MỤC LỤC11. LỜI MỞ ĐẦU12. NỘI DUNG12.1. GIỚI THIỆU VỀ VI KHUẨN SALMONELLA.42.1.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VI KHUẨN SALMONELLA.42.1.2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ CẤU TẠO CỦA SALMONELLA.52.1.3. PHÂN LOẠI.82.1.4. KHẢO SÁT GEN NHIỄM BỆNH CỦA SALMONELLA.82.1.5. CƠ CHẾ LÂY NHIỄM TẾ BÀO CHỦ CỦA SALMONELLA.142.2. SALMONELLA TRÊN GIA SÚC, GIA CẦM.162.2.2. SALMONELLA TRÊN GIA SÚC BỆNH PHÓ THƯƠNG HÀN HEO.242.2.2.1. Nguyên nhân.242.2.2.2. Tóm tắt cơ chế của quá trình sinh bệnh.242.2.2.3. Triệu chứng242.2.2.4. Phòng và khống chế bệnh.262.3. SALMONELLA GÂY BỆNH TRÊN NGƯỜI.272.4. TÌM HIỂU THÊM VỀ KHUẨN SALMONELLA.303. KẾT LUẬN.36TÀI LIỆU THAM KHẢO38
Trang 1an toàn cho người sử dụng.
Muốn vậy tôi cần phải học tập và tìm hiểu thêm rất nhiều về chuyên ngành của mình Tuy nhiên qua thời gian học tập về môn học vi sinh vật đại cương, tôi đã biết vi sinh vật có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, chúng luôn tồn tại xung quanh chúng ta, có những vi sinh vật có lợi song cũng có những vi sinh vật có hại Vì thời gian và điều kiện của một bài tiểu luận không cho phép, ở đây tôi chỉ xin trình bày về một loại vi khuẩn có hại đó là
vi khuẩn Salmonella.
Trang 2Hình 1.(H.1) Tỷ lệ nhiễm khuẩn Salmonella.
Với bài viết này không chỉ giúp tôi giải đáp được một trong số những nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm mà còn giúp tôi hiểu thêm được rất nhiều kiến thức mới về thế giới vi sinh vật rộng lớn
Ngoài ra, việc làm bài tiểu luận này đã mang lại cho tôi rất nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện một đề tài có tính ứng dụng cao và gần gũi với điều kiện thực tế hiện nay
Trong quá trình thực hiện bài viết này tôi đã sử dụng một số tài liệu trong giáo trình, một số website chuyên ngành và tài liệu liên quan như giáo trình vi sinh vật thực phẩm của tác giả TS Trần Liên Hà,…
Trang 3
H.2 Vi Khuẩn Salmonella.
2 NỘI DUNG.
2.1 GIỚI THIỆU VỀ VI KHUẨN SALMONELLA.
Hằng ngày chúng ta tiếp xúc trực tiếp với các loại thực phẩm mà chưa chắc đã hiểu hết về nguồn gốc của chúng Có rất nhiều những thực phẩm có
thể bị nhiễm một số loại vi khuẩn có hại chẳng hạn như: nhóm Salmonella,
Trang 4Clostridium botilinum (CB), Tụ cầu vàng (Staphyloccocus aureus),… Tác
nhân gây ngộ độc thức ăn chủ yếu là các vi khuẩn phó thương hàn, trong đó
hàng đầu là Salmonella typhimurium, Salmonella cholera và sau đó đến
2.1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VI KHUẨN SALMONELLA.
Lần đầu tiên được phát hiện cách đây hơn 100 năm do một người bị chết khi ăn thịt bị nhiễm khuẩn Vi khuẩn đầu tiên đã được cô lập bởi Theobald Smith trong 1885 từ lợn
H.5 Khuẩn Salmonella trên môi trường đặc
Trang 5choleraesuis và enteritidis, có trong thực phẩm bị ô nhiễm.
2.1.2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ CẤU TẠO CỦA SALMONELLA.
H.7 Cấu tạo vi khuẩn Salmonella.
Trang 6Salmonella là vi sinh vật gây bệnh đường ruột quan trọng về các khía
cạnh bệnh học, dịch tễ học, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm
Vi khuẩn này phân bố rộng khắp trong tự nhiên, có thể xâm nhiễm và gây bệnh cho người, động vật máu nóng, động vật máu lạnh dưới nước và trên cạn
Salmonella được tìm thấy ỏ bất cứ nơi nào trong động vật sống Vi
khuẩn Salmonella có thể chịu được nóng, mưa và cả hạn hán Đối với siêu
Salmonella có thể bị nhiễm từ đất hoặc trong quá trình xử lí nguyên liệu( thịt
gia cầm…) hay trong phân của gia súc, gia cầm mắc bệnh Salmonella sống
trong cơ thể động vật có thể phát bệnh hay không phụ thuộc vào từng serotype_được hình thành dựa trên các yếu tố trên bề mặt hay lipopolysacchatides trong vi khuẩn Gram (-)
H.8 Tế bào Salmonella typhimurium phân chia.
Salmonella (S.) là tên riêng cho một số lượng lớn (hơn 2500) của các
loại vi khuẩn.Mỗi loại được nhận dạng bởi một loạt các protein cụ thể Phân
tử ADN của chủng S typhi, một loài có sức đề kháng với nhiều loại kháng
sinh, chứa hơn 4,8 triệu cặp bazơ, giống như những thanh ngang trên một cái
nguyên nhân gây bệnh dịch hạch Có khoảng 10% -15% sự khác nhau trong
hệ gien của hai chủng S typhimurium và S.typhi.
Trang 7
H.9 Protein của Salmonella typhimurium
Salmonella là vi khuẩn hình que, kị khí ngẫu nhiên, gram (-) không có
nha bào, hiếu khí hoặc kỵ khí tùy tiện, không tạo bào tử, có kích thước khoảng 2-3× 0.4-0.6μm, dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường,
nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6-9 Với pH lớn hơn 9 hoặc nhỏ hơn 4,5 vi khuẩn có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở
Ở nồng độ muối 6-8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là 8-19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại Tuy vậy vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm chỉ bị chết khi ướp muối với nồng độ bão hòa trong một thời
gian dài Salmonella có 3 kháng nguyên: kháng nguyên thân O, kháng
nguyên lông H, và kháng nguyên độc(vi kháng) Kháng H có thể xảy ra ở một trong hai bên hoặc cả hai hình thức, gọi là giai đoạn 1 và giai đoạn 2 Kháng O xảy ra trên bề mặt lớp màng nhầy và được xác định bởi dãy đường
Salmonella typhi.
Trang 8
H.10 Phân loại các loại Salmonella.
2.1.4 KHẢO SÁT GEN NHIỄM BỆNH CỦA SALMONELLA.
Sự xâm nhiễm Salmonella vào cơ thể vật chủ và gây bệnh được thực
hiện chủ yếu qua đường tiêu hoá với biểu hiện phổ biến nhất là gây tiêu
chảy, đôi khi là thương hàn và phó thương hàn Để gây bệnh, Salmonella
cần phải xâm nhiễm thành công vào bên trong thành ruột, thích nghi và vô hiệu hoá hệ thống phòng vệ của vật chủ, sau đó nhân lên và phát tán đến các
mô đích
Trang 9Các quá trình này cần đến vai trò của nhiều gen gây bệnh của
Salmonella hiện diện trên bộ gen và trên plasmid Plasmid spv (Salmonella
Plasmid Virulence) chứa operon spv có vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh của plasmid này ở Salmonella do làm tăng cường độ gây bệnh sau khi vi khuẩn xâm nhiễm thành công vào bên trong tế bào chủ Plasmid spv được tìm thấy ở hầu hết các kiểu huyết thanh Salmonella được phân lập
được từ động vật nhưng hầu như không hiện diện ở các kiểu huyết thanh có
ký chủ chuyên biệt là người
Locus spv trên plasmid gây bệnh gồm có 5 gen là spvRABCD, trong
đó 4 gen spvABCD cấu trúc thành một operon Gen spvR nằm ở một vị trí
tách biệt, mã hoá cho một protein điều hoà sự biểu hiện của operon
spvABCD Operon này được biểu hiện mạnh nhất khi Salmonella đã xâm
nhiễm vào bên trong tế bào vật chủ làm tăng tốc độ tăng trưởng của
Salmonella và chống lại hệ thống phòng vệ của vật chủ Việc xác định
chính xác các kiểu huyết thanh Salmonella gây bệnh cho người và tần suất
hiện diện của chúng trong tự nhiên tạo cơ sở cho việc đánh giá mối nguy
hiểm thực sự của các dòng Salmonella có nguồn gốc từ môi trường tự nhiên Kết quả khảo sát sự phân bố của plasmid spv trên các dòng Salmonella phân
lập được từ nước và thuỷ sản
Mẫu thử nghiệm: Mẫu nước được thu từ các ao nuôi tôm thuộc khu vực TP HCM và tỉnh Long An Mẫu thực phẩm được thu từ các lô hàng thực phẩm chế biến xuất khẩu được kiểm dịch tại Chi nhánh Kiểm tra chất lượng và Vệ sinh thuỷ sản 4, TP HCM Việc khuếch đại bản sao của các gen được thực hiện bằng phản ứng PCR
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Sự đặc hiệu của cặp mồi spvC đối với các Salmonella mang plasmid spv.
Khảo sát được tiến hành trên 9 chủng Salmonella và 8 chủng vi sinh vật không phải Salmonella Các vi sinh vật này là những chủng chuẩn và
nguồn gốc xuất xứ Kết quả được thể hiện trên Hình 11 và Bảng 1:
Trang 10Hình 11 Sản phẩm 620bp khuếch đại với cặp mồi spvC.
T: Thang DNA, 1: S typhimurium, 2: S typhi, 3: S paratyphi C,
4: S paratyphi B, 5: S.dublin, 6: S adabraka, 7: S enteritidis.
Bảng 1: Kết quả khuếch đại PCR gen spvC trên các chủng chuẩn
Nằm trong số 9 chủng Salmonella được khảo sát cho kết quả dương tính với cặp mồi spvC là S typhimurium, S enteritidis, S paratyphi
C, S dublin và S cholerasuis Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của
Shoba C Swamy [6], Chen Shun Chiu [3], Strephen J Libby [7] cho thấy
rằng cả 5 kiểu huyết thanh Salmonella đều mang plasmid spv, trong khi đó 4 kiểu huyết thanh Salmonella còn lại là những dòng không mang plasmid này Cả 9 chủng không phải Salmonella đều không cho tín hiệu khuếch đại với với cặp mồi spvC Kết quả này chứng tỏ cặp mồi spvC đặc hiệu cho plasmid spv của Salmonella
Trang 11Sự hiện diện của plasmid spv trong các dòng Salmonella được
phân lập từ nước và thực phẩm thuỷ sản.
Khảo sát được tiến hành trên 102 chủng Salmonella, 8 chủng E coli,
4 chủng Staphylococcus aureus, 4 chủng Vibrio cholearae, 4 chủng V
parahearmolyticus đã được phân lập từ nước các ao nuôi thuỷ sản và từ các
loại thực phẩm có nguồn gốc thuỷ sản Kết quả được thể hiện trên Hình 12
của Salmonella, 7: E coli khuếch đại với cặp mồi spvC.
Bảng 2: Sự hiện diện plasmid spv ở các chủng vi sinh vật khảo sát
Kết quả ở Bảng 2 cho thấy các vi sinh vật không phải Salmonella đều không mang plasmid spv Kết quả này một lần nữa khẳng định plasmid gây bệnh spv chỉ có ở Salmonella mà không có ở các vi sinh vật gây bệnh khác Ngoài ra, chỉ có 5/102 chủng Salmonella có nguồn gốc từ nước tự nhiên và thực phẩm có mang plasmid spv, chiếm tỉ lệ 4,9%
Trang 12Nghiên cứu của Shoba W Swamy và các đồng sự đã cho thấy 100%
Salmonella phân lập được từ trứng đều có mang plasmid spv, trong khi đó
0% Salmonella được phân lập từ nước trong môi trường tự nhiên hoặc nước
thải sinh hoạt mang plasmid này [6] Nghiên cứu của Cheng – Hsun Chiu và
đồng sự cho kết quả là 55% số chủng Salmonella phân lập được từ phân trẻ
em bị bệnh viêm đường tiêu hoá có mang plasmid spv [3] Các kết quả này cùng với kết quả khảo sát của chúng tôi đã cho thấy rằng tỉ lệ Salmonella mang plasmid spv trong tự nhiên rất thấp Vậy plasmid spv không đóng vai
trò quyết định trong quá trình gây bệnh cho con người Tuy nhiên các nghiên
cứu so sánh khả năng gây bệnh ở các dòng Salmonella mang plasmid spv và
các dòng không mang plasmid cho thấy chúng đóng vai trò trong việc tăng
cường biểu hiện bệnh lý trên động vật thí nghiệm Những Salmonella có plasmid spv thường có LD50 thấp hơn khoảng 10-100 lần so với các dòng không mang plasmid Tỉ lệ Salmonella trong nước tự nhiên mang plasmid
spv thấp chứng tỏ rằng cường độ gây độc của các Salmonella có nguồn gốc
tự nhiên là rất yếu Điều này giải thích tại sao từ trước đến nay hầu như
không có vụ ngộ độc Salmonella nào gây ra do nước hay do ăn thuỷ sản nhiễm Salmonella được công bố trong khi tần suất trung bình của thực phẩm
có nguồn gốc thủy sản nhiễm Salmonella là 2 - 3% Khảo sát độ nhạy phát hiện Salmonella mang plasmid trong mẫu nước và mẫu thực phẩm Chúng tôi tiến hành lây nhiễm S typhimurium với các mật độ khác nhau vào trong
các loại mẫu có mật độ vi sinh vật khác nhau, sau đó thực hiện việc phát
hiện Salmonella spp bằng cặp mồi invA và plasmid spv bằng cặp mồi spvC
Kết quả được thể hiện trên Bảng 3:
Bảng 3: Độ nhạy phát hiện Salmonella mang plasmid spv trong nước
và mẫu thực phẩm
Bảng 3 cho thấy phương pháp PCR có độ nhạy phát hiện plasmid spv với cặp mồi spvC tương tự độ nhạy phát hiện Salmonella spp bằng mồi invA.
Trang 13Mức phát hiện thấp nhất là 1-5 tế bào/25g mẫu thực phẩm hay 500ml nước tự nhiên sau bước tăng sinh trên môi trường Buffered Pepton Water
Sự tương đồng nhau về độ nhạy phát hiện Salmonella spp và plasmid spv là
một sự thuận lợi rất lớn để thiết lập qui trình phát hiện phân biệt đồng thời
Salmonella mang plasmid spv với Salmonella không mang plasmid này.
Khảo sát sự hiện diện của Salmonella mang plasmid spv trong
nước tự nhiên.
Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát 105 mẫu nước lấy từ các ao nuôi tôm và sông lạch tại huyện Cần Giờ, TP HCM và huyện Cần Đước tỉnh Long An để khảo sát tần suất hiện diện của Salmonella mang plasmid spv trong tự nhiên Kết quả khảo sát được thể hiện trên Bảng 4
Bảng 4: Sự hiện diện Salmonella spp và plasmid spv trong nước tự
nhiên
Kết quả trên Bảng 4 cho thấy mặc dù tần suất hiện diện
Salmonella trong nước rất cao (47,6% số mẫu khảo sát) nhưng trong số đó
chỉ có khoảng 2% số Salmonella mang plasmid spv Nói cách khác, chỉ có khoảng 1% mẫu nước có sự hiện diện của Salmonella chứa plasmid spv Kết
quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả của Shoba C Swamy khi không
phát hiện được chủng nào mang plasmid spv trong số 84 chủng Salmonella
phân lập được từ nước thải sinh hoạt [6] Kết quả này một lần nữa khẳng
định rằng rất hiếm Salmonella phân bố trong tự nhiên mang plasmid gây bệnh spv
Điều điều đó có nghĩa các Salmonella hiện diện trong trong môi trường tự nhiên có độc lực kém hơn các Salmonella phân lập được từ các ký
chủ là động vật máu nóng Tuy nhiên để đi đến khẳng định rằng các Salmonella phân bố tự nhiên trong môi trường ít có khả năng gây bệnh cho con người cần phải có nhiều nghiên cứu sâu hơn trên các gen gây bệnh khác
ở Salmonella
Trang 14KẾT LUẬN.
Việc khảo sát trên 111 chủng Salmonella (102 chủng phân lập được từ nước tự nhiên, thực phẩm có nguồn gốc thuỷ sản) cho thấy cặp mồi spvC là đặc hiệu cho việc phát hiện plasmid spv Thực nghiệm cũng cho thấy plasmid này chỉ hiện diện trong Salmonella mà không hiện diện trong các vi sinh vật gây bệnh khác Trong số các chủng Salmonella có nguồn gốc từ nước và thực phẩm thuỷ sản, chỉ có 4,9% số chủng mang plasmid spv
Điều này cho phép bước đầu khẳng định rằng các Salmonella có nguồn gốc tự nhiên có độc lực thấp hơn các dòng Salmonella trong bệnh
phẩm hay có nguồn gốc từ các động vật máu nóng Nghiên cứu của chúng
tôi cũng cho thấy rằng độ nhạy phát hiện Salmonella mang plasmid spv và phát hiện Salmonella spp bằng PCR là tương tự nhau ở mức 1-5 tế bào/25g
thực phẩm hay 500ml nước Kết quả này tạo cơ sở để phát hiện phân biệt
Salmonella spp và Salmonella mang plasmid spv sau này.
Cùng với việc khảo sát trên các chủng thuần, chúng tôi cũng đã khác
sát sự hiện diện của các Salmonella mang plasmid spv trực tiếp trên mẫu
nước tự nhiên Kết quả cũng cho thấy rằng chỉ có khoảng 1% trong số các
mẫu có Salmonella mang plasmid này Kết quả này tái khẳng định chỉ có một tỉ lệ rất thấp Salmonella trong tự nhiên mang plasmid gây bệnh spv.
2.1.5 CƠ CHẾ LÂY NHIỄM TẾ BÀO CHỦ CỦA SALMONELLA.
SipA - một thành phần chính trong cơ cấu của Salmonella - với độ phân giải cao "Salmonella tiết ra các protein có liên quan đến việc kiểm soát
tế bào chủ để "nhận" vi khuẩn này và bằng cách đó lây nhiễm cho tế bào chủ Trong số này có SipA, protein trước đó được chứng minh là kẻ "vây
hãm" actin" Actin là một trong những protein dồi dào nhất trong cơ thể
người, liên quan đến khung tế bào (cytoskeleton) và hoạt động của tế bào
"Nó giống như là một giàn protein, liên kết tế bào lại với nhau" Khi được sinh ra, SipA, về cơ bản, "ghim" actin vào một sợi dài có nhiệm vụ tổ chức lại khung tế bào chủ sau đó Việc sắp xếp lại này khiến cho tế bào chủ bị
khuẩn salmonella "chui" vào, và mỗi lần như vậy, loại vi khuẩn này lại tiếp
tục sinh sôi nảy nở" SipA rất rắn, có hình dạng giống quả tim với một nhân hình cầu, hai "cánh tay" chĩa ra từ hai bên
Trang 15H.13 Salmonella tấn công tế bào chủ nhờ SipA.
Trang 16H.14 Sự xâm nhiễm của Salmonella typhi vào ruột non.
2.2 SALMONELLA TRÊN GIA SÚC, GIA CẦM.
Những thức ăn gây ngộ độc phần lớn có nguồn gốc động vật như thịt gia súc, gia cầm, trứng, sữa bị nhiễm khuẩn Đun nóng sẽ làm giảm hiệu lực
hoạt động của Salmonella, nên thức ăn chế biến nguội, hoặc chế biến nóng
để ăn nguội dễ bị nhiễm và ngộ độc hơn
Thịt thường bị ô nhiễm Salmonella ngay khi động vật còn sống (là
chủ yếu), hoặc sau khi giết mổ, pha thành thịt
nên tỷ lệ vi khuẩn trong phủ tạng động vật thường cao hơn trong thịt
Salmonella còn có cả trong thịt gia cầm, cá, sò, ốc, ở trong túi mật,
gan và buồng trứng
trứng thoát ra ngoài, Salmonella có thể qua các lỗ nhỏ li ti trên mặt vỏ
trứng mà nhiễm vào trong quả trứng Trứng vịt, ngỗng, ngan dễ bị xâm nhiễm hơn là trứng gà, vì gà thường đẻ vào ổ nơi cao ráo, còn ngan, vịt thường đẻ ở chuồng nền đất hoặc ở ruộng nên dễ bị nhiễm bẩn từ phân và đất
H.15 Trứng sống trong các món ăn là một trong những yếu tố chính gây
nhiễm vi khuẩn Salmonella.
triển Khi băm nhỏ, cấu trúc mô bị phá vỡ và Salmonella có sẵn trên
bề mặt thịt, thâm nhập sâu vào bên trong thịt và lan ra toàn bộ khối
Trang 17thịt băm Mặt khác dịch trong thịt tiết ra tạo điều kiện ẩm ướt thuận lợi cho vi khuẩn sinh trưởng và phát triển.
nước cao thường gây độc nhiều nhất
Loại vi khuẩn này sống trong phủ tạng của gia cầm, gia súc và tràn vào thịt khi những con vật này bị mổ Chúng cũng có mặt ở phân và dễ dàng
"đột nhập" vào trứng gia cầm qua những lỗ nhỏ li ti ở vỏ Salmonella là một
trong những thủ phạm chính gây ngộ độc thực phẩm vào mùa hè
Những thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, trứng, sữa, sò, hến
rất dễ bị nhiễm salmonella trong quá trình chế biến, bảo quản, vận chuyển
nếu không bảo đảm vệ sinh
2.2.1 VI KHUẨN SALMONELLA TRÊN GIA CẦM.
Gây 3 thể bệnh: Bệnh thương hàn, phó thương hàn và bệnh bạch lỵ
2.2.1.1 Bệnh thương hàn gà.
Bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi 4 tuần sau khi nở
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Salmonella gallinarum gây ra.
Phương thức truyền lây:
- Lây lan qua đường tiêu hóa như thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn
nuôi mang mầm bệnh
- Lây nhiễm do nhôt chung gà bệnh
- Lây nhiễm qua trứng do gà mẹ nhiễm bệnh, vi trùng từ buồng trứng xâm nhập vào phôi
- Quan trọng nhất là lây nhiễm qua phân chứa mầm bệnh
Triệu chứng:
- Bệnh ở gà con: Do trứng bị nhiễm vi trùng thường hàn nên khi sanh
gà con ốm yếu, ủ rũ, mắt lim dim, kêu liên hồi, không ăn, tụ tập gần đèn sưởi ấm Phần lớn gà bị sốt cao, tiêu chảy lúc đầu loãng thối vàng sau tiêu chảy trắng bạch Phân dính bết vào hậu môn làm tắt hậu môn, không đi tiểu được, bụng to dần rồi chết (thường chết vào ngày tuổi thứ 4- 5)
Trang 18- Bệnh ở gà lớn: thường ở thể mãn tính, gà suy nhược, mào yếm nhợt nhạt, tiêu chảy thường xuyên phân màu xanh lục, một số bụng gà mái to, giảm đẻ trứng Vỏ trứng xù xì, dính máu ở vỏ hay trong lòng đỏ.
- Màng ngoài tim dày đục chứa nhiều dịch rĩ vàng
- Ruột viêm có các mảng trắng trên niêm mạc ruột, viêm khớp, lách sưng to, thận sung huyết đỏ Dạ dày thức ăn bị cô động lại màu vàng
Trang 19- Viêm buồng trứng, ống dẫn trứng, nang trứng méo mó dị hình và dễ
vỡ ở ống dẫn trứng làm tắt ống dẫn trứng và tích lại bên trong xoang bụng chứa nhiều nước làm bụng xệ Lòng đỏ trứng lưu lại ở gà con mới nở chết
Hình.17 Viêm phúc mạc, viêm cơ tim, màng tim có Fibrin
Hình.18 Viêm ruột có các mảng trắng trên niêm mạc ruột
Hình.19 Lòng đỏ trứng lưu lại ở gà con mới nở chết