Trong bối cảnh Tân Sơn có nhiều ưu đãi về đất đai và tài nguyên rừng, Có vườn quốc gia Xuân Sơn với diện tích trên 15 ngàn ha được Tỉnh quy hoạch là khu du lịch sinh thái trong tua du lị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020” do
tôi tự nghiên cứu, tìm tài liệu tham khảo và hoàn thành dưới sự hướng dẫn
của TS Đặng Vũ Tùng
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tự nhận mọi hình thức
kỷ luật theo quy định
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Hồ Thị Phương Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và soạn thảo Luận văn với đề tài “Xây dựng
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020” , tôi đã nhận được sự quan tâm đầy trách nhiệm của các thầy
cô, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình và tận tâm của TS Đặng Vũ Tùng (Viện
Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành Luận văn này
Yêu cầu về kiến thức là vô hạn, mặc dù đã rất cố gắng song do khả năng còn hạn chế nên nội dung của Luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót và khiếm khuyết, rất mong nhận được sự thông cảm của các thầy cô và những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc để đề tài được hoàn thiện và mang tính ứng dụng thực tiễn cao, góp phần phát triển kinh tế xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, qua đó phần nào tạo ra nhiều công ăn việc làm, giúp cải thiện và nâng cao chất lượng sống cho đồng bào các dân tộc miền núi - trung du phía Bắc
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Hồ Thị Phương Thủy
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC HÌNH 8
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN13 1.1 Lý luận chung về chiến lược phát triển 13
1.1.1 Quan niệm chiến lược phát triển 13
1.1.2 Nội dung của chiến lược phát triển 14
1.1.3 Đặc tính phát triển cơ bản của chiến lược 16
1.1.4 Phân loại chiến lược phát triển 17
1.2 Một số quan điểm, lý thuyết cơ bản trong nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 19
1.2.1 Quan điểm các nước cùng phát triển 19
1.2.2 Cơ cấu kinh tế quyết định phát triển và giao thương quốc tế 20
1.2.3 Tự do hóa và liên kết là phương thức hữu hiệu để phát triển 21
1.2.4 Tư duy chiến lược 22
1.2.5 Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững 24
1.2.6 Vai trò của Nhà nước 25
1.3 Các cơ sở để xây dựng chiến lược của một vùng 24
1.3.1 Phương pháp dự báo 25
1.3.2 Phân tích PEST 26
1.3.3 Phương pháp chuyên gia 28
1.4 Công tác nghiên cứu và thực thi chiến lược phát triển ở Việt Nam thời gian qua 32
Trang 51.4.1 Tích cực 32
1.4.2 Hạn chế 33
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ CHIẾN LƯỢC ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020 35
2.1 Đặc điểm địa lý huyện Tân Sơn 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Tài nguyên 35
2.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện thời kỳ 2009 - 2012 42
2.2.1 Tình hình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế 42
2.2.2 Tình hình thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội 44
2.2.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 47
2.2.4 Thực trạng phát triển ngành Công nghiệp, TTCN và Xây dựng 55
2.2.5 Thực trạng phát triển các ngành dịch vụ 57
2.3 Thực trạng các vấn đề về xã hội 60
2.3.1 Thực trạng phát triển giáo dục và đào tạo 60
2.3.2 Thực trạng dân số KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe nhân dân 62
2.3.3 Thực trạng các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao 64
2.4 Thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện Tân Sơn 66
2.4.1 Thực trạng hệ thống giao thông 66
2.4.2 Thực trạng hệ thống điện 67
2.4.3 Thực trạng hệ thống cấp thoát nước 68
2.4.4 Thực trạng mạng lưới thông tin, bưu điện 69
2.4.5 Thực trạng hạ tầng xã hội 69
2.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Tân Sơn đến năm 2020 68
2.5.1 Môi trường tự nhiên 68
2.5.2 Yếu tố chính trị và pháp luật, định hướng phát triển KTXH của tỉnh 69
2.5.3 Nhận xét về thực trạng kinh tế xã hội của huyện 74
Trang 6CHƯƠNG III: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020 78
3.1 Tư tưởng xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo trên địa bàn huyện Tân Sơn đến năm 2020 78
3.2 Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo trên địa bàn huyện Tân Sơn đến năm 2020 78
3.3 Những giải pháp chiến lược 80
3.3.1 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội 80
3.3.2 Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội 81
3.3.3 Quy hoạch và phát triển các ngành kinh tế Nông, Lâm nghiệp 82
3.3.4 Quy hoạch và phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp và xây dựng 86
3.3.5 Quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ 90
3.3.6 Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật 94
3.3.7 triển thông tin và truyền thông 96
3.3.8 Phát triển mạng lưới điện 96
3.3.9 Phát triển các công trình thuỷ lợi, cấp và thoát nước 98
3.3.10 Nhiệm vụ và giải pháp quản lý môi trường 99
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
THCS, PTTH : Trung học cơ sở, phổ thông trung học
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình đất đai của Huyện giai đoạn 2007-2013 39
Bảng 2.2: Giá trị sản xuất, tăng trưởng GTSX trên địa bàn huyện giai đoan 2009-2012 42
Bảng 2.3: Cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện giai đoạn 2009-2012 43
Bảng 2.4 Thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện giai đoạn 2008-2012 45
Bảng 2.5: Giá trị tăng thêm của lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản 2009 - 2012 Giá cố định 2010 49
Bảng 2.6: Tình hình phát triển nghành trồng trọt giai đoạn 2008 - 2012 51
Bảng 2.7: Tình hình phát triển ngành chăn nuôi giai đoạn 2008 - 2012 52
Bảng 2.8: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp giai đoạn 2009 - 2012 Giá so sánh 2010 53
Bảng 2.9: Tình hình phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2009 - 2012 54
Bảng 2.10: Tình hình phát triển CN, TTCN giai đoạn 2009 - 2012 56
Bảng 2.11: Số cơ sở và lao động kinh doanh dịch vụ 2008 - 2012 58
Bảng 2.12: Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ 2008 - 2012 60
Bảng 2.13: Thực trạng cơ sở vật chất của các trường trong huyện 61
Bảng 2.14: Một số chỉ tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân 63
Bảng 2.15: Một số chỉ tiêu về hệ thống thuỷ lợi 68
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Phú Thọ đến
năm 2020 36
Hình 2.2: Tăng trưởng giá trị sản xuất huyện Tân Sơn 2009-2012 43
Hình 2.3: Cơ cấu GTSX trên địa bàn huyện năm 2009 và 2012 44
Hình 2.4: Cơ cấu nông, lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2009 và 2012 50
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tân Sơn là một huyện mới thuộc tỉnh Phú Thọ được thành lập theo Nghị định
số 61/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh 68.858 ha diện tích tự nhiên và 75.680 nhân khẩu (2007) của huyện Thanh Sơn Là một huyện có địa hình đồi núi nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam và Tây Nam của tỉnh Phú Thọ trên vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Yên Bái, Hoà Bình, Sơn La Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Thanh Sơn, phía Nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình, phía Tây Bắc giáp huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái và phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La Trung tâm huyện lỵ Tân Sơn nằm tại xã Tân Phú có trục đường quốc lộ 32A chạy qua, cách thành phố Việt Trì 75km, cách thủ đô Hà Nội 117km Với vị trí nằm trên vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Yên Bái, Hoà Bình, và Sơn La và nhiều lợi thế do thiên nhiên ban tặng, Tân Sơn được xác định là điểm sáng kinh tế vùng Tây Nam tỉnh Phú Thọ trong tương lai
Là huyện mới thành lập, vì vậy trước mắt huyện gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động quản lý và xây dựng cơ sở vật chất cho huyện mới, nhất là khu vực trung tâm huyện Tuy nhiên, trung tâm huyện lỵ huyện Tân Sơn sau khi xây dựng xong sẽ trở thành đô thị nằm trong chuỗi đô thị cửa ngõ vùng Tây Bắc Tổ quốc, là đầu mối giao thông quan trọng nối các huyện miền núi phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng, cũng như vai trò quan trọng về
an ninh quốc phòng
Trong bối cảnh Tân Sơn có nhiều ưu đãi về đất đai và tài nguyên rừng, Có vườn quốc gia Xuân Sơn với diện tích trên 15 ngàn ha được Tỉnh quy hoạch là khu
du lịch sinh thái trong tua du lịch sinh thái, tâm linh Đền Hùng -Xuân Sơn
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020, trong đó ưu tiên phát triển kinh tế theo vùng và thế mạnh của từng địa phương, theo đó vùng hữu ngạn sông Hồng gồm 6 huyện trong
đó có Tân Sơn xẽ tập trung khai thác tiềm năng thế mạnh về đất và rừng để phát
Trang 11triển vùng nguyên liệu giấy, cây lấy gỗ, phát triển đàn đại gia súc, gia cầm theo hướng trang trại Thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp chế biến gỗ, chè xuất khẩu, phát triển dịch vụ và du lịch sinh thái kết nối các điểm du lịch của tỉnh và đường xuyên Á, đường Hồ Chí Minh
Đối với Tân Sơn sau hơn 5 năm thành lập, có những khởi sắc ban đầu
và trong thời gian tới một số yếu tố mới xuất hiện có tác động tích cực đến kinh tế -
xã hội của huyện cần được tính tới như:
- Sự biến động do chia tách huyện, thành lập huyện mới Tân Sơn đòi hỏi phải thường xuyên nâng cao chất lượng bộ máy quản lý để duy trì hoạt động Đồng thời phải xây dựng các quy hoạch để định hướng cho sự phát triển kinh tế xã hội, tạo bước phát triển ngay từ ban đầu, trách những tổn thất do phát triển không đúng hướng, nhất là đối với việc xây dựng các cơ sở hạ tầng và phát triển các ngành, các
cơ sở kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
- Việc chia tách và thành lập huyện mới Tân Sơn đã tạo những cơ hội và điều kiện mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho vùng lãnh thổ thuộc địa bàn huyện so với trước đây Tuy nhiên trên thực tế, Tân sơn thuộc vùng lãnh thổ kém phát triển của huyện Thanh Sơn trước đây
Hiện tại, Tân Sơn có 17 xã vùng núi, tất cả đều là xã đặc biệt khó khăn, vùng
an toàn khu; gần 83% là dân tộc thiểu số như Mường, Dao, H’mông Tốc độ tăng trưởng bình quân năm 2012 mới đạt 15,05%; thu nhập bình quân đầu người mới đạt 8,3 triệu đồng/năm theo giá cố định và 13,14 triệu đồng theo giá hiện hành Tân Sơn được xếp vào một trong 62 huyện nghèo nhất nước được thụ hưởng các chính sách theo nghị quyết 30A của chính phủ Tuy nhiên, Tân Sơn cũng có rất nhiều tiềm năng, nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trong tương lai Vì vậy, Tân Sơn cần có những định hướng phát triển và bước đi thích hợp để tránh nguy cơ tụt hậu Những định hướng và bước đi đó cần được xây dựng một cách đồng bộ, có cơ sở khoa học và tính toán cho cả chặng đường dài từ 5 cho đến 10 năm
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ đã xây dựng và được phê duyệt, theo đó là hàng loạt các Quy hoạch ngành và lĩnh vực đã được triển
Trang 12khai và thông qua Hội đồng nhân dân Tỉnh Tất cả những công trình đó cần phải được triển khai đến các huyện, thị và cơ sở, trong đó có huyện mới Tân Sơn
Để Tân Sơn có thể khai thác những tiềm năng và lợi thế trong điều kiện mới, hoà nhập vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội chung của Tỉnh, phù hợp với điều
kiện cụ thể của mình, việc triển khai “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020" là vô cùng cần
thiết và cấp bách
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu và hệ thống hóa những lý luận cơ bản về chiến lược làm cơ sở xây
dựng dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh
Phú Thọ đến năm 2020
Nghiên cứu đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội huyện Tân Sơn từ đó phân tích, xây dựng và lựa chọn phương các phương án chiến lược phù hợp cho phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn
Xây dựng chiến lược với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, phấn đấu đến năm 2020 Tân sơn thoát khỏi huyện nghèo
Phát triển Tân Sơn là điểm đến của du lịch sinh thái cộng đồng, du lịch tâm linh – sinh thái Đền Hùng- Vườn Quốc gia Xuân Sơn
Phát triển kinh tế nông nghiệp với các ngành Trồng rừng nguyên liệu giấy và lấy gỗ, chăn nuôi đại gia súc, Trồng chè chất lượng cao, chè nguyên liệu xuất khẩu cho I Rắc
Phát triển kinh tế phục vụ du lịch với những sản phẩm bản địa, thực phẩm sạch Đang là thế mạnh của huyện
Ổn định chính trị và củng cố quốc phòng an ninh
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Điều tra, khảo sát tình hình thực tế và thu thập số liệu về kinh tế xã hội từ các
xã, thị trấn địa bàn huyện Tân Sơn trong vòng 3 năm qua Dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn đến 2020 cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
- Áp dụng phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp: Luận văn đã thu thập các nguồn tài liệu từ văn kiện, giáo trình, tạp trí, báo cáo của huyện, Tỉnh, Trung ương, quốc tế để làm tài liệu nghiên cứu số liệu
-Phương pháp phân tích PES
-Phương pháp phân tích mô hình SWOT
- phương pháp nội suy
- phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
- Phương pháp so sánh giữa số liệu quan các năm, so sánh với số liệu của tỉnh
- Phương pháp dự báo
5 Bố cục đề tài
Đề tài “ Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020” được chia làm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận chung về chiến lược phát triển
Chương II: Phân tích các nhân tố chiến lược ảnh hưởng tới sự triển kinh tế - xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
Chương III: Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giảm nghèo tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
Trong quá trình nghiên cứu và biên soạn, luận văn đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của Thầy TS Đặng Vũ Tùng và sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, các
Sở, Ban, Ngành, UBND huyện Tân Sơn, UBND các xã và các đơn vị SXKD trên địa bàn huyện
Do thời gian hạn chế, nên luận văn không tránh được những thiếu sót nhất định Rất mong được sự đóng góp của các Ban, Ngành, đơn vị liên quan để luận văn này được hoàn chỉnh, triển khai và mang tính thực tiễn cao
Trang 14CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
Chương 1 sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa địa phương; một số quan điểm và lý thuyết vào nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; kinh nghiệm chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở một số nước và công tác nghiên cứu, thực thi chiến lược phát triển ở Việt Nam thời gian qua làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu của đề tài
1.1 Lý luận chung về chiến lược phát triển
1.1.1 Quan niệm chiến lược phát triển
Chiến lược phát triển là tinh thần cơ bản của đường lối phát triển do con người định ra, nó thể hiện chủ đề tư tưởng và gắn liền với chủ đề tư tưởng ấy là phạm vi bao quát và nội dung chủ yếu của chiến lược được thể hiện thông qua mục tiêu, hệ thống các quan điểm, biện pháp cơ bản có tính chiến lược về phát triển ở tầm cao, tầm tổng thể, tầm dài hạn đối với sự phát triển của một đối tượng (hay của một hệ thống) mà các nhà lãnh đạo đề ra; nó chỉ đạo hành động thống nhất của một cộng đồng hay một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nhằm đạt tới mục tiêu cao nhất, lớn nhất, tổng quát nhất đã xác định
Theo Ngô Doãn Vịnh (2007), ở phương Tây, người ta thường sử dụng thuật ngữ “chiến lược quốc gia” Chiến lược quốc gia là chiến lược ở tầm vĩ mô, là chiến lược ở tầng cao nhất về bảo vệ, xây dựng, phát triển của quốc gia trong một thời kỳ nhất định Nó chẳng những gồm, gộp chiến lược về chính trị, chiến lược về kinh tế, chiến lược về quân sự thành một khối, mà còn có sự chỉ đạo hành động trên thực tế đối với chiến lược của các lĩnh vực, các vấn đề phát triển của đất nước; Các học giả Trung Quốc cho rằng chiến lược là những mưu tính và quyết sách đối với những vấn đề trọng đại có tính chất toàn cục và lâu dài, còn lý luận và phương pháp quyết sách những vấn đề trọng đại mang tính toàn cục và lâu dài là nhiệm vụ của chiến lược học; Các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) đề ra chiến lược phát triển đế năm 2020; được coi như là tuyên bố của họ với dân chúng của EU và thế giới về
Trang 15chủ trương phát triển của EU; Người Mỹ và người Đức sử dụng khái niệm “kế hoạch chiến lược” Những kế hoạch có tầm chiến lược về đối nội, đối ngoại được xây dựng và thông qua đã trở thành công cụ lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc phát triển đất nước; Các nhà khoa học của Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch - đầu tư nước Việt Nam cho rằng, những mưu tính có tính toàn cục, lâu dài, cơ bản được xem là chiến lược
Như vậy, có thể hiểu chiến lược phát triển là thể hiện tinh thần cơ bản của đường lối phát triển của một quốc gia; nó chính là ý tưởng mang tính hệ thống về các quan điểm chỉ đạo phát triển đối với một đối tượng cụ thể hay đối với một hệ thống nào đó và phương cách biến những ý tưởng, quan điểm, mục tiêu ấy thành hiện thực Chiến lược phát triển là sản phẩm do con người tạo ra, phản ánh các vấn
đề mang tính quy luật được dự báo và được “chủ quan hóa” một cách khoa học để chỉ đạo quá trình phát triển của đời sống xã hội
1.1.2 Nội dung của chiến lược phát triển
Có ba vấn đề cần đặc biệt quan tâm khi bàn đến chiến lược phát triển
- Thứ nhất, đường lối cơ bản phát triển đất nước phải được phản ánh ở chủ đề
tư tưởng chiến lược và hệ thống các quan điểm chỉ đạo chiến lược, mà chúng được thông qua các mục tiêu, phạm vi bao quát của chiến lược và những nhiệm vụ
cơ bản phải thực hiện để đạt mục tiêu đó Mục tiêu chiến lược cần phải được xác định đúng và các nhiệm vụ cơ bản hay phương thức thực thi phải được xác định chính xác Một khi đã xác định sai mục tiêu sẽ dẫn đến xác định sai nhiệm vụ, tập trung sai nguồn lực, làm sai hướng phát triển và nó là một quyết định mang tính chiến lược sai
- Thứ hai, phải đảm bảo đầy đủ, kịp thời các phương tiện vật chất và tinh thần
để biến các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược thành hiện thực Mỗi nhiệm vụ cần được hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định, bằng phương cách nhất định
và bằng một lực lượng vật chất nhất định nhưng chúng không tách rời các nhiệm vụ khác Hệ thống các nhiệm vụ cần được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên, tuy nhiên có thể điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh
Trang 16- Thứ ba, việc điều hành và tổ chức thực hiện chiến lược có ý nghĩa cực kỳ to lớn, nó có tính quyết định tới việc biến các ý tưởng, quan điểm và mục tiêu chiến lược trở thành hiện thực Trong quá trình tổ chức thực hiện chiến lược sẽ bị ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, mà những yếu tố này về nguyên tắc chúng luôn vận động và tương tác lẫn nhau nên đòi hỏi sự linh hoạt, nhạy bén, kiên quyết, dứt điểm của người chỉ đạo và tổ chức thực thi chiến lược đồng thời, việc kiểm tra, rà soát
để kịp thời điều chỉnh chiến lược là việc làm cần thiết nhằm làm cho sự phát triển của đất nước trở nên đúng đắn, liên tục và thiết thực
Như vậy, chiến lược phát triển là chiến lược về sự phát triển của một hệ thống, chiến lược dẫn dắt hệ thống đó phát triển đúng hướng và có kết quả theo mong muốn Muốn hệ thống vận động theo hướng có lợi thì phải điều khiển nó theo quy luật vận động của nó Việc nắm bắt quy luật vận động và cụ thể hóa các quy luật thành chiến lược phát triển cho hệ thống là vấn đề quan trọng và có tính bắt buộc đối với sự phát triển của hệ thống
Chiến lược phát triển đất nước không phải là kế hoạch phát triển dài hạn hoặc trung hạn, càng không thể là kế hoạch phát triển ngắn hạn Do đó tính cụ thể, tính lượng hóa của nó không nhiều, vừa đủ đảm bảo cơ sở khoa học của các chủ trương và đường lối phát triển dài hạn và mang tầm chiến lược của đất nước Trước hết mục tiêu chiến lược phải cụ thể, các vấn đề trọng yếu mà chiến lược đề cập (hay những nhiệm vụ chiến lược phải làm), các bước thực hiện và tổ chức thực hiện phải được thể hiện một cách cụ thể Ý tưởng chiến lược, mục tiêu chiến lược phát triển đất nước phải được thể hiện trong văn kiện lớn của đảng cầm quyền hay của nhà nước; có như thế mới tạo ra sự thống nhất và quyết tâm trong hành động của cả dân tộc Tính lượng hóa được thể hiện để làm rõ mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển; cần tính toán các chỉ tiêu cụ thể về kinh tế, xã hội trọng yếu Chẳng hạn như các chỉ tiêu về quy mô dân số, tổng sản phẩm quốc nội, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân và một
số chỉ tiêu khác phải được tính toán và thể hiện bằng con số với biên độ nhất định Hệ thống các chỉ tiêu cụ thể có thể đính kèm như phụ lục minh họa
Một chiến lược phát triển cần phải có:
Trang 17- Tên gọi của chiến lược: đây là vấn đề rất quan trọng và luôn luôn khó Tên của chiến lược phải dễ hiểu, chính xác, rõ ràng, thu hút sự chú ý và phải chứa đựng
tư tưởng lớn
- Ý tưởng và mục tiêu chiến lược: bất kỳ quốc gia nào, phát triển không phải chỉ là đạo lý mà còn phải là chân lý Xác định mục tiêu đúng sẽ có ý nghĩa quan trọng để hành động chuẩn xác, có hiệu quả Mục tiêu chiến lược thể hiện ý tưởng chiến lược phát triển Ý tưởng chiến lược phải được thiết kế tương đối cụ thể, nó mang nội hàm của nhiều luận điểm chiến lược có căn cứ khoa học
- Nhiệm vụ cơ bản hay trọng tâm của chiến lược (cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ cấp thấp) và lựa chọn phương cách để thực thi các mục tiêu chiến lược đây chính là tập hợp các chiến lược con hay tiểu chiến lược hoặc các nhiệm
vụ cơ bản cùng phương cách được lựa chọn để thực hiện được mục tiêu tổng quát Chẳng hạn, đối với chiến lược phát triển quốc gia sẽ có các chiến lược thành phần về: phát triển ngành, lĩnh vực, phát triển lãnh thổ, phát triển nhân lực và khoa học - công nghệ, thu hút đầu tư, xây dựng nhà nước gắn với cải cách hệ thống chính trị và phòng chống tham nhũng
- Đề xuất phương án tổ chức thực hiện chiến lược sau khi chiến lược được cấp
có thẩm quyền công bố Chỉ đạo thực hiện chiến lược có vai trò lớn đối với việc biến chiến lược thành hiện thực Vấn đề đặc biệt quan trọng là xây dựng cho được chương trình hành động rõ ràng, chính xác và tổ chức thực hiện chương trình này có kết quả, có hiệu quả
1.1.3 Đặc tính phát triển cơ bản của chiến lược
Chiến lược phát triển đất nước có các đặc tính cơ bản sau:
- Tính đảng và tính dân tộc: phải thể hiện được quan điểm chủ đạo của đảng cầm quyền, đáp ứng được lý tưởng, hy vọng cao đẹp của nhân dân và thể hiện đậm nét tính dân tộc
- Tính hệ thống: chiến lược phát triển đất nước cần có tính hệ thống và đã mang tính hệ thống thì nó phải mang tính ổn định tương đối Trên nguyên tắc hệ thống, chiến lược phát triển đề cập đến những vấn đề toàn cục, những vấn đề có ý nghĩa điểm huyệt, có sức gây công phá lớn đối với sự phát triển của toàn bộ hệ
Trang 18thống Tính hệ thống cần thể hiện yêu cầu tiên tiến của các phân hệ cấu thành cũng như của cả hệ thống
- Tính bao quát: thể hiện bao quát tất cả những vấn đề cơ bản của đất nước;
nó đề cập những vấn đề lớn, tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, môi trường
và an ninh quốc phòng của quốc gia có tính tới bối cảnh quốc tế; vừa bao quát những vấn đề dài hạn vừa đề cập thỏa đáng những vấn đề ngắn hạn có tính quyết định
Biểu hiện ở tính hiện đại, tính liên kết, không chỉ và không quá bó hẹp bởi ranh giới hành chính Những thành tựu của nhân loại phải được phát huy, những thất bại của thế giới phải được rút kinh nghiệm và tránh
1.1.4 Phân loại chiến lược phát triển
Tùy theo tính chất và cấp độ của chiến lược phát triển mà chúng ta có thể chia chiến lược phát triển thành các loại chiến lược:
- Theo cấp độ: có đại chiến lược và chiến lược bộ phận
- Theo tính chất và lĩnh vực: có chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược phát triển xã hội, chiến lược bảo vệ môi trường, chiến lược an ninh, chiến lược quốc phòng, chiến lược đối ngoại, chiến lược đối nội và các chiến lược khác Đối với chiến lược phát triển kinh tế là hệ thống quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu về phát triển kinh tế của đất nước trong một thời kỳ nhất định Trong hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế người ta thường đặc biệt chú ý tới các vấn đề quan trọng như: tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế gắn với cơ cấu kinh tế và cách thức cùng phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu kinh tế đề ra Chiến lược phát triển kinh tế phải
đề cập đến vấn đề mở cửa của nền kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng, nhân lực chất lượng cao, tổ chức nền kinh tế, việc làm và sử dụng tài nguyên Trong đó, người ta rất chú ý tới lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa đột phá, có vai trò mũi nhọn, tạo ra những cực tăng trưởng
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bao gồm hai bộ phận lớn là phát triển kinh tế và phát triển xã hội và phải đề cập đến an ninh quốc phòng của đất nước
Trang 19Phát triển kinh tế và phát triển xã hội là yêu cầu hai mặt của sự phát triển của một quốc gia Sự phát triển chỉ coi trọng kinh tế hoặc chỉ coi trọng xã hội là sự phát triển lệch lạc Mục tiêu của chiến lược đan quyện tính kinh tế và tính xã hội, đó là một tập hợp mục tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh, quốc phòng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phải phản ánh được ý tưởng tổng quát chỉ đạo đường lối phát triển, hệ thống các quan điểm, nhiệm vụ và con đường phát triển đất nước cho thời kỳ nhất định (có thể là 10 năm, 15 năm, 20 năm và xa hơn nữa) Phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và xây dựng xã hội tiến bộ là những nhân lõi của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là nghệ thuật dựa trên nền tảng tri thức cao và thu được nhiều lợi ích trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập cùng phát triển Khi xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội phải trên cơ sở nắm rõ, nắm đúng tình hình và dự báo chính xác triển vọng của đất nước; phải xác định được mức độ phát triển kinh tế của một nước (trình độ kinh tế, thực lực kinh tế và xu thế biến động kinh tế) để từ đó đặt ra mục tiêu chiến lược phù hợp và khả thi
Chiến lược an ninh, quốc phòng: có ý kiến cho rằng chiến lược an ninh quốc gia là chiến lược bao trùm; lại có ý kiến cho rằng chiến lược an ninh quốc gia chỉ là một chiến lược bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa thì việc đảm bảo an ninh toàn diện, đảm bảo vững chắc yêu cầu phòng thủ và tiến công trước các lực lượng chống đối từ bên ngoài nhằm giữ vững độc lập, thịnh vượng quốc gia là những nội dung rất cơ bản của chiến lược an ninh quốc phòng
Chiến lược đối ngoại: đây là loại chiến lược đặc biệt đòi hỏi tính mềm dẻo, linh hoạt và nhạy bén Chiến lược này bao quát các vấn đề không chỉ đối ngoại về chính trị, kinh tế mà còn cả các lĩnh vực hợp tác quốc tế về quân sự, cảnh sát, bảo
vệ môi trường; việc tham gia các liên minh, các tổ chức quốc tế và lựa chọn các đối tác chiến lược đều phải đựơc đề cập ở chiến lược đối ngoại
Chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực và lãnh thổ: là bộ phận của chiến lược phát triển đất nước Nó chi tiết và cụ thể hơn nội dung về ngành, lĩnh vực và lãnh
Trang 20thổ đã được đề cập trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chẳng hạn chúng ta có: chiến lược phát triển năng lượng, chiến lược phát triển điện tử tin học, chiến lược phát triển tài chính ngân hàng, chiến lược phát triển giống nòi và nhân lực, chiến lược phát triển các vùng kinh tế động lực, chiến lược phát triển các hành lang kinh tế và các chiến lược khác
1.2 Một số quan điểm, lý thuyết cơ bản trong nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Theo các nhà nghiên cứu khoa học của Viện Chiến lược phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì các lý thuyết trong nghiên cứu chiến lược phát triển là một mảng đang còn trống ở Việt Nam Vì vậy, Ngô Doãn Vịnh (2007), họ đề xuất một
số quan điểm và lý thuyết quan trọng cần và có thể nghiên cứu ứng dụng đối với hoạch định chiến lược phát triển ở Việt Nam
1.2.1 Quan điểm các nước cùng phát triển
Theo các nhà nghiên cứu khoa học của Viện Chiến lược phát triển, đây là phương cách phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế phát triển mạnh
mẽ và sâu rộng Từ bỏ các quan điểm phát triển khép kín, lảng tránh trách nhiệm đối với công việc của thế giới và chấp nhận quan điểm cùng thế giới phát triển vì hưng thịnh quốc gia, hòa bình, coi trọng hợp tác, hữu nghị và mở rộng vị thế trên trường quốc tế Cùng thế giới phát triển phải trở thành tư tưởng xuyên suốt trong cả đối nội và đối ngoại Trong bối cảnh mà công việc của thế giới được giải quyết cần
có sự tham gia tích cực của các quốc gia, đòi hỏi các nước phải hợp tác và chia sẻ trách nhiệm; chính vì thế các nước phải cùng phát triển và cùng hưởng lợi Do đó, không chỉ vì lợi ích của một quốc gia mà quên lợi ích của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia có liên quan trực tiếp
Xét trong phạm vi một quốc gia, sự phát triển cũng phải có sự “cùng” mới đem lại kết quả và hiệu quả cao Chẳng hạn, một khi thành thị cùng nông thôn phát triển thì hai khu vực này hỗ trợ nhau cùng phát triển rất tốt; một mặt giảm thiểu và kiểm soát được các dòng di chuyển lao động từ nông thôn vào thành thị,
Trang 21mặt khác lan tỏa nhanh văn minh đô thị tới các vùng nông thôn và nhờ đó làm cho bộ mặt nông thôn tiến bộ nhanh hơn
1.2.2 Cơ cấu kinh tế quyết định phát triển và giao thương quốc tế
Khi nói về một hệ thống còn có gì quan trọng hơn là nói về cơ cấu của nó Sự phát triển của hệ thống và cơ cấu của hệ thống có quan hệ chặt chẽ với nhau Như vậy, cơ cấu của nền kinh tế (thường được gọi tắt là cơ cấu kinh tế) luôn là vấn đề được các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm không chỉ bởi nó cực kỳ quan trọng mà còn là vấn đề luôn luôn thay đổi qua các thời kỳ phát triển của mọi nền kinh tế Hệ thống kinh tế này khác với hệ thống kinh tế kia bởi cơ cấu của nó
Cơ cấu kinh tế biểu thị nội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các phần tử cấu thành nên hệ thống kinh tế Khi nói về cơ cấu kinh tế phải nói cả về mặt số lượng và mặt chất lượng; đồng thời cần khẳng định những điểm cơ bản dưới đây:
- Khi thay đổi kiểu cách kết cấu hay thay đổi cấu trúc thì hệ thống sẽ thay đổi cả
về dạng, tính chất và trình độ Các phần tử trong hệ thống cùng tồn tại và phát triển Nếu chúng phát triển cùng chiều thì tạo nên sức mạnh cho hệ thống, nhưng nếu chúng phát triển trái chiều sẽ cản trở lẫn nhau, làm cản trở cho sự phát triển chung của hệ thống
- Trong hệ thống tồn tại tập hợp các phần tử theo một trật tự và quan hệ tỷ lệ nhất định Mỗi phần tử có vị trí trong trật tự cơ cấu Những phần tử quyết định đến tính chất, trình độ của hệ thống được gọi là phần tử cơ cấu Những phần tử ít có ý nghĩa đối với hệ thống thì gọi là phần tử phi cơ cấu
- Cơ cấu chuyển động không ngừng, biến đổi không ngừng; nó có thể phát triển một cách tuần tự hoặc có bước nhảy vọt Sự thay đổi về cơ cấu sẽ làm cho tính chất, trình độ của hệ thống thay đổi theo Như mọi hiện tượng, sự vật khi cơ cấu của
nó thay đổi thì không chỉ có bản chất của hệ hống thay đổi mà các quan hệ của nó với các hệ thống khác cũng thay đổi theo đây là điều cần coi trọng trong quá trình kết cấu lại nền kinh tế ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào
Trang 22Như vậy, việc xác định được cơ cấu kinh tế đúng đắn đã là rất quan trọng nhưng tổ chức xây dựng được cơ cấu kinh tế đã được xác định là đúng đắn ấy còn quan trọng hơn Cần phải vận dụng sáng tạo lý thuyết hệ thống và lý thuyết điều khiển tác động vào những phần tử cơ cấu quyết định đến hệ thống và tìm cách tối đa hóa đầu ra cũng như giảm tới mức có thể đầu vào; tối ưu hóa cơ cấu của hệ thống
và nhờ đó làm cho hệ thống vận động đúng chiều đã được xác định bằng hệ thống các cơ chế, chính sách đúng đắn và có sự điều khiển hợp lý của Nhà nước
1.2.3 Tự do hóa và liên kết là phương thức hữu hiệu để phát triển
Tự do để giải phóng các tiềm năng của con người phục vụ cho công cuộc phát triển, nghĩa là tự do để sáng tạo và vì phát triển Liên kết để đảm bảo tự do hóa tối
đa, hữu ích và để tăng thêm sức mạnh; tự do hóa nhằm thúc đẩy liên kết bền vững
Tự do hóa kinh tế là xu thế tất yếu Tuy nhiên, tự do hóa không làm mất đi tính độc lập cần thiết của mỗi quốc gia Việc bảo vệ chính đáng của mỗi quốc gia sẽ còn tồn tại nhưng nó sẽ chỉ tồn tại trong bối cảnh hợp tác cùng có lợi
Liên kết là xu thế đang không ngừng phát triển và có tác dụng thực sự đối với
sự phát triển của mỗi quốc gia Trong khi mà quan điểm chuỗi giá trị toàn cầu đã và đang trở thành xu hướng chi phối thái độ ứng xử của các quốc gia thì vấn đề liên kết
để có mặt trong chuỗi giá trị toàn cầu ấy là mấu chốt của chiến lược phát triển đất nước Vấn đề đối tác chiến lược càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết để các quốc gia lựa chọn “bạn chơi” nhằm phục vụ cho mục đích phát triển của mình Trong khi nghiên cứu chiến lược phát triển quốc gia, đối tác chiến lược cho phép mỗi quốc gia vượt qua những trở ngại trước mắt để mưu tính những thứ lớn, lâu dài
và hướng tới tương lai phát đạt của sự phát triển đối tác chiến lược được xem như giải pháp có tính nguyên tắc Các nước lớn và quốc gia láng giềng luôn luôn được cân nhắc trong việc tìm đối tác chiến lược của bất kỳ quốc gia nào
Vấn đề nương tựa và phụ thuộc trong quá trình phát triển cần có sự phân biệt rõ và lợi dụng một cách có hiệu quả Vấn đề nương tựa lẫn nhau giữa các quốc gia để cùng phát triển đang tồn tại trên thực tế và nó trở thành dấu hiệu rất đáng quan tâm
Trang 23Nếu chỉ vì e ngại sự lệ thuộc mà coi nhẹ nương tựa giữa các quốc gia thì đã để mất đi sự cần có của các yếu tố bên ngoài mà vốn các yếu tố này có tác động lớn đến sự phát triển của mỗi quốc gia Sự phụ thuộc thường làm mọi người e sợ mỗi khi bàn về phát triển quốc gia nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau hay nương tựa lẫn nhau trong quá trình phát triển lại là điều quan trọng cần chấp nhận và có kế sách phù hợp để hạn chế những bất lợi bớt những bất lợi trong quá trình này Trong quá trình phát triển của một đất nước còn yếu kém phải coi trọng yêu cầu tự chủ, phát huy sức mạnh nội sinh để gia tăng sự phát triển; trên cơ sở lợi thế so sánh của mình mà tính toán phương án tham gia mạnh mẽ vào chuỗi các giá trị toàn cầu trên
cơ sở mở rộng hợp tác quốc tế
1.2.4 Tư duy chiến lược
Tư duy chiến lược được xem như là cách nghĩ, cách suy đoán của nhà chiến lược để xây dựng nên một chiến lược phát triển khoa học Tư duy chiến lược là nền tảng thành công của các nhà hoạch định chiến lược phát triển Nó là bước kế tiếp nhau của quá trình suy đoán và hình thành nên ý tưởng, hệ thống quan điểm chỉ đạo
và tiến tới lựa chọn phương cách cũng như lực lượng sẽ được huy động để thực hiện chiến lược Về bản chất, tư duy chiến lược là tư duy có tính đột phá trên cơ sở những giả định và suy đoán
Tư duy chiến lược về cơ bản có các bước sau: bước 1, phân tích điểm xuất phát của hiện tượng; bước 2, xây dựng các giả định và kiểm tra các giả định cho chiến lược; bước 3, kiến tạo tầm nhìn chiến lược; bước 4, xác định mục tiêu chiến lược; bước 5, xác định các yếu tố then chốt để thực hiện mục tiêu chiến lược; và cuối cùng, định hướng các hoạt động chính của chiến lược (phụ lục 2)
Khi bàn về tư duy chiến lược phát triển, có một vấn đề rất quan trọng, chi phối khá lớn đối với tư duy của nhà chiến lược, đó là tam giác Tự do - Văn hóa - đổi mới Cả ba yếu tố này có chung một tụ điểm và sức sống là “con người” Tự do hay Văn hóa hay đổi mới không thể không gắn với con người Con người phải là yếu tố xuyên suốt mọi quá trình phát triển và vừa là mục tiêu vừa là phương tiện của tư duy chiến lược
Trang 24Tự do của con người chính là cái gốc của sự phát triển Tự do chính là động lực phát triển của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng, của cả quốc gia Tự do
và sáng tạo luôn đi liền với nhau Tự do và sáng tạo theo đúng nghĩa sẽ đem đến
sự thăng hoa cho sự phát triển
Văn hoá chính là kết quả của các hoạt động của con người trong quá khứ; chúng tồn tại và được xã hội xem như kết tinh quý báu của con người thì chúng cần được tôn vinh và phát huy thỏa đáng; nếu chúng không được coi trọng một cách khách quan tức là chúng ít có giá trị hoặc không có giá trị thì chúng phải được xem xét để có định hướng cải tiến Một dân tộc không coi trọng giá trị văn hóa của mình, không hiểu biết quá khứ của mình thì không thể phát triển được đổi mới là yêu cầu khách quan, là hành động có ý thức của con người, nó giúp con người phát hiện ra những giới hạn của mình cũng như của xã hội và tạo ra năng lực mới cho chính bản thân con người cũng như cho cả xã hội đổi mới để phát triển, phát triển là kết quả và là thuộc tính của tiến hóa Trong Lý thuyết tiến hóa về phát triển kinh tế (còn gọi là Lý thuyết tân Shumpeter về phát triển kinh tế) đưa ra hai loại đổi mới: đổi mới cơ bản và đổi mới tiệm tiến đổi mới cơ bản là nhân tố tạo
ra thời kỳ mới, xóa bỏ thời kỳ cũ Chính đổi mới cơ bản đã mang đến các công nghệ mới, giúp tăng năng suất, định hình những đặc điểm cơ bản của từng mô hình kinh
tế - xã hội đổi mới tiệm tiến giúp phát tán đổi mới cơ bản thông qua bắt chước và thích nghi, có thể dẫn đến yêu cầu phải thay đổi thể chế Không có những đổi mới
cơ bản thì không thể có những đổi mới tiệm tiến đổi mới cơ bản hoàn toàn là do các doanh nhân, các cá nhân hoặc nhóm người có khả năng đặc biệt để đổi mới và sáng tạo Sự tích lũy nguồn nhân lực, trình độ học vấn, hệ thống Nghiên cứu và Phát triển (R&D) là những nhân tố quyết định tiến bộ kỹ thuật trong một xã hội Vậy nên để những đổi mới cơ bản xuất hiện trong một nền kinh tế thì những điều kiện đó là cần nhưng chưa đủ điều kiện đủ để đổi mới cơ bản ra đời là phải có nền kinh tế tự do với ngành dịch vụ giao dịch nội địa được phát triển tối đa Phân tích cho thấy đặc tính quan trọng nhất của một cường quốc dẫn đầu thế giới về
Trang 25phát triển kinh tế chính là khả năng sản sinh ra những đổi mới cơ bản hay mang tính đột phá Còn các nước bám đuổi (được thúc đẩy bằng đổi mới tiên tiến) chỉ
có thể trở thành một quốc gia thịnh vượng mà không đạt được vị trí lãnh đạo về kinh tế
1.2.5 Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
Bên cạnh các quan điểm và lý thuyết phát triển nêu trên thì vấn đề tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của nền kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của lý luận về phát triển kinh tế Trong thực tế, người ta thấy tăng trưởng kinh
tế có ngưỡng, vượt qua ngưỡng tăng trưởng sẽ đem lại kết quả và hiệu quả kém Vì thế, trong khi nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển các nhà hoạch định chính sách không phải lúc nào cũng muốn đề ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách chủ quan duy ý chí
Chất lượng tăng trưởng là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng
và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản lý kinh tế của nhà nước có hiệu quả
Mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia không chỉ là tăng trưởng cao mà phải phát triển bền vững, tức là phải tạo ra sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo quốc phòng an ninh đối với các nước đang phát triển, với điều kiện nguồn lực còn hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư không nhiều, lại đang có một khoảng cách lớn về trình độ phát triển so với các nước công nghiệp phát triển, thì giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững như thế nào cho phù hợp, không vì quá tập trung tăng trưởng nhanh để mất ổn định xã hội và suy thoái môi trường, cũng không vì quá tập trung vào duy trì ổn định
xã hội và bảo vệ môi trường dẫn đến tăng trưởng chậm, tụt hậu so với các nước đây
là vấn đề nan giải, không dễ giải quyết nhưng cũng không thể lẩn tránh
Trang 26Theo Ngô Doãn Vịnh (2005), sự phát triển bền vững thường được phân tích ở các khía cạnh: phát triển bền vững về mặt kinh tế được thể hiện khi nền kinh tế phát triển có hiệu suất tức là độ gia tăng của sản lượng đầu ra nhiều hơn là tổng phần tăng đầu vào; phát triển bền vững về mặt xã hội thể hiện ở mục tiêu vì con người, không chỉ là sự mở rộng cơ hội lựa chọn cho thế hệ hôm nay mà còn không được làm tổn hại đến những cơ hội lựa chọn của các thế hệ mai sau; phát triển bền vững
về mặt môi trường thông qua các chỉ tiêu về chất lượng môi trường phải được đảm bảo và không ngừng cải thiện môi trường
Thật ra, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững có mối quan hệ hết sức chặt chẽ Khi kinh tế phát triển sẽ giúp cho con người nâng cao được khả năng hưởng thụ của mình không chỉ vật chất mà cả văn hóa xã hội và có nhiều hiểu biết, trách nhiệm hơn về môi trường, khả năng tái đầu tư vào bảo vệ môi trường sẽ cao hơn và do đó sẽ cải thiện môi trường tốt hơn Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế quá nhanh là nguyên nhân gây nên sự sử dụng quá mức, lãng phí ngày càng tăng nguồn tài nguyên và môi trường Phát triển kinh tế một cách không tính toán sẽ vượt quá năng lực tải của môi trường về khả năng sản xuất tài nguyên và khả năng chứa chất thải an toàn Sự mất an toàn tài nguyên sẽ tác động đến đời sống, an sinh
xã hội của người dân
Trình độ khoa học và công nghệ tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, đặc biệt ở khía cạnh môi trường Chỉ khi có được nền khoa học
và công nghệ hiện đại, không những tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh để đạt tăng trưởng nhanh mà còn là điều kiện cơ bản giảm thiểu ô nhiễm môi trường do đã hình thành ra nền công nghiệp sạch
Chính sách của Chính phủ có tác động quyết định đến giải quyết các mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững như: xây dựng mạng lưới an sinh
xã hội, phát động các phong trào xây dựng cuộc sống mới, ban hành các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, tham gia các công ước quốc tế
1.2.6 Vai trò của Nhà nước
Ngày nay, không có một nền kinh tế nào là kinh tế “hoàn toàn” thị trường, tất
cả các nền kinh tế trên thế giới đều có thể gọi là “nền kinh tế hỗn hợp” giữa thị trường và nhà nước Nhưng mức độ và cách thức nhà nước được sử dụng trong các
Trang 27hoạt động kinh tế lại tạo ra sự khác biệt giữa các nền kinh tế Trong kinh tế học, lập luận quan trọng nhất ủng hộ việc nhà nước can thiệp vào nền kinh tế là “sự thất bại của thị trường” hay “sự khiếm khuyết của thị trường”
Theo Li Tan (2006), một số nền kinh tế phát triển đi sau dựa vào nhà nước trong phát triển kinh tế có thể được lý giải bằng cách kết hợp hai nhân tố: chi phí sử dụng thị trường và lợi thế thông tin của các nền kinh tế phát triển sau Phát triển dựa vào nhà nước nổi lên trước hết là do sử dụng chính phủ như là công cụ điều phối với giá rẻ hơn sử dụng thị trường1 Nhưng trong vai trò điều phối, chính phủ cần có thông tin “chuẩn xác” để định hướng các hoạt động sản xuất trong nền kinh tế Với lợi thế thông tin của các nền kinh tế phát triển sau, các nước này có thể dựa vào nhà nước như một công cụ phát triển, cắt bỏ một số chi phí giao dịch liên quan đến việc sử dụng thị trường trong nước
Vai trò của nhà nước còn thể hiện ở việc phải duy trì tính ổn định của nền kinh
tế vĩ mô thông qua việc quản lý chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; và với chức năng như là một chủ thể trung gian trong nền kinh tế để tạo ra một nền tảng vững chắc cho các hoạt động sản xuất và trao đổi diễn ra trong nền kinh tế thị trường tự do Karl Marx đã chỉ ra rằng, với vai trò là nhà thi hành pháp luật trong nền kinh tế thị trường, nhà nước hiện đại thể hiện sức mạnh ở chỗ: lợi ích cá nhân John Wallis và Douglass North (1986), chi phí giao dịch chiếm gần một nửa thu nhập quốc dân (GNP) của nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn 1870-1970 của các quan chức công quyền hoàn toàn tách biệt khỏi công việc quản lý sản xuất và tiêu thụ Chính sự tách biệt này cho phép chính phủ hoạt động như một thực thể độc lập nhằm thực thi nhiệm vụ của mình
1.3 Các cơ sở để xây dựng chiến lược của một vùng:
Khác với việc lập chiến lược kinh doanh cho một doanh nghiệp, để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một vùng cần phải có tầm nhìn xa, toàn diện nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống kết cấu hạ tầng để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội một cách có hiệu quả và bền vững; đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường
Trang 281.3.1 Phương pháp dự báo:
1.3.1.1.Khái niệm: Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự
việc sẽ xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được Khi tiến hành dự báo cần căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ vào một số mô hình toán học (định lượng) Tuy nhiên dự báo cũng có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai (định tính) và để dự báo định tính được chính xác hơn, người ta cố loại trừ những tính chủ quan của người dự báo
1.3.1.2.Đặc điểm của dự báo:
Không có cách nào để xác định tương lai là gì một cách chắc chắn (tính không chính xác của dự báo) Dù phương pháp chúng ta sử dụng là gì thì luôn tồn tại yếu
tố không chắc chắn cho đến khi thực tế diễn ra
Luôn có điểm mù trong các dự báo Chúng ta không thể dự báo một cách chính xác hoàn toàn điều gì sẽ xảy ra trong tương lai Hay nói cách khác, không phải cái gì cũng có thể dự báo được nếu chúng ta thiếu hiểu biết về vấn đề cần dự báo
Dự báo cung cấp kết quả đầu vào cho các nhà hoạch định chính sách trong việc đề xuất các chính sách phát triển kinh tế, xã hội Chính sách mới sẽ ảnh hưởng đến tương lai, vì thế cũng sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác của dự báo
1.3.1.3.Các phương pháp dự báo:
Có nhiều học gia có cách phân loại phương pháp dự báo khác nhau Tuy nhiên theo học giả Gordon, trong 2 thập kỳ gần đây, có 8 phương pháp dự báo được áp dụng rộng rãi trên thế giới (Bảng 1.3)
Bảng 1.3: Tổng hợp một số phương pháp dự báo thường dùng trên thế giới
1 Tiến đoán/Genius forecasting
2 Ngoại suy xu hướng/Trend extrapolation
3 Phương pháp chuyên gia/Consensus methods
4 Phương pháp mô phỏng (mô hình hóa)/Stimulation
5 Phương pháp ma trận tác động qua lại/Cross-impact matrix method
6 Phương pháp kịch bản/Scenario
7 Phương pháp cây quyết định/Decision trees
8 Phương pháp dự báo tổng hợp/Combining methods
Trang 29Bảng 1.3 đề cập 8 phương pháp thường được sử dụng trên thế giới trong dự báo Tuy nhiên, theo cách phân loại tại Việt Nam, các phương pháp dự báo thường chia thành 2 nhóm chính là phương pháp định tính và phương pháp định lượng
* Phương pháp dự báo định tính: Phương pháp này dựa trên cơ sở nhận xét của những yếu tố liên quan này trong tương lai Phương pháp định tính có liên quan đến mức độ phức tạp khác nhau, từ việc khảo sát ý kiến được tiến hành một cách khoa học để nhận biết các sự kiện tương lai hay từ ý kiến phản hồi của một nhóm đối tượng hưởng lợi (chịu tác động) nào đó
* Phương pháp dự báo định lượng: Mô hình dự báo định lượng dựa trên số liệu quá khứ, những số liệu này giả sử có liên quan đến tương lai và có thể tìm thấy được Tất cả các mô hình dự báo theo định lượng có thể sử dụng thông qua chuỗi thời gian và các giá trị này được quan sát đo lường các giai đoạn theo từng chuỗi Tuy nhiên, hiện nay thông thường khi dự báo người ta thường hay kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng để nâng cao mức độ chính xác của dự báo Bên cạnh đó, vấn đề cần dự báo đôi khi không thể thực hiện được thông qua một phương pháp dự báo đơn lẻ mà đòi hỏi kết hợp nhiều hơn một phương pháp nhằm
mô tả đúng bản chất sự việc cần dự báo
* Quy trình dự báo: Thông thường trong các dự báo về kinh tế, quy trình dự báo được chia thành các bước sau Các bước này bắt đầu và kết thúc với sự trao đổi giữa người sử dụng và người làm dự báo
Trang 30tế (E), Văn hóa xã hội (S) và môi trường công nghệ (T) tại địa phương mình đang hoạt động kinh doanh Những nhà lãnh đạo kinh doanh trên toàn thế giới sử dụng phương pháp phân tích PEST nhằm xây dựng mục tiêu tương lai cho doanh nghiệp của mình
Phương pháp PEST quan trọng bởi tính hiệu quả mà nó mang lại, chúng ta có thể chắc chắn rằng việc làm của mình đang đi đúng hướng với sự thay đổi đang ảnh hưởng tới toàn bộ thế giới Bằng việc nắm bắt những ưu điểm của sự thay đổi, sẽ có nhiều khả năng thành công hơn là việc kinh doanh trái chiều với sự thay đổi đó Sử dụng PEST đúng cách sẽ giúp chúng ta tránh được những hành động được cho là thất bại vì lý do điều hành
PEST là công cụ hữu hiệu khi ta bắt đầu kinh doanh ở một quốc gia hay vùng miền mới Sử dụng phương pháp PEST sẽ giúp ta loại bỏ những nhận định vô thức
và giúp ta nhanh chóng thích nghi với môi trường thực tại mới
Sơ đồ 1 Mô hình PEST
1.3.2.1.Chính trị:
Kiểu nhà nước và trạng thái ổn định của Chính phủ
Tự do ngôn luận, luật pháp và những cấp bậc của bộ máy quan liêu và tham nhũng
Xu hướng tuân thủ và chống đối luật pháp
Ban hành luật về văn hóa xã hội và lao động
Chính sách thuế và sự điều hành thương mại và thuế quan
Ban hành luật môi trường và bảo hộ sản xuất
Những thay đổi trong môi trường chính trị
Environment
Political
Economic
SocialTechnology
Trang 311.3.2.2 Kinh tế
Giai đoạn của vòng đời kinh doanh
Tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tỷ giá hiện tại và dự tính
Tình trạng thất nghiệp và nguồn cung lao động
Chi phí lao động
Cấp độ của thu nhập hàng năm và sự đóng góp trong thu nhập
Ảnh hưởng của toàn cầu hóa
Ảnh hưởng của công nghệ và những thay đổi khác trong kinh tế
Những thay đổi trong môi trường kinh tế
1.3.2.3.Văn hóa xã hội
Thông tin về tăng trưởng dân số và cơ cấu độ tuổi
Những yếu tố về sức khỏe, giáo dục, phúc lợi xã hội và quan điểm về những yếu tố này
Điển hình lao động, thị trường lao động tự do và những quan điểm về việc làm Quan điểm của báo chí, sự lựa chọn của cộng đồng, quan điểm của xã hội và những quan niệm cấm đoán từ xã hội
Sự lựa chọn phong cách sống và quan điểm về vấn đề này
Những thay đổi về văn hóa xã hội
1.3.2.4 Môi trường công nghệ
Ảnh hưởng của công nghệ năng lượng
Ảnh hưởng của internet, sự giảm bớt về chi phí giao tiếp và gia tăng làm việc
từ xa
Khả năng nghiên cứu và phát triển
Ảnh hưởng của sự chuyển giao công nghệ
1.3.3 Phương pháp chuyên gia:
* Bản chất của phương pháp chuyên gia là lấy ý kiến đánh giá của các chuyên gia để làm kết quả dự báo Phương pháp này được triển khai theo một quy trình chặt chẽ bao gồm nhiều khâu: thành lập nhóm chuyên gia, đánh giá năng lực chuyên gia, lập biểu câu hỏi và xử lý toán học kết quả thu được từ ý kiến chuyên gia Khó khăn
Trang 32của phương pháp này là việc tuyển chọn và đánh giá khả năng của các chuyên gia Phương pháp này được áp dụng có hiệu quả cho những đối tượng thiếu (hoặc chưa đủ) số liệu thống kê, phát triển có độ bất ổn lớn hoặc đối tượng của dự báo phức tạp không có số liệu nền Kết quả của phương pháp dự báo này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu định hướng, quản lý vì thế cần kết hợp (trong trường hợp có thể) với các phương pháp định lượng khác
* Phương pháp Delphi:
1.3.3.1.Khái niệm: Phương pháp Delphi là một kỹ thuật hỗ trợ quá trình thảo
luận nhóm để đưa ra giải pháp cho một vấn đề cụ thể Cụ thể hơn, phương pháp Delphi là một quá trình thảo luận có bài bản để nhóm chuyên gia tích lũy thông tin
và thể hiện tri thức Thực tế cho thấy, tri thức được thu thập qua các bảng câu hỏi và tri thức của các chuyên gia trong nhóm không bao giờ có điểm chung Do đó, quá trình thảo luận nhóm và kết quả cuối cùng của nó không báo giờ “đi theo người dẫn đầu” và thường gây trở ngại cho chất lượng của ý kiến chung trong quá trình thảo luận trực tiếp Phương pháp Delphi dựa trên triết lý “điều tra biện chứng”, nghĩa là quá trình thảo luận nhóm đi từ chính đề (đưa ra một ý kiến) Hay nói cách khác, phương pháp Delphi dùng các mâu thuẫn nảy sinh giữa các ý kiến trái ngược trong quá trình thảo luận nhóm, tập trung quanh vấn đề cụ thể để tìm ra giải pháp mới
1.3.3.2 Các bước xây dựng phương pháp Delphi:
Chúng ta có thể tóm tắt sự ứng dụng thực tế của phương pháp Delphi thành 10 bước sau:
Bước 1: Xây dựng nhóm Delphi để thành lập và giám sát kế hoạch
Bước 2: Nhóm Delphi phải tìm ra một đội ngũ chuyên gia tham gia vào quá trình dự đoán
Bước 3: Nhóm Delphi đưa ra một bảng câu hỏi
Bước 4: Nhóm Delphi phải kiểm tra mọi từ ngữ trong bảng câu hỏi để đảm bảo rằng nó không gây mơ hồ
Bước 5: Phân phối bảng câu hỏi đến từng chuyên gia trong nhóm
Trang 33Bước 6: Phân tích và đưa ra các phân phối về bảng câu hỏi
Bước 7: Nhóm Delphi đưa ra một bảng câu hỏi mới, mục đích của bảng câu hỏi mới này là hướng đội ngũ chuyên gia tiến gần hơn đến sự đồng thuận
Bước 8: Đưa ra bảng câu hỏi mới cho các chuyên gia
Bước 9: Phân tích các đáp án mới và tiếp tục phát triển các bảng câu hỏi mới cho đến khi đạt được một kết quả ổn định
Bước 10: Nhóm Delphi chuẩn bị một bản báo cáo tóm tắt lại những nội dung chính trong suốt quá trình
1.4 Công tác nghiên cứu và thực thi chiến lược phát triển ở Việt Nam thời gian qua
Đến nay Việt Nam đã qua các thời kỳ xây dựng chiến lược: chiến lược ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
Về nội dung: đã xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cho giai đoạn 10 năm, trong đó đưa ra được tầm nhìn, phác họa định hướng phát triển, đề xuất những giải pháp lớn, từ đó thấy được bức tranh chung phát triển đất nước, các vùng và ngành trong thời kỳ triển vọng Như
“Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội việt nam giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020” là chiến lược có mục tiêu rõ ràng; thực hiện chiến lược này, đất nước Việt Nam đã hội nhập và phát triển mạnh mẽ, thu được những thành tựu vượt bậc; Bản chiến lược đã làm căn cứ cho việc xây dựng quy hoạch, kế
hoạch và các chính sách lớn
Trang 34Về mặt tổ chức nghiên cứu chiến lược: đã có ý thức thu hút sự đóng góp, lấy ý kiến của đông đảo các nhà khoa học trong nước, các chuyên gia nước ngoài, các tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng và đại bộ phận nhân dân trong cả nước qua các thông tin đại chúng; Có sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương và Chính phủ
Về mặt tổ chức thực hiện chiến lược: đã có bước cụ thể hoá chiến lược, bằng việc xây dựng chương trình hành động của Chính phủ, bao gồm các chương trình, đề án cụ thể để các ngành thực hiện hoặc căn cứ vào đó xây dựng chương trình hành động cụ thể của ngành và địa phương; Cụ thể hoá một số nội dung chiến lược vào trong các Nghị quyết của Trung ương
1.4.2 Hạn chế
Về nội dung chiến lược: Nội dung một bản chiến lược còn dài, song ý đồ chiến lược của quốc gia chưa thể hiện hết trọng tâm, trọng điểm và sự bứt phá chưa liệt kê các ngành, lĩnh vực phải làm mà họ chỉ xác định mục tiêu chiến lược, ví dụ: Thái Lan tìm mọi cách tận dụng được cơ hội để “luồn lách” và bứt phá có lợi cho Thái Lan; Hàn Quốc noi gương các nước tiên tiến (đặc biệt là EU) làm gì thì Hàn Quốc học tập làm được cái đó để có được nền khoa học - công nghệ ngang bằng; ở Nhật Bản trong thời kỳ đầu CNH luôn nhất quan một tư tưởng chiến lược, đó là
“Chiến lược đi nhờ xe” với phương châm: “Tinh thần Nhật Bản + Kỹ nghệ phương Tây”, tức là học tập và làm chủ bằng được khoa học và công nghệ của phương Tây Từ những ý tưởng chiến
lược này mà các nước định hướng cho các địa phương, các ngành, các công ty, các doanh nghiệp thực hiện các công việc “chiến thuật” rất cụ thể
Về mặt tổ chức nghiên cứu chiến lược: Nghiên cứu hoạch định chiến lược chỉ giới hạn trong các cơ quan nhà nước, các cơ quan ngoài nhà nước, và một cơ quan liên quan3 Theo một tổng kết của cơ quan tư vấn Nhật Bản, việc tham gia vào hoạch định các chính sách quốc gia ở Nhật, thì 60% là các đại gia (các công ty và doanh nghiệp lớn), 20% là các nhà khoa học, 10% là các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ, còn lại là thành phần khác
Trang 35- Mỗi quốc gia trong quá trình phát triển đều có chiến lược phát triển dù dưới hình thức này hay một hình thức khác
- Để xây dựng chiến lược phát triển cho một quốc gia cần phân tích điểm xuất phát của quốc gia đó, phân tích các yếu tố chủ yếu tác động đến quá trình phát triển của quốc gia đó đặt trong tổng thể nền kinh tế thế giới để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của nền kinh tế Từ đó, kiến tạo tầm nhìn chiến lược và mục tiêu chiến lược đúng, phù hợp, có căn cứ khoa học Tiếp theo
là xác định các nhiệm vụ cơ bản hay trọng tâm của chiến lược để thực thi mục tiêu chiến lược Và cuối cùng là đề xuất phương án tổ chức thực hiện chiến lược
Trang 36CHƯƠNG II PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ CHIẾN LƯỢC ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN TÂN SƠN,
TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2020
2.1 Đặc điểm địa lý huyện Tân Sơn
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Tân Sơn là huyện nằm về phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, trên vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Yên Bái, Hoà Bình, Sơn La Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Thanh Sơn, phía Nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình, phía Tây Bắc giáp huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái và phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La Trung tâm huyện lỵ Tân Sơn nằm tại xã Tân Phú có trục đường quốc lộ 32A chạy qua, cách thành phố Việt Trì 75km, cách thủ đô Hà Nội 117km Về hành chính, Tân Sơn có 17 xã: Mỹ Thuận, Tân Phú, Thu Ngạc, Thạch Kiệt, Thu Cúc, Lai Đồng, Đồng Sơn, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn, Minh Đài, Văn Luông, Long Cốc, Tam Thanh, Vinh Tiền; 17
xã đều là xã đặc biệt khó khăn và an toàn khu
Vị trí địa lý trên tạo cho Tân Sơn những khó khăn về giao thông và thông thương hàng hoá trong nội bộ huyện Tuy nhiên, với vị trí nằm trên vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Yên Bái, Hoà Bình, và Sơn La và nhiều lợi thế do thiên nhiên ban tặng, Tân Sơn được xác định là điểm sáng kinh tế vùng Tây Bắc tỉnh Phú Thọ trong tương lai
Là huyện mới thành lập, vì vậy trước mắt huyện gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động quản lý và xây dựng cơ sở vật chất cho huyện mới, nhất là khu vực trung tâm huyện Tuy nhiên, trung tâm huyện lỵ huyện Tân Sơn sau khi xây dựng xong sẽ trở thành đô thị nằm trong chuỗi đô thị cửa ngõ vùng Tây Bắc Tổ quốc, là đầu mối giao thông quan trọng nối các tỉnh miền núi phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng, cũng như vai trò quan trọng về an ninh quốc phòng
Trang 37Hình 2.1: Bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Phú Thọ
đến năm 2020
Trang 382.1.1.2 Khí hậu
Tân Sơn là huyện vùng núi cao Địa hình huyện Tân Sơn rất phức tạp đa dạng, chia cắt, dốc kéo dài, phần lớn là rừng núi đất, cấu tạo theo kiểu bát úp, nằm trong vùng địa hình đồi núi cao và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc dãy Hoàng Liên Sơn nên tạo ra các tiểu vùng khí hậu khác nhau
Tân Sơn nằm trong vùng khí hậu trung du Bắc Bộ, mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa như: mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh, cuối đông ẩm ướt và mưa phùn
2.1.1.3 Điều kiện thủy văn
Theo số liệu khí tượng thuỷ văn tại trạm Minh Đài, nhiệt độ không khí trung bình qua các năm là 23,30C (nhiệt độ cao tuyệt đối là 42,30C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3,10C), số giờ nắng trung bình qua các năm là 1.453 giờ, lượng mưa trung bình qua các năm là 1.808,8mm, độ ẩm không khí trung bình qua các năm là 86,8%, tốc độ gió trung bình 1,8m/s, hướng gió chính: Đông, Đông Nam và Tây Nam Mùa khô hạn kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Tân Sơn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng vào các tháng 4, 5, 6, 7 nhiệt độ trong các tháng này nhiều khi lên tới 39-40C; gió mùa Đông Bắc nhiệt độ xuống dưới 50C sương muối, giá rét, Trên địa bàn Huyện vào các tháng 4-5 có lốc xoáy, mưa đá; tháng 7-
9 có lũ quét ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống dân cư
Hệ thống sông Bứa và các chi lưu của nó toả rộng ra khắp vùng, các chi lưu lớn phân bố đều là sông Chôm (Văn Luông), sông Giày (Minh Đài), sông Gôm (Thu Ngạc) thuận lợi cho công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp
2.1.2 Tài nguyên
2.1.2.1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Tân Sơn là 68.858 ha, trong đó: 60.246,95 ha là đất nông, lâm nghiệp(chiếm 87,49%); 2.571,11 ha là đất phi nông nghiệp (chiếm 3,73%); 6.166,52 ha đất chưa sử dụng (chiếm 8.9%) Tiềm năng đất đai của Tân Sơn là rất lớn, với diện tích đất chủ yếu phù hợp cho phát triển nông
lâm nghiệp, tầng đất dày canh tác tốt, chất lượng đất tốt
Trang 39Quỹ đất hiện có của Tân Sơn cũng rất thuận lợi cho việc quy hoạch các khu chế biến nông lâm sản gắn với các vùng sản xuất chè, vùng nguyên liệu lâm sản, và việc phát triển khu đô thị trung tâm huyện lỵ Tân Phú, thị tứ Thu Cúc thành thị trấn
và các trung tâm cụm xã, trung tâm xã Cụ thể:
• Đối với đất nông, lâm nghiệp
Năm 2007, diện tích đất nông nghiệp là 57.748ha (chiếm 83.86% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn Huyện) Đến năm 2013, diện tích đất nông nghiệp là 60.246,5 ha, chiếm 87.49% tổng diện tích tự nhiên Trong cơ cấu diện tích đất nông, lâm nghiệp: đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (91,19%), đất sản xuất nông nghiệp chiếm 8,8%, còn lại là đất mặt nước nuôi trồng thủy sản chiếm 0,016% Từ năm 2007 đến năm 2012, diện tích đất nông, lâm nghiệp tăng thêm 2.981,0 ha, diện tích tăng này chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp và đất lúa do thực hiện chính sách
hỗ trợ khai hoang theo NQ 30A
Trong số hơn 60 ngàn ha đất lâm nghiệp có 15.048 ha rừng quốc gia Xuân Sơn, với 9.000 ha vùng lõi và 6.000 ha vùng đệm; trong tương lai, diện tích vùng đệm này có thể phát triển thêm cây chè; đồng thời vùng đệm này tương lai có rất nhiều tiềm năng có thể đầu tư về du lịch sinh thái
Nhìn chung, tình hình đất đai nông nghiệp, lâm nghiệp không biến chuyển nhiều trong thời gian qua Diện tích đất sản xuất nông nghiệp(cây lúa) tăng do vỡ hoang Đất lâm nghiệp tăng do chuyển từ đất chưa sử dụng
Trang 40Bảng 2.1: Tình hình đất đai của Huyện giai đoạn 2007-2013
Đơn vị: Ha
Loại đất 2007 2013 Biến động Tổng diện tích đất tự nhiên 68.858,0 68.858,0 0
Đất chưa sử dụng 9.034,0 6166,5 2267,9
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tân Sơn