mở vở, gấp vở nhẹ tay, khi viết không gấp đôi vở
- Cuối giờ học thu vở để vào tủ của lớp, đầu giờ học lớp trưởng phát vở theo bàn
.- Hàng ngày bàn học của học sinh phải được lau sạch trước khi vào lớp, học sinh cần phải rửa tay sạch trước khi vào giờ học
- Nếu viết sai trong vở cần dùng thước kẻ chân dưới chữ viết sai, không được tẩy xoá
- Cuối mỗi buổi học tôi luôn kiểm tra vở của các em để kịp thời nhắc nhở, rút kinh nghiệm
- Thường xuyên động viên, tuyên dương những em viết sạch, đẹp và đưa vở cho
những em viết còn chưa được đẹp xem, học tập
Trang 7* Chọn bút:
Các em không chọn bút quá dài hay quá to chỉ khoảng 15cm và đường kính7mm là vừa Phần ngòi bút và lưỡi gà cắm vào ổ bút vừa khít không quá rộnghoặc quá chật Phần ngòi bút không được mềm quá dễ hỏng các bộ phận kháccủa bút phải đảm bảo cho việc hút mực, giữ mực và ra đều mực
- Phấn; Dùng phấn trắng, mềm, dùng phấn không bụi
*Cách để vở
Giáo viên cần chú ý cho học sinh vở không gập đôi, để hoàn toàn trên mặt bàn,hơi nghiêng sang trái khoảng 15 độ so với mặt bàn sao cho mép vở song songvới cánh tay Khi dạy giờ chính tả, tập viết, giáo viên cần chú ý tất cả các điềukiện trên
b Thực hành luyện viết
* Đối với việc rèn cách viết chữ đúng, đẹp :
- Muốn rèn học sinh viết chữ đúng, đẹp đầu tiên tôi đọc các tài liệu tham khảo, chỉ đạo chuyên môn để nắm chắc cách viết các nét, chữ cái cho đúng, đẹp
- Ngay từ đầu năm học tôi dành tuần đầu tiên để hướng dẫn các em cách cầm bút, để vở và tư thế ngồi viết …
+ Khi ngồi viết, học sinh phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vàocạnh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách vở từ 25-30 cm Cánh tay trái đặt trên mặtbàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào vở giữ vở không bị xê dich khi viết Cánh tayphải cùng ở trên mặt bàn Với cách để tay như vậy, khi viết bàn tay và cánh tayphải có thể dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải một cách dễ dàng
Trang 8+ Cách cầm bút: Khi viết học sinh cầm bút và điều khiển bút viết bằng cả bangón tay ( ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa ) của bàn tay phải Đầu ngón tay trỏđặt ở phía trên, đầu ngón cái giữ bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa cạnh đốtđầu ngón tay giữa Ba điểm tựa này giữ bút và điều khiển ngòi bút dịch chuyểnlinh hoạt Ngoài ra, động tác viết cần có sự phối hợp cử động của cổ tay khuỷutay và cả cánh tay
+ Vị trí đặt vở khi viết chữ: Vở viết cần đặt nghiêng so với mép bàn một góc
300 (nghiêng về bên phải ) Sở dĩ phải đặt như vậy vì chiều thuận của vận độngtay khi viết chữ Việt là vận động từ trái sang phải Trong quá trình học sinhviết , tôi luôn quan sát để phát hiện những học sinh ngồi, cầm bút hoặc đẻ vở sai
để sửa triệt để cho các em
Trong quá trình rèn luyện chữ cho học sinh, tôi đặt kế hoạch rèn chữ cụ thể ởbốn thời điểm: Trong giờ tập viết, trong giờ chính tả, trong các giờ học còn lại ởnhà
- Trong giờ tập viết (theo PPCT - ở kỳ I ), giờ Tiếng Việt ôn luyện
Trước hết tôi cho học sinh nhắc lại, hiểu rõ đặc điểm và cách sử dụng vở tập viết
để các em biết dùng vở tập viết đúng yêu cầu
Xác định đường kẻ ngang, kẻ dọc ( Từ dưới lên )
Các chữ cái có độ cao một đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang trên và
đường kẻ ngang dưới ( Nếu ở cùng dòng viết có hai đường kẻ ).
Các chữ cái có độ cao 2,5 đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang trên, giữa đường kẻ ngang ba và bốn
* Ô vuông trên khung chữ mẫu Các ô vuông này do các đường kẻ ngang, dọc tạo thành, khoảng cách giữa 2 ô vuông nhỏ theo chiều dọc là một đơn vị chữ
* Xác định tọa độ và chiều hướng chữ
* Điểm đặt bút: là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ.
* Viết liền mạch: là điểm thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét
Trang 9đứng trước tới điểm bắt đầu của nét tiếp theo.
* Kĩ thuật lia bút: là thao tác đưa ngòi bút trên không.
* Kĩ thuật rê bút: đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với nét chữ
vừa viết, ở đây xảy ra hai trường hợp dụng cụ viết ( Đầu ngòi phấn, bút) “ Chạy
nhẹ” từ điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét đứng sau.
Sau khi đã cho học sinh nắm chắc các kí hiệu, kỹ thuật viết chữ rồi tôi tiến hànhdạy chắc tiết tập viết Nếu dạy tốt tiết tập viết tôi tin rằng chữ của học sinh sẽdần dần trở nên đúng và đẹp hơn Ở trong tiết tập viết, tôi đặc biệt chú trọng tới
chữ mẫu (Bộ chữ cái), chữ viết mẫu của giáo viên (Trên bảng lớp ); việc này
thực hiện thao tác hướng dẫn học sinh viết phảt thật tỉ mỉ và cho học sinh luyệnviết nhiều ở bảng tay, giấy nháp
* Song song với việc rèn tỉ mỉ học sinh ở tiết tập viết có trong chương trình từtuần đầu của năm học tôi còn rèn luyện thêm cho các em một tiết tập viết ở vởluyện chữ đẹp cho các em trong tiết hướng dẫn tự học Với tiết tập viết này, tôirèn luyện cho các em cách viết chữ hoa sáng tạo, rèn luyện chữ viết thường vàviệc dạy học này tôi tiến hành rất tỉ mỉ và cẩn thận
Chú ý nêu tên gọi các nét cơ bản: Các nét cơ bản thường gặp trong cấu tạo hệ thống chữ viết tiếng Việt:
* Các nét thẳng:
- Thẳng đứng (p, q ) - Nét ngang (t, đ)
- Nét xiên phải - Nét xiên trái - Nét hất (t, p)
* Các nét cong:
- Nét cong kín (hình bầu dục đứng): o, ô, ơ, d, đ, a
- Nét cong hở: cong phải, cong trái: c, q
* các nét móc:
- Nét móc trên (móc xuôi, móc trái)
- Nét móc dưới (móc ngược, móc phải): d, đ, l, h
- Nét móc hai đầu: n, m, p
- Nét móc hai đầu có thắt ở giữa (k)
Trang 10* Nét khuyết:
- Nét khuyết trên (xuôi): l, h, b -Nét khuyết dưới (ngược): y, g
* Nét thắt: (b, r, s)
Ngoài ra còn có một số nét bổ sung: nét chấm (trong chữ i); nét gẫy trong dấu
phụ của chữ ă, â Đặt ở vị trí trên đầu các chữ cái Điểm cao nhất của dấukhông quá 13 đơn vị, điểm thấp nhất của dấu không chạm vào đầu các chữ cái
(cách đầu chữ cái một khe hở), chiều ngang của dấu bằng
3
1
đơn vị chữ
*) Vị trí đặt các dấu thanh ở mỗi chữ viết: Đặt ở giữa chữ cái ghi âm chính của
vần Ví dụ: mía, nhãn, loá, khoẻ, tuỵ; …
*) Viết liền mạch: Muốn viết nhanh phải viết liền mạch Liền mạch giữa các néttrong một chữ cái, liền mạch giữa các nét trong một chữ sau đó mới nhấc bút lênviết tiếp các dấu chữ, dấu thanh
*) Cách lia bút, nối liền mạch giữa các nét:
Cách sắp xếp các chữ cái có hình dáng tương tự (nét cơ bản chủ yếu) vào cùngbài dạy hoặc các bài kế tục nhau tạo điều kiện cho các em so sánh chữ đã biếtvới chữ chưa biết tìm sự giống nhau và khác nhau để sử dụng kiến thức và kỹnăng đã biết vào học viết chữ sau, làm cho các em dễ nhớ, dễ đọc và phát huytính tích cực trong quá trình tập viết Bảng chữ cái tiếng Việt có thể sắp xếpthành các nhóm đồng dạng như sau:
- Nhóm 1: nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c; o; ô; ơ; e; ê; x
- Nhóm 2: nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc (hoặc nét thẳng): a; ă; â; d; đ; q
- Nhóm 3: nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i; t; u; ư; p; n; m
- Nhóm 4: nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong phối hợpvới nét móc): l; h; k; b; y; g;…
- Nhóm 5: nhóm các chữ cái có nét móc phối hợp với nét cong: r; v; s
Trang 11Ta có bảng sau:
Nhóm chữ theo độ cao Nhóm chữ có nét cơ bản đồng dạng
1 đơn vị: a, ă, â,u, ư, n, m, i, e, ê, o,
ô, ơ, v, c, x
Nét cơ bản là nét cong: c; o; ô; ơ; e; ê; x.
1,25 đơn vị: s, r Nét móc phối hợp với nét cong: r; v; s 1,5 đơn vị: t Nét cơ bản là nét móc: i; t; u; ư; p; n; m.
2 đơn vị: d, đ, p, q, và chữ số 0, 1,
2,…
Nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét
móc (hoặc nét thẳng): a; ă; â; d; đ; q.
2,5 đơn vị: b, h, l, g, k. Nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong
phối hợp với nét móc): l; h; k; b; y; g;…
+ GV bao giờ cũng viết mẫu đầu tiên
+ Hướng dẫn kỹ thuật viết chữ bằng cách phân tích các nét qua quan sát chữ mẫu trong bộ đồ dùng dạy viết ở các lớp (có HD viết cụ thể, rõ ràng HS dễ học)
+ Cho HS thực hành viết
Ví dụ: Chữ A: mẫu chữ này cấu tạo bằng những nét nào? Cách viết đúng là như thế nào?
Khi ôn viết chữ hoa tôi chia các chữ hoa thành các nhóm đồng dạng có các nét
cơ bản giống nhau để học sinh luyện có nhiều thuận lợi: đơn giản và dễ viết,cùng nằm trong một khung chữ giống nhau
Nhóm 1: Gồm các con chữ : A,Ă, Â, N, M
Nhóm 2: Gồm các con chữ: C, G, E, Ê, L, S
Nhóm 3: Gồm các con chữ: B, I, H, K, P, V, R, Q ( kiểu 2)
Nhóm 4: Gồm các con chữ: D, Đ
Nhóm 5: Gồm các con chữ: U, Ư, Y, V (kiểu 2)
Nhóm 6: Gồm các con chữ: O, Ô, Ơ, Q, A ( kiểu 2 )
Bên cạnh việc rèn chữ viết đúng, viết đẹp còn phải rèn HS viết đúng, đẹp cáccon số Các chữ số đều có chiều cao nhất loạt là 2 đơn vị nhưng khi dạy HS viếtchữ số tôi cũng chia thành các nhóm chữ số như sau: