1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

hoạt động của thông tin và các chỉ tiêu đo lường nền kinh tế thông tin

35 561 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Thông tin” mới bắt đầu trở thành đối tượng của nghiên cứu khoa học và kỹ thuật từ giữa thế kỷ 20 này, và từ chỗ là đối tượng của khoa học, nó đã nhanh chóng được nhận thức như là nội dung cơ bản của hoạt động điều khiển và quản lý, rồi là nội dung chủ yếu của một nền kinh tế mới và một nền văn minh mới của loài người. Người ta đã nói đến thông tin như là một trật tự, là quyền lực, là nguồn tài nguyên chủ chốt của một nên kinh tế và là yếu tố cơ bản của một nền kinh tế mới, một xã hội mới – xã hội thông tin.

Trang 1

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

-*** -

KINH TẾ THÔNG TIN

(4080603-01)

ĐỀ TÀI 4 : HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TIN & CÁC CHỈ TIÊU ĐO

LƯỜNG NỀN KINH TẾ THÔNG TIN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

TS Lê Thanh Huệ

Hà Thị Hồng Trần Thị Huệ Trần Thị Hương

Lê Thị Thanh Huyền

Hà Nội – 2016

Trang 2

MỤC LỤC

I TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THÔNG TIN 4

1 Khái niệm kinh tế thông tin 4

2 Đặc tính thông tin 4

3 Vai trò của kinh tế thông tin 5

II HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TIN 7

1 Hệ thống thông tin 7

2 Hệ thống thông tin quản lý 9

2.1 Khái niệm hệ thống thông tin quản lý 9

2.2 Chức năng của thông tin quản lý 12

3 Hệ thống thông tin cấp chuyên gia 13

Khái niệm hệ thông tin tự động hóa văn phòng 13

Vai trò và các hoạt động của văn phòng trong một tổ chức 14

III CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG NÊN KINH TẾ THÔNG TIN 16

1 Nhóm chỉ tiêu cơ bản của công nghệ thông tin và truyền thông – ICT 16

1.1 Số người dùng Internet 16

1.2 Đường truyền băng thông rộng – Portal 18

1.3 Số máy tính 19

1.4 Số thuê bao di động 21

2 Tài nguyên cho nền kinh tế thông tin 22

3 Thương mại điện tử 23

Khái niệm 23

Các phương tiện thực hiện thương mại điện tử 23

Lợi ích của thương mại điện tử 24

Các loại hình thương mại điện tử 25

Pháp luật về thương mại điện tử 29

Thanh toán điện tử 29

Tránh rủi ro trong thương mại điện tử 31

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Nói đến sự phát triển của xã hội loài người, không thể không nói đến sự phát triển và sự tác động của khoa học công nghệ Vai trò của công nghệ trong bất cứ giai đoạn nào của xã hội loài người cũng đã được lịch sử thừa nhận và tiến bộ công nghệ là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Nhờ vận dụng nhanh chóng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, cũng như tận dụng có hiệu quả làn sóng đổi mới công nghệ, nhất là trong công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học Cục diện hiện nay của nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới đã có sự thay đổi về căn bản Trong đó, cơ cấu sản xuất và nền tảng của sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, nhất là các công nghệ cao; các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) của một nước, với nền tảng là hoạt động xử lý trông tin; tri thức và quyền sở hữu trí tuệ là tài sản quan trọng và quý báu nhất của mỗi quốc gia và sáng tạo là động lực của sự phát triển Vì vậy để tìm hiểu kỹ hơn về nền kinh tế thông tin – Kinh tế số Nhóm em lựa chọn tìm hiểu đề

tài “Hoạt động của Thông tin và các chỉ tiêu đo lường nền Kinh tế Thông

tin”

Trong quá trình hoàn thiện, không thể tránh khỏi có sai sót, kính mong

cô giúp đỡ và góp ý, để chúng em hoàn thiện thêm kiến thức

Em xin chân thành cám ơn!

Trang 4

I TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THÔNG TIN

1 Khái niệm kinh tế thông tin

 Thông tin: là tập hợp các dữ liệu sau khi được xử lý cho ta biết về một vấn đề

 Thông tin kinh tế: là thông tin được xử lý trong lĩnh vực kinh tế

 Nói rộng hơn là sự hiểu biết trở thành nguyên liệu đầu vào và nguồn gốc của giá trị trong nền kinh tế, người ta gọi đó là nền kinh tế thông tin Và thông tin, lúc này, trở thành tín hiệu điều khiển các quyết định kinh tế

 Khái niệm “Thông tin” mới bắt đầu trở thành đối tượng của nghiên cứu khoa học và kỹ thuật từ giữa thế kỷ 20 này, và từ chỗ là đối tượng của khoa học, nó

đã nhanh chóng được nhận thức như là nội dung cơ bản của hoạt động điều khiển

và quản lý, rồi là nội dung chủ yếu của một nền kinh tế mới và một nền văn minh mới của loài người Người ta đã nói đến thông tin như là một trật tự, là quyền lực, là nguồn tài nguyên chủ chốt của một nên kinh tế và là yếu tố cơ bản của một nền kinh tế mới, một xã hội mới – xã hội thông tin

 Thông tin trở thành một nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn mà nội dung “Thông tin” bao trùm khắp các hoạt động sản xuất và kinh doanh, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong bản thân các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, khi mà khu vực “Thông tin” đóng góp một tỉ trọng lớn(40% hoặc cao hơn) phần giá trị gia tăng trong thu nhập quốc dân của một nền kinh tế phát triển, hay nói một cách khác khi nền kinh tế chuyển sang giai đoạn “ nền kinh tế của thông tin và trí tuệ”

 Và trong một tương lai, khi thông tin trở thành của mọi người và đến được với mọi người, khi mọi nhu cầu ngày càng phong phú về thông tin của mọi thành viên xã hội trong mọi mối quan hệ gia lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống, vv.đều được đáp ứng một cách nhanh chóng Thuận lợi, thì xã hội sẽ trở thành

xã hội thông tin, với chất lượng sống cao hơn của con người trong một giai đoạn văn minh mới

2 Đặc tính thông tin

 Hội tụ và tích hợp truyền thông và công nghệ xử lý dữ liệu vào công nghệ thông tin

 Ảnh hưởng mạnh mẽ c ủa các ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh tế

 Hiện nay các nghành kinh tế sử dụng rất nhiều ứng dụng của công nghệ thông tin, có rất nhiều ngành nếu không có công nghệ thông tin thì sẽ ko thể hoạt động

Trang 5

được Ví dụ như kế toán, kiểm toán,ngân hàng… Ứng dụng mạng lưới công nghệ thông tin rộng khắp các tổ chức kinh tế

3 Vai trò của kinh tế thông tin

 Nhờ có các dịch vụ thông tin mà các doanh nghiệp, các ngành, các khu vực của nền kinh tế không ngừng phát triển Và như vậy, nó có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như trong quá trình thực hiện CNH- HĐH đất nước, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và cạnh tranh ngày càng gay gắt khốc liệt thì vai trò của dịch vụ thông tin thương mại lại càng trở nên quan trọng và

cụ thể hơn

 Dịch vụ thông tin kinh tế nâng cao hiệu quả kinh doanh do mở rộng được quy

mô kinh doanh, tiết kiệm được chi phí Ở tầm vĩ mô, vai trò này được thể hiện

là nhờ có những thông tin về thị trường, về nhu cầu mà hoạt động kinh doanh của toàn xã hội đạt kết quả tốt hơn tiết kiệm chi phí hơn, thị trường được mở rộng cả trong nước và Quốc tế Từ đó hiệu quả và quy mô tổng thể nền kinh tế được nâng lên và mở rộng Dưới góc độ vĩ mô, thì nhờ có dịch vụ này mà doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu thực tế của người tiêu dùng từ đó có biện pháp kinh doanh có hiệu quả hơn, thị trường thị phần được mở rộng và quy mô kinh doanh ngày một lớn hơn

 Dịch vụ thông tin kinh tế thúc đảy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự cách mạng hoá trong lưu thông

 Dịch vụ thông tin kinh tế thu hút một lượng lao động lớn Ở tầm vĩ mô, đây là

sự chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành dịch vụ tạo nên cơ cấu lao động hợp lý Còn ở tầm vi mô, thì đây là một ngành dịch vụ thu hút lớn lượng lao động sống rất lớn Và sản phẩm của dịch vụ này chủ yếu phụ thuộc vào con người

 Dịch vụ thông tin nâng cao chất lượng phục vụ người tiêu dùng

 Dịch vụ thông tin phục vụ cho quản lý Nhà nước về kinh tế và thương mại được tốt hơn Nhờ có các thông tin mà các cấp quản lý đề ra những quyết định kịp thời chính xác và có hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về kinh tế

 Dịch vụ thông tin góp phần thu hút đầu tư cho nền kinh tế Nhờ sự cung cấp các thông tin mà các nhà đầu tư có thể tìm hiểu được chính sách, luật pháp và cơ hội đầu tư ở nước ta Từ đó họ sẽ đầu tư vào nước ta Ngoài ra, dịch vụ thông tin còn có các vai trò như đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ, hình thành

Trang 6

các loại dịch vụ mới, hình thành các thị trường trọng yếu trong nền kinh tế thị trường

 Cùng với sự phát triển hướng về kinh tế thông tin, cơ cấu nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia cũng đang có sự dịch chuyển về khu vực thông tin - dịch vụ với nhiều ngành, nghề mới được hình thành Trong số 500 nghề hàng đầu ở những năm cuối thế kỷ trước đã có gần 400 nghề chưa từng xuất hiện ở thời điểm giữa thế kỷ này, riêng trong lĩnh vực CNTT đã có khoảng 40 ngành nghề khác nhau

 Nguồn nhân lực trong kinh tế thông tin

 Các ứng dụng của kinh tế thông tin

 Quản lí điều hành trong cơ quan chính phủ, các bộ ban ngành

 Quản lí điều hành doanh nghiệp, tập đoàn, cộng đồng xã hội

 Đưa ra các thông tin chính xác về tình hình của một quốc gia, doanh nghiệp

và người dân

Trang 7

II HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TIN

1 Hệ thống thông tin

 Khái niệm hệ thống thông tin

 Là một hệ thống sử dụng công nghệ thông tin để thu thập, truyền, lưu trữ, xử lý

và biểu diễn thông tin trong một hay nhiều quá trình kinh doanh

 Các tổ chức có thể sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau Trong việc quản trị nội bộ, hệ thống thông tin sẽ giúp đạt được sự thông hiểu nội bộ, thống nhất hành động, duy trì sức mạnh của tổ chức, đạt được lợi thế cạnh tranh

 Với bên ngoài, hệ thống thông tin giúp nắm bắt được nhiều thông tin về khách hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh, tạo đà cho phát triển

 Ví dụ

 Cửa hàng bán sỉ và lẻ các loại nước ngọt, nước suối, rượu, bia Đối tượng mà cửa hàng giao tiếp là khách hàng mua các loại nước giải khát, nhà cung cấp (các công ty sản xuất nước giải khát) cung cấp các loại nước giải khát cho cửa hàng

và ngân hàng giao tiếp với cửa hàng thông qua việc gửi, rút và thanh toán tiền mặt cho nhà cung cấp

 Như chúng ta đều biết, đối với con người, thông tin là vô cùng cần thiết Thông tin cung cấp nội dung cho những trao đổi giữa con người với con người và giữa con người với môi trường, trước hết tạo điều kiện cho con người cùng nhau thích nghi với môi trường, sau nữa để con người có thể cùng nhau làm chủ môi trường, khai thác môi trường và hướng môi trường phục vụ cho mục đích của mình Bên cạnh khái niệm thông tin còn có nhiều khái niệm khác cũng mang nghĩa tương

tự hoặc khá gần như: hiểu biết, kiến thức, quan sát, sự kiện, dữ liệu, thông báo,

báo cáo, tín hiệu Tuy nhiên, đơn giản hơn cả, có thể định nghĩa thông tin là

tất cả những gì có thể giúp con người hiểu được về đối tượng mà mình quan tâm

 Quá trình truyền thông tin

 Quá trình thông tin thực chất là quá trình chuyển tin từ người gửi tin đến người nhận tin Quá trình chuyển tin này được bắt đầu từ việc mã hoá thông tin từ người gửi, chuyển qua mạch trung gian và tiếp theo là giải mã trước khi đến người nhận Quá trình thông tin có thể được minh họa trong mô hình sau:

Trang 8

 Hoạt động xử lý thông tin có nhiều cấp độ khác nhau, từ khâu đơn giản nhất là thu thập dữ liệu, thông qua các quá trình lựa chọn, sắp xếp, phân tích, tổng hợp để đi tới mục đích cần đạt tới

 Hệ thống thông tin thông thường được cấu thành bởi:

 Các phần cứng

 Phần mềm

 Các hệ mạng

 Dữ liệu

 Con người trong hệ thống thông tin

 Hệ thống thông tin phát triển qua 4 loại hình :

 Hệ xử lý dữ liệu : lưu trữ và cập nhật dữ liệu hàng ngày, ra các báo cáo theo

định kỳ

 Hệ thống thông tin quản lý (Management Information System - MIS) : cơ sở

dữ liệu hợp nhất và các dòng thông tin giúp con người trong sản xuất, quản lý

và ra quyết định

 Hệ trợ giúp quyết định : Hỗ trợ cho việc ra quyết định (cho phép nhà phân tích

ra quyết định chọn các phương án mà không phải thu thập và phân tích dữ liệu)

 Hệ chuyên gia: Hỗ trợ nhà quản lý giải quyết các vấn đề và làm quyết định một cách thông minh

 Vai trò:

 Hệ thống thông tin đóng vai trò trung gian giữa hệ quyết định và hệ tác nghiệp trong hệ thống quản lý

Trang 9

 Nhiệm vụ:

 Trao đổi thông tin với môi trường ngoài

 Thực hiện việc liên lạc giữa các bộ phận và cung cấp thông tin cho các hệ tác nghiệp và hệ quyết định

 Mối liên hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống thông tin:

2 Hệ thống thông tin quản lý

2.1 Khái niệm hệ thống thông tin quản lý

 Là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản lý của tổ chức Nó bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho những người soạn thảo các quyết định trong tổ chức

 Đây cũng là tên gọi của một chuyên ngành khoa học Ngành khoa học này thường được xem là một phân ngành của khoa học quản lý và quản trị kinh doanh

 Ngoài ra, do ngày nay việc xử lý dữ liệu thành thông tin và quản lý thông tin liên quan đến công nghệ thông tin, nó cũng được coi là một phân ngành trong toán học, nghiên cứu việc tích hợp hệ thống máy tính vào mục đích tổ chức

Trang 10

 Các loại thông tin quản lý

 Thông tin quản lý: là những dữ liệu được xử lý và sẵn sàng phục vụ công tác quản lý của tổ chức Có 3 loại thông tin quản lý trong một tổ chức, đó là thông

tin chiến lược, thông tin chiến thuật, và thông tin điều hành

 Thông tin chiến lược: là thông tin sử dụng cho chính sách dài hạn của tổ chức, chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lý cao cấp khi dự đoán tương lai Loại thông tin này đòi hỏi tính khái quát, tổng hợp cao Dữ liệu để xử lý ra loại thông tin này thường là từ bên ngoài tổ chức Đây là loại thông tin được cung cấp trong

những trường hợp đặc biệt

 Thông tin chiến thuật: là thông tin sử dụng cho chính sách ngắn hạn, chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lý phòng ban trong tổ chức Loại thông tin này trong khi cần mang tính tổng hợp vẫn đòi hỏi phải có mức độ chi tiết nhất định dạng

thống kê Đây là loại thông tin cần được cung cấp định kỳ

 Thông tin điều hành: (thông tin tác nghiệp) sử dụng cho công tác điều hành tổ chức hàng ngày và chủ yếu phục vụ cho người giám sát hoạt động tác nghiệp của tổ chức Loại thông tin này cần chi tiết, được rút ra từ quá trình xử lý các

dữ liệu trong tổ chức Đây là loại thông tin cần được cung cấp thường xuyên

 Các đặc trưng của hệ thống thông tin quản lý

 Hỗ trợ chức năng xử lý dữ liệu trong các hoạt động nghiệp vụ từ giao dịch đến

phân tích, lưu trữ và ra quyết định

 Sử dụng cơ sở dữ liệu thống nhất, có nhiều chức năng xử lý dữ liệu

 Cung cấp thông tin cho các nhà quản lý, tạo điều kiện để họ thâm nhập vào các

cơ sở dữ liệu

 Đủ mềm dẻo để có thể thích ứng được với những thay đổi ở mức độ nhất định

về quy trình xử lý và nhu cầu thông tin

 Đảm bảo toàn vẹn dữ liệu và an toàn cho hệ thống, hạn chế việc thâm nhập của những người không có thẩm quyền

 Cấu trúc hệ thống thông tin quản lý

 Một hệ thống thông tin quản lý được thiết kế cấu trúc tốt gồm bốn hệ thống con, đó là các hệ thống ghi chép nội bộ, hệ thống tình báo, hệ thống nghiên cứu

và hệ thống hỗ trợ quyết định

Trang 11

 Hệ thống ghi chép nội bộ: Đảm bảo cung cấp những số liệu hiện thời, nhiều tổ

chức đã phát triển những hệ thống ghi chép nội bộ tiên tiến có sử dụng máy tính để có thể cung cấp thông tin nhanh và đầy đủ hơn

 Hệ thống tình báo: Cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin hàng ngày,

tình hình đang diễn ra về những diễn biến của môi trường bên ngoài

 Hệ thống nghiên cứu thông tin: Thu thập những thông tin liên quan đến một

vấn đề cụ thể đặt ra trước tổ chức, đặc điểm của việc nghiên cứu thông tin tốt

là có phương pháp khoa học, sử dụng nhiều phương pháp, xây dựng mô hình, lượng định tỷ lệ chi phí/lợi ích của giá trị của thông tin

 Hệ thống hỗ trợ quyết định: Gồm các phương pháp thống kê và các mô hình

quyết định để hỗ trợ các nhà quản lý ban hành các quyết định đúng đắn hơn

 Vai trò của công nghệ thông tin

 Công nghê ̣ thông tin được xem là nền tảng vững chắc phục vụ cho tiến trình phát triển đất nước bền vững, hướng đến mô ̣t trong những quốc gia có nền kinh

tế, an ninh, chính tri ̣, văn hóa, giáo dục, xã hô ̣i ổn đi ̣nh

 Công nghệ thông tin giữ mô ̣t vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay, là nhân tố quan trọng, là kênh kết nối trao đổi giữa các thành phần của xã hội, văn hóa, giáo du ̣c, kinh tế và thời đa ̣i toàn cầu hóa

 Các loại hệ thống thông tin quản lý thông dụng gồm:

 Hệ thống thông tin kế toán (AIS) là một cấu phần đặc biệt của hệ thống thông tin quản lý nhằm thu thập, xử lý và báo cáo các thông tin liên quan đến các nghiệp vụ tài chính

 Hệ thống thông tin bán hàng / Marketing: nhằm thỏa mãn nhu cầu và ý muốn khách hàng

 Hệ thống thông tin sản xuất: Hỗ trợ ra quyết định đối với những hoạt động phân phối và hoạch định các nguồn lực kinh doanh và sản xuất

 Hệ thống thông tin tài chính

 Hệ thống thông tin nhân sự là hệ thống bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý (tuyển dụng, quản lý, trả lương, nâng cao hiệu quả hoạt động,

và sa thải nhân viên trong doanh nghiệp, v.v ) có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp

Trang 12

2.2 Chức năng của thông tin quản lý

 Mỗi nhà quản lý ở mọi cấp, mọi nơi đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì môi trường cho phép các cá nhân làm việc, để hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý Hoạt động quản lý có các chức năng sau:

 Chức năng dự báo: Là phán đoán trước toàn bộ quá trình và các hiện tượng mà trong tương lai có thể xảy ra có liên quan đến hệ thống quản lý Nó bao gồm các yếu tố thuận lợi, khó khăn, các yếu tố tác động của môi trường bên ngoài tới hệ thống và các yếu tố tác động của chính môi trường bên trong Tuy nhiên

dự báo chỉ mang tính định hướng, không phải là những chỉ số có thể định lượng một cách chính xác; cho nên trong quá trình diễn biến thực tế phải thường xuyên

điều chỉnh cho phù hợp

 Chức năng lập kế hoạch: Là việc lựa chọn một trong những phương án hành động tương lai cho toàn bộ và cho từng bộ phận của một tổ chức - bao gồm sự lựa chọn các mục tiêu của tổ chức, của từng bộ phận và xác định các phương

thức, các bước đi cụ thể để đạt các mục tiêu đó

 Chức năng tổ chức và nhân sự: Là việc xây dựng và duy trì những hệ thống các vai trò và nhiệm vụ, bao gồm cả việc bố trí, lựa chọn và đào tạo cán bộ Đây chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại

trong hoạt động của hệ thống và giữ vai trò hết sức quan trọng trong quản lý

 Chức năng lãnh đạo và động viên: Là hoạt động hướng dẫn, đào tạo, đôn đốc, động viên và thúc đẩy những thành viên trong tổ chức làm việc với năng suất,

chất lượng, hiệu quả, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức

Trang 13

 Chức năng kiểm tra và điều chỉnh: Là việc đo lường và chấn chỉnh quá trình thực hiện, nhằm có thể đảm bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch đề ra để đạt

tới các mục tiêu của tổ chức đã và đang được hoàn thành

 Chức năng đánh giá: Đánh giá nhằm cung cấp cho cơ quan quản lý các thông tin đúng, cần thiết về tình hình của đối tượng quản lý và kết quả hoạt động của

cả hệ thống, đồng thời dự kiến quyết định bước phát triển mới

 Thông tin và các hệ thống có liên quan sẽ đóng vai trò trợ giúp cho các nhà quản

lý khi thực hiện các chức năng trên

Khái niệm hệ thông tin tự động hóa văn phòng

 Hệ thống thông tin tự động hóa văn phòng (OAS – Office Automated System)

là một hệ thống thông tin vi tính nhằm thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền các mẩu thông báo, các lời nhắn, các tài liệu và các dạng truyền tin khác giữa các cá nhân, các nhóm làm việc và các tổ chức khác nhau

 Hệ thống OAS làm các nhiệm vụ:

 Thu thập: Văn bản, tài liệu, lịch trình

 Xử lý: Quản lý văn bản, lập lịch trình, thông tin liên lạc

 Phân phối: Văn bản, lịch biểu, thư điện tử

 Người dùng: Nhân viên văn thư, tất cả các nhân viên

 Hệ thống này có tác dụng hỗ trợ nhân viên văn phòng trong các chức năng phối hợp và liên lạc trong văn phòng

 Hệ thống OAS có khả năng làm tăng hiệu quả của việc quản lý, và công việc của các chuyên gia, nhờ việc chuyên môn hóa, giảm thời gian và nỗ lực cần thiết

để thực hiện và nhận các thông tin được truyền trong một doanh nghiệp

Trang 14

nỗ lực

Công nghệ thông tin hỗ trợ

40% Quản lý tài liệu

Các phần cứng, phần mềm

30% Liên lạc

Thiết bị điện thoại số Các phần mềm làm việc theo nhóm

Quản lý dữ liệu về các cá nhân và nhóm

Nhập và quản lý dữ liệu về khách hàng, những chủ cung cấp bên ngoài

tổ chức, và cá nhân các nhóm trong

tổ chức

10% Quản lý dữ liệu

về khách hàng, theo dõi dự án, thông tin lịch làm việc

Quản lý dự án Lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá, điều khiển các dự án

Phân phối các nguồn lực và các quyết định cá nhân

10% Quản lý dự án

Các công cụ quản lý dự án trên máy tính

Trang 15

Vai trò và các hoạt động của văn phòng trong một tổ chức

 Văn phòng bao gồm nhiều dạng công việc khác nhau Một văn phòng thường thực hiện các công việc chính:

 Xử lý dữ liệu

 Xử lý duy trì các bản ghi dữ liệu tài chính

 Hỗ trợ quản trị: bao gồm các hoạt động hỗ trợ cho nhà quản trị như lập lịch

và duy trình lịch hẹn cho các nhân viên quản trị, xử lý thư tín, xắp xếp các chuyến công tác và các cuộc họp cho nhà quản trị, cho phép nhà quản trị tập chung vào việc ra quyết định

 Xử lý tài liệu (xử lý văn bản): bao gồm việc tạo, lưu giữ, sửa chữa, phân phối

và sao chụp các tài liệu Chức năng xử lý tài liệu khác với chức năng xử lý

dữ liệu ở chỗ đối tượng xử lý là các văn bản, từ ngữ Tài liệu có thể là những bức thư, các báo cáo, các tối hậu thư hay các đề nghị

 Việc thực hiện các công việc trên có sự tham gia của nhiều ngành nghề chuyên môn khác nhau, của những người quản lý, thư ký, bán hàng, và các chuyên gia trên nhiều lĩnh vực Như vậy văn phòng có thể coi như một nơi hội tụ của những con người có chuyên môn khác nhau cùng hợp tác để đạt được một mục đích chung nào đó Đối với một tổ chức văn phòng có những vai trò sau:

 Kết hợp và quản lý công việc của các chuyên gia trong từng lĩnh vực và các nhân công tri thức trong một doanh nghiệp

 Liên kết các đơn vị và các dự án khác nhau trong một tổ chức

 Gắn liền một tổ chức với môi trường bên ngoài, với các khách hàng và những nhà cung cấp

Trang 16

III CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG NỀN KINH TẾ THÔNG TIN

 Trọng tâm của công tác đo lường và phân tích xã hội thông tin là để kiểm tra và hiểu rõ hơn về tác động kinh tế của công nghệ thông tin và truyền thông và các ứng dụng chẳng hạn như thương mại điện tử tới nền kinh tế ở Việt Nam

1 Nhóm chỉ tiêu cơ bản của công nghệ thông tin và truyền thông – ICT

 Theo thống kê của “We are social” tính đến 1/1/2015

 Việt Nam có 90,7 triệu người, trong đó:

 39,8 triệu người sử dụng Internet (tương đương với 44%)

 28 triệu người sở hữu tài khoản mạng xã hội (chiếm 31%)

 128,3 triệu người có kết nối mạng di động (chiếm 141%)

 Trung bình 1 người Việt Nam sử dụng 1,4 thuê bao di động

 Có 24 triệu tài khoản MXH sử dụng bằng điện thoại di động (tương đương 26%)

 Số liệu thống kê từ Facebook tính đến thời điểm tháng 6/2015: 30 triệu người

Trang 17

 Thời gian sử dụng Internet trung bình 1 ngày

 Máy tính (máy tính để bàn, laptop, máy tính bảng) là 5 giờ 10 phút

 Điện thoại 2 giờ 41 phút

 MXH trung bình (qua bất kì phương thức nào) là 3 giờ 04 phút

 Thời gian xem ti vi trung bình của những người sử dụng Internet là 1 giờ 48 phút

 Mức độ phổ biến của Internet

 Số người sử dụng Internet là 39,8 triệu người (44% dân số)

 32,4 triệu người sử dụng Internet qua điện thoại (36% dân số)

Ngày đăng: 03/10/2016, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w