Hiệp lực quản lý Manager synergies Hiệp lực quản lý được biết đến khi mà khả năng quản trị, cách xử lý tình huống, chiến lược của nhà quản trị nhà thầu mang lại lợi ích cho công ty mục t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
Học phần SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI CÔNG TY
ĐỘNG CƠ SÁP NHẬP VÀ
MÔ HÌNH SÁP NHẬP
(MERGER MOTIVES AND MERGER PRESCRIPTIONS)
Giáo viên hướng dẫn: Thực hiện: Nhóm 8
Cần Thơ, tháng 9 năm 2016
Trang 2DANH SÁCH NHÓM
STT Họ và tên MSHV
1 Hồ Hữu Phương Chi M2715008
2 Trần Thị Kim Cúc M2715009
3 Trần Thu Hiền M2715016
4 Văng Công Hiền M2715017
5 Huỳnh Kim Ngân M2715032
Trang 31 Thuật ngữ sử dụng
- Bidders (shareholder, manager): công ty nhà thầu (công ty mua lại công ty khác)
- Targets (shareholder, manager): công ty mục tiêu (công ty bị mua lại)
- Related acquisitions: sáp nhập tương đồng (sáp nhập giữa các công ty cùng ngành, cùng lĩnh vực
- Unrelated acquisitions: sáp nhập đa dạng hóa (sáp nhập giữa các công ty khác ngành, khác lĩnh vực)
- Wealth transfer: dịch chuyển giá trị (thu được nguồn lợi từ đối tượng nào đó)
2 Khái niệm về Sáp nhập và Thâu tóm (Merger and Acquisition)
- Thâu tóm: Công ty mục tiêu sẽ ko hiện diện trên trị trường với tư cách cũ nữa mà trở thành 1 phần của công ty nhà thầu
- Sáp nhập: Hai công ty sáp nhập với nhau hình thành một công ty mới với tên gọi mới
3 Động cơ sáp nhập
Động cơ sáp nhập (Merger motives) bao gồm: Thuyết hiệu quả, Thuyết độc quyền, Thuyết định giá, Thuyết xây dựng quyền lực, Thuyết quy trình, Thuyết tấn công, Thuyết rối loạn
3.1 Thuyết hiệu quả (Efficiency theory)
Thuyết hiệu quả cho rằng việc sáp nhập sẽ có hiệu quả dựa trên các loại hiệp lực (synergies) sau:
a Hiệp lực tài chính (Financial synergies)
Hiệp lực tài chính sẽ làm giảm chi phí vốn:
- Giảm rủi ro hệ thống của danh mục đầu tư bằng việc đầu tư vào các doanh nghiệp khác ngành nghề (sáp nhập đa dạng hóa)
- Tăng quy mô công ty, khi đó doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn vốn có chi phí rẻ
Trang 4- Thiết lập một thị trường vốn nội bộ có sự liên kết chặt chẽ về mặt thông tin và do
đó phân bổ vốn sẽ hiệu quả hơn
b Hiệp lực vận hành (Operational synergies)
Hiệp lực vận hành đến từ sự kết hợp hoạt động của các bộ phận riêng biệt hoặc từ việc chuyển giao tri thức (knowledge transfers) (Porter, 1985)
Làm giảm chi phí hoạt động và giúp công ty cung cấp sản phẩm độc quyền, khác biệt
c Hiệp lực quản lý (Manager synergies)
Hiệp lực quản lý được biết đến khi mà khả năng quản trị, cách xử lý tình huống, chiến lược của nhà quản trị nhà thầu mang lại lợi ích cho công ty mục tiêu
Tranh luận (Argument)
Tranh cãi cho rằng bất cứ sự hiệp lực tài chính nào cũng không thể đạt được trong một thị trường vốn hiệu quả (efficient capital market)
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng không tồn tại việc giảm rủi ro hệ thống hay thị trường vốn nội bộ hiệu quả (Rumelt, 1986; Montgomery và Singh, 1984)
Tuy nhiên lợi thế về quy mô công ty là có tồn tại trong thị trường vốn (Scherer và cộng
sự, 1975)
Hiệp lực vận hành và hiệp lực quản lý cũng đã bị chỉ trích là khái niệm mờ nhạt thường được nêu trong lý thuyết nhưng ít khi trở thành thực tế (Kitching, 1967; Porter, 1987)
Bằng chứng (evidence)
Bằng chứng cho lý thuyết hiệu quả đến từ ba dạng nghiên cứu khác nhau
Nghiên cứu sự kiện (Event studies): tóm tắt của Weston và Chung (1983),
Jensen (1984), Dennis và McCon- nell (1986), và Ravenscraft và Scherer (1987) cho thấy rằng thị giá trị chung của doanh nghiệp diễn biến tích cực trên trường chứng khoán sau khi sáp nhập
Phần lớn lợi nhuận được nắm giữ bởi cổ đông mục tiêu trong khi cổ đông nhà thầu lại hầu như không đạt được gì
Trang 5Bên cạnh đó, Ravenscraft và Scherer chỉ ra rằng trong 21 năm qua chỉ có hai trong
số những thương vụ sáp nhập là tốt hơn so với chỉ số giá công nghiệp S&P
Nghiên cứu sử dụng kết quả hoạt động kinh doanh (Studies using company performance data): vẽ nên một bức tranh ảm đạm hơn về hoạt động sáp nhập.
Porter (1987) cho thấy hơn một nửa trong số các vụ mua lại các công ty lớn của Hoa Kỳ là thất bại Mặt khác, nghiên cứu của ông cho thấy mua lại tương đồng (related acquisitions) tốt hơn so với mua lại đa dạng hóa (unrelated acquisitions).‘
Montgomery và Wilson (1986) có nghiên cứu tương tự nhưng không có sự khác biệt giữa hai loại mua lại tương đồng và đa dạng hóa
Ravenscraft và Scherer (1987) ước tính một tỷ lệ thoái vốn của một trong ba trường hợp, và nhận ra rằng các những người sáp nhập có lợi ích cao nhất vẫn đạt được ít lợi nhuận hơn so với trung bình ngành công nghiệp Mỹ
Nghiên cứu các loại hiệp lực (Synergy categories studies):
Trong nghiên cứu ban đầu, Kitching (1967) kết luận rằng, hiệp lực tài chính chứ không phải hiệp lực vận hành đã mang lại hiệu quả sáp nhập
Hai mươi năm sau, Chatterjee (1986) cũng thu được kết quả tương tự
Trong một nghiên cứu cụ thể hơn, Shelton (1988) phân tích mức độ tương quan gần hay xa đã ảnh hưởng như thế nào đến việc gia tăng giá trị doanh nghiệp Bà cho rằng các loại hiệp lực chỉ có một phần ý nghĩa
Tóm lại
Thuyết hiệu quả dường như phù hợp với thị trường chứng khoán hơn là xét về hiệu quả hoạt động thực tế của các công ty Nếu bản báo cáo tài chính đáng tin cậy hơn
so với giá cổ phiếu thì lý thuyết hiệu quả sẽ bị bác bỏ
Tuy nhiên, nếu giả định thị trường vốn đạt hiệu quả thì lý thuyết này có thể được
áp dụng (trừ các ý tưởng về hiệp lực tài chính)
3.2 Thuyết độc quyền (Monolopy theory)
Thuyết độc quyền chỉ ra rằng sáp nhập là một phương thức nhằm chiếm lĩnh thị trường Điều này không chỉ xảy ra khi sáp nhập cùng ngành Theo đó doanh nghiệp có
Trang 6thể: Trợ giá chéo (cross-subsidiz), Giảm cạnh tranh và tạo vị thế, Ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Trợ giá chéo: Trợ giá chéo là việc sử dụng lợi nhuận từ một hoạt động để bù lỗ cho hoạt động khác Những sản phẩm được bán giá cao có thể bù đắp cho những sản phẩm khác được định giá thấp hơn chi phí Hoặc lợi nhuận thu được từ thị trường này có thể bù đắp cho phần thua lỗ ở thị trường khác
Việc làm này giúp doanh nghiệp tăng tính cạnh tranh ở những thị trường khốc liệt (bán phá giá)
Những lợi ích này có được từ sự cấu kết (Chatterjee, 1986) hay “liên minh độc quyền” (Porter, 1985).Tuy nhiên điều này chỉ đúng dưới cái nhìn của doanh nghiệp, khi ta xét đến tổng thể nền kinh tế thì lại hoàn toàn khác, “liên minh” này không mang lại lợi ích kinh tế mà chỉ có sự dịch chuyển giá trị từ khách hàng của doanh nghiệp
Jensen (1984) cho rằng, theo thuyết độc quyền thì giá cổ phiếu của đối thủ cạnh tranh sẽ tăng khi việc sáp nhập được công bố, và giảm nếu việc sáp nhập bị hoãn Tuy nhiên diễn biến của nhiều vụ sáp nhập lại không như lý thuyết
Nhìn chung, kết quả của thuyết độc quyền không mạnh mẽ bằng thuyết hiệu quả
3.3 Thuyết định giá
Thị trường chứng khoán không có được thông tin về doanh nghiệp rõ ràng như trong nội bộ doanh nghiệp (Steiner, 1975; Holderness and Sheehan, 1985; Ravenscraft and Scherer, 1987)
Thuyết định giá cho rằng, với các thông tin độc nhất này, nhà quản trị nhà thầu (bidders’ managers) sẽ có lợi khi sáp nhập hoặc họ sẽ định giá thấp doanh nghiệp mục tiêu
Tuy nhiên, nghiên cứu của Ravenscraft and Scherer(1987) lại cho rằng các công ty nhà thầu gặp rất nhiều khó khăn để có được đầy đủ thông tin nhằm đánh giá công ty mục tiêu
Ngoài ra, khi công ty nhà hầu biết được giá trị của công ty mục tiêu, họ sẽ để lộ ra khi đấu thầu, điều này làm giá cổ phiếu của công ty mục tiêu tăng lên, đặt nhà thầu vào vị thế “lời nguyền của người chiến thắng” (winner’s-curse situation)
Trang 7Wensley cũng chỉ ra rằng nhà quản trị phải dựa vào các thông tin mơ hồ để xác định giá trị của doanh nghiệp mục tiêu và dự đoán tình hình sẽ xảy ra sắp tới, và thông tin này thì không chắc chắn dẫn đến việc định giá không hợp lý
Điểm khác biệt giữa thuyết định giá với các giả thuyết khác về sáp nhập là nó thừa nhận vai trò của thông tin chắc chắn và thông tin không chắc chắn (certain and uncertain information) trong các quyết định
Lời nguyền của người chiến thắng: Lời nguyền của người chiến thắng là khái niệm chỉ việc giá trúng thầu vượt quá giá trị nội tại của mặt hàng đã mua Do thông tin bất đối xứng, cảm xúc hoặc các yếu tố liên quan đến sản phẩm được bán đấu giá, nhà thầu có thể khó xác định giá trị nội tại của mặt hàng đó Kết quả là, khi kết thúc phiên đấu giá, giá sản phẩm được đẩy lên quá cao
3.4 Thuyết gây dựng quyền lực (Empire - building theory)
Gây dựng quyền lược (Empire building) là hành vi cố gắng gia tăng quy mô, phạm
vi ảnh hưởng và quyền lực của nhà quản trị doanh nghiệp Họ quan tâm tới việc mở rộng các đơn vị kinh doanh của họ, mức lương của họ và giá trị tài sản dưới sự kiểm soát của
họ hơn là với việc phát triển và thực hiện các mục tiêu có lợi cho cổ đông
Theo thuyết này, sáp nhập được lên kế hoạch và thực hiện bởi nhà quản lý người
mà tối đa hóa lợi ích của bản thân thay vì lợi ích của các cổ đông trong công ty
Các tiếp cận này bắt nguồn từ nghiên cứu ban đầu về việc phân tách quyền sở hữu
và quản lý, kiểm soát trong công ty (Berle và Means, 1933)
Điểm chung của nhà quản trị là muốn tối đa hóa các mục tiêu của họ trong sự ràng buộc của thị trường vốn: tối đa hóa doanh thu theo ràng buộc lợi nhuận tối thiểu (mô hình Baumol), theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tài chính bền vững (mô hình Marris), ưu tiên chi tiêu cá nhân như xe, nhân viên dư thừa (mô hình Williamson)
Rhoades (1983) đặt song song động cơ lợi nhuận và động cơ quyền hạn như là giải thích hợp lý về hành vi kinh doanh và cho rằng việc xây dựng đế chế không làm giới hạn khả năng tăng trưởng
Trang 8Black (1989) cho rằng các nhà quản trị trả tiền quá mức (overpayment) cho các mục tiêu vì họ quá lạc quan và vì lợi ích của họ khác với những cổ đông trong công ty Trong một thị trường vốn hiệu quả thì việc trả tiền quá mức sẽ làm giảm giá cổ phiếu của công ty mục tiêu khi đấu thầu
You và cộng sự (1986) cho rằng quyền sở hữu cổ phần quản lý và số lượng các giám đốc trong nội bộ công ty có liên quan tiêu cực đến các kết quả sáp nhập
Amihud và Lev (1981) nhận thấy rằng việc kiểm soát quản lý có liên quan đến sự rằng buộc trong sáp nhập tập đoàn Cả hai kết quả trên đều ủng hộ thuyết gây dựng quyền lực
3.5 Thuyết quy trình (Process theory)
Quy trình (process) trong công ty được hiểu là quá trình vận hành của toàn bộ công ty
Quy trình trong công ty: Hạn chế: khả năng xử lý củanhân viên, nhà quản trị, Đưa giải pháp Giải pháp cũ không còn phù hợp: đưa ra giải pháp mới Tạo ra một tập hợp các kế hoạch, giải pháp
Duhaime và Schwenk (1985) thảo luận về ảnh hưởng của sự hạn chế khả năng xử
lý thông tin của cá nhân về các quyết định mua lại và thoái vốn
Roll (1986) trình bày về sự quá lạc quan của nhà quản trị (managerial over-optimism) Ông cho rằng kỳ vọng của nhà quản trị có khuynh hướng tăng lên trong khi giá cổ phiếu đang ở đáy Điều này dẫn đến việc bỏ giá thầu không hợp lý
Các nghiên cứu cho rằng sự không chắc chắn, thiếu quy hoạch, ảnh hưởng chính trị, thành viên tham gia và việc không có các tiêu chí chung đã ảnh hưởng đến kết quả của hành vi sáp nhập
3.6 Thuyết tấn công (Raider theory)
“Raider” được định nghĩa là cá nhân hoặc tổ chức cố gắng để thâu tóm các công ty quy mô nhỏ, giá trị tài sản thấp bằng cách mua đủ cổ phiếu để đạt được quyền kiểm soát các công ty đó
Trang 9Holderness và Sheehan (1985) cho rằng những kẻ tấn công (raider) này đã tạo nên một sự chuyển giao tài sản (wealth transfer) từ cổ đông của công ty mà họ thâu tóm Sự chuyển giao tài sản này bao gồm:
+ Thư xanh (greenmail): là việc kẻ tấn công mua cổ phiếu của một công ty sau đó buộc công ty phải mua lại các cổ phiếu đó với giá thật cao để tránh bị chiếm quyền kiểm soát
+ Các khoản đền bù vượt mức
Thuyết tấn công gặp các vấn đề sau:
Về cơ sở lý thuyết: để mua lại thành công thì kẻ tấn công phải trả cho các cổ đông giá thật cao để trở thành cổ đông đa số của công ty, vì vậy lợi ích ròng từ việc bán lại mua và bán cổ phiếu là không có
Về thực nghiệm: các bằng chứng về thuyết tấn công đều không phù hợp Trong nghiên cứu của mình về 69 vụ sáp nhập được thực hiện bởi những kẻ tấn công nổi bật nhất, Holderness và Sheehan (1985) nhận thấy các cổ đông của công ty mục tiêu đều đạt được lợi nhuận kỳ vọng thông qua việc tranh giành quyền lực này
3.7 Thuyết rối loạn (Disturbance theory)
Theo Gort (1969), làn sóng sáp nhập xảy ra là do các rối loạn kinh tế Chúng gây
ra những thay đổi trong kỳ vọng cá nhân và tăng mức độ chung của sự không chắc chắn Qua đó, họ thay đổi thứ tự của những kỳ vọng cá nhân
Lý thuyết này không còn được xem trọng vì lý do:
Không giải thích được tại sao cùng một rối loạn kinh tế mà lại có các quyết định khác nhau (ví dụ khủng hoảng dầu mỏ năm 1960 và 1973)
Hầu hết các rối loạn có tính chất liên ngành, điều này dẫn đến một mô hình ngành của hành vi sáp nhập Nhưng điều này có thể được quan sát thấy ở một số ngành như công nghiệp thực phẩm, dầu mỏ
4 Mô hình sáp nhập
Mô hình sáp nhập (Merger prescriptions) bao gồm: Mô hình thâu tóm, Mô hình
Trang 104.1 Mô hình thâu tóm
Trong mô hình thâu tóm, công ty mục tiêu bị mua lại và trở thành một phần của công ty nhà thầu
Các nghiên cứu của Shay (1981), Silhan và Thomas (1986) và Kroll và Caples (1987) khác nhau về độ phức tạp nhưng có hai điểm chung:
- Giả định về thị trường vốn hiệu quả
- Tin rằng sự hiệp lực là cơ sở duy nhất cho việc sáp nhập
Rumelt (1986) nghiên cứu về mối quan hệ giữa đa dạng hóa (diversification) và hiệu quả hoạt động Ông cho rằng các công ty càng có mối liên quan thì hiệu quả càng tốt Nghiên cứu này được đồng thuận bởi Montgomery và Singh (1984); Kusewitt (1985); Palepu (1985); Shelton (1988)
Trong nghiên cứu của mình về các thương vụ sáp nhập thành công, Drucker và Power (1984) đã đưa ra giả định: xem nhà quản trị là nhân tố chính cho sự thành công của việc sáp nhập, qua đó khẳng định thành công của việc sáp nhập là mục tiêu chủ yếu của họ Tuy nhiên thành công này xuất phát từ lợi ích công ty hay lợi ích cá nhân vẫn còn
là câu hỏi mở
4.2 Mô hình tiếp nhận
Trong mô hình tiếp nhận, công ty mục tiêu được sáp nhập vào công ty nhà thầu nhưng vẫn còn tư cách pháp nhân (trở thành 1 công ty con của công ty nhà thầu)
Porter (1980) mô tả mô hình như là chức năng của chi phí đầu tư bao gồm chi phí thâm nhập ngành, chi phí dự kiến sẽ thu hồi và dòng tiền dự kiến
Roberts và Berry (1985) đã nghiên cứu về sự tương đồng về thị trường và công nghệ của các công ty sáp nhập; từ đó họ tìm hiểu về cung, nhu cầu và mối quan hệ của công ty sau sáp nhập Họ cho rằng
4.3 Mô hình hợp nhất
Trong mô hình hợp nhất, cả hai công ty sáp nhập vào nhau và trở thành một công
ty mới
Mô hình được xây dựng bởi Kitching (1967) khi chỉ ra rằng nhà quản trị sáp nhập
và mối quan hệ trong tổ chức là quan trọng cho sự thành công của hành vi sáp nhập
Trang 11Những nghiên cứu gần đây đưa ra cơ sở về việc định giá giá trị tiền sáp nhập và nền tảng văn hóa hậu sáp nhập (Shrallow, 1985; Malekzadeh và Nahavandi, 1987)
Drucker (1981) đã có nghiên cứu về văn hóa tổ chức và doanh thu khi có sự hoán đổi quản trị giữa các thành viên ở công ty nhà thầu và công ty mua lại
Shrivastava (1986) cho rằng mức độ cần thiết của các thành viên sau sáp nhập phụ thuộc vào mục tiêu của sáp nhập và giá trị của các công ty
5 Kết luận
Nhận định Đối tượng Mục tiêu Giả thuyết đề cập
1 Sáp nhập là
sự lựa chọn
hợp lý
a Lợi ích của các cổ đông
Lợi ích khi hiệp lực Thuyết hiệu quả Dịch chuyển giá trị từ khách hàng Thuyết độc quyền Dịch chuyển giá trị từ cổ đông
mục tiêu Thuyết tấn công Lợi ích thông qua thông tin Thuyết định giá
b Lợi ích của nhà quản trị khi sáp nhập Thuyết xây dựng
quyền lực
2 Sáp nhập là kết quả tất yếu Thuyết quá trình
3 Sáp nhập là hiện tượng kinh tế vĩ mô Thuyết rối loạn
Trật tự của các giả thuyết sáp nhập theo mức độ tin cậy:
• Các nghiên cứu hiện tại vẫn chưa thỏa mãn được vấn đề đặt ra Lời giải thích vẫn dựa trên các quá trình ra quyết định, mục tiêu mâu thuẫn, và thông tin mơ hồ
• Các nghiên cứu dựa trên giả định về thị trường hiệu quả, trong khi không tồn tại