1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ

57 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo quản thoáng đòi hỏi phải có hệ thống kho vừa thoáng, vừakín và có hệ thống thông hơi thoáng gió hợp lý để phòng trường hợp khối nông sản cóthủy phần và nhiệt độ cao hơn so với không

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HCM

KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC VÀ DẦU KHÍBỘ MÔN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

CẤU TẠO KHO BẢO QUẢN

NGŨ CỐC VÀ ĐẬU ĐỖ

Trang 2

NĂM 2005

MỤC LỤC

Trang

I Giới thiệu 3

II Kỹ thuật bảo quản 4

II.1 Yêu cầu đối với kho bảo quản 4

II.2 Yêu cầu về tiêu chuẩn phẩm chất 4

II.3 Chế độ vệ sinh kho tàng 4

II.4 Chế độ kiểm tra theo dõi tình hình phẩm chất 4

II.5 Bảo quản nông sản ở trạng thái thoáng 4

II.6 Bảo quản kín 6

II.7 Bảo quản ở trạng thái lạnh 10

II.8 Bảo quản bằng hóa học 10

II.9 Bảo quản trong khí quyển điều chỉnh 10

II.10 Bảo quản hạt giống 10

III Phương pháp bảo quản 12

III.1 Bảo quản theo phương pháp cổ truyền 12

III.2 Bảo quản kín 13

III.3 Bảo quản đơn giản đã có cải tiến 14

III.4 Bảo quản bằng phương pháp hiện đại 14

III.5 Các thủ tục tiếp nhận hạt 17

III.6 Thủ tục xuất hàng 17

IV Tiêu chuẩn việt nam về bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ TCVN 5089 : 1990 (ISO 6322/2-1981) 17

IV.1 Vận chuyển 17

IV.2 Bảo quản dạng hở 17

IV.3 Bảo quản trong kho có cấu tạo đặc biệt khác silo 18

IV.3.1 Bảo quản sản phẩm đóng bao trong kho 18

IV.3.2 Bảo quản hạt rời trong kho 19

IV.4 Bảo quản bằng silo 19

IV.5 Hệ thống bảo quản đặc biệt 19

IV.6 Bảo quản trong khi vận chuyển 20

V Giới thiệu một số phương pháp bảo quản 21

V.1 Bảo quản thóc 22

V.2 Bảo quản bắp 29

V.3 Bảo quản các loại đậu đỗ (đậu nành, đậu trắng, đậu xanh) 30

V.4 Bảo quản lạc (đậu phộng) 31

V.5 Bảo quản các loại bột (bột sắn, bột ngô…) 31

V.6 Bảo quản đại mạch 33

V.7 Bảo quản hạt với số lượng ít 35

V.7.1 Thùng chứa hạt 37

V.7.2 Bảo quản hạt bằng bao 39

V.7.3 Bảo quản hạt theo phương pháp kín 43

VI Tài liệu tham khảo 56

Trang 4

Hai phương pháp bảo quản đã được sử dụng: Bảo quản trong bao hoặc bảo quản rời

ở các loại kho chứa khác nhau Việc lựa chọn phương pháp bảo quản nào phụ thuộc vàocác yếu tố: loại nông sản, thời hạn bảo quản, giá trị nông sản, khí hậu, hệ thống vậnchuyển, tình trạng nhân công và giá nhân công, tình trạng bao bì và giá cả bao bì, tìnhhình hoạt động của chuột và một số loại côn trùng

Các phương pháp bảo quản hạt được chia làm ba phương pháp chủ yếu (bảo quảnhạt ở trạng thái khô, bảo quản hạt ở trạng thái lạnh, bảo quản hạt ở trạng thái kín) và haiphương pháp bổ trợ (bảo quản hạt bằng thông gió cưỡng bức, bảo quản hạt bằng hóachất) Làm sạch tạp chất được coi là phương pháp bổ trợ cho mọi phương pháp bảo quảnhạt Dùng tia phóng xạ thực chất là tiêu diệt hoặc hạn chế mọi hoạt động sống của khốihạt, về mục đích nó cũng giống như phương pháp bảo quản dùng hóa chất

Phân loại kho:

- Dựa vào mức độ cơ giới của quá trình vận chuyển trong xuất và nhập:

+ Kho thường: là kho mà tất cả các khâu vận chuyển đều do con người đảm nhận.+ Kho cơ giới: trong quá trình xuất và nhập kho có sự hỗ trợ của máy móc, thiết bịvận chuẩn: băng tải, gàu tải, trục tải, vít tải, vựa tiếp nhận Có 2 loại kho cơ giới: kho cóthiết bị gia công chất lượng (máy sàng, máy sấy, máy phân loại, máy rửa hạt) và khokhông có thiết bị gia công chất lượng

+ Kho máy (silo): hệ thống gồm các tòa nhà và công trình với các thiết bị, máymóc phục vụ cho gia công và bảo quản chất lượng bằng tự động hóa hoàn toàn Dựa vàocách bố trí các tòa nhà và công trình thiết bị mà chia ra các loại silo khác nhau

Nhà silo: thiết bị, máy móc xuất, nhập

Tháp silo: dùng để bảo quản hạt Chiều cao: 6-40m, đường kính tháp 1,5-6m tùytheo sức chịu đựng của nền và lượng hàng bảo quản

Công trình phụ: xưởng cơ khí, mộc liên quan đến sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị

Ở Việt Nam có kho cuốn (bảo quản đổ rời), kho A1, A2, A3 dùng để bảo quảnđóng bao

- Dựa vào vị trí đặt kho:

+ Kho thu mua: gần nơi sản xuất nguyên liệu, năng suất loại kho nhỏ, có thiết bị xửlý chất lượng hạt (làm khô, làm sạch, phân loại) Mức độ cơ giới tùy thuộc từng vùng.Thời gian bảo quản tương đối ngắn

+ Kho trung chuyển: đặt ở các đầu mối giao thông, thường là các thành phố (kể cảđường sắt, đường bộ, đường thủy) Nhiệm vụ của kho là tiếp nhận nguyên liệu ở các nơiđưa đến, đồng thời phân phối đi các nơi còn thiếu Dung lượng kho lớn và xuất nhậpquanh năm Mức độ cơ giới trong vận chuyển cao

+ Kho xuất nhập khẩu: Xây dựng ở các cảng biển Dung lượng không lớn (tính chodung tích của tàu) Mức độ cơ giới cao để rút ngắn thời gian xuất, nhập Đảm bảo có thểnhập dạng bao hoặc dạng rời

Trang 5

+ Kho dự trữ của nhà nước (2 loại): kho dự trữ quốc phòng và dự trữ thiên tai hoặcđiều hòa giá cả Loại kho này đặc biệt kiên cố.

+ Kho của nhà máy chế biến: yêu cần dự trữ tối thiểu là 1 tháng theo năng suấtcủa nhà máy, để đảm bảo sản xuất liên tục

+ Kho cửa hàng: luân phiên, vận chuyển ra vào liên tục

Theo mục đích và đối tượng hạt bảo quản, người ta chọn nhà kho khác nhau

II KỸ THUẬT BẢO QUẢN:

II.1 Yêu cầu đối với kho bảo quản:

Kho tàng phải đảm bảo chống được mọi ảnh hưởng xấu bên ngoài Đặc biệt làkhống chế được nhiệt độ, độ ẩm và bức xạ mặt trời xâm nhập vào kho, đồng thời phải cókhả năng thoát nhiệt và ẩm tốt, đảm bảo xuất nhập kho thuận tiện Đối với từng loại nôngsản phải có từng loại kho thích hợp riêng

Riêng đối với hạt có khối lượng ít cần phải có những dụng cụ bảo quản thích hợp ởcác cơ sở sản xuất và công ty như chum, vại, bồ…

II.2 Yêu cầu về tiêu chuẩn phẩm chất:

Nông sản phẩm phải thường xuyên đảm bảo tiêu chuẩn phẩm chất cao nhất là lúctrước khi nhập kho Để giữ khối hạt và nông sản ở trạng thái an toàn được lâu dài phảiquản lý tốt tiêu chuẩn phẩm chất ngay từ khi thu nhập cũng như trong quá trình vậnchuyển và trong suốt quá trình bảo quản chế biến

II.3 Chế độ vệ sinh kho tàng:

Việc giữ gìn sạch sẽ kho tàng, dụng cụ thiết bị bao bì và nông sản là một trongnhững khâu công tác chính của nghiệp vụ bảo quản, là điều kiện căn bản nhất để phòngngừa khối nông sản khỏi bị hư hỏng biến chất

Vệ sinh kho tàng có thể ngăn ngừa được sự phát sinh phá hoại của côn trùng, visinh vật và các loài gặm nhấm khác

Nội dung và yêu cầu của công tác vệ sinh sạch sẽ bao gồm:

+ Giữ gìn khối nông sản luôn sạch sẽ, không làm tăng tạp chất, thủy phần, khôngđể nhiễm sâu hại

+ Giữ gìn kho tàng luôn luôn sạch sẽ, trên, dưới gầm kho, xung quanh kho khôngcó rác bẩn, nước ứ đọng, trước và sau mỗi lần xuất nhập phải tổng vệ sinh Có thể dùnghóa chất để xử lý trong và ngoài kho

Giữ gìn dụng cụ, phương tiện máy móc vận chuyển bảo quản chế biến, trước vàsau khi sử dụng phải sạch sẽ

Tuỳ theo mỗi loại kho và tính chất của nông sản mà có chế độ tổng vệ sinh thíchhợp Kho chứa lương thực mỗi tháng tổng vệ sinh từ 1-2 lần

II.4 Chế độ kiểm tra theo dõi tình hình phẩm chất:

Để kịp thời ngăn chặn những biến đổi có tác hại xảy ra trong quá trình bảo quản,để nắm chắc tình hình diễn biến về chất lượng của nông sản phẩm phải có chế độ kiểmtra theo dõi phẩm chất một cách có hệ thống

II.5 Bảo quản nông sản ở trạng thái thoáng:

Trang 6

Bảo quản thoáng là để khối nông sản tiếp xúc với môi trường không khí bên ngoàidễ dàng, nhằm điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm trong kho và khối nông sản một cách kịp thờithích ứng với môi trường bảo quản Do đó giữ được thủy phần và nhiệt độ của khối nôngsản ở trạng thái an toàn Bảo quản thoáng đòi hỏi phải có hệ thống kho vừa thoáng, vừakín và có hệ thống thông hơi thoáng gió hợp lý để phòng trường hợp khối nông sản cóthủy phần và nhiệt độ cao hơn so với không khí bên ngoài thì tiến hành thông gió tự nhiênhay quạt gió để tận dụng không khí khô lạnh ở ngoài vào Ngược lại khi nhiệt độ và độẩm ở ngoài không khí cao hơn trong kho, phải đóng kín kho để ngăn ngừa không khí nóngvà ẩmthâm nhập vào kho

Trong quá trình bảo quản thoáng, lợi dụng thiên nhiên để thông gió gọi là thônggió tiêu cực Còn nếu cũng là chế độ bảo quản thoáng, song ta áp dụng thông gió nhờ máymóc gọi là thông gió tích cực

- Thông gió tự nhiên: là phương pháp tương đối đơn giản, rẻ tiền, tuy nhiên cần có

các điều kiện về thời tiết, trời không có mưa, không có sương mù vì lúc đó độ ẩm cao sẽcó hại, gió thổi nhẹ…; về nhiệt độ, xung quanh kho, nhiệt độ không quá 320C và khôngthấp dưới 100C, nhiệt độ cao quá, lúc mở cửa thông gió, khí nóng sẽ làm tăng nhiệt độtrong kho, nếu thấp quá thì mang hơi lạnh vào kho làm ngưng tụ hơi nước trong kho; về độẩm tuyệt đối ngoài trời xung quanh kho phải thấp hơn độ ẩm tuyệt đối trong kho, nếu caohơn thì khi mở cửa thông gió, độ ẩm tuyệt đối bên ngoài có thể luồn vào làm cho độ ẩmtương đối trong kho lên cao, hạt, nông sản dễ bị nhiễm ẩm; về nhiệt độ điểm sương thìtrong kho phải thấp hơn ngoài kho, nếu không hơi nước sẽ ngưng tụ gây hậu quả bất lợi.Qua thực nghiệm, thông gió tự nhiên chỉ có thể tổ chức được trong trường hợp điểm sươngcủa môi trường có nhiệt độ cao không vượt quá 10C so với nhiệt độ không khí của môitrường có nhiệt độ thấp Khi thời cơ thông gió đã có, phải biết mở cửa kho, trước tiên mởcửa từ hướng gió thổi đến, tiếp đến mở cửa hai bên kho, sau cùng mới mở cửa cho khôngkhí thoát ra Cách mở như vậy không làm thay đổi đột ngột về nhiệt độ và độ ẩm trongkho

- Thông gió tích cực: Thông gió tích cực là cách xử lý lô hạt bằng lượng không khí

cho đi qua theo độ dày của nó Thông gió tích cực không phải riêng cho làm lạnh hạt màcòn dùng như một chế độ riêng biệt để bảo quản hạt Đây là một phương pháp hoàn thiệnnhất, rẻ tiền nhất áp dụng để bảo quản mà quá trình lại cơ khí hoàn toàn Phương pháp đểthực hiện thông gió mục đích thay không khí giữa các hạt với không khí mới, lạnh hoặckhô và nóng Cũng nhờ sự thông gió, hạt chưa chín có thể chín tiếp, giữ được độ bền vữngcủa hạt (độ nẩy mầm và năng lực nẩy mầm)

Giữa các hạt trong khối hạt có những khoảng trống và ở đó luồng không khí liêntục được tạo ra, trong môi trường này luôn có quá trình trao đổi khí, có quá trình hấp phụvà hấp thu từ hạt đến môi trường không khí và ngược lại Giữa không khí xung quanh cólô hạt với không khí trong lô hạt và không khí trong các ống mao quản của hạt thực hiệnquá trình trao đổi cố định Kết quả là sự xâm nhập của không khí vào chỗ trống của lô hạtluôn luôn thay đổi Khi ta dùng không khí lạnh thì lô hạt có thể lạnh nhanh, khi ta dùngkhông khí khô thì lô hạt được sấy khô Nhờ thông gió tích cực mà ta có thể sấy hoặc làmlạnh lô hạt để bảo quản một cách tốt nhất

Thông gió tích cực dẫn đến sự giảm nhiệt độ của lô hạt, độ ẩm của lô hạt cũnggiảm và thay đổi lượng không khí trong khoảng trống giữa các hạt và giữ được tính chấtgiống của lô hạt

Trang 7

Để thông gió tích cực cho khối hạt thì phải dùng đến những máy quạt có công suấtlớn hoặc máy thổi không khí Quạt có thể tiến hành quạt theo từng lớp từ trên xuốngxuống hoặc từ đáy lên nhờ những ống dẫn khắp lô hạt.

Với độ ẩm của hạt là 15%, khi thông gió tích cực sẽ cho ta kết quả tốt Ưu điểmnổi bật của thông gió tích cực là những chỗ trống trong lô hạt liên tục được thông gió.Trong lô hạt luôn luôn có sự trao đổi khí và độ ẩm giữa hạt với môi trường xung quanh hạtvà cuối cùng là không khí bên ngoài

Thông gió có thể được thực hiện bằng hai cách: liên tục và không liên tục Thônggió liên tục thường sử dụng vào các mùa nóng như mùa hè và mùa thu, vào những giờbuổi tối và buổi sáng của ngày khi hơi lạnh, còn về mùa đông thì suốt cả ngày

Khi quạt không khí vào khối hạt cần đáp ứng yêu cầu sau đây:

+ Không khí phải được quạt đều trong toàn khối hạt, tránh chỗ quạt nhiều, chỗkhông quạt

+ Cần đảm bảo đủ lượng không khí để thực hiện được mục đích giảm nhiệt độ vàđộ ẩm khối hạt

+ Chỉ quạt khi độ ẩm tương đối không khí ngoài trời thấp, nghĩa là sau khi quạt thìđộ ẩm khối hạt giảm xuống

+ Nhiệt độ không khí ngoài trời phải thấp hơn nhiệt độ của khối hạt

Muốn vậy ta phải xác định khả năng quạt không khí vào khối hạt

II.6 Bảo quản kín:

Bảo quản kín là đình chỉ sự trao đổi không khí giữa nông sản với môi trường bênngoài giữ cho khối nông sản luôn ở trạng thái an toàn Bảo quản kín còn có nghĩa là bảoquản trong điều kiện thiếu oxy, mục đích là để hạn chế quá trình hô hấp của hạt, đồngthời khống chế bớt sự phát sinh phát triển phá hoại của vi sinh vật và côn trùng Bảo quảnkín vẫn giữ được tính chất thực phẩm của hạt Song quá trình hô hấp trong quá trình nàysản sinh ra rượu etylic gây độc cho phôi hạt làm giảm độ nẩy mầm của chúng Vì vậy, cácloại hạt lương thực đều có thể áp dụng phương pháp bảo quản kín, riêng các loại hạt giốngcần thận trọng và phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật một cách chặt chẽ Đối với nhữnghạt dùng làm giống lâu năm, người ta không áp dụng phương pháp bảo quản này

Bảo quản ở trạng thái kín đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật sau đây:

+ Kho tàng, hoặc phương tiện chứa đựng nông sản phải kín hoàn toàn, không khíbên ngoàikhông thể xâm nhập được

+ Thiết bị kho tàng phải đảm bảo chống nóng, chống ẩm tốt

+ Phẩm chất ban đầu của hạt và nông sản phải đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng quyđịnh, nhất là thủy phần phải dưới mức an toàn, độ tạp chất phải thấp hơn mức qui định, độsạch và độ thuần phải dưới mức tối đa cho phép và tuyệt đối không có sâu mọt phá hoại

Ngoài các yêu cầu trên, để ngăn ngừa oxy không khí từ môi trường bên ngoài xâmnhập vào có hai cách:

+ Để cho lượng CO2 tích tụ lại và O2 mất dần trong quá trình hô hấp của hạt Bằngbiện pháp này thường mất nhiều thời gian nên không đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hạt vìkhi tích tụ đủ lượng CO2 nhất định thì cũng là lúc hạt đã giảm chất lượng một cách nghiêmtrọng

+ Thường người ta cho CO2 vào khối hạt bằng cách dùng CO2 ở dạng băng rải đềuthành từng lớp trên khối hạt CO2 không những chỉ có tác dụng ngăn ngừa oxy thâm nhậpvào mà còn tác dụng hạ nhiệt độ của khối hạt

Trang 8

Hình 1 Nồng độ oxy trong kho chứa ở mức độ rò rỉ thấp, có nhiều loại côn trùng(18, 36 và 180 con trưởng thành Sitophilus granarius trên 3lb lúa mì)

Hình 2 Nồng độ oxy và carbon dioxide trong 7 tấn lúa mì ở mức độ rò rỉ thấp, cónhiều mọt Sitophilus granarius trưởng thành ở mức khoảng 37 con trên một lb lúa mì

Hình 3 Sự tiêu vong của mọt Sitophilus granarius liên quan đến nồng độ oxy (hìnhtrái) và carbon dioxide (hình phải)

Trang 9

Hình 4 Nhiệt độ của 60 tấn ngô trong hầm chứa bằng bêtông có mái che ở độ ẩm13%, có chứa nhiều mọt Sitophilus oryzae

Hình 5 Nồng độ carbon dioxide trong silo kim loại kín chứa lúa mạch ở độ ẩm 20% hoặc 20-22%

18-Hình 6 Sự sản sinh ra carbon dioxide của lúa mì ở độ ẩm 17, 19 và 23% trong 10tấn ở silo kim loại hàn kín

Trang 10

Hình 7 Nhiệt độ ở trung tâm silo kim loại có tráng men chứa 60 tấn lúa mì ở độẩm 18-22%.

Hình 8 Nồng độ oxy và carbon dioxide trong 20 tấn lúa mì ở silo làm bằng rubber ở độ ẩm 20%

bytul-Hình 9 Sự giảm khả năng nẩy mầm khi bảo quản ở điều kiện yếm khí ở các mứcđộ ẩm khác nhau, ở nhiệt độ 15-250C

Trang 11

Hình 10 Nhiệt độ ở trung tâm thùng silo làm bằng butyl-rubber (C) và silo làmbằng nhựa PVC (D) chứa lúa mì ở độ ẩm 19% so với nhiệt độ bên ngoài (ví dụ như nhiệtđộ tường…).

II.7 Bảo quản ở trạng thái lạnh:

Nguyên tắc của phương pháp này là dùng nhiệt độ thấp là tê liệt các hoạt động của

vi sinh vật, côn trùng Phương pháp này đòi hỏi phải hạ thấp nhiệt độ ở khối sản phẩmxuống một mức độ nhất định, càng thấp càng tốt Để thực hiện phương pháp này có haicách phổ biến là làm lạnh tự nhiên và lạnh nhân tạo Làm lạnh tự nhiên tức là lợi dụngnhiệt độ thấp của không khí trong môi trường bảo quản để hạ thấp nhiệt độ trong khối hạtthông qua phương pháp thông gió tích cực , còn làm lạnh nhân tạo tức là sử dụng nhữngphòng lạnh, kho lạnh hoặc những kho có điều hòa nhiệt độ để giữ ở nhiệt độ nhất định củakhối hạt

II.8 Bảo quản bằng hóa học:

Dùng thuốc hóa học để bảo quản với những nồng độ nhất định, tùy theo từng loạithuốc, từng loại nông sản và trạng thái phẩm chất của nông sản Thời gian ướp thuốc kéodài từ khi nhập kho đến lúc sử dụng nông sản Thuốc hóa học có tác dụng kìm hãm nhữnghoạt động sống của khối nông sản và tiêu diệt mọi hoạt động của sâu mọt, vi sinh vật vàcác loại gặm nhấm khác Khi sử dụng các loại thuốc hóa học để bảo quản phải đảm bảoyêu cầu triệt để bảo vệ sức khỏe cho con người, và không ảnh hưởng đến chất lượng củanông sản phẩm

II.9 Bảo quản trong khí quyển điều chỉnh:

Giới hạn thay đổi thành phần không khí của khí quyển thích hợp như sau: O2: 2-5%,

CO2: 3-5% Cần có thiết bị đặc biệt để tạo ra thành phần khí nhất định của môi trường vàđiều khiển được liên tục

Chất khí hiện nay người ta thường dùng để bảo quản thực phẩm chủ yếu là CO2 vàkết hợp với bảo quản lạnh Để tạo ra khí CO2 với nồng độ cần thiết, người ta dùng tuyết

CO2 hay khí CO2 nên cho vào các phòng bảo quản kín

II.10 Bảo quản hạt giống:

Chất lượng hạt giống được đặc trưng bằng độ nẩy mầm Có những nguyên nhânnhư sau làm giảm độ nẩy mầm:

Trang 12

+ phơi sấy không kịp thời và trong thời gian bảo quản độ nẩy mầm cao làmhư hỏngtế bào sống của hạt

+ vì sinh vật phát triển mạnh trong khối hạt

+ sâu mọt cũng là đối tượng phá hoại nghiêm trọng, thường chúng ăn hại phôitrước vì ở phôi tập trung nhiều chất dinh dưỡng nhất mềm hơn và có độ ẩm cao hơn cácphần khác, khối hạt giống đã bị sâu mọt ăn hại coi như đã bị hư hỏng

+hạt nẩy mầm, trong bảo quản hạt giống tuyệt đối không để xảy ra hiện tượng nẩymầm

+ tự bốc nóng, nhất là đối với khối hạt có độ ẩm cao hơn độ ẩm giới hạn Muốn giữđược giống thóc, trong quá trình bảo quản nhiệt độ đống hạt phải dưới 350C

+ khối hạt sẽ bị già hóa nếu bảo quản lâu

Chế độ tốt nhất để bảo quản hạt giống là bảo quản ở trạng thái khô Chỉ khi nào độẩm của hạt cao hơn độ ẩm giới hạn thì cường độ hô hấp của hạt mới mạnh, vi sinh vật vàsâu bọ mới phát triển được, còn nếu hạt khô thì cường độ hô hấp của hạt rất yếu, các quátrình sinh hóa xảy ra chậm chạp, giữ được khả năng nẩy mầm của hạt lâu Để bảo đảmchất lượng hạt giống, độ ẩm của khối hạt nên nhỏ hơn độ ẩm giới hạn khoảng 1%, còn đểbảo quản lâu dài hạt giống thì độ ẩm hạt phải nhỏ hơn độ ẩm giới hạn ít nhất là 2%

Để giữ chất lượng hạt giống trong bảo quản là ngay sau khi thu hoạch cần sấy khô,tách tạp chất thật sạch trước khi đưa đi bảo quản

Ngoài bảo quản ở trạng thái khô ra, người ta còn có thể bảo quản hạt giống ở trạngthái lạnh, nghĩa là bảo quản ở nhiệt độ dưới 5-100C Muốn quá trình chín sau thu hoạchxảy ra nhanh có thể dùng phương pháp thoáng gió cưỡng bức để quạt không khí khô hoặckhông khí nóng vào khối hạt

Có thể bảo quản giống bằng cách đóng bao hoặc đổ rời thành đống

Bảo quản bằng bao: hạt giống được đóng thành bao và xếp thành chống Bảo quản

theo cách đóng bao bảo đảm độ thuần khiết của hạt giống trong bốc dỡ và vận chuyển, ítcó hiện tượng tự bốc nóng xảy ra Tuy nhiên thường bị chuột phá hoại, cắn nát bao, sâumọt có thể phát triển trong tất cả các lớp bao

Bảo quản bằng cách đổ rời từng đống: bằng cách này, chuột, sâu mọt chỉ có thể

hoạt động, ăn hại ở lớp ngoài của đống hạt Khi đống hạt bị bốc nóng, hoặc bị sâu mọt ănhại thì sử lý dễ dàng hơn bảo quản bằng bao Trong quá trình bảo quản nếu nhiệt độ đốnghạt tăng lên quá 350C thì dùng biện pháp cào đảo hoặc thoáng gió cưỡng bức để làmnguội

Tùy thuộc vào trạng thái khối hạt, trạng thái kho, độ ẩm hạt, nhiệt độ môi trường…mà chiều cao của đống hạt hoặc số lớp bao trong chồng khống chế khác nhau Chiều caocủa đống hạt giống trong kho có đặt các thiết bị để thoáng gió cưỡng bức nâng lên 0,5m.Riêng với hạt giống thuộc họ hòa thảo có độ ẩm giới hạn 2% có thể bảo quản trong thờigian lâu dài trong kho thường và kho silo Chiều cao của đống hạt này có thể đến 3,5-4,0m

Số lớp baotrong chồng Chiều cao củađống hạt, m trong chồngSố lớp bao Chiều cao củađống hạt, m

Trang 13

Ngô 4 2,0 -

-Bảng 1 Chiều cao của đống hạt và số lớp bao trong bảo quản hạt giống

Trong thời gian bảo quản hạt giống cần thường xuyên kiểm tra kỹ các chỉ số như:nhiệt độ, độ ẩm, mức độ nhiễm trùng, độ acid, độ nẩy mầm và năng lượng nẩy mầm Nếuchiều cao đống hạt từ 1,5m trở lên thì phải kiểm tra ở ba lớp (30-60cm kể từ bề mặt đốnghạt, lớp giữa và lớp sát sàn) Chiều cao của đống hạt dưới 1,5m, chỉ cần kiểm tra ở hailớp Về mùa hè cứ 3 ngày kiểm tra nhiệt độ một lần, còn mùa động thì 5 ngày một lần.Ngoài ra tùy thuộc vào độ ẩm của hạt giống mà khống chế thời gian kiểm tra nhiệt độ Độẩm của hạt từ 13% trở xuống thì 10 ngày kiểm tra một lần và nếu độ ẩm lớn hơn 13% thì 5ngày một lần Độ ẩm kiểm tra ở cả ba lớp trong đống hạt, 1 tháng ít nhất hai lần Với khốihạt có độ ẩm dưới 14% thì định kỳ kiểm tra độ nhiễm trùng phụ thuộc vào nhiệt độ Nếutrên 100C thì 10 ngày một lần Độ nẩy mầm và cường độ nẩy mầm được định kỳ kiểm tralà 2 tháng

III PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN:

III.1 Bảo quản theo phương pháp cổ truyền:

Bảo quản hạt lương thực ở các vùng nông thôn nhiệt đới và cận nhiệt đới, hầu hếtlà theo các phương pháp cổ truyền:

Phương pháp bảo quản Các thông số đặc trưng Sản phẩm bảo quản

Không có che phủ

- Để tự nhiên Chất đống trên nền đất Thóc, lạc

- Dây thừng hoặc dây leo

nằm ngang

Dây thừng hoặc dây leođược nối giữa các cột hoặccác thân cây, treo sảnphẩm lên dây buộc này

Ngô

- Các giá thẳng đứng Các cột thẳng đỡ các cột

ngang, treo sản phẩm lêncác cột nằm ngang

Thóc

- Bệ (gỗ hoặc cỏ) Chất đống trên bệ Ngô, đậu, lạc

- Các giỏ để hở (cỏ) Để cách mặt đất ≥ 1m Ngô, đậu, lạc

- Bao dệt từ nguyên liệu

thực vật

Đặt trên bệ cao 1m Thóc

Có che phủ

- Khung các cột nằm

ngang Treo trên các cột nằmngang, trên có mái che

(rơm, rạ, tranh)

Thóc

che bằng rơm dạng (mũrơm) đặt ngay trên nền bệ

Tất cả các loại + Có kết hợp với đất sét Như trên nhưng có xử lý Tất cả các loại

Trang 14

trong xây dựng thêm bùn và đất sét ở nền

và tường kho + Tường đất sét trộn với

nguyên liệu thực vật và

khung đỡ bằng gỗ

Hình trụ hoặc hình elip,dựng nhô lên trên mặt đất Ngũ cốc, thóc, kê, caolương

+ Như trên nhưng không

đỡ bằng khung gỗ

Có hình vại, dựa trên trụđất sét hay trụ gỗ, đôi khiphân thành nhiều khoang

Ngô, kê, cao lương

+ Tường chỉ bằng đất sét Có nhiều dạng, mái che

dạng mũ rơm

Ngũ cốc và lạc

- Bình đất sét (thường để

trong nhà ở)

Gắn kín bằng đất ướt, bằngphiến đất sét hoặc đá

Hơ nóng một chút trướckhi bảo quản

Sản phẩm được trộn vớitro, bình đậy kín bằng đấtsét

Sản phẩm được trộn với trokhi bảo quản

Tất cả các loạiHạt

Ngô làm thức ăn

Cao lương

- Vỏ bầu khô Gắn kín bằng đất sét

Nút kín bằng thân cây cỏ

Tất cả các loại sản phẩmNgô, hạt

- Giỏ, thúng Thường đặt trong bếp Lạc, thóc giống, đậu

- Sản phẩm được bao gói

trong chiếu, thảm Giữ trong nhà Tất cả các loại

- Treo trên mái nhà Các bó nhỏ buộc vào mái

nhà, buông xuống phíatrên nơi hay đun nấu (cólửa)

Ngũ cốc

- Bảo quản chung Nhà rộng bằng thân cây kê

hay bằng tre (dung tích 12tấn)

Thóc

- Bảo quản dưới đất Đôi khi lót bằng phân bò

khô cửa mở được gắn kínbằng đất sét hoặc đệm cỏvà cây có gai

Ngũ cốc

- Phương pháp cổ truyển

có cải tiến

Nhà hình vuông có khunggỗ và tường bằng lưới kimloại

Ngô

III.2 Bảo quản kín:

Hạt lương thực cũng còn được bảo quản trong các hầm dưới đất – phương pháp nàychỉ là tập quán ở một số ít nước, như Ấn Độ Có nhiều dạng hầm bảo quản ở Ấn Độ, BắcPhi, và Châu Mỹ La Tinh với các hầm này người dân ở đó có thể bảo quản hạt trongnhiều năm Các hầm dạng bình, sâu trên 6m thường được dùng, bên trên chúng được đắpcác mỏm đất khô hoặc các tảng đá bọc trong bùn xốp Một số khác được đặt vào trong đó

Trang 15

các trụ bằng thảm cỏ, khe hở giữa trục cỏ và đất hầm được lấp kín bằng vỏ kê, cửa mởđược che bằng thảm cỏ hoặc bụi gai Hầm được đặt ở những nơi có rào dậu, gia súc đượcgiữ cẩn thận vì những nơi này thường ít mối kiến sống và tương đối khô ráo Ở một số nơi,vách hầm còn được hơ nóng bằng cỏ khô… Sau đó trát đất kín vách và nền hầm bằng mộtlớp đất sét.

III.3 Bảo quản đơn giản đã có cải tiến:

Kho chứa có tường cứng nên dùng ở những nơi nông sản thu hoạch về có độ ẩmkhông cao (dưới mức ẩm an toàn cho bảo quản) và độ ẩm tương đối của không khí trên70% một chút trong suốt thời gian bảo quản (hoặc trong một phần thời gian bảo quản).Nên quan tâm đến việc xây dựng các kho chứa có tường nhẵn (cả trong lẫn ngoài) khôngtạo ra các khe nứt, hở kế cả ở các cửa xuất nhập nông sản (các cửa này cũng làm bằng thứbùn địa phương như đã dùng để làm tường)

Có thể khuyến khích người nông dân trộn thêm một ít xi măng vào bùn (một kỹthuật ổn định đất) và sơn phủ bằng một lớp sơn chống thấm hoặc trát lên tường một lớpbitum nhằm tạo ra một lớp bề mặt mềm và chống thấm nước ở bên trong Trong khi làmhầm chứa bằng bùn như vậy nên cố gắp lót bên trong tường một lớp nilon để đảm bảo kín

III.4 Bảo quản bằng phương pháp hiện đại:

- Bảo quản của các nhà tư thương: Bảo quản hạt rời trong các silo nhỏ được một số

tổ chức sử dụng trong kế hoạch khai khẩn đất đai, chúng được xây từ gạch hay bêtông sảnxuất ngay tại địa phương và có dung tích chứa từ 100 tấn trở lên Ở những vùng ven biểncó khí hậu ẩm ướt, sản phẩm phải sấy lại trước khi đưa vào bảo quản trong silo do khảnăng cách ẩm kém của các silo kim loại

- Bảo quản tập trung:

+ Các dạng bảo quản đang được dùng:

 Bảo quản đổ rời trực tiếp trên mặt đất hay trên các nền có gia cố –không được che phủ

 Bảo quản rời trong các sio đặt trên mặt đất hay trong các nhà kho

 Bảo quản rời trong các hầm chứa nằm sâu dưới đất một phần hoặctoàn phần

 Bảo quản bao xếp đống để ngỏ (tránh tác động xấu của thời tiếtbằng tấm che vải nhựa hoặc vải dầu)

 Bảo quản dạng đống bao có mái che cố định (bảo quản trong cáckho kiên cố)

+ Bảo quản đống rời để ngỏ: Đây là phương pháp bảo quản có nhiều thiếu

sót nhất vì sản phẩm cần bảo quản để ngỏ hoàn toàn, bị thẩm thấu trực tiếp hơi ẩm củađất, nước mưa, nhiệt lượng của mặt trời và côn trùng dễ dàng phá hoại

+ Bảo quản đống rời trong các silo nằm trên mặt đất và trong các nhà kho:

Ba thiết kế cổ truyền đã được sử dụng Cấu trúc thứ nhất là dạng kho có các tường khođược gia cố hoặc không gia cố để chịu áp lực bên của hạt Ở dạng không gia cố tườngbên, hạt được chứa trong các phòng có tường ngăn là sản phẩm đóng bao hay các dầm đỡdạng chữ T bằng gỗ hoặc kim loại lồng vào nhau Chất hạt và tháo hạt trong khoang nhờmột số dạng chuyển tải như khí động, xích, vít xoắn hay gầu tải Các kho đặc biệt bảoquản dạng đống lớn có các ống dẫn bằng thép ở sàn kho để thông thoáng không khí trongđống hạt Phương pháp này được áp dụng chính trong bảo quản thóc nhờ thổi không khí

Trang 16

bên ngoài qua đống hạt.Các silo kim loại không phải lúc nào cũng đủ kín khí để đảm bảocho xông hơi được hiệu quả Sự ngưng tụ hơi nước đặc biệt trong thời gian có sự thay đổilớn về nhiệt độ thời gian một ngày đêm là nguyên nhân gây ra sự giảm giá trị của sảnphẩm, mặc dù đã có những điều kiện bảo quản tốt nhờ kết cấu xây dựng và sử dụng cóhiệu quả hệ thống thông gió Silo phải được cách ẩm với nền – được xây dựng có độchống thấm hơi nước phù hợp để chống sự hư hỏng sản phẩm do nấm mốc phát triển Khicác hệ thống tải nạp liệu vào thì vấn đề bụi xuất hiện Các hệ thống khí động với cáccylon lắng cho thấy rõ hoạt động tách bụi không tốt bằng các hệ thống chuyển tải cơ họcvới các bộ phận lọc Trong các đống hạt lớn ở các silo này phải khống chế được sự pháhoại của côn trùng, trước đây phương pháp cổ truyền là xông khói đã được sử dụng Hạtthường đóng bao chở đến silo bằng đường bộ và đường sắt Dưới các phễu tiếp nhận hạt từphương tiện vận chuyển là các mặt lưới đặt sát đất và dưới đó là các hầm chứa hạt Cáchầm tiếp nhận hạt này đều có mái che để tránh ảnh hưởng của thời tiết và được đặt ởcạnh khu nhà làm việc.

+ Bảo quản một phần hoặc toàn bộ trong lòng đất: Việc dùng các vật chứa

bằng bêtông như các hầm chứa trong òng đất có mái che tạm phù hợp Hầm chứa nàykhông thấm nước, hơi nước, oxy và cacbonic Nếu chỉ chứa hạt khô thì hạt có thể bảo quảntrong hầm ở điều kiện tốt trong nhiều năm Hệ thống thông gió cho phép luân chuyểnkhông khí trong môi trường bảo quản với sự thay thế một lượng nhỏ không khí Đáy hầmhình elip cho phép vận chuyển hoàn toàn bằng cơ khí như dùng vít tải hoặc băng tải từ từchuyển hạt từ đáy tới trên hầm chứa hạt Các silo được hàn từ các tấm thép Các silo nàyđược dùng để bảo quản kín Đặc biệt phù hợp với bảo quản hạt khô ở vùng nhiệt đới Bảoquản kín chống lại được sự phá hoại của côn trùng, nhờ thay thế oxy bằng dioxidecacbontrong suốt quá trình hô hấp của hạt Trong trường hợp này, cacbondioxide được đưa vàosilo đã làm chậm lại sự hư hỏng hạt ướt và nâng giá thành của loại silo này lên Côn trùngcó trong hạt trước khi đưa vào bảo quản sẽ không tồn tại được do mức oxy ngày càng thấp

+ Bảo quản dạng đóng bao: Bảo quản sản phẩm đóng bao đay để trong

không khí không có hình thức bảo vệ nào vẫn đang còn phổ biến ở nhiều nước mặc dù nóichung các đống bao này được đậy bằng các tấm vải nhựa để chống mưa Có nơi nền xếpbao được xây bằng gạch hoặc tường bêtông chắn dày 23cm cao 46cm

+ Bảo quản trong các kho kiên cố: Các dạng kho bảo quản có kết cấu khung

gỗ hay khung thép với tường bao che bằng gạch chát vữa hay tấm kim loại Xét về mặt sửdụng, chiều rộng của nhà có nhược điểm nhất định dù các phương tiện xếp bao vẫn hoạtđộng được theo phương ngang, chúng vẫn phải di chuyển một quãng đường dài để chuyểnsản phẩm đến nơi xếp bao Đặc biệt khi xếp bao xuống tàu hỏa, mặc dù các xe tải có thểchuyển thẳng bao vào trong kho nhưng không thể cùng một lúc xếp nhiều đống từ nhiều

xa, mà chỉ xếp được một đống từ một xe một Nền xếp bao theo chiều rộng nhà, để lạimột phòng đủ để phục vụ cho các công việc về kiểm tra và diệt côn trùng ở bên cạnh

+ Bảo quản hạt trong bao: Trong khi xếp đống bao phải có đủ dụng cụ làm

việc tốt như dây đai và ván trượt nhẹ để xấp khi đống bao lên cao, để tránh bị trượt ngãcho người xếp bao Không được làm tắc hệ thống xông hơi, tức là đống bao không đượcdựng xung quanh cột chống mái hay lên sát kèo mái làm vướng các tấm ngăn khí ở mái.Phần trong của đống bao phải xếp thành các hàng đều nhau, tức là phải quan sát đượcchính xác số bao từ bên ngoài và cuối mỗi đống bao Mỗi lớp bao xếp xong đều được đếmtrước khi xếp lớp tiếp theo và số bao đếm được thì được ghi vào bao xếp ở góc ngoài Cácđống bao, được xếp lớp nọ chồng lên lớp kia với các hàng bao đều đặn hoặc song song

Trang 17

hoặc tại các góc phải theo trục dọc của đống bao Các lớp bao dọc xen kẽ với lớp baongang để phòng sự đổ đống bao Phải chú ý các bao ngoài cùng sao cho xếp xong đốngbao thành góc vuông, có dây căng để làm cho các cạnh đống được thẳng góc Mỗi đốngbao được cấp một phiếu ghi rõ số bao, số đống, loại hạt (chất lượng), năm nhập, các thôngsố kiểm soát và ngày diệt côn trùng định kỳ Khi dỡ đống bao, phương pháp tốt là cân lầnlượt từ đỉnh đống bao ngay tại chân đống bao, như vậy mặt tháo dỡ luôn được điều hòa vàdễ dàng đếm được chính xác số bao xuất ra Bao bì hỏng nặng không được đựng lại sảnphẩm nữa Hạt rơi vãi được sàng lại, kiểm tra kỹ hạt biến màu, côn trùng, độ ẩm và chỉsản phẩm tốt được chứa vào bao đủ tiêu chuẩn

Nhận xét chung:

Ưu điểm và nhược điểm của bảo quản bằng bao và đổ rời như sau:

Có thể cơ giới hóa từng phần Cơ giới hóa được toàn phần

Khả năng vận chuyển chậm Có thể vận chuyển nhanh

Giá thành vật chứa thấp Giá thành vật chứa cao

Khả năng mất mát do chuột gây ra cao Khả năng mất mát do chuột gây ra thấpCôn trùng phá hoại trở lại Ít phải phòng chống sự phá hại trở lại của

côn trùngVới hai phương pháp trên ta thấy rõ là: các vật chứa (như bao, kho silo) giữ cho sảnphẩm không bị bụi bẩn, đổ, vãi và tồn đọng một lượng hạt cũ trong hạt mới Hạt lươngthực giữ trong đó bảo đảm chất lượng tốt, hạt khô, không bị nhiễm bụi bẩn và các tạp chấtkhác

Do nguồn vốn đầu tư, kiều cung cấp và yêu cầu về bảo quản lại bị thay đổi, nhất làdạng kho, cho phép tháo dỡ dễ dàng để có thể dựng lại ở nơi khác có nhu cầu Ở các vùngnhiệt đới, cường độ mưa có thể lên rất cao, một nhà kho có diện tích rộng phải có đầy đủhệ thống thoát nước mưa dung tích phù hợp với lượng nước tháo xuống từ mái nhà Cáccống thoát nước này cần được xây bằng bêtông để tránh ngấm nước xuống dưới sàn kho

Khi xây silo để bảo quản một loại hàng hóa hầu như đồng nhất về chất lượng hàngthì các bin chứa có dung tích lớn đã được chọn, bin hình trụ hoặc các hình xếp theo từngphần nằm ngang hình chữ nhật, kinh tế hơn là các silo nhỏ hơn xếp theo từng phần nằmngang hình vuông Các bộ phận cơ khí trong silo phải tự làm sạch được càng kỹ càng tốt,không có lượng hạt tồn tại bên trong hệ thống Lượng hạt đọng lại này sẽ tạo thành môitrường tốt cho côn trùng hoạt động và trong trường hợp có nhiều loại hạt lưu thông sẽ làmlẫn loại hạt Để vận chuyển hạt đến hoặc đi khỏi silo phải có các phương tiện vận chuyểnphù hợp cũng như phải có các phương tiện chuyên dùng để nhận hay tháo hạt ở cả dạngbao và dạng rời, để các phương tiện vận chuyển này hoạt động tốt cần phải có một mạnglưới đường sắt và đồng bộ bố trí thích hợp Phụ thuộc vào lượng hạt và điều kiện giaothông, phương tiện vận chuyển có thể là xe lửa, máy kéo…

Giữ sạch sẽ nơi bảo quản đống hạt để đảm bảo hạt luôn giữ được mức phân loạiban đầu của mình Nên mang vào kho những bó chổi hay dụng cụ còn mới nguyên, cónhãn ghi rõ số kho đã xuất, số bó và loại, chủng của chúng, không ghi trọng lượng Những

Trang 18

chổi hay dụng cụ sạch bị nhiễm côn trùng phải lập tức đem xông hơi để diệt sạch côntrùng

III.5 Các thủ tục tiếp nhận hạt:

Trước khi hạt đưa vào bảo quản tập trung, cần phải tiến hành nhiều phép đo vàquan sát trên sản phẩm như đo độ ẩm hạt, đánh giá mức phá hoại của côn trùng, ghi sốbao, phân loại hạt và cân Hạt có độ ẩm lớn hơn mức ẩm an toàn thì không được nhận vàobảo quản Các mẫu lấy từ xe tải hay toa tàu phải để trong các bao kín, không để trực tiếpdưới ánh nắng mặt trời khi vận chuyển về

Đếm từng bao khi dỡ hàng xuống từ phương tiện vận chuyển Sau đó cân ngay ởchân đống bao

Mỗi loại hạt phải đáp ứng được một số tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng mới đượcnhận vào

Bao phải sạch và không có vết bẩn, bao bị hỏng do kéo lê trên đất hay bị phủ bụitrên đường vận chuyển và có vết bẩn của hơi ẩm hay phế thải của chuột sẽ không đượcchấp nhận

III.6 Thủ tục xuất hàng:

Theo nguyên tắc, vào đầu tiên thì ra đầu tiên, trong khi xuất hàng phải kiểm tramức độ loại hàng để đảm bảo hạt vẫn giữ được mức phân loại ban đầu

Kho nào xếp hàng vào đầu tiên thì được xuất hàng đầu tiên, trừ trường hợp có cácđống bao không được xử lý hóa chất diệt côn trùng nên xuất trước các đống bao có xử lý.Không xuất các loại hàng hóa đang bị côn trùng phá hoại

Phải cân toàn bộ lượng hàng xuất, trừ trường hợp chuyển từ kho nọ sang kho kia thìcân 10% lượng hàng chuyển là đủ

IV TIÊU CHUẨN VIỆT NAM VỀ BẢO QUẢN NGŨ CỐC VÀ ĐẬU ĐỖ:

TCVN 5089 : 1990 (ISO 6322/2-1981)

IV.1 Vận chuyển:

Mọi hệ thống bảo quản đòi hỏi có phương tiện vận chuyển hàng hóa vào và rakhỏi kho Phương tiện được chọn để làm giảm tới mức tối thiểu sự hư hỏng hoặc suy giảmgiá trị của hạt và các thùng chứa, và để ngăn giữ bụi, trong chừng mực có thể thực hiệnđược

IV.2 Bảo quản dạng hở:

Bảo quản dạng hở là rẻ nhất nhưng là phương pháp kém an toàn nhất Nói chung,bảo quản dạng hở chỉ nên tiến hành trong thời gian ngắn

+ Bảo quản không mái che: được quan tâm ở các nước khô ráo, tại đây cơn mưa rào

đột ngột, ngắn chỉ ảnh hưởng đến bề mặt (tới độ sâu khoảng 2cm) và ánh nắng mặt trờisau đó sẽ làm khô dần hạt trở lại Sự phơi nắng như thế có thể dẫn đến hư hỏng do “biếnmàu” Bảo quản dưới tuyết, nhiệt độ thấp hạn chế sâu mọt và nấm phát triển Mặc dùvậy, một ít loài nấm mốc sinh độc tố có thể mọc ở nhiệt độ gần lạnh đông trên hạt bị tuyếtlàm ướt, và do vậy phải thật cẩn thận khi áp dụng phương pháp bảo quản này

Bảo quản dạng hở có thể thực hiện:

 Trên nền đất, trong các bao tải hoặc đánh đống lớn (bảo quản ngũ cốc thuhoạch chưa dập thành dạng bó hoặc xếp đống ngày càng ít phổ biến)

Trang 19

 Trên nền cứng hoặc bề mặt khác được láng một lớp cách ẩm.

Với hạt để rời, đôi khi có thể thực hiện thông khí nhân tạo trong các đống nhưngkhông thể thường xuyên được

+ Bảo quản có mái che: một chiếc mái tạm có thể che đống bao hoặc đống hạt,

“tường” bằng vải bao đay có thể dùng để bảo vệ thêm chống lại thời tiết

Đống hạt có thể được che phủ bằng vật liệu không thấm nước hoặc bằng rơm vàđất hoặc cả hai

Ngô bắp thông thường được bảo quản trong các nhà nhỏ không vách Có thể bảoquản ngô bắp tương đối an toàn và dễ dàng, vì không bị hư hỏng cơ học do tách hạt Cầnđặc biệt chú ý ngăn ngừa chim và loài gặm nhấm phá hoại ngô

IV.3 Bảo quản trong kho có cấu tạo đặc biệt khác silo:

Mục đích của việc đưa hạt vào kho là phòng chống thời tiết, ngăn ngừa sự xâmnhập của vật gây hại và đảm bảo an toàn Bảo quản như thế có thể kiểm tra được nhiệt độvà độ ẩm để giữ được hạt càng mát, càng khô và càng đồng nhất về nhiệt độ càng tốt.Kho phải được xây dựng thích hợp để tạo điều kiện bảo quản tốt và không làm thành nơiẩn náu của vật gây hại

+ Nền móng: nền móng cần chống mối ở những nơi cần thiết, môi trường xung

quanh nên giữ quang đãng, không có cây cối, rác, không bị ngập nước… Nên có đường vàotrực tiếp cho các loại phương tiện vận chuyển thích hợp

+ Sàn: sàn phải được nguyên vẹn, nhẵn, rắn chắc và chống ngấm hơi nước Sàn gỗ

có vết nứt, nẻ và kẽ hở là nơi chứa rác và sâu mọt Tường có cấu trúc hình vòm làm choviệc quét sạch được dễ dàng

+ Mái: mái phẳng phải có độ dốc nhỏ (khoảng 3%) để nước mưa thoát được Ở

vùng nhiệt đới, mái quét hắc ín có mái chìa rộng làm tăng cách nhiệt Toàn bộ ống dẫnnước từ máng mái phải đặt bên ngoài, không được lắp ống dẫn bên trong kho, vì đó vừa lànơi sinh sống của sâu mọt và sinh vật nhỏ và vừa là đường đi lại cho loài gặm nhấm vànếu có những chỗ hỏng thì nước mưa có thể làm hỏng hạt

+ Cửa và cửa sổ: phải điều khiển được sự thông khí Không nên luôn luôn thông

gió “tự nhiên” vì có thể đưa không khí ẩm vào Để làm mát tối đa, một số biện phápthông khí có thể áp dụng vào thời điểm thích hợp trong ngày Có thể tăng cường bằngbóng mát của cây, che chắn cửa sổ bằng màn che, làm mái chìa rộng…

Phải tránh các khe hở ở mái chìa, đặc biệt tại những nơi độ ẩm tương đối củakhông khí luôn luôn cao

Cửa và cửa sổ nên giữ ở mức tối thiểu và mở càng ít càng tốt Nếu có cửa chiếnsáng trên mái thì phải với số lượng ít, kích thước nhỏ

+ Bảo vệ: cần bảo vệ kho càng kỹ càng tốt chống xâm nhập của sâu mọt, gặm

nhấm, chim và dơi và kho phải đóng kín được khi xông khói

IV.3.1 Bảo quản sản phẩm đóng bao trong kho:

+ Làm sạch: kho cần phải gọn gàng và vệ sinh và phải dọn sạch hàng ngày.

+ Dự phòng các tấm kê: cần phải có các tấm kê thích hợp Các tấm kê chủ yếu là

để đảm bảo sự thông khí, tránh lạnh cục bộ và di chuyển ẩm dẫn tới ngưng tụ cũng như đểngăn ngừa “hơi ẩm bốc lên” từ sàn xấu Tấm kê phải là những giá kê tiêu chuẩn kíchthước dễ sử dụng và do vậy dễ bốc dỡ, xứ lý bằng thuốc trừ dịch hại và xếp gọn gàng khichưa dùng

Trang 20

+ Xếp khối: xếp khối cần thực hiện bằng hệ thống lưu kho tốt tạo nên các khối gọn

sạch, cấu trúc đẹp và chắc chắn về cơ học và có thể xử lý bằng thuốc trừ dịch hại Khôngnên xếp khối xung quanh các trụ hoặc dựa vào tường vì gây khó khăn cho việc kiểm travà xử lý bằng xông khói Cần để lối đi đủ rộng để việc kiểm tra và phun thuốc được thuậntiện Sau khi xông khói việc giữ lại các tấm không thấm nước ngăn ngừa được sự phá hoạitrở lại của sâu bọ nhưng lại không tốt cho các khối đã bị bốc nóng vì ngưng tụ lại xảy ra

do di chuyển ẩm khi khối nguội đi

IV.3.2 Bảo quản hạt rời trong kho:

Có thể bảo quản bên trong các vách ngăn bằng bao hoặc bên trong các tường giữhạt có cấu tạo đặc biệt Cần chừa khoảng cách đủ cho việc kiểm tra xử lý

Tại một số kho, hạt đổ đầy sát tường kho, giống như các vách ngăn, phải đủ vữngđể chịu được lực ép bên của hạt

Có nguy cơ tăng chênh lệch nhiệt độ trong toàn khối hạt dẫn tới di chuyển ẩm vàkhả năng nấm mốc sinh trưởng, đặc biệt tại lớp hạt bề dày từ 5 đến 20cm, và lớp sát tườngvà sàn Có thể khắc phục bằng hệ thống thông khí nhân tạo qua khối hạt

Bảo quản nằm ngang hạt rời Tuy nhiên, có khó khăn về vận chuyển và kiểm trasâu hại, mặc dù sự phát triển và vận chuyển cơ khí và máy đã khắc phục được nhiều vấnđề gặp phải trước đây

IV.4 Bảo quản bằng silo:

Các đơn vị bảo quản có thể có kích thước khác nhau, từ thùng nhỏ dung lượng vàikilogam tới những trang bị lớn gồm nhiều thùng silo chứa được hàng trăm tấn mỗi silo.Bảo quản trong silo lớn thuận tiện nhưng lắp đặt tốn kém, không kinh tế cho bảo quản thờigian dài

Silo phải có hệ thống xông khói và phun thuốc cũng như những phương tiện thuậnlợi để làm sạch và kiểm tra, như là một phần của thiết bị ban đầu

Đối với silo của nông trại nhỏ không cần thiết bị vận chuyển cơ khí tự động nhưnglại cần với hệ thống trang bị lớn

IV.5 Hệ thống bảo quản đặc biệt:

+ Bảo quản kín: loại trừ oxy cần cho sự sinh trưởng của sâu mọt hoặc nấm mốc.

Cacbon dioxide sinh ra có thể giúp tiêu diệt sâu mọt Quá trình đó có thể được đẩy nhanhkhi thổi khí nitơ, cacbon dioxide hoặc khí trơ vào những nơi cần thiết Với kho cần máymóc tương đối đơn giản để đổ đầy và tháo hạt thì bảo quản kín rất thích hợp

Bảo quản kín để khống chế sâu mọt Giới hạn trên về hàm lượng ẩm của hạt nênlà 13,5% (khối lượng) Trong những điều kiện đó có ít thay đổi về tính chất của hạt, khôngnên bảo quản hạt giống trong thùng kín lâu quá một vụ thu hoạch

Trong thực tế, sự phá hoại bình thường ban đầu làm giảm nồng độ oxy trong thùngđựng kín xuống khoảng 2% trong 2 đến 3 tuần lễ, do đó tiêu diệt được sâu mọt Nếu quacác kẽ hở, lượng oxy lọt vào lại mỗi ngày ít hơn khoảng 0,5% khoảng không bên trên hạtvà không khí giữa các hạt, thì thế hệ sâu mọt tiếp sau không có khả năng sống sót và sựphá hoại sẽ bị ngăn chặn Nhưng nếu kẽ hở lớn hơn, sâu mọt có thể sinh trưởng và làmnhiễm sâu mọt nhẹ

Trang 21

Trong bảo quản kín, hạt có hàm lượng ẩm hơn 16% (khối lượng), những thay đổitrong hạt có thể xảy ra do hoạt động của các men xuất hiện tự nhiên, hoạt động của các visinh vật yếm khí.

Để bảo quản tốt hạt như vậy, hạt cần có hàm lượng ẩm trong khoảng từ 18 đến22% (khối lượng) Ở các silo cao, với hàm lượng ẩm hơn 25% (khối lượng) cần có hệthống dỡ hạt đặc biệt

Nếu kho không giữ được kín theo yêu cầu, vi sinh vật có hại có thể phát triển, đặcbiệt nếu không có phương tiện thích hợp làm giảm đến mức tối thiểu oxy lọt vào

Tại các nước nhiệt đới, nhiệt độ quanh năm luôn luôn tối ưu cho sự sinh trưởng củanấm mốc, thì không nên bảo quản kín với hạt có hàm lượng ẩm hơn 14% (khối lượng)

Các loại kho kín: bảo quản kín có thể hoặc ngầm hoặc nổi trên mặt đất

Kho ngầm: hầm có ưu điểm là có nhiệt độ đồng đều hơn và nói chung làm

giảm rủi ro di chuyển ẩm Phải chọn một vị trí thích hợp, có mực nước quanh năm thấphơn đáy hầm Phải ngăn chặn nước ngầm và nước mưa xâm nhập Tường hầm không đượcngấm nước, cũng cần phải chống thấm hơi nước cho mái/

Kho nổi trên mặt đất: để bảo quản hạt có hàm lượng ẩm cao, dùng làm thức

ăn chăn nuôi Cần sắp xếp để giảm áp lực và để không khí lọt vào ít nhất khi tháo hạt.Nếu dùng các thiết bị dỡ hàng trên đỉnh, khi tháo hạt cần được tiến hành với một tốc độđịnh trước, để hạn chế đến mức thấp nhất sự phát triển của vi sinh vật độc ở lớp hạt trênbề mặt Nên có cách nhiệt

+ Bảo quản lạnh: hệ bảo quản thông khí các điều kiện được điều khiển nhân tạo,

thông khí để giữ hạt ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ mà ở đó số lượng sâu mọt và nấm mốccó thể tăng

Thông khí bằng không khí xung quanh: khi hạ nhiệt độ xuống dưới 150C, sựphát triển của hầu hết sâu mọt, trừ sinh vật nhỏ, trở nên chậm đến mức sự xâm nhiễm coinhư được ngăn chặn Hạt có hàm lượng ẩm cao hơn mức an toàn thì sự sinh trưởng cựcnhanh của nấm bị ngăn chặn bằng thông khí, làm giảm nhiệt độ của hạt đến khoảng 5 tới

100C trong 2 đến 3 tháng Khi hạt có hàm lượng ẩm quá 18% (khối lượng) thì mùi mốc cóthể xuất hiện sau 5 đến 6 tháng, và sự sinh trưởng của nấm nhìn thấy được xảy ra ởkhoảng 2% khối hạt khi hàm lượng ẩm quá 20 đến 21% (khối lượng) nếu nhiệt độ bênngoài thuận lợi Nếu hàm lượng ẩm quá mức an toàn, thì sự thông khí liên tục với tốc độcao hơn có thể làm khô hạt từ từ trong khi bảo quản Nếu hạt có hàm lượng ẩm quá 17%(khối lượng), thì độ nẩy mầm sẽ bị ảnh hưởng Đối với bảo quản bình thường nếu hàmlượng ẩm vượt quá mức an toàn thì chỉ chó thể ngăn chặn sự nhiễm sâu mọt khi nhiệt độgần độ lạnh đông

Làm lạnh bằng không khí đã được làm lạnh: Đây là một quy trình khắc

nghiệt hơn Nếu phải đề phòng hư hỏng do nấm thì hạt phải được hạ đến nhiệt độ mongmuốn trong vài ngày Nhiệt độ này phụ thuộc vào hàm lượng ẩm và không được cao hơn

50C đối với hàm lượng ẩm của hạt là 20% (khối lượng), mức tối đa cho phép trong bảoquản lạnh Trong điều kiện như trên, sự nhiễm sâu mọt có thể phát triển chậm, dù rằngsự sinh trưởng của nấm đã bị ức chế nhiều

IV.6 Bảo quản trong khi vận chuyển:

+ Vận chuyển ngắn hạn: vận chuyển ngắn hạn thường là đường bộ, đường sắt hoặc

trong sà lan Có thể chứa hạt trong chính phương tiện vận chuyển hoặc trong thùng chứađựng di động Lượng đơn vị đựng hạt được vận chuyển tương đối nhỏ Phương tiện vận

Trang 22

chuyển và thùng chứa cần phải sạch sẽ, khô và không có mùi lạ và không bị nhiễm sâumọt Cần phòng ướt dưới bất kỳ hình thức nào

+ Vận chuyển dài hạn: thường được thực hiện bằng đường biển Có thể vận chuyển

ngũ cốc và đậu đỗ trong bao hoặc hạt rời, hiện nay dạng hạt rời là phương pháp chủ yếuđể vận chuyển ngũ cốc Đậu đỗ chủ yếu vẫn được vận chuyển trong bao Nhiều hàng hóađóng bao và một số ngũ cốc hạt rời được vận chuyển trong thùng chứa hàng khô

Nói chung, có thể xem các hầm chứa hàng của tàu biển như những kho hàng hoặcsilo Cần phải đảm bảo khoang chứa hàng sạch khô và không bị ô nhiễm trước khi chấthàng Mọi bao dùng cần phải sạch vàkhông nhiễm sâu mọt Bản thân hàng chở phải cómức thấp về nhiễm sâu mọt Mức nhiễm sâu mọt tối đa chỉ được là 2 sâu mọt trưởng thànhsống trên 1 kg hạt bảo quản Cũng nên phát hiện và xác định mức nhiễm ẩm trong khốihạt

Ở nhiệt độ khi xếp, hàng hóa phải có hàm lượng ẩm đủ thấp để ngăn ngừa sự xuấthiện của hoạt động vi sinh vật trước khi bốc dỡ hàng Tuy nhiên, đối với những chuyến đingắn, có thể chất xếp xuống tàu ngũ cốc và đậu đỗ có hàm lượng ẩm cao hơn một chút sovới mức tối đa cho phép của sản phẩm để bảo quản dài hạn

Khi chất xếp hàng hóa vào tàu biển, yêu cầu an toàn là tối cao, vì vậy có thể xếphàng trên tàu theo một cách mà trong một số hoàn cảnh nhất định có thể xảy ra hư hỏnghàng hóa, có thể tránh được nếu xếp hàng theo cách khác

Khi ngũ cốc và đậu đỗ được chở trong các hầm tàu biển, thì nhiệt độ môi trườngnước biển và không khí bên ngoài có thể thay đổi hết sức nhanh Điều này lại là nguyênnhân làm tăng nhiệt độ phần bên ngoài của khối hàng hóa và từ đó xảy ra di chuyển ẩmtừ vùng nóng hơn đến vùng lạnh hơn của khối hàng hóa Tuy nhiên, những thay đổi nhiệtđộ trong khối hạt rất chậm Di chuyển ẩm có thể rất đáng kể, nhưng trong khối hạt rời xảy

ra ít hơn so với các sản phẩm khác, hàng hóa khác nhau, khác biệt đáng kể vể điểm này.Hơi nóng bên ngoài từ các nguồn của tàu biển như từ vách buồng động cơ, ống dẫn hơinước và nắp thùng nhiên liệu có thể gây di chuyển ẩm và kích thích sự nhiễm sâu mọt cóthể dẫn đến bốc nóng tự phát Cách ly các nguồn nhiệt là việc làm bình thường, có thểdùng vỏ bào gỗ để che phủ vách buồng nhiệt và đầu thùng nhiên liệu và các loại cáchnhiệt khác nhau đối với các ống hơi nóng

Thông gió được coi là có lợi trong việc hạn chế đến mức tối thiểu sự thiệt hại do dichuyển ẩm Tuy nhiên, thực tế là tất cả tàu biển chuyên chở ngũ cốc và đậu đỗ, chỉ đượcthông gió bề mặt, không thể dùng để làm khô hoặc làm lạnh hàng hóa Do đó thông gióchỉ có thể có hiệu quả trong việc hạn chế đến mức tối thiểu hư hỏng bề mặt Khi thực hiệnthông gió, cần tiến hành sao cho điểmsương của không khí thông gió thấp hơn điểm sươngcủa không khí ở lớp trên đỉnh và vùng kề liền của khối hàng Nếu không, hàng hóa hấpthụ lượng ẩm của không khí thông gió Có những tàu biển được lắp đặt thiết bị đặc biệt đểlàm khô không khí thông gió, nhưng phần lớn không khí sử dụng lấy từ bên ngoài Đối vớinhững tàu biển đó cần phải ngừng thông gió nếu điểm sương của không khí bên ngoài quácao Đối với xếp hạt rời và hàng hoàn chỉnh, vì những lý do về sự ổn định cần phải xếpgọn ghẽ hàng từ sườn ngang đầu sàn tàu, hạn chế đáng kể luồng không khí trên bề mặt và

do vậy hạn chế thông gió bề mặt Mặt khác, trừ khi dùng hàng hóa đóng bao để làm trungtâm khối hàng, hàng phải xếp vào trong các vách ngăn hầm tàu tạo lối đi lại trong

khoang Điều đó hạn chế việc thông gió bề mặt

V GIỚI THIỆU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN:

Trang 23

V.1 Bảo quản thóc – gạo:

Thóc là loại hạt có vỏ trấu nên bảo quản có nhiều thuận lợi vì lớp vỏ trấu có tácdụng hạn chế sự xâm nhập của các môi trường bên ngoài Tuy vậy, quá trình bảo quảnthóc cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Muốn bảo quản thóc tốt người

ta dùng nhiều biện pháp khác nhau, đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Giữ cho thóc không bị ẩm ướt, không bị men, mốc và xảy ra hiện tượng tự bốcnóng, không có sâu mọt…

+ Với số lượng ít có thể đựng trong các dụng cụ bảo quản như chum, vại, bồ, bịch,vựa thóc…

+ Nếu với số lượng nhiều thì chứa trong các kho lớn bằng gạch, ngói hoặc có thểbằng tre, nứa, lá

- Cách bảo quản trong chum vại: Thóc sau khi được phơi khô đến độ ẩm an toàn,

loại sạch tạp chất, sâu mọt… đổ vào chum vại sạch sẽ và khô, sau đó đậy kín không chotiếp xúc với không khí bên ngoài (nắp bằng tôn, đậy kín phủ lá chuối khô, giẻ rách, khôdày, phủ lên trên…) tức là bảo quản trong điều kiện yếm khí Với hình thức này, nếu đảmbảo những yêu cầu phẩm chất ban đầu tốt có thể giữ được thời gian khá dài (4-5 năm)

- Bảo quản bằng kho lớn: Kho chứa thóc có nhiều loại, bằng gạch, bằng tre, nứa,

lá Loại kho gạch ngói có hệ thống thông hơi Thóc đổ vào trong kho này nên đổ rời đểvận chuyển xuất nhập kho dễ dàng và trừ chuột dễ

Thóc còn có thể bảo quản trong bồ đan bằng tre nứa hoặc những bịch làm bằng tre,trát rơm và vôi Bảo quản bằng vựa quây, xung quanh có cót, phên, chiếu quây… kê trênbục cao 0,20m Thóc được đổ vào phên, sau đó quây lại, lấy dây thừng buộc chặt xungquanh Ở giữa cắm những ống thông hơi bằng tre, thỉnh thoảng kiểm tra phẩm chất, càođảo và phơi lại

Đối với những thóc dùng làm giống, yêu cầu phải giữ được độ nẩy mầm và nănglực nẩy mầm cao, đồng thời phải giữ được độ thuần giống, độ sạch giống nên kho phảivững chắc và tốt hơn kho thường Kho phải kiên cố, cách nhiệt và cách ẩm tốt Phải bảoquản hạt giống riêng rẽ từng khối theo giống, theo mức độ sạch khác nhau, và theo mứcđộ tạp chất, độ ẩm khác nhau Có thể bảo quản trong bao hoặc đổ đống nhưng bảo quảntrong bao thì tốt hơn

Kho phải rộng thoáng, chiều cao đống hạt thấp để tránh hiện tượng đọng khí CO2.Tùy theo phương pháp bảo quản (đóng bao hay đổ rời), tùy theo thời gian bảo quản vàtrạng thái hạt (như độ ẩmhạt, mức độ chín…) mà chiều cao tầng bao hay đống hạt có thểthay đối trong khoảng khá lớn Thông thường chiều cao đống hạt chỉ vào khoảng 1,5m vàchiều cao tầng bao khoảng 4 tầng là vừa phải Nếu hạt có độ ẩm cao, tạp chất nhiều vànhất là hạt vừa thu hoạch thì chiều cao đống hạt thấp hơn…

Quy trình bảo quản thóc:

Chuẩn bị nhập thócNhập thóc vào khoBảo quản thóc

Trang 24

Chuẩn bị nhập thóc:

Sát trùng kho và vật liệu kê lót, bao bì

Vệ sinh sạch sẽ trong, ngoài kho

Kiểm tra, khắc phục các hư hỏng của kho trước khi nhập thóc

Chuẩn bị dụng cụ nhập kho

Nhập thóc vào kho:

Kiểm tra số lượng và chất lượng thóc trước khi nhập kho

Sắp xếp thóc trong kho đúng quy định kỹ thuật

Vệ sinh sạch sẽ bề mặt khối thóc

Lắp đặt các công cụ chống chim, chuột, côn trùng vào kho

Bảo quản thóc:

Cào đảo, đáng luống đối với thóc đổ rời vào lúc thời tiết thuận lợi

 Thóc mới nhập tháng đầu: 3 ngày 1 lần

 Các tháng thứ 2, 3: 5 ngày 1 lần

 Các tháng thứ 4, 5, 6: 7 ngày 1 lần

 Các tháng thứ 7 – 12: 10 ngày 1 lần

 Các tháng thứ 13 – 24: 15 ngày 1 lần

Thóc bị bốc nóng phải tăng cường cào đảo xử lý tới trạng thái an toàn

Đóng, mở cửa thông gió: không mở cửa kho khi trời mưa, có sương mù, không khíẩm ướt, nhiệt độ không khí cao hơn nhiệt độ khối thóc Khí dưới 80%, nhiệt độkhông khí thấp hơn nhiệt độ khối thóc

Vệ sinh sạch sẽ trong, ngoài nhà kho, trên mặt khối thóc trong những ngày mở cửathông gió Ngày không mở cửa thông gió, vệ sinh ngoài kho, dẫy cỏ từ mép biênkho ra 1,5m

Kiểm tra diễn biến chất lượng khối thóc

 Đo nhiệt độ trong từng khối thóc đổ rời

 Bình thường 1 tuần đo 1 lần

 Khi khối thóc phát hiện không an toàn phải đo hằng ngày

 Kiểm tra men, mốc, bốc nóng, côn trùng 1 tuần 1 lần

 Kiểm tra sự phá hoại và phòng diệt chim, chuột hàng ngày

 Thóc bị men, mốc, bốc nóng, côn trùng quá phạm vi an toàn phải kiểm tra hàngngày

 Trước, trong và sau khi có lụt, bão, mưa to, phải kiểm tra ngay tình trạng khovà thóc

Xử lí thóc bị biến động chất lượng:

 Bốc nóng cục bộ trong 3 ngày

 Bốc nóng toàn khối trong 7 ngày

 Men, mốc trong 5 ngày

 Côn trùng phá hoại trong 15 ngày

Xuất kho

Trang 25

Xuất kho: Trước khi xuất phải xác định chất lượng thóc và hao hụt trong quá trình

bảo quản

Bảo quản thóc, gạo với khí hậu nước ta, bảo quản ở điều kiện khô kết hợp với điềukiện kín và thoáng là phù hợp hơn cả

Thời gian bảo quản an toàn:

Dạng lương thực Độ ẩm (%) Dạng bảo quản Thời gian bảo quản

an toàn

bao

Không quá 1 tháng

Bảo quản thóc đổ rời:

Phương pháp này đỡ tốn kém vật liệu làm bao bì và tiết kiệm được diện tích kho,nhưng độ tản rời giảm, nếu độ ẩm cao thì dễ kết dính các hạt và gây hiện tượng bốc nóng.Thường dùng để bảo quản tạm thời Nếu bảo quản lâu dài phải bảo quản trong silo

Thóc bảo quản ở dạng đổ rời, độ ẩm không quá 14%

Kho phải có vách ngăn thành từng gian, mỗi gian chứa khoảng 200 tấn

Thóc đổ vào kho với độ cao không quá 3,5m, mặt đống phải được trang phẳng.Không đổ sản phẩm xuống nền xi măng mà phải có bục kê và lót bạt hay cót.Cứ 15 ngày cào đảo 1 lần lớp thóc từ mặt đống xuống sâu đến 50 cm

Phải theo dõi thường xuyên tình trạng đống thóc (nhiệt độ, độ ẩm, độ acid, màusắc, mùi vị, tổn hao chất khô và mức độ nhiễm trùng) Khi nhiệt độ lên tới 390Choặc độ ẩm lên tới trên 14% cần có biện pháp xử lý ngay Thường độ ẩm và nhiệtđộ kiểm tra 3-5 ngày một lần, độ acid kiểm tra một tháng một lần, độ ẩm, độnhiễm trùng một tuần kiểm tra một lần Nếu có bốc nóng cần đảo bao, tách riêngbao bị hỏng, làm nguội và rây, sấy khô và xông hơi diệt côn trùng Nếu có sâu mọtăn hại bề mặt bao cần lấy chổi và bàn chải làm sạch bao

Bảo quản thóc đóng bao:

Đây là phương pháp phổ biến ở nước ta và nhiều nước khác Có thể dùng bao vải,gai, đay hoặc bao từ sợi hóa học (màng PP) Đóng bao thường được tiến hành ngay trongphân xưởng chế biến

Kho phải có bục kê (palet) để chống ẩm

Các bao thóc được xếp thành lô, 15 đến 18 lớp với độ cao không quá 4m (chiều caochống bao phụ thuộc vào độ ẩm của hạt, nhiệt độ và độ ẩm tương đối của khôngkhí, trạng thái của bao và kho) Phương pháp này có thể áp dụng chung cho nhiềuloại hạt Đối với hạt có nhiều dầu, chiều cao chồng bao phải thấp hơn so với các

Trang 26

sản phẩm lương thực khác, ở độ ẩm dưới 14%, gạo xếp 8 bao, bột mì 6 bao và ngômảnh 5 bao Khối lượng mỗi lô khoảng 200 tấn, lô nọ cách lô kia ít nhất là 1m vàcách tường 0,5m trở lên.

Các bao được xếp theo kiểu chồng 3 hoặc chồng 5, vuông góc với mặt sàn Khi độẩm cao mới xếp hình miệng giếng Khoảng cách giữa các chồng bao với lối đi phụphải rộng hơn 0,5m và lối đi chính rộng trên 1,25m

Không bảo quản chung các loại sản phẩm khác nhau trong cùng một kho

Cứ 2 tháng 1 lần phun thuốc trừ sâu, mọt theo hướng dẫn hiện hành

Bảo quản gạo:

Cách xếp lô gạo trong kho tương tự như cách xếp thóc đóng bao Mỗi lô xếpkhoảng 200 tấn, với độ cao không quá 3,5m Đối với gạo có độ ẩm cao hơn chút ít(14-15%), mỗi lô chỉ xếp khoảng 100 tấn và phải tăng cường thông gió để làm khôgạo

Yêu cầu về kho tương tự như đối với bảo quản thóc Chú ý chống ẩm, vệ sinh khovà chống lây nhiễm sâu, mọt từ gian kho này sang gian kho khác

Cứ 2 tháng 1 lần phun thuốc trừ sâu, mọt theo hướng dẫn hiện hành

Tiêu chuẩn của thóc dựa vào bảo quản:

Thời gian bảo

quản

Chỉ số

Thóc bảo quản dưới 6

tháng

Thóc bảo quản 6-24 tháng

Bảo quản thóc rời, có cào đảo, thông gió tự nhiên:

Nhập kho: Trước khi đưa thóc vào kho, phải quét dọn, vệ sinh nhà kho thật sạch,

sau đó phun thuốc sát trùng ở nền kho, tường kho trước khi nhập 7 ngày để đủ thờigian đạt hiệu quả sát trùng của thuốc và hơi thuốc bay đi Các dụng cụ kê lót nhưcót, trấu thúng cũng phải phơi khô và sát trùng bằng thuốc trừ dịch hại rồi mới sửdụng

Kê lót để chống ẩm cho tường, nền kho: Nền kho phải được kê lót cẩn thận Vật

liệu tốt nhất là trấu có tác dụng cách ẩm và cách nhiệt, có khả năng chống ẩm vàchống đọng sương ở nền kho Lớp trấu trải dưới nền kho dày 10-20cm, nhưng khomới xây thì lớp trấu phải dày từ 20-30cm trở lên Nếu không có trấu thì có thể xếp

1 lớp gạch ở dưới, trên trải phên và trên cùng là lớp cót

Tường kho có mái hiên che, nhà kho đã xây dựng được trên 1 năm, đã chứa thócrồi thì sau đó có thể đổ thóc tiếp xúc trực tiếp với tường kho Nhưng kho mới xây,hoặc tường kho không có mái hiên thì trước khi đổ hạt, nhất thiết phải làm khunggióng rồi lót cót, sau đó mới đổ thóc, không cho thóc tiếp xúc trực tiếp với tườngđể tránh hiện tượng men mốc của thóc khi tiếp xúc với tường kho

Khi đưa thóc vào kho, hạn chế việc giẫm đạp lên đống thóc, làm chặt nén đốnghạt, vì đống hạt bị nén chặt, ẩm nhiệt khó thoát ra ngoài, dễ gây hiện tượng tự bốcnóng men mốc thóc Nếu thủy phần của thóc nhỏ hơn hoặc bằng 12% thì đống hạt

Trang 27

có thể đổ cao 3m, còn thóc có thủy phần 13% thì chỉ nên đổ 2,5m Sau khi đã nhậpthóc xong, trang phẳng mặt đống hạt.

Thông gió tự nhiên cho kho thóc: Thông gió tự nhiên là một biện pháp đơn giản

làm nguội, làm khô đống hạt, tránh hiện tượng men mốc thóc Nhưng nếu thựchiện không đúng kỹ thuật, sẽ làm thóc bị ẩm, bị đọng sương, gây men mốc

Điều kiện thông gió để chống ẩm là:

 Độ ẩm tương đối bên ngoài nhỏ hơn độ ẩm tương đối trong kho

 Trời không mưa, không có sương

 Nhiệt độ bên ngoài không cao quá 350C

Thời gian thông gió để làm khô, làm nguội tốt nhất là vào mùa lạnh từ tháng 11đến tháng 2 Vài ngày 1 lần, chọn những lúc nắng ráo, mở cửa thông gió độ 1-2 giờrồi đóng cửa lại (thường chọn vào lúc 12-14 giờ là lúc độ ẩm thấp nhất)

Cào đảo thóc: Đống hạt luôn sinh ra nhiệt, làm nhiệt độ đống hạt tăng lên, kéo

theo sự chênh lệch nhiệt độ và thủy phần giữa các lớp Vì vậy, cần phải luôn luôngiải phóng nhiệt, để làm giảm nhiệt độ đống hạt Ngoài ra, cào đảo còn có tácdụng đảo xới lớp hạt ở gần mặt không cho hơi ẩm ở đây đọng lại thành sương gâymen mốc

Nếu đống hạt có nhiệt độ nhỏ hơn 400C thì cào đảo lớp mặt thành luống sâu 50cm Thời gian cào đảo là 15-30 ngày 1 lần tùy theo chất lượng thóc Nếu đốnghạt bị bốc nóng khu vực thì cào đảo thành giếng (sâu 1-1,2m) ở khu vực bốc nóngđể nhiệt trong lòng đống hạt thoát ra

40-Ưu điểm: đơn giản, không đòi hỏi phải có thiết bị, điện, vật liệu…

 Tốn nhiều sức lao động cho việc cào đảo

 Ảnh hưởng tới sức khỏe do môi trường làm việc nhiều bụi, nóng, mốc

 Dễ gây ra men mục thóc ở chỗ lắng bụi vì cào đảo thường xuyên, các phần thóc,bụi sẽ lắng xuống dưới

 Chất lượng thóc bảo quản sau 1-2 năm thường xấu, hạt bị xỉn màu, có mùi hôi,mốc, giá trị dinh dưỡng giảm sút rõ rệt

Bảo quản thóc bằng phương pháp đóng bao:

Nhập kho:

Kho bảo quản thóc là kho A1, đảm bảo chống được ảnh hưởng xấu của môi trường,đảm bảo thực hiện biện pháp thông thoáng, kho phải được vệ sinh sạch sẽ, kê lót,sát trùng đầy đủ

Thóc trước khi nhập vào kho phải được kiểm nghiệm chất lượng

Thóc bảo quản kho được chia thành từng lô có khối lượng phù hợp với sức chứatừng ngăn kho (không quá 200 tấn)

Các bao thóc được xếp thành từng lô từ 15 đến 18 lớp bao với độ cao không quá8m

Giữa các lô có hệ thống thông gió Mỗi lô thóc phải để giếng thông gió

Bảo quản:

Trang 28

Phòng trừ sinh vật hại: trùng, chuột…

Có chế độ thông gió thích hợp Định kỳ mở cửa thông thoáng, phải chọn khi thờitiết khô:

 Tháng thứ 1 sau nhập kho: hàng ngày phải mở cửa thông thoáng

 Tháng thứ 2 sau nhập kho: 2 lần/tuần

 Trên 3 tháng sau nhập kho: 1 lần/tuần

 Trên 12 tháng sau khi nhập kho: 1 lần/tuần

Bảo quản gạo bằng CO 2 :

Phương pháp này dùng để bảo quản gạo dài ngày, từ 6 tháng trở lên

Định hình lô hàng:

 Khối lượng tối đa là 200 tấn

 Chiều cao lô gạo được xếp tối đa là 20 hàng bao

 Lô gạo cách tường kho (hoặc cốt kho) tối thiểu là 0,5m, các lô cách nhau tốithiểu là 0,8m, khoảng cách từ đỉnh lô tới trần kho ít nhất là 1m

 Đảm bảo chắc chắn khô, sạch, không có mối, mọt, mốc

 Không làm rách màng

 Khoảng cách từ bục kê tới cạnh tấm sàn là 0,35m

Đóng bao: Trọng lượng tịnh mỗi bao là 50kg

Chất xếp: có hai cách chất xếp:

 Lô gạo xếp theo phương thẳng đứng, đỉnh lô hơi thu nhỏ so với phân lô, tạo mộtgóc tương đương 50

 Lớp bao gạo tiếp xúc với bục kê được xếp sao cho mép bao nhô ra ngoài cạnhbục kê 5-10cm

Nạp CO2:

 Nạp CO2 theo tỷ lệ 1,5-2 kg/1 tấn gạo

 Khí CO2 nạp vào lô gạo phải liên tục và nhanh

Ngày đăng: 03/10/2016, 14:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5. Nồng độ carbon dioxide trong silo kim loại kín chứa lúa mạch ở độ ẩm 18- 18-20% hoặc 20-22%. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 5. Nồng độ carbon dioxide trong silo kim loại kín chứa lúa mạch ở độ ẩm 18- 18-20% hoặc 20-22% (Trang 8)
Hình 7. Nhiệt độ ở trung tâm silo kim loại có tráng men chứa 60 tấn lúa mì ở độ  aồm 18-22%. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 7. Nhiệt độ ở trung tâm silo kim loại có tráng men chứa 60 tấn lúa mì ở độ aồm 18-22% (Trang 9)
Hình 8. Nồng độ oxy và carbon dioxide trong 20 tấn lúa mì ở silo làm bằng bytul- bytul-rubber ở độ ẩm 20%. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 8. Nồng độ oxy và carbon dioxide trong 20 tấn lúa mì ở silo làm bằng bytul- bytul-rubber ở độ ẩm 20% (Trang 9)
Bảng 3. Thời gian tối đa cho phép bảo quản đại mạch (tuần) - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Bảng 3. Thời gian tối đa cho phép bảo quản đại mạch (tuần) (Trang 35)
Hình 15. Các bao xếp chồng lên nhau tạo thành khối có khoảng hở cho không khí  tuần hoàn làm khô và làm mát hạt. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 15. Các bao xếp chồng lên nhau tạo thành khối có khoảng hở cho không khí tuần hoàn làm khô và làm mát hạt (Trang 39)
Hình 16. Bục kê các bao hạt tránh di chuyển ẩm từ dưới đất vào khối hạt chứa  trong bao. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 16. Bục kê các bao hạt tránh di chuyển ẩm từ dưới đất vào khối hạt chứa trong bao (Trang 40)
Hình 17. Kiểu xếp bao hạt, có khoảng trống ở giữa để tuần hoàn không khí - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 17. Kiểu xếp bao hạt, có khoảng trống ở giữa để tuần hoàn không khí (Trang 41)
Hình 18. Không nên bảo quản hạt trên sàn nhà kho hoặc sát vách tường - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 18. Không nên bảo quản hạt trên sàn nhà kho hoặc sát vách tường (Trang 42)
Hình 20. Hầm bảo quản kín dưới đất có cải tiến (xung quanh hầm lót rơm và tấm  trải, miệng hầm chống thấm nước). - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 20. Hầm bảo quản kín dưới đất có cải tiến (xung quanh hầm lót rơm và tấm trải, miệng hầm chống thấm nước) (Trang 46)
Hình 21. Hầm bảo quản kín với hạt chứa trong các túi đựng, túi được cột chặt như  hình veõ. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 21. Hầm bảo quản kín với hạt chứa trong các túi đựng, túi được cột chặt như hình veõ (Trang 47)
Hình 24. Thùng bảo quản hạt hình trống. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 24. Thùng bảo quản hạt hình trống (Trang 50)
Hình 23. Bảo quản hạt trong túi nhựa (1. túi nhựa mới và lớp vải cotton, 2. kiểm tra  chắc chắn rằng không có lỗ hở nào trên túi, 3 - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 23. Bảo quản hạt trong túi nhựa (1. túi nhựa mới và lớp vải cotton, 2. kiểm tra chắc chắn rằng không có lỗ hở nào trên túi, 3 (Trang 50)
Hình 26. Thùng thép hình tròn có nắp đậy và máng trượt phía dưới thùng cho hạt ra  ngoài - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 26. Thùng thép hình tròn có nắp đậy và máng trượt phía dưới thùng cho hạt ra ngoài (Trang 52)
Hình 27. Kho Pusa (Ấn Độ) - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 27. Kho Pusa (Ấn Độ) (Trang 53)
Hình 28. Silo cải tiến xây bằng gạch. - Cấu tạo kho bảo quản ngũ cốc và đậu đỗ
Hình 28. Silo cải tiến xây bằng gạch (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w