Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần của xã hội: “Tiếp tục đầu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
BÙI THỊ HÀ
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH
NINH BÌNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học:
ThS LÊ THỊ MINH THẢO
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên Ths Lê Thị
Minh Thảo người đã định hướng đề tài và tận tình hướng dẫn chỉ bảo em
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Giáo Dục Chính Trị trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học vừa qua Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Cám ơn các bạn sinh viên khoa Giáo Dục Chính Trị khóa 2012-2016 Các bạn đã giúp đỡ ủng hộ, cũng như đóng góp nhiều ý kiến quý báu, qua đó giúp mình hoàn thiện khóa luận tốt hơn
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng nhưng chắc hẳn khóa luận của em vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được nhiều những ý kiến đánh giá quý, phê bình của quý thầy cô, của anh chị và các bạn
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
giảng viên Th.s Lê Thị Minh Thảo Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Nếu sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà nội, tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Hà
Trang 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa : CNH, HĐH
Di sản văn hóa : DSVH
Sở Văn hóa, thể thao và du lịch : VH, TT & DL
Trang 5MỤC LỤC
MỞ BÀI 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Kết cấu của khóa luận 7
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA 8
1.1 Lý luận chung về di sản văn hóa 8
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 20
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 29
2.1 Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình 29
2.2 Thực trạng về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tỉnh Ninh Bình 34
Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH 51
3.1 Những vấn đề đặt ra trong quá trình bảo tồn và phát huy DSVH ở tỉnh Ninh Bình 51
3.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy DSVH tỉnh Ninh Bình 54
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 7tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp cho nền văn hoá Việt Nam” Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần của xã hội: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian Kết hợp hài hoà việc bảo phát huy các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch”
Ninh Bình cũng là một tỉnh có một nền văn hóa truyền thống tốt đẹp, đồng thời cũng là một tỉnh có những di sản văn hóa lớn của đất nước nói riêng
và của thế giới nói chung Xuất phát từ những vấn đề của xã hội hiện nay mà
em đã chọn đề tài: “Bảo tồn di sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nói tới văn hóa người ta thường đề cập ngay tới di sản văn hoá (Cultural heritage) Diện mạo văn hoá dân tộc trước tiên dễ nhận ra chính là những tài sản văn hoá đời trước để lại cho đời sau Vẻ đẹp giá trị của DSVH giống như những lớp vàng ròng trầm tích kết đọng thành đồng bằng châu thổ đôi bờ con sông văn hoá miệt mài uốn lượn qua những bến bờ thời gian Có lẽ
vì thế mà khi nghiên cứu văn hoá, DSVH là một lĩnh vực được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm tìm hiểu trước tiên và khảo sát ở nhiều cấp độ khác nhau trên các phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn
Trang 8* Những công trình nghiên cứu về văn hoá và di sản văn hoá:
Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP đều nỗ lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về di sản văn hoá UNESCO chia di sản văn hoá thành hai loại: di sản
“văn hóa vật thể” (tangible culture) và di sản “văn hoá phi vật thể” (nonphysicalculture) Trên thế giới nhiều học giả đã nghiên cứu khái niệm Di sản văn hoá (Cultural heritage) Abraham Moles quan niệm DSVH như một
“mã di truyền xã hội”, một thứ “ký ức tập thể” Feredico Mayor hình dung DSVH như một “hệ thống các giá trị”, những nhân tố hình thành nên bản sắc văn hoá dân tộc Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản -
“tài sản văn hoá” (Cultural propeties) và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu hình” và tài sản văn hoá “vô hình” Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu hình giờ đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về di sản văn hoá Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Hướng đến Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19 đến 23/10/2004, Tuyên bố Yamato về Phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã được thông qua Với bản Tuyên bố này, các quan niệm về DSVH đã được nhân loại định nghĩa cụ thể trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế của UNESCO Đây là những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về DSVH vật thể và phi vật thể trên thế giới
Ở nước ta, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình Việt
Nam Văn hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan
điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hoà tinh tuý của văn hoá phương Đông với những điều sở trường về khoa học của văn hoá phương Tây”
Trang 9- Năm 1997, GS.TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách Một số vấn đề
về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc Trên cơ sở những quan niệm
DSVH của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về DSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước ta Năm 2002, Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là văn bản pháp quy về DSVH
- Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hoá do Bộ Văn hoá -
Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài
Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: “Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng bằng sông Hồng” (Đặng văn Bài); “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm” (Phan Huy Lê)
- Sách Giữ gìn, phát huy di sản văn hoá các dân tộc Tây Bắc do NXB
Văn hoá Dân tộc - Tạp chí Văn hoá nghệ thuật phát hành có thể giúp người đọc có thể nhận diện một số vấn đề lý luận về DSVH
- Trên Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, PGS, TS Nguyễn Văn Huy
đã có nhiều cố gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di
sản văn hoá các dân tộc hiện nay Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề
lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả
Trang 10trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới những chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể”
Một số những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình
Tác giả Lã Đăng Bật cuốn sách Việt Nam - Di sản văn hóa Cố Đô Hoa
Lư, NXB Trẻ Cố đô Hoa Lư - đất cũ người xưa, sách giới thiệu về kinh đô
Hoa Lư xưa và sự nghiệp của các anh hùng thuộc ba triều đại nhà Đinh, Tiền
Lê và nhà Lý tính từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thái Tổ Sách được trình bày
rõ ràng và minh hoạ hình ảnh đẹp giúp truyền đạt một bề dày lịch sử ở Hoa
Lư theo cách gãy gọn, dễ hiểu nhưng vẫn sâu sắc và đầy đủ
Trương Đình Tưởng cuốn sách “Địa Chí Văn Hóa Dân Gian Ninh Bình”, NXB Thế Giới 2004, 690 Trang Cùng với quốc sử, sách địa chí là phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục tình yêu xứ sở, giúp người đọc nắm bắt được những bản sắc của một vùng đất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về những giá trị di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Hướng tới một cái nhìn tổng thể về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận chung về di sản văn hóa
- Thực trạng về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình
- Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay
Trang 114 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của tỉnh Ninh Bình hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian :Đề tài nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tỉnh Ninh Bình Đặc biệt là việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá của vùng đất thiêng Cố Đô Hoa Lư
- Thời gian: Từ khi có luật di sản văn hóa năm 2002 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở lý luận
Khóa luận vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam về di sản văn hoá để nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp logic và lịch sử
+ Phương pháp điều tra xã hội học
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu sẵn có
Trang 12giá trị di sản văn hóa truyền thống của Cố Đô nói riêng và của Tỉnh nói chung theo đường lối, chủ trương của Đảng
- Về mặt thực tiễn
Khóa luận có thể dùng làm tư liệu cho những người quan tâm đến tỉnh Ninh Bình Ngoài ra, góp phần tìm hiểu khái quát về các mặt, các lĩnh vực trong tỉnh Ninh Bình
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì khóa luận gồm 3 chương và 6 tiết
Trang 13Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA
1.1 Lý luận chung về di sản văn hóa
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm “Văn hóa”
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một
phần của văn hóa
Tùy theo cách tiếp cận mà các nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác
nhau về văn hóa
Một trong những định nghĩa đó là Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học,ngôn ngữ học người Mỹ: “văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một
hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”
Định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: “Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau” [24, tr.12]
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử".[25, tr.8]
Trang 14 Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử -văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sng1 tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội” [22, tr.9]
hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong
xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương
thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin
Tiếp thu những tinh thần chung của văn hóa chúng ta có thể hiểu: “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo
ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội” [3, tr.102]
Khái niệm “di sản văn hoá”
Theo cách hiểu thông thường thì di sản là tài sản của thế hệ trước hoặc thời đại trước truyền lại cho thế hệ sau hoặc thời đại sau theo hướng tích lũy
ngày càng nhiều, da dạng và phong phú hơn
Ai cũng biết rằng, dù là bất cứ loài dộng vật gì cũng chỉ sống có một thì, nghĩa là toàn bộ hành vi bản năng của nó chỉ hướng vào thực tại nhằm để tồn tại và phát triển Khác với động vật, con người sống theo ba thì: quá khứ, hiện tại và tương lai Trong hoạt động thực tiễn, con người thường xuyên hồi suy về quá khứ, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động để tìm ra được phương
án tốt nhất, đặt cơ sở cho những hành động, những dự phòng về tương lai
Trang 15Những tạo phẩm do con người làm ra trong lịch sử, trong quá khứ, mà hiện tại vẫn đang đắc dụng, sẽ trở thành di sản văn hóa
Một đứa trẻ vừa cất tiếng khóc chào đời đã được tiếp xúc ngay với môi trường văn hóa, đó là bầu sữa mẹ, là những vỗ về cưng nựng, yêu thương, là những vuốt ve âu ếm, là lời ru của mẹ, là câu chuyện kể ngày xửa, ngày xưa của Bà, là mái lều tranh, là cây đa, giếng nước… Đó chính là di sản văn hóa
mà thế hệ trước đã dành sẵn cho nó Nó có nhiệm vụ học tập, tiếp thu, tiến tới chiếm lĩnh, trước hết là toàn bộ vốn di sản văn hóa của cộng đồng, để trở thành người - một thành viên của cộng đồng xã hội Như vậy, sản phẩm văn hóa được sáng tạo ra khi đã được cộng đồng chấp nhận vào “bộ nhớ” của xã hội và trở thành di sản văn hóa
Di sản văn hóa được tích lũy làm cho môi trường văn hóa ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn và có chất lượng cao hơn, nhờ đó mà đào luyện nên những con người, mang giá trị văn hóa cao hơn Những “nhân cách văn hóa” ấy đến lượt nó lại tích cực tham gia vào quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới, bồi đắp cho môi trường văn hóa ngày càng thêm giàu có và chất lượng Đây chính là con đường phát triển văn hóa, trong đó di sản văn hóa đóng vai trò cầu nối giữa các thế hệ
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [15,
tr 254] Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên
Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình thành khá lâu dài Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789 Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ
Trang 16giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản Để tránh sự thất thoát và phá hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó
là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” [11, tr.32]
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định
nghĩa: “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [17, tr.20]
Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước
để lại cho thế hệ sau DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau
Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003
đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Công ước đã
ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể
Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
xác định: “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [4, tr.17]
Trang 17Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, vận động thay đổi theo thời gian Ngày nay khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa Bởi lẽ không phải bất cứ cái gì của quá khứ cũng được coi là di sản Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ
đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử những ký ức, báu vật của cộng đồng, thể hiện nhu cầu,
nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện đại Do đó, sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2001 cùng với các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành
cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức và hành động cho toàn
xã hội, tăng cường sự hiểu biết về di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Có thể nêu một trong rất nhiều định nghĩa như sau: “Di sản văn hóa dân tộc là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của các thành viên trong cộng đồng dân tộc nó thể hiện dưới dạng những đối tượng vật thể (hữu hình) và phi vật thể (vô hình) mang tính biểu tượng, được lan tỏa (vô thức) và trao truyền (hữu thức) từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ thế
hệ trước cho thế hệ sau”
Chúng ta biết rằng, không phải mọi vật phẩm do con người làm ra đều trở thành di sản văn hóa Cho nên, phải xác định những tiêu chí đặc trưng cho
di sản văn hóa để phân biệt nó với các vật phẩm thông thường khác
Muốn làm được điều này phải xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của văn hóa:
Đặc trưng thứ nhất của văn hóa là tính sáng tạo hoặc tính tích lũy
thông tin Đặc trưng này xuất phát từ chỗ, như người ta thường nói: con người
là một động vật tò mò Con người vừa hoạt động, vùa kiếm sống, vừa cần cù quan sát, ghi nhớ, suy ngẫm về cái thế giới mà nó đang tác động và thích ứng
để tồn tại Nhờ đó, mà có sự nhận biết về sự tồn tại của thế giới khách quan, rồi đúc kết thành tri thức,kinh nghiệm, khái quát lên thành các quy tắc hành
Trang 18xử, thành khoa học Dù cho là động vật có hiểu biết thì sự hiểu biết của nó chỉ
đủ thích ứng thụ động với thiên nhiên để tồn tại như hiện hữu Còn hiểu biết của con người là nhằm thích ứng tích cực với thế giới khách quan, rồi cải tạo
nó phù hợp với hoàn cảnh để không ngừng hoàn thiện cuộc sống theo hướng nhân bản hóa Đó là đặc trưng quan trọng hàng đầu để phân biệt giữa hoạt động hữu thức của con người với hành vi tự nhiên của động vật
Như vậy là trong di sản văn hóa có chứa đựng vốn kinh nghiệm và tri thức sống của con người Ví dụ trống đồng Ngọc Lũ chứa đựng biết bao nhiêu kiến thức sống mà chủ nhân của nó đương thời đã tích lũy và thu gom được Chưa kể những hình khắc và hoa văn phủ đầy trên mặt và tang trống, phản ánh các hình thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của các cư dân thời đó, việc đúc trống đã hé mở cho chúng ta về vốn tri thức công nghệ luyện kim thời ấy
đã phong phú và kĩ thuật đến chừng nào
Đặc trưng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Văn hóa khởi đầu là từ
thông tin, hiểu biết những cái thông tin và hiểu biết ấy phải hướng về giá trị mới thành Giá trị là cái được mọi người coi là cái cao quý, đáng ước ao và khi đạt được thì cảm thấy dễ chịu như rơi vào trạng thái thăng hoa Những giá trị phổ thông được mọi nền văn hóa chấp nhận là cái đúng (chân), cái tốt (thiện), cái đẹp (mỹ) cái có ích (ích).Một đồ vật được coi là di sản văn hóa không nhất thiết phải hội tụ bốn phẩm chất: đúng, tốt, đẹp và có ích, nhưng chí ít nó phải có một trong bốn phẩm chất ấy
Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính biểu tượng bộc lộ trên mặt ngoại
hiện của nó Chúng ta đã biết mỗi di sản văn hóa thường chứa đựng một số giá trị nào đó, nhưng giá trị là cái trừu tượng, ngầm ẩn trú trong mỗi di sản văn hóa, nó phải biểu hiện ra ngoài thành biểu tượng văn hóa, nghĩa là biểu hiện bằng hệ thống kí hiệu mang thông tin về bản thân nó Ví dụ, giá trị của truyện Thánh Gióng là biểu hiện tinh thần anh dũng chống ngoại xâm của cư
Trang 19dân làm ruộng nước ở châu thổ Bắc Bộ còn biểu tượng Thánh Gióng là nói
về hình tượng người nông dân bề ngoài trông hiền lành, chất phác, nhưng khi
có giặc ngoại xâm thì vụt lớn mang sức mạnh của cả một dân tộc bất khuất, không chịu làm nô lệ, sức mạnh ấy như một thiên thần, dũng mãnh, liệt oanh dẹp xong giặc dữ, lại bay về trời một cách vô tư thánh thiện
Đặc trưng thứ tư của văn hóa là tính lịch sử Tính lịch sử của văn hóa
được thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình, được tích lũy và sàng lọc qua sự vận động của xã hội Tính lịch sử làm cho vốn di sản văn hóa có bề dày thời gian có sự phong phú về hình loại
Do di sản văn hóa mang tính lịch sử, cho nên bất cứ vật thể nào đại diện cho một sự kiện lịch sử trọng đại, một giai đoạn lịch sử tiêu biểu hay một nhân vật lịch sử kiệt xuất thì đều có thể trở thành di sản văn hóa
Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩn
Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là
thành viên của Ủy ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động và các chính sách quốc tế có liên quan đến Công ước này Di sản văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội DSVH Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Như vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại
Khái niệm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trước hết là quan điểm bảo tồn DSVH Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa:
“bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”
Trang 20Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực
và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn
Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị DSVH vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn hai điều kiện:
- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi
- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”)
Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dang “tĩnh” là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện
kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình video; xác định trong lượng, thành phần chất liệu của di
sản văn hóa vật thể Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng
di sản văn hóa vật thể
Trang 21Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng
băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh.v.v Tất cả các hiện tượng văn
hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)
Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian
Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con
người mà chúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những Báu vật nhân văn sống Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc bảo vệ những Báu vật nhân văn sống Đó là việc
xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện Tất cả những giá trị văn hóa phi vật thể phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp
Trang 22nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng, thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích DSVH phi vật thể
Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng DSVH phi vật thể chính
là mong muốn “lý tưởng” nhất, hoàn hảo nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì phải bảo tồn theo hiện dạng đang có Bởi theo quy luật của thời gian
thì các DSVH phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc Do vậy,
nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều cần
phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất
Tuy nhiên, hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng
Theo đó, cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phục nguyên ở dạng gốc DSVH
1.1.2 Phân loại di sản văn hoá
Phân loại (classification) sự vật và hiện tượng là một trong những cách
nhận thức và thâu tóm bản chất của sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội đa dạng phong phú Phân loại DSVH là một nhu cầu chính đáng trong nghiên cứu Theo quan niệm của UNESCO, DSVH bao gồm hai loại:
“Di sản văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản
phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được” Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định DSVH vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người,
để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt Văn hóa vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người DSVH vật thể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều
Trang 23so với nguyên gốc Hiện nay, vấn đề bảo tồn những DSVH vật thể lâu đời đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ
“Di sản Văn hóa phi vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại
của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành
vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra Từ đó người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của “văn hóa phi vật thể”
Đặc trưng rõ nhất của “văn hóa phi vật thể” là nó luôn tiềm ẩn trong tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người “Văn hóa phi vật thể” được lưu giữ trong thế giới tinh thần của
con người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh động
trong tư cách một hiện tượng văn hóa
“Di sản văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các tập
quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác,
di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và nhóm không ngừng tái tạo
để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc
và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” [23, tr.142]
Cũng giống như DSVH vật thể, các hiện tượng văn hóa phi vật thể cũng có thể bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian, bởi sự vô ý thức của con người Trong thực tế, người ta thường có
xu hướng thêm bớt hoặc lãng quên trong quá trình lưu giữ những giá trị phi
Trang 24vật thể Cho nên, văn hóa phi vật thể vừa có tính bền vững (trong ký ức của cộng đồng) lại vừa mang tính mong manh, dễ bị tổn thương (phụ thuộc vào
cuộc sống của một cá nhân - nghệ nhân với những may rủi bất ngờ) Hơn nữa,
văn hóa phi vật thể còn có nguy cơ biến dạng rất cao bởi tính dị bản của nó do
sự can thiệp của các nhóm xã hội qua các thời đại Trên cơ sở đồng thuận với
quan niệm của UNESCO, Luật Di sản văn hoá của Việt Nam phân loại di sản
văn hóa như sau:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia ( ) Giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia được thể hiện bằng các tiêu chí sau đây:
a) Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b) Hình thức độc đáo;
c) Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất
Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại;
Trang 25 Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định;
d) Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến của thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia” [4, tr.46]
Như vậy, rõ ràng là DSVH phi vật thể luôn sống trong tâm trí con người, được con người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹ năng thực hành biểu hiện giá trị của nó DSVH phi vật thể luôn đồng hành cùng con người, gắn với ký ức của con người theo dòng lịch sử DSVH vật thể tồn tại trong tri giác, được nhận biết thông qua các giác quan của con người, trong
sự thừa nhận của một cộng đồng xã hội kéo dài theo thời gian lịch sử xã hội
1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Việt Nam là một quốc gia có hơn 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên dải đất hình chữ S Mỗi dân tộc góp vào nền văn hóa chung một sắc màu độc
đáo, tạo nên một bức tranh về văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng
Có thể khẳng định văn hóa gắn liền với toàn bộ cuộc sống và sự phát triển của xã hội Con người ra đời, trưởng thành là nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Giá trị văn hóa của một dân tộc thể hiện bản sắc của dân tộc ấy Những giá trị văn hóa của con người là thước đo trình độ phát triển và thể hiện đặc tính riêng của mỗi dân tộc
Xác định tầm quan trọng của di sản văn hóa dân tộc Sau ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 02/9/1945 chưa đầy 3 tháng, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện” - Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Sắc lệnh ra đời trong hoàn cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đang gặp vô vàn
Trang 26khó khăn về giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, đất nước đang ở trong tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”
Sắc lệnh số 65/SL gồm các nội dung cơ bản như: Khẳng định việc bảo tồn cổ tích “là công việc rất quan trọng và rất cần thiết cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” (khái niệm “cổ tích” trong Sắc lệnh ngày nay được gọi
là di sản văn hóa, gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể); Đông Phương Bác cổ Học Viện có nhiệm vụ bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, thay thế cho Pháp Quốc Viễn Đông Bác cổ Học viện bị bãi bỏ; Giữ nguyên các luật lệ về bảo tồn cổ tích đã có trước đây;“Cấm phá hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng
có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”; “Chính phủ công nhận nguyên tắc những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, của mỗi kỳ hay mỗi tỉnh cho Đông Phương Bác cổ Học viện Khi dự thảo ngân sách cho toàn quốc, cho từng kỳ hay từng tỉnh; ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Ủy viên tài chính mỗi kỳ, mỗi tỉnh phải dự tính khoản trợ cấp cho Đông Phương Bác cổ Học viện”
Dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những vận dụng, kế thừa trong quá trình lãnh đạo cách mạng qua các thời kỳ lịch sử, nhất là trong thời kỳ Đổi mới
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Trong điều
30, Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định rõ rằng: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn, kế thừa và phát huy những giá trí của nền văn
Trang 27hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đaọ đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa Nghiêm cấm truyền bá
tư tưởng và văn hóa phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục”
Tháng 11/1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII họp Hội nghị lần thứ 4 đã dành riêng một Nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ trong những năm trước mắt Trong sáu định hướng về công tác tư tưởng,
có một định hướng lớn là phát triển văn hóa với hai nội dung cơ bản là Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Vản bản quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam ảnh hưởng đến sự
phát triển văn hóa nói chung hiện nay là Nghị quyết hội nghị lần thứ V, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) Đây là nghị quyết về chiến lược văn hóa của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nghị quyết nhấn mạnh: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước
ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hành động xã hội và từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng , vào mỗi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”
Trong đó, bản sắc văn hóa dân tộc được xác định “ Bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của các cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước” “Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu chọn lọc
Trang 28những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời, trong phong tục tập quán, lề thói cũ” “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”
Trên phương diện quan điểm của Đảng đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, Nghị quyết TW khóa VIII là văn kiện toàn diện nhất, đề cập cụ thể đến những vấn đề cũng như những phương hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam, vì vậy nó tác động sâu sắc không chỉ đến quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam nói chung mà còn định hướng cho công việc quản lý văn hóa của nghành văn hóa – thông tin nói riêng
Trên tinh thần Nghị quyết TW 5 khóa VIII,hàng loạt các giải pháp xây
dựng và phát triển văn hóa nâng cao đời sống tinh thần cho người dân đã ra
đời Chỉ thị số 27- CT/TW ngày 21-1-1998, của Bộ chính trị Ban chấp hành
Trung ương Đảng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi,
việc tang, lễ hội, Chỉ thị số 14/ 1998 / TC- TTg ngày 28-3-1998 của Thủ
tướng Chính phủ về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi,
việc tang, lễ hội đã dẫn đến việc ra đời Thông tư số 04/ 1998/ TTg- BVHTT ngày 11-7-1998 của Bộ Văn hóa – Thông tin hướng dẫn thực hiện nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Hệ thống pháp luật có liên quan đến di sản văn hóa truyền thống, như những văn bản được cụ thể hóa bằng
các luật như Luật Di sản văn hóa, bằng các quy chế như Quy chế tổ chức lễ
hội Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã tiến hành đầu tư qua Chương trình Quốc gia có mục tiêu về văn hóa cho việc nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các giá trị
di sản văn hóa, nhờ đó huy động được sự quan tâm của cộng đồng với các di sản văn hóa
Trang 29Mỗi khi Đảng có chủ trương, quan điểm mới về tôn giáo thì Nhà nước kịp thời thể chế hóa bằng những văn bản pháp quy để đưa chủ trương, quan điểm của Đảng về tôn giáo vào cuộc sống
Ngày 29/10/ 1975, Nghị định số 519 – TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Thủ tướng Chính phủ công bố đã tạo điều kiện cho nghành VHTT tiến hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở các tỉnh thành, giúp bảo vệ những di tích quan trọng nhất của đất nước Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hội đông Nhà nước công bố ngày 31/3/1984 đã chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Chính Phủ đối với công tác giữ gìn Di sản văn hóa của dân tộc Những nghị định, Pháp lệnh này thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo tồn các di sản văn hóa ở những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội vào thời điểm
đó Để có những thay đổi mang tính chất cách mạng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và văn hóa, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chủ trương, định hướng, luật, chính sách, những văn bản có tác động sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển của di sản văn hóa
Ngày 19/1/1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTG Về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật,
trong đó xác định việc phát triển VHTT mang bản sắc dân tộc Việt Nam là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân, Nhà nước tạo điều kiện, xây dựng cơ sở
hạ tầng và trang bị phương tiện cho việc phát triển văn hóa nghệ thuật mang bản sắc dân tộc Quyết định cũng chỉ ra chính sách cụ thể như đầu tư lâu dài, phổ biến văn học dân gian, xây dựng các tiết mục dân tộc, giữ gìn các nghề thủ công truyền thống, các loại nhạc dân tộc, đồng thời khen thưởng những người có công trong việc sưu tầm và bảo giá trị văn hóa dân tộc
Trang 30Tại văn bản số 4739/ KG- TW ngày 26/8/1994, Thủ tướng Chính phủ
đã cho phép Bộ VHTT triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia Đây là sự thể hiện một sự đầu tư đúng hướng, trên cơ sở các định hướng chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa
Để triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII và các quyết định của Chính phủ trong lĩnh vực DSVH, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành:
- Công văn số 4432/VHTT- BTBT ngày 20-10-1998 của Bộ VHTT hướng dẫn tăng cường quản lý cổ vật
- Công văn số 4432/VHTT – BTBT ngày 20- 10-1998 của Bộ VHTT hướng dẫn việc đăng ký kiểm kê bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
- Chỉ thị số 60/CT- BVHTT ngày 6-5-1999 của Bộ trưởng Bộ VHTT
về việc tăng cường quản lý và bảo vệ di tích
Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa X, kỳ họp 9 thông qua ngày 14-6-2001, có hiệu lực từ ngày 01-01-2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH ở Việt Nam Các khái niệm, nội dung của DSVH, phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật; chính sách biện pháp chủ yếu của nhà nước, tổ chức, cá nhân của toàn xã hội trong việc bảo vệ DSVH dân tộc; giải thích các từ ngữ về DSVH và bảo vệ, phát huy DSVH; xác định quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và các hình thức sở hữu khác đối với DSVH; những mục đích sử dụng và phát huy DSVH; các điều cấm nhằm bảo vệ DSVH đã được đề cập đến Bên cạnh đó, trong văn bản luật này có các chương đề cập đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với DSVH; việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH phi bật thể và
Trang 31DSVH vật thể; việc quản lý Nhà nước về DSVH; việc khen thưởng và xử lý
vi phạm; các điều khoản thi hành
Với các điều khoản cụ thể, rõ ràng hơn so với các văn bản dưới luật khác, phạm vi điều chỉnh của bộ luật trên bao gồm cả văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể, quy định cụ thể việc kiểm kê, sưu tầm vốn văn hóa truyền thống (bao gồm văn hóa bác học và văn hóa dân gian) của người Việt và các tộc người thiểu số; bảo tồn các làng nghề truyền thống, các tri thức về y, nghệ
sĩ bậc thầy trong các ngành nghề truyền thống Luật DSVH cũng có những quy định về quản lý bảo vệ và phát huy giá trị của các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cùng việc xây dựng các bộ sưu tập và tổ chức các bảo tàng ở Việt Nam; quy định việc mở hệ thống các cửa hàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng và sưu tầm tư nhân; thống nhất việc sử dụng các nguồn thu và trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp ngân sách cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa và có những quy định tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, như việc cho phép tổ chức trưng bày cổ vật ở nước ngoài, việc người nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm các DSVH ở Việt Nam và dặc biệt là việc hợp tác quốc tế để bảo hộ những DSVH Việt Nam ở nước ngoài
Một văn bản quan trọng nữa ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy
giá trị các DSVH là Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá tri di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ VHTT ký Quyết định phê duyệt số 1706/QĐ – BVHTT ngày 24/7/2001, kèm
theo danh sách 32 di tích ưu tiên đầu tư chống xuống cấp và tôn tạo đến năm
2020 Dự án đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án
Công cuộc đổi mới là một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước Những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, ở đó thay vì nền kinh tế quan lieu bao cấp, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương
Trang 32thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường- nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có nhiều thành phần tham gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Để có những thay đổi mang tính chất cách mạng trong đời sống chính trị – kinh tế – xã hội và văn hóa, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chủ trương, định hướng, luật, chính sách; những văn bản có tác động sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển của DSVH
Như vậy, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước trong thời gian qua đã có tác dụng bảo tồn và phát huy DSVH, ngăn chặn tình trạng xuống cấp của di tích lịch sử, tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực phát triển ngành du lịch “một ngành công nghiệp không khói” mang lại lợi nhuận kinh tế cao Có thể khẳng định những thành tựu đã được qua một số mặt sau đây:
Thứ nhất, bằng chính sách xếp hạng của Nhà nước, nhiều di tichscos
giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và khoa học đã đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật
Thứ hai, tổng mức vốn đầu tư hàng năm cho hoạt động tu bổ, tôn taojdi
tích liên tục được tăng lên theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn, đồng thời
ưu tiên tập trung đầu tư cho các di tích quộc gia đặc biệt và di tích lịch sử cách mạng Như thế, chương trình mục tiêu quốc gia tu bổ, tôn tạo di tích ngày càng có hiệu quả, góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa các hoạt động bảo tồn bảo tàng Nhờ có nguồn ngân sách đầu tư kịp thời của Nhà nước
và cộng đồng xã hội mà nhiều di tích lịch sử cách mạng đã được cứu thoát khỏi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng
Thứ ba, quá trình thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về
chống xuống cấp và tôn tạo di tích đã tạo ra những sản phẩm văn hóa đặc thù,
có sức hút mới làm tăng đáng kể số lượng khách du lịch trong nước và quốc
Trang 33tế đến thăm di tích và nguồn thu từ phí tham quan và các dịch vụ văn hóa tại
di tích cũng tăng đáng kể, góp phần không nhỏ việc thúc đẩy phát triển du lịch
Tiểu kết chương 1
DSVH là tài sản vô giá trong đời sống của một cộng đồng xã hội cần được bảo tồn, kế thừa và phát huy một cách đúng đắn, khoa học, hợp lý Bước sang thế kỷ XXI, nhân loại ngày càng coi trọng các giá trị văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng coi trọng các giá trị văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng đa dạng giữa các quốc gia, dân tộc Ninh Bình là một nơi có nhiều DSVH dân tộc trong hàng ngàn năm lịch sử Việc bảo tồn và phát huy DSVH ở nước ta cũng đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi chúng ta nhận thức rõ hơn về lĩnh vực này để có thể đưa ra những chính sách văn hóa phù hợp, nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cần đẩy mạnh quá trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của nước ta nói chung và ở các địa
phương nói riêng nhằm phát triển xã hội toàn diện ở cả hiện tại và tương lai
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở
TỈNH NINH BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Ninh Bình
Vị trí địa lý :
Tỉnh Ninh Bình nằm ở vùng cực nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp 2 tỉnh Hoà Bình và Thanh Hoá, phía Đông giáp tỉnh Nam Định, phía Nam giáp biển Đông Ninh Bình có diện tích tự nhiên 1.400 km², với bờ biển dài hơn 15 km Toàn tỉnh có 67.000 ha đất nông nghiệp, trong đó đất canh tác 55.000 ha; đất lâm nghiệp 13.000 ha; rừng tự nhiên 10.400 ha và trên 20.000 ha diện tích núi đá với trữ lượng hàng chục tỷ m³ đá vôi; rừng núi chiếm diện tích tự nhiên trên toàn tỉnh
Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình Vùng đồi núi hay còn gọi là vùng "bán sơn địa" ở phía Tây và Tây Nam bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa
Lư, Tam Điệp; vùng đồng bằng và vùng ven biển ở phía Đông và phía Nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp
Về kinh tế
Tỉnh Ninh Bình có diện tích tự nhiên hơn 1.400 km2, với bờ biển dài hơn 15 km Toàn tỉnh có 67.000 ha đất nông nghiệp, trong đó đất canh tác 55.000 ha, đất lâm nghiệp 13.000 ha, rừng tự nhiên 10.400 ha và trên 20.000
ha diện tích núi đá với trữ lượng hàng chục tỷ m3 đá vôi; rừng núi chiếm 22% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Mỗi vùng trong tỉnh có tiềm năng và thế mạnh
Trang 35riêng, song các vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoá toàn diện cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ, hải sản, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm Cùng với tiềm năng về công, nông, lâm nghiệp, Ninh Bình còn có thế mạnh phát triển đa dạng các loại hình du lịch Ninh Bình có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như: Cố đô Hoa Lư; khu du lịch Tam Cốc- Bích Động; Vườn Quốc gia Cúc Phương với diện tích rừng nguyên sinh khoảng 22.000 ha, có nhiều động thực vật quý hiếm; khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, động Vân Trình, nước nóng Kênh Gà, khu hang động Tràng An, Nhà thờ đá Phát Diệm, khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chương, khu phòng tuyến Biện Sơn- Tam Điệp rất hấp dẫn khách du lịch
Lịch sử - Văn hóa
Lịch sử: Ninh Bình xưa thuộc bộ Giao Chỉ, một trong 15 bộ của nước
Văn Lang Qua các đời nhà Hán, Lương, Đường thuộc châu Trường Yên Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đặt tên nước là Đại Cồ Việt Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long, Ninh Bình nằm trong phủ Trường An, sau đổi là châu Đại Hoàng vào cuối thế kỷ 12 Đời nhà Trần đổi thành lộ, rồi lại đổi thành trấn Thiên Quan Đời Lê Thái Tông (1434-1439), Ninh Bình sáp nhập vào Thanh Hóa; thuộc trấn Sơn Nam đời vua Lê Thánh Tông; rồi lại thuộc về Thanh Hóa cho tới đời vua Minh Mạng Thời nhà Nguyễn, địa bàn tỉnh Ninh Bình là 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan Năm 1831, Ninh Bình trở thành một trong số 13 tỉnh ở Bắc Kỳ với 6 huyện Yên Khánh, Nho Quan, Kim Sơn, Gia Khánh, Gia Viễn và Yên Mô, thuộc Liên khu 3 Sáu huyện vẫn giữ nguyên cho đến khi tỉnh Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh ngày 27/12/1975 Ninh Bình lại được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, ngày 26/12/1991 Khi tách ra, Ninh
Trang 36Bình có diện tích 1.400 km², dân số 787.877 người, gồm 2 thị xã Ninh Bình, Tam Điệp và 5 huyện Kim Sơn, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Hoàng Long Ngày 23/11/1993, huyện Hoàng Long đổi lại tên cũ là huyện Nho Quan Ngày 4/7/1994, huyện Tam Điệp đổi lại tên cũ là huyện Yên Mô và tái lập huyện Yên Khánh từ 10 xã của huyện Tam Điệp cũ và 9 xã của huyện Kim Sơn Hiện nay, Ninh Bình có 2 thành phố là thành phố Ninh Bình và thành phố Tam Điệp và 6 huyện Kim Sơn, Gia Viễn, Hoa Lư, Nho Quan, Yên Mô, Yên Khánh
Văn hóa: Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc,
Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, là nơi chịu ảnh hưởng giữa nền văn hóa Hòa Bình và văn hóa Đông Sơn Với đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa tương đối đa dạng mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng
Ninh Bình còn là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý Ninh Bình cũng là nơi gắn bó với sự nghiệp của các triều đại nhà Trần, triều đại Tây Sơn và Hậu Trần Ninh Bình là quê hương của nhiều danh nhân đất Việt tiêu biểu như: Đinh Bộ Lĩnh; Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, Vũ Duy Thanh v.v Ninh Bình
là vùng đất có nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính là lễ hội cấp tỉnh, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái
Vi là lễ hội cấp huyện Các lễ hội khác: lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư
2.1.2 Tình hình di sản văn hóa ở tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình có tiềm năng du lịch rất lớn, nhiều danh lam thắng cảnh và
di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng