1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học phần II đoàn văn bình

59 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 383,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2000 94.000 353 1350 1885 2Nguồn số liệu: Bộ KHĐT và Bộ Tài chính Với mức đầu tư thấp như vậy nên cơ sở vật chất của các viện nghiên cứunhìn chung rất nghèo nàn, trang thiết bị rất thiếu

Trang 1

Phần II QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

I ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHCN

Các khái niệm và định nghĩa về KHCN:

Như ta thường gặp trong tài liệu các nước nói về khoa học và công nghệ

(S&T), về nghiên cứu và triển khai (R&D), hai khái niệm này khác nhau vềqui mô và phạm vi hoạt động

* Khái niệm về khoa học và công nghệ rất rộng, theo tổ chức UNESCOcủa Liên hiệp quốc, hoạt động khoa học và công nghệ là toàn bộ hoạt động cótính hệ thống liên quan chặt chẽ đến sự tạo ra, phát triển, phổ biến và ứngdụng tri thức khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực khoa học và kỹthuật Các hoạt động này bao gồm các hoạt động nghiên cứu triển khai(R&D), giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ (STET) và các dịch vụkhoa học và công nghệ (STS)

a Hoạt động R&D( Research and Development) tức là những hoạt độngmang tính nghiên cứu và thử nghiệm, trong đó có nghiên cứu cơ bản, nghiêncứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai

b Hoạt động giáo dục và đào tạo KHCN STET (science - TcchnologyEducation and training), bao gồm giáo dục cao đẳng và giáo dục tiếp theo,

đào tạo lại những hoạt động đào tạo khác đối với cán bộ KHCN

c Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ STS (Science andTechnology Services) chỉ những hoạt động thông tin, tiêu bản, thống kê, biêndịch, lập bản đồ trắc địa, thăm dò địa chất, tiêu chuẩn đo lường chất lượng vàdịch vụ tư vấn

Trang 2

* Khái niệm về nghiên cứu và triển khai là hoạt động có tính hệ thống vàsáng tạo nhằm mục đích tăng khối lượng kiến thức khoa học và áp dụngchúng trong thực tế Hoạt động này được phân loại thành: nghiên cứu cơ bản,nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai Như vậy khái niệm R&D làmột phần của khái niệm S&T.

Hiểu được các khái niệm trên để khi đề cập đến vấn đề đầu tư tài chínhcho khoa học và công nghệ chúng ta có sự phân biệt rõ hơn và đưa ra các sốliệu thống kê phù hợp với thông lệ quốc tế

Tài liệu của các nước viết về đầu tư tài chính cho KHCN chính là đầu tưcho nghiên cứu- triển khai (đầu tư cho R&D)

Đối với nước ta, cũng hiểu theo qui chuẩn và đó và nghiên cứu xoay

quanh 3 vấn đề sau:

- Mức đầu tư và các nguồn vốn đầu tư cho KHCN

- Phân phối, sử dụng các nguồn vốn đó

- Cơ chế quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho KHCN

MỨC ĐẦU TƯ VÀ CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO HOẠT ĐỘNG KHCN

1 Giới thiệu số liệu đầu tư cho KHCN của các nước:

Theo phương pháp chung của các nước trên thế giới cũng như củaUNESCO đầu tư tài chính cho KHCN được tính theo các chỉ tiêu sau đây:

+ Tỷ lệ đầu tư % so với GDP hoặc GNP

+ Mức đầu tư bình quân/1 cán bộ KHCN

+ Mức đầu tư bình quân/1 người dân

Xin nêu một số số liệu của các nước đầu tư cho KHCN

Các nước công nghiệp phát triển có mức đầu tư cho KHCN rất lớn và rất

ổn định Các nước trong khu vực cũng đang phấn đấu và nhiều nước đã đạt

tỷ lệ đầu tư cao

GNP

Mức đầu tư bình quân cho 1

cán bộ R&D

Trang 3

2 Mức đầu tư cho KHCN của Việt nam

Trong những năm qua Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư

cho KHCN nhưng mức đạt được còn rất khiêm tốn Trong tình hình cân đối

ngân sách của nhà nước còn nhiều khó khăn, thì đầu tư cho KHCN cũng cònrất thấp

Số liệu đầu tư một số năm gần đây:

Đầu tư cho KHCN (Tỷ đồng)

Trang 4

2000 94.000 353 1350 1885 2

Nguồn số liệu: Bộ KHĐT và Bộ Tài chính

Với mức đầu tư thấp như vậy nên cơ sở vật chất của các viện nghiên cứunhìn chung rất nghèo nàn, trang thiết bị rất thiếu, lạc hậu, không đồng bộ.Kinh phí cấp cho các nhiệm vụ nghiên cứu cũng rất thấp, chỉ đủ nghiêncứu trong phòng thí nghiệm, khi triển khai đến qui mô pilot hoặc thửnghiệm với qui mô lớn thì không đủ kinh phí

Mặt khác số liệu trên đây mới chỉ là số liệu đầu tư từ ngân sách nhà

nước Các cơ quan khoa học cũng nhận được kinh phí từ các hợp đồng với

sản xuất nhưng hiện nay chưa thống kê được Số liệu đầu tư của các nước baogồm nhiều nguồn, trong đó có nguồn từ ngân sách của Chính phủ và nguồnngoài ngân sách

Thực tế trong những năm qua, nhiều tổ chức KHCN đã rất năng động,nguồn thu từ hợp đồng nghiên cứu và dịch vụ KHCN với sản xuất đã tăng lên

rõ rệt, một số viện ngân sách nhà nước trong tổng số doanh thu của viện chỉchiếm 30 đến 50%

3 Các nguồn vốn đầu tư cho KHCN

Đối với các nước, nguồn vốn đầu tư cho KHCN gồm ngân sách của Chính

phủ và vốn đầu tư của các công ty, của các cơ sở sản xuất kinh doanhthuộc mọi thành phần kinh tế Mức đầu tư hàng năm của Chính phủ tănglên về số tuyệt đối nhưng lại giảm dần về tỷ trọng giữa ngân sách Chínhphủ với khu vực tư nhân Ngân sách của Chính phủ thường chiếm 50 -60%, những nước phát triển ngân sách đầu tư của Chính phủ chỉ chiếm 20-30% trong tổng số

Số liệu một số nước năm 1995 như sau:

Trang 5

nghiệp, chưa có môi trường thuận lợi cho KHCN đi vào sản xuất KHCN

chưa trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong việc nâng cao năng suất,

chất lượng, sản xuất sản phẩm mới và là nhân tố quyết định trong cuộc cạnhtranh với thị trường Hơn nữa ta chưa có chế độ báo cáo thống kê đầy đủ nênkhông thống kê được nguồn vốn ngoài ngân sách là bao nhiêu Tuy nhiên theo

số liệu của các Viện nghiên cứu và các Trường đại học nhận hợp đồng với các

cơ sở sản xuất thì vốn ngoài ngân sách đạt khoảng 20% tổng số vốn đầu tưcho KHCN Ngân sách nhà nước vẫn là nguồn chính, chiếm khoảng 80% tổng

số vốn đầu tư cho hoạt động R&D

Hiện nay chúng ta đang nghiên cứu xây dựng một số các cơ chế, chínhsách nhằm đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư, chủ yếu huy động từ khu vựcsản xuất kinh doanh và các thành phần kinh tế khác

Ngoài những cơ chế đã có về tạo nguồn, nhằm đa dạng hoá các nguồnvốn cho hoạt động KHCN, trong chương trình hành động thực hiện Nghịquyết Trung ương 2, Bộ KHCN&MT phối hợp với các Bộ chức năng của Nhà

nước ban hành một số các chính sách và cơ chế tạo nguồn như:

Cơ chế cho phép các trường đại học, các viện nghiên cứu được tổ chức

sản xuất kinh doanh các sản phẩm là kết quả nghiên cứu của viện và trường,các sản phẩm đơn chiếc mà sản xuất chưa sẵn sàng tiếp nhận Từ hoạt động

đó các viện và trường có thêm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động nghiên cứu

và tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên

Trang 6

- Cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoahọc và đổi mới công nghệ, cho phép các doanh nghiệp lập quỹ phát triểnKHCN.

- Chế độ miễn giảm thuế đối với các sản phẩm có công nghệ mới, côngnghệ cao, miễn gỉam thuế đối với việc nhập khẩu các thiết bị vật tư chonghiên cứu khoa học

- Cơ chế cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hoặc ngân sách khoahọc bù lãi suất cho các đơn vị triển khai các công trình nghiên cứu triển khai

và đổi mới công nghệ

- Thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ tài trợ cho nghiên cứu khoa học và pháttriển công nghệ Thành lập quỹ nghiên cứu khoa học cơ bản

- Cơ chế được sử dụng kinh phí của các chương trình kinh tế - xã hội đểnghiên cứu khoa học phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả các dự án thuộc

chương trình

- Cơ chế được sử dụng vốn của các công trình xây dựng cơ bản đểnghiên cứu khoa học giải quyết những vấn đề phát sinh của chính công trình

đó

Từ việc xây dưng cơ chế tạo nguồn vốn cho KHCN để phấn đấu đầu tư

cho KHCN ngày càng tăng và tỷ trọng đầu tư của ngân sách nhà nước giảm,

có thể là ngân sách nhà nước 60% và các nguồn khác 40% trong những nămtới

Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, người ta đều thành lậpnhiều loại quỹ khác nhau, trong đó có một phần ngân sách nhà nước cấp,

ngoài ra huy động các công ty, các tổ chức, cá nhân đóng góp Do vậy các

nguồn tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ rất phong phú Theo Luậtkhoa học và công nghệ, sẽ có 3 loại quỹ phát triển KHCN là quỹ phát triểnKHCN quốc gia, quỹ của các bộ, tỉnh, thành phố và quỹ của các tổ chức tưnhân

Trang 7

Sau đây xin trình bầy một số các nguồn vốn cho KHCN mà nước ta đang

thực hiện

3.1 Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước:

Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước đầu tư cho KHCN được kết cấu từ 2phần: vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các cơ quan khoa học và vốn sự nghiệpnghiên cứu khoa học

* Vốn xây dựng cơ bản của khoa học:

Hàng năm nhà nước đầu tư cho xây dựng các cơ quan khoa học một

khoản kinh phí, thông thường chiếm trong khoảng 15% và gần đây lên đến30% trong tổng đầu tư cho KHCN

Trước hết phải thấy rằng trong một thời gian đầu, nước ta phát triển các

cơ quan khoa học theo chiều rộng Các cơ quan nghiên cứu được tăng nhanhtrong khi cơ sở vật chất hầu như chưa có gì Ban đầu các viện nghiên cứu còn

xây dựng bằng nhà tranh, nhà cấp 4, trang thiết bị thô sơ, nghèo nàn Qua một

số năm tập trung giải quyết cơ sở hạ tầng mà chủ yếu là xây dựng, sửa chữa,cải tạo phần vỏ bao che, trang thiết bị vẫn yếu kém, thiếu và lạc hậu Ngoàimột số viện được viện trợ của các dự án quốc tế cũng được trang bị một sốthiết bị, còn lại phần mua sắm bằng kinh phí trong nước rất hạn chế Vốn đầu

tư xây dựng cơ bản tập trung vào xây lắp, vốn sự nghiệp nghiên cứu chỉ muađược các thiết bị lẻ, ít tiền Các thiết bị hiện đại, đồng bộ, giá hàng tỷ đồng thì

không có nguồn vốn nào đầu tư

Trước đây mức đầu tư cho xây dựng cơ bản còn rất thấp so với nhu cầu,

vì vậy nhiều công trình xây dựng kéo dài hàng 6 - 8 năm mới đưa vào sửdụng Đối với các viện nghiên cứu, nhà xưởng là quan trọng nhưng quantrọng hơn là trang thiết bị của các phòng thí nghiệm Đối với cán bộ khoa họcnếu không có trang thiết bị cũng giống như người nông đân không có cái cày

để cày ruộng Bắt đầu giai đoạn 1996 -2000, Bộ KHCN&MT thống nhất với

Bộ Kế hoạch và Đầu tư dành một phần vốn XDCB để đầu tư chiều sâu chocác viện nghiên cứu Theo Nghị quyết Trung ương 2 và theo Quyết định số

Trang 8

850 của Thủ tướng Chính phủ, từ nay đến năm 2005 đầu tư xây dựng 16phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đạt tiêu chuẩn khu vực (giai đoạn 1)(khoảng 3 triệu USD/phòng thí nghiệm) Để đạt mục tiêu này phải có sự cốgắng của các cơ quan nhà nước và của Chính phủ và tình hình hiện nay hoàntoàn có khả năng thực hiện được.

* Kinh phí sự nghiệp nghiên cứu khoa học

Kinh phí sự nghiệp khoa học thường chiếm tỷ lệ lớn (70 - 80%) trongtổng số ngân sách đầu tư cho KHCN Tổng ngân sách chi cho sự nghiệp

KHCN được cân đối theo ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương

Nhìn chung đây là nguồn kinh phí chủ yếu để Nhà nước, các bộ, ngành cũng

như các tỉnh/thành phố triển khai các chương trình, đề tài nghiên cứu và các

dự án sản xuất thử nghiệm Ngoài ra còn chi cho các hoạt động thông tin,

TCĐLCL, hợp tác quốc tế đào tạo

Ngân sách trung ương chi cho các nhiệm vụ trọng điểm của Nhà nước và

nhiệm vụ của các bộ, ngành trung ương trong đó có chi lương cho cán bộkhoa học của các viện NC-TK Ngân sách địa phương chi cho các hoạt độngKHCN của các tỉnh/thành phố (không chi cho lương của các sở KHCN&MT).Kinh phí sự nghiệp khoa học cân đối trong ngân sách trung ương thường

được đảm bảo đầy đủ theo kế hoạch được giao Còn đối với địa phương, nhànước giao kế hoạch thu và kế hoạch chi, nếu kế hoạch thu không đạt thì kế

hoạch chi cũng bị cắt giảm Thông thường loại sự nghiệp bị cắt giảm trước lại

là khoa học Có một số tỉnh cấp đủ theo kế hoạch nhưng tại tính cả lương của

sở hoặc chi cục trong tổng số kinh phí đó, theo nguyên tắc thì kinh phí đókhông kể lương

Ngoài vốn xây dựng cơ ban và kinh phí sự nghiệp khoa học, trong cơ cấucủa ngân sách còn có vốn điều tra cơ bản lấy trong sự nghiệp kinh tế: chủ yếucấp cho các nhiệm vụ điều tra cơ bản của các ngành và cho các địa phương,

trong đó có các nhiệm vụ về bảo vệ môi trường Đối với các địa phương, kinh

phí thực hiện các dự án điều tra cơ bản và môi trường thường giao cho Sở

Trang 9

KHCN&MT quản lý Kinh phí này cũng được cân đối qua ngân sách địa

phương

3.2 Nguồn vốn tự có của các bộ, tỉnh/thành phố và cơ sở

Để tăng quyền chủ động của các bộ và tỉnh/thành phố và các cơ sở, cũngnhư tăng thêm nguồn vốn cho hoạt động KHCN, liên Bộ KHCN&MT và BộTài chính đã ban hành một số các Văn bản như:

- Thông tư liên Bộ KHCN&MT và Bộ Tài chính số

1291/KHCN&MT-TC ngày 8 tháng 10 năm 1992 hướng dẫn việc trích lập và sử dụng quỹ hỗ trợ

phát triển KHCN của các Bộ và Tỉnh/thành phố thành Nguồn thành lập quýchủ yếu trích từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của các doanh nghiệptrực thuộc, nguồn thu hồi do hoạt động nghiên cứu khoa học và các dự ánSXTN mang lại Tuy nhiên, qua một số năm triển khai thực hiện, chỉ một số ít

Bộ và địa phương tạo được quỹ này Hơn nữa, do chế độ quản lý tài chính củacác doanh nghiệp đã thay đổi nhiều, chế độ tài chính doanh nghiệp hiện nay

không qui định cho doanh nghiệp trích quỹ đầu tư phát triển nộp cho quỹ của

bộ, tỉnh, do vậy nguồn thu chủ yếu của quỹ không có Còn thu từ hoạt độngnghiên cứu đề tài và các dự án SXTN cấp bộ, tỉnh/thành phố nơi có nơi không

Theo Thông tư liên Bộ số 50/TTLB-BTC-BKHCN&MT ngày 15 tháng

4 năm 1998 hướng dẫn việc quản lý kinh phí thu hồi từ các hoạt động KHCN,

các tỉnh/thành phố vẫn tiếp tục được thành lập quỹ và giao cho SởKHCN&MT quản lý

- Cơ sở sản xuất: đối với các doanh nghiệp theo Nghị định số 59/TTg

ngày 3 tháng 10 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ được lập quỹ nghiên cứu

khoa học trích từ quỹ đầu tư phát triển, đồng thời được trích một tỷ lệ nộp cho

Trang 10

Tổng công ty để lập quỹ nghiên cứu khoa học của Tổng công ty Đây là một

qui định mới và rất tiến bộ trong việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi

mới công nghệ của các doanh nghiệp Ngoài ra 2 Luật thuế mới (thuế Thunhập doanh nghiệp và thuế VAT) được Quốc hội ban hành có hiệu lực từ1/1/1999 cũng có nhiều yếu tố thuận lợi về tạo quỹ cho hoạt động KHCN củadoanh nghiệp

- Các cơ sở nghiên cứu khoa học: những năm gần dây, ngoài việc thựchiện các nhiệm vụ của nhà nước và Bộ giao, các cơ sở nghiên cứu triển khairất năng động trong việc tìm kiếm việc làm, gắn bó với cơ sở sản xuất, chuyểngiao các kết quả nghiên cứu cho sản xuất, thực hiện các dịch vụ KHCN nêncũng có nguồn thu Có những viện thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ, nguồnthu do ký kết hợp đồng chiếm đến 40 -50% doanh thu của viện Khai thác từhợp đồng viện tạo thêm việc làm cho cán bộ khoa học, trích quỹ hỗ trợ pháttriển KHCN của viện, đồng thời tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên.Tuy nhiên nhiều viện cũng rất khó khăn, nhất là các viện nghiên cứu về khoahọc xã hội và nhân văn chủ yếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước cấp

* Nguồn vốn hợp tác với nước ngoài:

Thời kỳ từ năm 1990 trở về trước ta có dược một nguồn viện trợ khônghoàn lại rất đáng kể từ các nước Liên xô cũ và các nước Đông âu Ngoài racác tổ chức quốc tế như UNDP, FAO, UNIDO cũng có những dự án việntrợ cho phát triển khoa học công nghệ Nguồn vốn viện trợ chủ yếu chi choviệc đào tạo trong nước cũng như ngoài nước, cho cho các vật mẫu, các tàiliệu kỹ thuật Ngoài ra cũng có 40 - 50 % vốn được dùng để mua sắm cáctrang thiết bị cho các phòng thí nghiệm

Hiện nay nguồn viện trợ không hoàn lại theo các nghị định thư như trước

đây không còn nữa Các dự án của UNDP viện trợ cũng chuyển mục tiêu Các

dự án viện trợ chủ yếu cho điều tra cơ bản, cho xây dựng chính sách Hàng

năm vẫn có các nguồn viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế, nhưng so

với trước thì giảm đi nhiều

Trang 11

Nguồn vốn này được thực hiện dưới các hình thức sau đây:

- Các dự án về chuyển giao công nghệ (chủ yếu là chuyên gia, đào tạo,

một phần nhỏ trang thiết bị, vật mẫu, tài liệu kỹ thuật ).

- Các dự án để điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu, xây dựng chính sách,

làm thử mô hình

- Các đề tài hợp tác nghiên cứu 2 bên

- Tổ chức các Hội nghị, Hội thảo khoa học quốc tế

- Hỗ trợ kinh phí cho các suất đào tạo, đi dự hội nghị khoa học

Cũng rất tiếc là hiện nay do nhiều cơ quan quản lý hoặc đôi khi không có

cơ quan nào quản lý nên không có được số liệu về nguồn vốn này Hàng nămkhi cân đối ngân sách cho KHCN, Bộ KHCN&MT và Bộ Tài chính tạm thời

thống nhất với nhau về số thu của nguồn viện trợ khoảng 20 tỷ đồng, còn cụthể ở bộ, ngành nào bao nhiêu và những dự án gì thì không thống kê được

Liên quan đến vấn đề đầu tư tài chính cho KHCN là vấn đề tạo nguồn

vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước Bộ KHCN&MT đang phối hợp vớicác Bộ chức năng nghiên cứu các cơ chế để huy động các nguồn vốn đầu tưcho KHCN Ngoài ra còn các biện pháp khác như khuyến khích bằng ưu đãi

về thuế, tín dụng

Đối với nghiên cứu cơ bản, nhiều nước đều thành lập các quỹ cho nghiên

cứu cơ bản Quỹ này do một Hội đồng quỹ quản lý và xét cấp cho các nhiệm

vụ nghiên cứu cơ bản thông qua tuyển chọn, đấu thầu (Mỹ, Trung quốc,CHLB Nga, CHLB Đức) Hiện nay Bộ KHCN&MT cũng đang nghiên cứu đề

án thành lập quỹ cho nghiên cứu KHCN Trong luật KHCN cũng có các điều

về thành lập quỹ hỗ trợ và quỹ tài trợ cho KHCN ở cấp nhà nước và cấp bộ,tỉnh/thành phố

II PHÂN PHỐI VÀ S

Trang 12

Từ việc phân tích các nguồn vốn nêu trên, bức tranh cho thấy rằngnguồn vốn ngân sách là chủ yếu Quỹ của các bộ và tỉnh/thành phố cũng nhưvốn của các doanh nghiệp còn rất ít, vốn viện trợ ít và chưa thể thống kê

dược Vì vậy chúng ta đi sâu phân tích việc phân bổ và nội dung sử dụng

nguồn vốn đầu tư cho KHCN từ ngân sách nhà nước

Có 2 vấn đề cần quan tâm là tăng dần mức đầu tư hàng năm và có chính

sách cơ chế sử dụng hợp lý, hiệu quả Câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý làđầu tư vào đâu, cho những việc gì và biện pháp nào để mang lại hiệu quả chođồng vốn đầu tư Đồng thời còn một vấn đề nữa là khoa học có bao cấp

không, đến mức độ nào trong tình hình chuyến sang cơ chế thị trường?

Trả lời câu hỏi này không phải dễ và đó là câu hỏi thường xuyên đặt racho các nhà khoa học và các cơ quan quản lý khoa học Các vấn đề này phải

được giải quyết bằng các chính sách, các cơ chế và các biện pháp cụ thể

Về mặt phương pháp luận tài chính phải phục vụ cho mục tiêu chiến

lược phát triển KHCN của quốc gia và tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm

trọng điểm của từng giai đoạn cụ thể

Trong giai đoạn vừa qua nguồn vốn ngân sách được sử dụng như sau:

II.1 Vốn xây dựng cơ bản cho KHCN

Như trên đã nêu thời gian qua vốn đầu tư xây dựng cơ bản đành chủ yếu

cho việc xây dựng cơ sở làm việc của các viện nghiên cứu triển khai, xâydựng các cơ sở thí nghiệm và các xưởng thực nghiệm chế thử Phần đầu tưcho các trang thiết bị hầu như không đáng kể Điều đó xuất phát từ tình hìnhthực tế nhà xưởng của các viện nghiên cứu trước đây chủ yếu là nhà cấp bốn,thậm chí chỉ là tranh tre, một số viện được xây dựng cũng khoảng vài ba chục

năm nên cũ nát và rất chật chội Về nguyên tắc nếu đủ vốn thì xây dựng phải

đi kèm theo trang thiết bị, nhưng vì nhu cầu quá lớn trong khi vốn đầu tư rất

Trang 13

thiết bị của các cơ quan khoa học cũng rất đáng quan tâm Trang thiết bị khoahọc thường rất đắt tiền, lại lạc hậu nhanh, công suất sử dụng lại không cao

như sản xuất Nguồn thiết bị của các viện được hình thành từ nhiều nguồn

khác nhau: từ viện trợ của các nước XHCN cũ, từ các dự án của chương trìnhphát triển Liên hiệp quốc (UNDP), từ việc hợp tác song phương với các viện

hoặc các tổ chức quốc tế khác Do vậy tình hình chung là trang thiết bị thiếu,

không đồng bộ, lạc hậu

Vài năm gần đây khi phần xây lắp của các viện tạm thời đảm bảo ở mức

tối thiểu, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ KHCN&MT thống nhất chuyển dần vốn

đầu tư XDCB sang đầu tư trang thiết bị cho các cơ quan khoa học Dù có

dành vốn XDCB cho mua sắm trang thiết bị thì số đó vẫn còn quá nhỏ bé sovới yêu cầu thực tế

Với số lượng khoảng 100 viện và trung tâm nghiên cứu triển khai, cáctrung tâm thử nghiệm đo lường, mỗi viện có đến vài chục phòng thí nghiệm,lại còn các trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm thuộc các trường đạihọc đang rất thiếu: trang thiết bị, đang cần phải đầu tư, thì việc mỗi năm nhà

nước dành khoảng 10 triệu USD cho đầu tư trang thiết bị vẫn còn thấp so với

nhu cầu Vì vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là phải xác định các phòngthí nghiệm trọng điểm quốc gia theo các hướng khoa học công nghệ ưu tiên

để tập trung đầu tư trước Hơn nữa, cũng phải xây dựng cơ chế sử dụng chung

trang thiết bị đối với những thiết bị quý hiếm, đắt tiền nhằm sử dụng có hiệuquả và tiết kiệm

II.2 Vốn sự nghiệp Khoa học

Vốn Sự nghiệp khoa học được cân đối qua ngân sách trung ương và ngân

sách địa phương

- Ngân sách trung ương khoảng 76 - 80%

Trang 14

Nội dung chi của ngân sách trung ương bao gồm:

- Chi cho lương và hoạt động bộ máy của các cơ quan KHCN được sắpxếp theo Quyết định 782/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24 tháng 10

năm 1996 Số biên chế trong các cơ quan khoa học đang hưởng lương khoảng

15.000 cán bộ

- Cho cho các chương trình KHCN và chương trình KHXH cấp nhà nước

- Chi cho các đề tài độc lập cấp nhà nước

- Cho cho các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tự nhiên

- Các nhiệm vụ KHCN cấp bộ (các chương trình, đề tài, dự án cấp bộ,Thông tin, hợp tác quốc tế )

- Thông tin KHCN

- Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng

- Các dự án về nhập các kết quả nghiên cứu

- Tăng cường trang thiết bị cho các cơ quan KHCN

- Chống xuống cấp, sửa chữa nhỏ các cơ quan KHCN

- Quản lý nhà nước về môi trường

- Hợp tác quốc tế

- Nhập sách, tạp chí nước ngoài cho các trúng tâm thông tin quốc gia.Các nội dùng trên đây cũng có sự thay đổi theo từng thời kỳ nhất định.Nội dung chi cho quản lý nhà nước về môi trường mới xuất hiện khi có Luậtbảo vệ môi trường năm 1993 Nội dung chi về nhập các kết quả nghiên cứuxuất hiện năm 1994 khi xuất hiện tình hình Liên xô cũ tan rã và họ bán côngnghệ với giá rẻ Nội dung chống xuống cấp cho các cơ quan khoa học đượcthực hiện từ năm 1991 khi vấn đề hết sức cấp bách và thực hiện chủ trươngnày rất có hiệu quả Nội dung về tăng cường trang thiết bị được thực hiện từ

năm 1994 khi nhu cầu trang thiết bị của các viện nghiên cứu rất bức báchtrong khi như đã phân tích ở trên, vốn đầu tư rất có hạn Bộ KHCN&MT chủtrương dành một phần kinh phí sự nghiệp khoa học để bổ sung trang thiết bị

lẻ, tăng cường năng lực của các cơ quan nghiên cứu triển khai, đặc biết là các

Trang 15

viện thực hiện các nhiệm vụ KHCN theo các hướng trọng điểm của Nhà

nước Qua 4 năm thực hiện thấy rất có hiệu quả và các bộ, ngành, các cơ quan

khoa học rất hoan nghênh

Theo số liệu những năm qua, phần chi cho lương và bộ máy của các cơquan khoa học chiếm khoảng 25 - 30% ngân sách trung ương Theo tinh thầnsắp xếp lại các cơ quan khoa học và do số liệu đầu tư tăng lên thì tỷ trọng

lương sẽ giảm dần trong tổng số kinh phí sự nghiệp khoa học

Không thể nói rằng việc chi lương cho cán bộ khoa học !à bao cấp vìrằng nguồn nhân lực này đối với các nước đều được Chính phủ trả lương Vấn

đề là phải sắp xếp các cơ quan khoa học để tránh trùng lắp, không để nhiều cơ

quan có chức năng chồng chéo nhau, lực lượng tản mạn, manh muốn Đồngthời khi đã có một hệ thống cơ quan nghiên cứu khoa học hợp lý, chức năng

rõ ràng thì nhà nước phải trả tương xứng đáng cho lao động chất xám của cácnhà khoa học

Theo Quyết định 782/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/10/1996 vềsắp xếp các cơ quan khoa học, trong đó có một số viện đưa về trực thuộc cáctổng công ty Tiếp đó Thông tư liên Bộ số 395 qui định sẽ cắt dần quỹ lương

và hoạt động bộ máy của các viện này trong vòng 5 năm Sau 5 năm, tức làbắt đầu từ năm 2002 thì Nhà nước không cấp lương và chi hoạt động bộ máy

từ ngân sách Nhà nước cho các viện nghiên cứu mà tổng công ty phải giaonhiệm vụ và đảm bảo quỹ lương Tình hình này làm cho các viện đang rất lolắng vì rằng các tổng công ty và viện chưa gắn bó hữu cơ, chưa thực sự thấycần cho nhau trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Trong kỳ kế hoạch 1991-1995 Nhà nước đã giảm số chương trình xuốngcòn 31 chương trình và kỳ kế hoạch 1996-2000 số chương trình giảm xuốngcòn 18 chương trình Số lượng đề tài trong mỗi chương trình cũng rút xuống

từ 20-25 đề tài xuống còn 12 đề tài Điều đó chứng tỏ quyết tâm của nhà nướcthực sự tập trung có trọng điểm theo các hướng KHCN ưu tiên Giai đoạn

trước đây, mỗi đề tài thuộc chương trình được cấp tối đa khoảng 500 - 600

Trang 16

triệu đồng thì giai đoạn này có đề tài được đầu tư đến 2,5 tỷ đồng, thông

thường khoảng 1,2-1,5 tỷ đồng Với sự đầu tư này nhà nước chỉ đạo các đề tài

phải cho ra được sản phẩm có giá trị và được ứng dụng trong sản xuất và đờisống

Kinh phí chi cho các nhiệm vụ khoa học cấp bộ chiếm khoảng 30% tổng

số kinh phí của ngân sách trung ương Khoản kinh phí này do Bộ chủ quảnphân bổ Thực tế cho thấy các Bộ chủ quản cũng mắc phải một mâu thuẫngiữa nhu cầu và khả năng, vì vậy dẫn đến mâu thuẫn giữa tập trung và phân

tán Kinh phí đã ít nhưng phải chia cho nhiều viện, nhiều đề tài, kinh phí cho

mỗi đề tài ít dẫn đến tình trạng đề tài nghiên cứu thì nhiều nhưng kết quả cuối

cùng để áp dụng trong sản xuất thì đạt tỷ lệ thấp

Kinh phí chi cho các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về môi trường: hiệnnay kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường chưa có một nguồn vốn riêng

trong cơ cấu chi của ngân sách Nhà nước Do vậy chi cho các nhiệm vụ quản

lý Nhà nước về môi trường cân đối trong kinh phí sự nghiệp khoa học Các đề

án về điều tra hiện trạng, đánh giá tác động, bảo vệ môi trường được cân đốitrong kinh phí sự nghiệp kinh tế

Ngoài nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, từ năm 1991 đến nay BộKHCN&MT triển khai thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm có thu hồi80-100 % kinh phí hỗ trợ, hàng năm thu được khoảng 20- 30 tỷ đồng để đầu

tư trở lại cho hoạt động KHCN Nguồn kinh phí thu hồi này tiếp tục cấp cho

các dự án SXTN của trung ương và địa phương và theo cơ chế có thu hồi nênchủ dự án phải tính toán sử dụng có hiệu quả

Đối với các nhiệm vụ của Nhà nước khi giao cho địa phương thực hiện

thì ngân sách trung ương cũng cấp về cho các địa phương theo hình thức kýhợp đồng, Bộ KHCN&MT cấp trực tiếp cho địa phương hoặc Bộ Tài chínhcấp theo hình thức uỷ quyền qua Sở Tài chính - Vật giá của tỉnh/thành phố.Nội dung chi của ngân sách địa phương bao gồm:

Trang 17

- Chi cho các đề tài nghiên cứu ứng dụng, các nhiệm vụ về ứng dụng kỹthuật tiến bộ.

- Các nhiệm vụ về tham mưu tư vấn cho tỉnh/thành phố về hoạt độngKHCN

- Công tác Tiêu chuẩn - Đo lường - chất lượng

- Nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

- Công tác sở hữu công nghiệp

- Tăng cường cơ sở vật chất của Sở, chi cục và các trung tâm kỹ thuật

- Hoạt động thông tin KHCN

- Công tác đào tạo, tập huấn, hợp tác quốc tế, thống kê tiềm lực KHCN,thanh tra KHCN

Nhìn vào các nội dung trên cho thấy rằng hoạt động KHCN của các địa

phương rất phong phú, nhiệm vụ nhiều nhưng kinh phí rất hạn chế Cơ sở vật

chất của các Sở KHCN&MT, các Chi cục TCĐLCL, các trung tâm phân tích,

trung tâm môi trường rất nghèo nàn và thiếu thốn Việc trang bị cơ sở vật chất

bằng nguồn vốn đầu tư cơ bản không có nên các Sở đành sử dụng kinh phí sựnghiệp khoa học hàng năm để bổ sung cơ sở vật chất và cũng không được làbao Khi kinh phí phải dàn trải thì hiệu quả sẽ mang lại thấp chỉ có 2 thànhphố lớn là Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh, ngân sách địa phương dành choKHCN&MT tương đối khá, mỗi năm vài chục tỷ đồng

Tình hình thực tế thường gặp đối với các địa phương: cân đối các khoản

chi trên cơ sở các khoản phải thu, khi kế hoạch thu không đạt thì kế hoạch chi

cũng bị cắt giảm và hạng mục bị cắt giảm thường là kinh phí khoa học

Một số địa phương được coi là cấp đủ theo kế hoạch giao nhưng lạidùng kinh phí khoa học để cấp lương cho Sở KHCN&MT hoặc cấp lương chochi cục TCĐLCL mà lẽ ra lương của các cơ quan này không được tính vàokinh phí này

Trang 18

Đối với hoạt động KHCN địa phương, ngoài phần chi được cân đối trực

tiếp từ ngân sách địa phương, còn được hỗ trợ của trung ương thông qua cấp

uỷ quyền hoặc cấp trực tiếp theo hợp đồng như:

- Hỗ trợ tăng cường cơ cơ vật chất các Sở KHCN&MT, trang thiết bị chochi cục TCĐLCL, thiết bị quan trắc môi trường

- Thực hiện các dự án SXTN, các dự án nông thôn, miền núi, các

đề án xây dựng luận cứ khoa học phục vụ cho qui hoạch của địaphương hoặc vùng, các đề án về nuôi cấy mô, mở các lớp đào tạo

tập huấn nghiệp vụ, khảo sát nước ngoài

CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHCN

Kế hoạch tài chính là một nội dung của kế hoạch KHCN, do vậy quitrình và thời hạn lập kế hoạch tài chính tuân theo như qui trình và thời hạn lập

kế hoạch KHCN Bộ KHCN&MT sẽ đưa ra một qui trình và tiến độ xây dựng

kế hoạch từ tháng 1 đến tháng 12 hàng năm để thực hiện thống nhất đối vớicác Bộ ngành và các địa phương

Cơ chế quản lý tài chính cho KHCN nhằm mục đích đảm bảo cung cấp tàichính đúng đối tượng, đúng nội dung, chi tiêu đúng chế độ và có hiệu quả

Trong công tác quản lý tài chính cho hoạt động KHCN, các Bộ chức

năng của nhà nước như Bộ KHCN&MT, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính, Ban Tổ

chức cán bộ Chính phủ phải phối hợp thường xuyên và chặt chẽ theo chức

năng của từng Bộ như sau:

Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường:

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong.việc lập kế hoạch và phân bổ ngân sách đâu tư cho các nhiệm vụ khoa học vàcông nghệ để trình Chính phủ duyệt Xây dựng các chính sách, biện phápkhuyến khích, đầu tư cho KHCN từ các nguồn vốn khác nhau Tổ chức xây

Trang 19

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc lập kế hoạch xây dựng

cơ sở hạ tầng cho các cơ quan khoa học và công nghệ và áp dụng các thành

tựu KHCN vào sản xuất và đời sống

- Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng các chế độ chi tiêu và cơ chế quản

lý tài chính cho hoạt động KHCN

Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

- Phối hợp với Bộ KHCN&MT trong việc lập kế hoạch và cân đối ngân

sách đầu tư cho khoa học và công nghệ để trình Chính phủ duyệt Xây dựng

các chính sách, biện pháp khuyến khích đầu tư cho KHCN từ các nguồn vốnkhác nhau

- Chủ trì phối hợp với Bộ KHCN&MT trong việc lập kế hoạch xây dựng

cơ sở hạ tầng cho các cơ quan khoa học và công nghệ và áp dụng các thành

tựu KHCN vào sản xuất và đời sống

Bộ Tài chính:

- Phối hợp với Bộ KHCN&MT trong việc lập kế hoạch và phân bổ ngân

sách đầu tư cho KHCN Tổng hợp nhu cầu tài chính cho hoạt động KHCN

vào dự án ngân sách nhà nước 5 năm và hàng năm trình Chính phủ

- Phối hợp với Bộ KHCN&MT xây dựng những biện pháp khuyến khích

về tài chính và thuế để hỗ trợ đầu tư gián tiếp cho hoạt động KHCN

- Chủ trì, phối hợp với Bộ KHCN&MT xây dựng các chế độ chi tiêu và

cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động KHCN

- Đảm bảo cấp phát đủ và đúng tiến độ kinh phí từ ngân sách nhà nước

được Quốc hội phê chuẩn cho các nhiệm vụ KHCN

Đối với các địa phương, Các Sở KHCN&MT, Sở Kế hoạch và Đầu tư,

Sở Tài chính - Vật giá cũng có chức năng và trách nhiệm như vậy Ba cơ quannày ở địa phương cũng phải phối hợp thường xuyên và chặt chẽ Kinhnghiệm cho thấy địa phương nào ba cơ quan này phối hợp tốt thì hoạt độngquản lý tài chính ở đấy thuận lợi

Trang 20

Trong những năm qua Bộ KHCN&MT phối hợp với Bộ Tài chínhnghiên cứu ban hành các thông tư liên bộ hướng dẫn công tác quản lý tàichính theo từng nội dung của kế hoạch KHCN, theo từng thời kỳ phù hợp vớiquá trình quản lý hoạt động KHCN của nhà nước

Trong thời gian qua, liên Bộ KHCN&MT và Bộ Tài chính đã ban hànhnhiều văn bản hướng dẫn công tác quản lý tài chính cho hoạt động KHCNchung và theo từng nội dung và theo từng thời kỳ Danh mục các văn bản đó

được đưa vào phụ lục kèm theo

Nhìn chung các văn bản hướng dẫn về quản lý tài chính cho hoạt độngKHCN&MT đã đáp ứng được phần nào yêu cầu, tạo điều kiện cho các cơquan khoa học, các nhà quản lý khoa học, quản lý tài chính có căn cứ để triểnkhai nhiệm vụ Tuy nhiên, số lượng các văn bản cần thiết vẫn còn thiếu, nội

dung hướng dẫn chưa thật đầy đủ và chưa đáp ứng được tình hình thực tế

Nhiều chế độ định mức chi tiêu còn thấp so với yêu cầu Nhiều thủ tục qui

định còn phức tạp, gò bó đối với lĩnh vực hoạt động KHCN Một số chính

sách, chế độ khuyến khích về thuế, về quỹ, về tín dụng chưa có hoặc cồ rồi

nhưng lại mâu thuẫn nhau Ví dụ như thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệpđối với hoạt động KHCN còn bất hợp lý

Về công tác quản lý tài chính cụ thể đối với các nhiệm vụ tuân theo mộtqui trình gồm các nội dung như sau:

Trang 21

Căn cứ lập dự toán là khối lượng công việc đã được xác định, định mức

chi (đối với các khoản chi có định mức) và giá hiện hành

Một vấn đề đặt ra rất cần thiết trong công tác quản lý tài chính KHCN làmức chi tiêu Một trong những căn cứ quan trọng và cần thiết để lập dự toán

là định mức chi tiêu, nhưng đó cũng chính là khó khăn lớn nhất đối với các

cơ quan xây dựng chế độ chi tiêu tài chính

Lao động trong nghiên cứu KHCN là một loại lao động chất xám, mà laođộng chất xám không thể có định mức được Nhiều đoàn khảo sát củanước ta ra nước ngoài đều hỏi về vấn đề này và đều được trả lời là không

có định mức cứng cho lao động chất xám

Các ngành khoa học lại vô cùng đa dạng, chi tiêu trong các lĩnh vựckhoa học khác nhau cũng khác nhau Khoa học xã hội khác với khoa học côngnghệ Khoa học công nghệ lại khác với khoa học nông nghiệp Trong khoahọc nông nghiệp thì giữa nông, lâm, thuỷ sản, thuỷ lợi cũng khác nhau Do vậyviệc tính công lao động chất xám chỉ là một sự qui ước tương đối

Một số nội dung chi tiêu của đề tài/dự án đã có giá của thị trường Muamáy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, dụng cụ, phụ tùng, văn phòng phẩm, chế

độ công tác phí, lưu trú, thuê phương tiện đi công tác theo giá thị trường và

theo chế độ của nhà nước Dự toán khoản này lại gặp khó khăn ở chỗ xác địnhqui mô, phạm vị của đề tài, dự án ban nhiêu là phù hợp? Ví dụ đối với một đềtài thuộc ngành nông nghiệp, phải có một qui mô thử nghiệm khoảng 10 ha,

nhưng do kinh phí không đủ nên chỉ dự toán thử nghiệm ở qui mô 5 ha trongtrường hợp này lại phải “liệu cơm gắp mắm” Một số khoản chi phải theo sự

thoả thuận của 2 bên như giá phân tích mẫu, giá cho thuê phương tiện, thiết

bị, giá cứng cáp tài liệu số liệu

Khó nhất vẫn là trả công lao động khoa học Đối với sản phẩm nghiêncứu của khoa học xã hội tính theo trang tác giả hay theo chất lượng.'bài viết?nếu theo chất lượng bài viết thì ai là người đánh giá chất lượng? nếu theotrang tác giả thì sẽ bất hợp lý vì nhiều trang nhưng chất lượng kém, không có

Trang 22

nội dung gì mới thì lại được nhiều tiền hơn ít trang nhưng có nhiều ý tứ mới

có giá trị Thế nhưng hiện nay vẫn phải dùng định mức tính là trang tác giả.Còn mỗi trang là bao nhiêu? Mức tính hiện nay trong thông tư số 49/TC-

KHCN đang bị các nhà khoa học phàn nàn là quá thấp nhưng cơ quan tổng

hợp nhà nước lại phải cân đối chung với các chế độ khác hiện hành

Đối với khoa học công nghệ, nếu một nhà khoa học miệt mài nghiên

cứu và kết quả là tạo ra được một công nghệ mới thì được trả công bao nhiêu?Hiện nay chỉ được tính trả thêm 10.000đ/1 ngày công ngoài lương

Đối với khoa học tự nhiên, sản phẩm là bài báo dăng trên các tạp chítrong nước và ngoài nước, trả công lao động cũng chỉ theo trang tác giả

Tất cả các mức chi như trên đều phải có chứng từ đầy đủ Điều đó cáccán bộ khoa học cũng thấy quá phiền phức, thủ tục rườm rà, mất nhiều thờigian cho khâu lập chứng từ thanh toán ý kiến chung của các nhà khoa học lànên ký hợp đồng khoán gọn từng nội dung công việc, chứng từ quyết toán làhợp đồng, sản phẩm và biên bản nghiệm thu hợp đồng

Tuy nhiên ý kiến đề xuất này chưa được chấp nhận Bộ Tài chính giảithích rằng nếu sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước cấp thì việc thanhquyết toán vẫn phải theo các qui định hiện hành

Công tác lập dự toán theo nhiệm vụ và theo đơn vị

- Đối với đơn vị: thực hiện luật ngân sách Nhà nước Bộ Tài chính đã có

thông tư hướng dẫn việc lập và chấp hành ngân sách nhà nước Trong đó dựtoán được lập theo mục lục ngân sách nhà nước Tất cả các nhiệm vụ chi củađơn vị đều dự toán theo các mục gửi cho cơ quan tài chính cấp trên để tổng

hợp gửi Bộ Tài chính

- Đối với từng loại nhiệm vụ lập theo các nội dung chi và từng nội dung

chi đó sẽ ứng với các mục chi

Thông thường các đề tài, dự án KHCN được lập theo các nội dung chisau đây :

Trang 23

 Thuê khoán chuyên môn hoặc thù lao: đây là chi cho công lao động kể cả

lao động chân tay và lao động chất xám Khi !ập dự toán khoản chi này,

chủ nhiệm đề tài/dự án phải căn cứ vào khối lượng công việc triển khaicủa đề tài/dự án đã được duyệt Tính toán khối lượng, đơn giá (nếu có)hoặc theo hợp đồng công việc

 Nguyên vật liệu, dụng cụ, phụ tùng, năng lượng:

Khoản này tính cho các loại nguyên vật liệu, dụng cụ, phụ tùng cụ thể,tên, số lượng, đơn giá và thành tiền

 Thiết bị, máy móc: ghi tên thiết bị, ký mã hiệu, nước sản xuất, số

lượng,đơn giá, thành tiền Đồng thời tính cả công vận chuyển, lắp đặt, vận

hành Nếu trường hợp không mua mà thuê thì ghi rõ thuê thiết bị gì đơngiá thuê, đơn vị tính thuê theo ngày, giờ hay theo ca máy

Đối với đơn vị sản xuất hạch toán kinh tế thì phải tính cả khấu 'hao thiết

bị

 Sửa chữa, xây dựng nhỏ: trong trường hợp phải sửa chữa nhà xưởng, điện

nước, cải tạo vườn ươm, nhà kính, chuồng trại phục vụ trực tiếp cho đề

tài/dự án phải lập dự toán cụ thể theo khối lượng, đơn giá hiện hành

 Chi khác:

- Công tác phí: chỉ ra được địa điểm dự kiến đến công tác, số ngày, lưutrú tiền vé tàu xe

- Quản lý phí của cơ sở: khoản chi này chỉl hạn chế trong mức 5-7 triệu

hàng năm cho một đề tài/dự án Chủ nhiệm đề tài dùng kinh phí này để chi

cho những người của cơ sở chủ trì giúp chủ nhiệm triển khai công việc, hoặc

đơn vị sử dụng vào công tác quản lý đề tài, không được trích cho đơn vị làmcông tác đời sống

- Chi kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu

Chi cho công tác kiểm tra nội đung, tiến độ, kinh phí theo định kỳ hoặc

đột xuất Chi nghiệm thu cấp cơ sở và nghiệm thu chính thức

Trang 24

- Chi cho công tác in ấn tài liệu, dịch tài liệu của nước ngoài Nếu dịchphải dự toán dịch tài liệu gì, số trang, mức trả cho 1 trang.

- Chi hội nghị, hội thảo khoa học của đề tài Đối với khoa học xã hộikhoản chi này chiếm khá nhiều kinh phí và thực sự rất cần thiết phải tổ chứchội thảo khoa học

- Chi hợp tác quốc tế: mời chuyên gia vào hay cử người đi, nước nào, sốngày, số người

Cơ sở để lập dự toán chi cho đề tài, dự án là Thông tư liên Bộ số 49 giữa

Bộ KHCN&MT- 'Bộ Tài chính ban hành ngày 1/7/1995, nay đang được sửa

đổi, bổ sung cho phù hợp

2 Về công tác duyệt đự toán

Đơn vị cơ sở duyệt dự toán cho các nhiệm vụ do các chủ nhiệm đề tài/

dự án lập

Cơ sở tổng hợp dự toán gửi cho cơ quan quản lý cấp trên duyệt và tổng

hợp vào dự toán chung gửi các cơ quan nhà nước

Bộchủquảnduyệtdựtoáncủac cn iệmvụvàc cđ nvịtrựcthuộcBộ

Đối với nhiệm vụ thuộc chương trình phải có Ban chỉ đạo chương trình

xem xét dự toán phù hợp với nội dung nhiệm vụ

Bộ KHCN&MT duyệt dự toán cho các nhiệm vụ cấp nhà nước: chươngtrình, đề tài độc lập cấp nhà nước, các dự án SXTN

Sở KHCN&MT duyệt dự toán của các nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh do sởquản lý

3 Công tác cấp phát

Hiện nay theo Luật ngân sách tất cả các nhiệm vụ sau khi được các cấp

Trang 25

Bộ Tài chính, Sở Tài chính - Vật giá cấp kinh phí về cho các bộ và các sởtheo kinh phí hạn mức.

Đối với các tỉnh/thành phố hiện nay đang có 2 phương thức cấp kinh phí

tuỳ theo tình hình cụ thể của từng địa phương:

- Sở Tài chính - Vật giá cấp toàn bộ kinh phí sự nghiệp khoa học cho sởKHCN&MT, sau đó Sở KHCN&MT cấp kinh phí cho các nhiệm vụ theo

phương thức ký hợp đồng

- Sở Tài chính - Vật giá cấp kinh phí cho các sở, ban, ngành trên cơ sởnhiệm vụ được giao và kinh phí được duyệt

Thông thường kinh phí cấp theo nhiều đợt, để được cấp kinh phí đợt sau

phải có báo cáo quyết toán hoặc báo cáo tình hình sử dụng kinh phí đợt trước.Tránh tình trạng tạm ứng thì nhanh nhưng quyết toán lại chậm hoặc không

báo cáo chi tiêu đã xin tạm ứng tiếp

Giai đoạn 2001-2005 bộ K.HCN&MT đang xây dựng cơ chế quản lý cácchương trình trọng điểm cấp nhà nước, trong đó kiến nghị việc cấp phát kinh

phí của chương trình nên cấp trực tiếp từ Bộ Tài chính tập trung về văn phòng

chương trình, từ đó cấp cho các đề tài theo cơ chế hợp đồng

4 Công tác quyết toán

Đơn vị chi tiêu chịu trách nhiệm quyết toán kinh phí được cấp theo đúng

thời hạn và biểu mẫu qui định hiện hành Quyết toán của đơn vị gửi cho cơquan tài chính cấp trên Cơ quan tài chính tổng hợp quyết toán gửi cho Bộ Tàichính

Về nguyên tắc dòng kinh phí cấp từ trên xuống như thế nào thì quyếttoán từ dưới lên theo đúng như vậy

Nếu đơn vị nhận kinh phí từ Sở KHCN&MT thì quyết toán với SởKHCN&MT để Sở KHCN&MT quyết toán với Sở Tài chính - Vật giá Nếu

Trang 26

đơn vị nhận kinh phí từ sở, ban, ngành chủ quản thì quyết toán với sở, ban,ngành để cơ quan chủ quản quyết toán với Sở Tài chính Vật giá.

Đối với ngành khoa học có những đặc thù nên quyết toán thường chậm

so với tiến độ chung Cần lưu ý rằng mỗi đề tài nghiên cứu khoa học thông

thường Kéo dài 2-3 năm, không thể khi nghiệm thu kết thúc đề tài mới quyết

toán kinh phí Trong từng giai đoạn khi đã chi tiêu, có chứng từ hợp lệ, có sảnphẩm trung gian phái quyết toán kinh phí Chủ nhiệm đề tài và cơ quan chủ trì

đề tài phải lưu ý vấn đề này

Trong thực tế các cấp quản lý thường phê duyệt đề tài rất chậm, cá biệt

có địa phương mãi đến quý 3 mới phê duyệt xong đề tài Vì vậy kinh phíđược cấp vào quý 4, cả 3 quý không có kinh phí triển khai, cuối năm mới cấp

kinh phí lại yêu cầu quyết toán ngay Nhiều đơn vị cơ sở và chủ nhiệm đề tàirất lúng túng về việc này Chi vội cho hết tiền thì lãng phí mà không chi hếtthì phải trả lại ngân sách hoặc cho tạm ứng hết thì không quyết toán đúng thờihạn

Để khắc phục tình trạng này, cơ quan quản lý KHCN các cấp, cơ quan

tài vụ các cấp và chủ nhiệm đề tài phải tuân thủ đúng các thủ tục và tiến độ

qui định của nhà nước, kết hợp chặt chẽ ở tất cả các khâu của quá trình lập dự

toán phê duyệt - cấp phát - chi tiêu và quyết toán Trong thời gian đầu thựchiện Luật ngân sách nhà nước, các cơ quan tài vụ phải hướng dẫn kỹ cho cácchủ nhiệm đề tài/dự án biết các thủ tục và đáp ứng theo yêu cầu của tài vụ

5 Kiểm tra

Kiểm tra tài chính là một khâu không thể thiếu được trong quá trình quản

lý Kiểm tra tài chính phải kết hợp với việc kiểm tra nội dung và tiến độ thựchiện Kiểm tra nhằm xem xét việc chi tiêu đúng mục đích, đúng chế độ, theo

dự toán được duyệt Kết hợp với kiểm tra nội đung để tránh tình trạng có

Trang 27

dung lại chưa hoàn thành Đồng thời qua kiểm tra cũng phát hiện những khó

khăn, vướng mắc trong quá trình cấp phát, chi tiêu tài chính để giúp cho chủ

nhiệm đề tài và các cơ sở giải quyết, đảm bảo tiến độ thực hiện của nhiệm vụ

được giao

Công tác kiểm tra tổ chức theo định kỳ và đột xuất Mỗi lần kiểm tra cần

có biên bản ghi nhận của các bên tham gia

Trang 28

Phần III QUY TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG

NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI

Quá trình tổ chức hoạt động của một nhiệm vụ NC&TK thường gồm 4

Tuỳ thuộc vào loại hình tổ chức của mỗi hoạt động NC&TK, các việc

trong 4 giai đoạn đó không hoàn toàn giống nhau, có những khâu việc có thểđược thực hiện đơn giản hơn Trong các loại hoạt động NC&TK, hoạt động

của các Chương trình, Đề tài, Dự án là phức tạp nhất, thực hiện các khâu việctrong 4 giai đoạn của quá trình tổ chức hoạt động có tính hệ thống nhất.Những diễn giải dưới đây chủ yếu dựa vào yêu cầu tổ chức quản lý đối với

các Đề tài, Dự án để dễ thấy tính hệ thống trong quá trình tổ chức hoạt động

NC&TK Các hoạt động NC&TK khác có thể theo đó vận dụng linh hoạtthích hợp với yêu cầu và hình thức hoạt động cụ thể

I XÂY DỰNG, LỰA CHỌN VÀ XÉT DUYỆT

NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU & TRIỂN KHAI

Yêu cầu của giai đoạn thứ nhất này là: hình thành được các nội dungnhiệm vụ NC&TK, xác định được người và nơi chủ trì thực hiện, tổ chức xét

Trang 29

duyệt đưa thành nhiệm vụ NC&TK chính thức ghi vào kế hoạch thực hiện của

các đơn vị liên quan

Có 4 khâu việc tiến hành trong giai đoạn này:

- Dự kiến nhiệm vụ NC&TK

- Lựa chọn và phê duyệt nhiệm vụ NC&TK

- Lựa chọn người và đơn vị chủ trì

- Phê duyệt đề cương chi tiết và bổ nhiệm người và đơn vị chủ trì

I.1 Dự kiến nhiệm vụ NC&TK

Việc dự kiến nhiệm vụ NC&TK là khâu mở đầu cho quá trình hoạt độngNC&TK Dự kiến rõ ràng, đúng và hợp lý sẽ quyết định chính xác về quy mô

và cách thức tổ chức các hoạt động NC&TK sau đó Hoạt động NC&TK cóphục vụ sát hợp với yêu cầu của thực tiễn hay không, có đáp ứng tốt các yêucầu của phát triển hay không, chính do khâu dự kiến nhiệm vụ NC&TK cótiến hành tốt và hợp lý không Những trường hợp lúng túng về tổ chức hoạt

động NC&TK, nội dung NC&TK nghèo, nàn, cũng do không biết cách xây

dựng dự kiến nhiệm vụ NC&TK

Nhiệm vụ NC&TK được dự kiến do tập hợp từ 4 nguồn:

- Do nêu yêu cầu từ cấp lãnh đạo

- Do cơ quan quản lý lổng hợp cân nhắc xác định

- Do đề xuất từ các cơ sở

- Do đặt hàng của các doanh nghiệp

- Tham khảo thế giới

Cơ quan quản lý KH&CN ở từng cấp tổng hợp tất cả các nhiệm vụ

NC&TK được dự kiến từ 4 nguồn đó trong phạm vi trách nhiệm của cấpmình, và xác định rõ thêm những dự kiến về 4 vấn đề sau đây:

Ngày đăng: 03/10/2016, 21:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. VŨ CAO ĐÀM : Nghiên cứu khoa học Phương pháp luận và Thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Khác
2. VŨ CAO ĐÀM: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2000 (xuất bản lần thứ sáu, có sửa chữa và bổ sung) Khác
4. LÊ TỬ THÀNH: Tìm hiểu Logic học, Nhà xuất bản trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1996 (In lần thứ sáu) Khác
5. PHẠM BÍCH LIÊN: Quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học – Công nghệ – Tài liệu Bồi dưỡng kiến thức Kinh tế – Kỹ thuật, Trường nghiệp vụ Quản lý, 2002 Khác
6. VŨ HUY CHƯƠNG: Tổ chức hoạt động nghiên cứu và triển khai– Tài liệuBồi dưỡng kiến thức Kinh tế – Kỹ thuật, Trường nghiệp vụ Quản lý, 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w