Để thực hiện tốt mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã quán triệt một số chủ trương lớn: Ứng dụng và phát triển CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển KT - XH, là phương tiện
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ TUẤN ANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành : Chính sách công
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đỗ Phú Hải
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai sót, cá nhân tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Võ Tuấn Anh
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
1.1 Khái niệm chính sách ứng dụng công nghệ thông tin ……… 8 1.2 Nội dụng chính sách ứng dụng công nghệ thông tin………. 9 1.3 Tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin…… 15 1.4 Trách nhiệm thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin của
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách ứng dụng
24
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỈNH HƯNG YÊN ………
28
2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách ứng dụng công nghệ
thông tin tỉnh Hưng Yên, giai đoạn 2011 - 2015 ………
28
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
38
2.3 Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách ứng dụng
Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH
3.1 Mục tiêu, định hướng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và đào tạo
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Thống kê hiện trạng hệ thống mạng máy tính (tính đến tháng 12/2015) Bảng 2.2 Thống kê hiện trạng máy tính (tính đến tháng 12/2015)
Bảng 2.3 Thống kê hiện trạng trang thiết bị CNTT tại các trung tâm tích hợp
dữ liệu tỉnh và phòng mạng của các sở, ban, ngành và tương đương
Bảng 2.4 Kết quả xây dựng các cơ sở dữ liệu kho lưu trữ điện tử
Bảng 2.5 Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý hồ sơ đảng viên
Bảng 2.6 Tổng hợp kinh phí đầu tư Dự án ứng dụng CNTT giai đoạn 2013-2015 Bảng 2.7 Tổng hợp kinh phí thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT năm 2014 Bảng 2.8 Tổng hợp kinh phí thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
năm 2015
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và quan tâm đẩy mạnh ứng dụng, phát triển Công nghệ thông tin Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị khóa VIII, đến nay lĩnh vực Công nghệ thông tin đã trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, đóng góp ngày càng lớn vào quá trình phát triển đất nước Công nghệ thông tin (CNTT) ra đời đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ứng dụng CNTT đã góp phần quan trọng nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và cả nền kinh tế, đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập quốc tế Hệ thống chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển CNTT ngày càng được hoàn thiện; cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về CNTT được xác lập và từng bước được nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
Theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ chính trị khóa XI,
đã xác định rõ mục tiêu ngành CNTT Việt Nam cần đạt được thời gian tới: “CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng” Trên cơ sở kế thừa các quan điểm lớn của Chỉ thị 58, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã bổ sung, làm rõ thêm những quan điểm mới về ứng dụng và phát triển CNTT trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Một trong 4 quan điểm lớn nêu trong Nghị quyết 36 là: “Đầu tư cho CNTT là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất nước, cần được đi trước một bước trên cơ sở quản lý tốt; tăng cường khả năng làm chủ, sáng tạo công nghệ, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”
Trên cơ sở này, ngày 01/10/2014 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 260-QĐ/TW về việc ban hành Chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2015-2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 16/10/2015 Phê duyệt Chương trình quốc
Trang 7gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 Chương trình này tập trung vào một số nội dung trọng tâm:
- Phát triển hạ tầng kỹ thuật
- Phát triển các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trọng điểm
- Phát triển các phần mềm quản lý nội bộ trong cơ quan Đảng, Nhà nước
- Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cán bộ, công chức và nhân dân Những quyết định trên là cơ sở quan trọng để Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên chỉ đạo triển khai ứng dụng CNTT vào hoạt động lãnh đạo, quản lý bộ máy quản lý Nhà nước và công tác điều hành cấp ủy Đảng, góp phần nâng cao đời sống
xã hội, thiết thực vào sự nghiệp phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị của tỉnh
Việc triển khai ứng dụng CNTT tại tỉnh Hưng Yên thời gian qua cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng và đưa vào sử dụng hệ thống thông tin điện tử phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan Đảng và Nhà nước, góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, tác phong làm việc của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Tỉnh ủy Hưng Yên luôn quan tâm việc phát triển CNTT trên tất cả các phương diện như phát triển hạ tầng, ứng dụng và đào tạo nguồn nhân lực CNTT Tại tỉnh hình thành 2 trung tâm mạng đó là Trung tâm mạng của các cơ quan nhà nước và Trung tâm mạng của các cơ quan Đảng; hạ tầng CNTT đã từng bước được đầu tư đồng bộ, các phần mềm phục vụ công tác quản lý, điều hành được triển khai, cài đặt; đội ngũ cán bộ CNTT được tăng cường, công tác đào tạo, tập huấn nhằm chuẩn hóa và nâng cao trình độ ứng dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh đến huyện được tổ chức thường xuyên
Việc triển khai ứng dụng CNTT tại tỉnh Hưng Yên tuy đã đạt được kết quả khá khả quan song vẫn còn một số khó khăn nhất định, đó là:
- Nhận thức về vai trò và tiềm năng của CNTT của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý còn hạn chế Trình độ sử dụng máy tính, mạng máy tính của đội ngũ cán bộ, chuyên viên ở một số cơ quan chưa đồng đều
- Ứng dụng CNTT chưa được phát huy mạnh mẽ trong các hoạt động ở một
số đơn vị, có nơi còn hình thức, chưa thiết thực Hiệu quả sử dụng các phần mềm hệ thông tin điều hành tác nghiệp vào xử lý công việc qua mạng máy tính chưa cao
Trang 8Các trang thiết bị CNTT đầu tư theo các Đề án dàn trải trong nhiều năm, đến nay hệ thống máy chủ đã cũ, lạc hậu, thường xuyên xảy ra các sự cố dẫn đến việc triển khai ứng dụng CNTT tại các đơn vị gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả
- Hệ thống mạng thông tin diện rộng của các cơ quan Đảng và hệ thống mạng thông tin của các cơ quan Nhà nước triển khai chưa đồng bộ dẫn đến việc kết nối, trao đổi thông tin giữa các cơ quan Đảng và các cơ quan Nhà nước các cấp chưa hiệu quả
Từ thực tế đó, để góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng
CNTT tại tỉnh Hưng Yên, tác giả lựa chọn nội dung “Thực hiện chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, CNTT ngày càng khẳng định rõ tầm quan trọng đối với công cuộc CNH-HĐH đất nước vậy nên vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý của
bộ máy hành chính được quan tâm đặc biệt Các cơ quan Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều có những chương trình ứng dụng CNTT cho riêng mình
Điển hình có một số công trình nghiên cứu lớn có liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước từ năm 2001 đến nay, như:
Nghiên cứu về chính sách công:
- PGS.TS Lê Mai Chi (2007), “Chính sách và quá trình chính sách”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội;
- PGS.TS Võ Kim Sơn (2012), “Xây dựng và thực thi chính sách”;
- TS Tạ Ngọc Hải (2013), “Chính sách công - Tiếp cận từ khoa học tổ chức nhà nước”;
Nghiên cứu về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin:
- Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thong tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị Quốc gia;
- Đề án tin học hóa hoạt động các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 (Đề án 47)
Trang 9- Đề án tin học hóa hoạt động các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2010 (Đề án 06)
- Đề án nâng cấp và mở rộng mạng thông tin diện rộng của Tỉnh ủy Hưng Yên, giai đoạn 2013-2015;
- TS Hoàng Quốc Lập (2007), “Chính sách phát triển công nghệ thông tin - Truyền thông phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhâp”;
- Nguyễn Minh Ngọc (2011) “Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành thuế Việt Nam”, Luận văn tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân;
- Đỗ Minh Tiến (2011), “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở
thuộc tỉnh Quảng Nam”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng;
- Bài viết của TS Nguyễn Danh Nguyên, Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học
Bách khoa Hà Nội, Nguyễn Hoài Nam, Văn phòng Thành ủy Hà Nội, (2012), “Ứng
dụng CNTT trong các cơ quan Đảng thành phố Hà Nội Thực trạng và giải pháp”;
- Emmanuel C Lallana (2003), Kỷ nguyên thông tin, UNDP-APDIP;
- Patricia J Pascual (2003), Chính phủ điện tử, UNDP-APDIP;
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ khái quát những vấn đề chung hoặc chỉ đề cập đến những khía cạnh khác nhau của ứng dụng CNTT trong phục vụ phát triển KT-XH của một số địa phương nhất định; Đề án 47 và Đề án 06
là có liên quan trực tiếp đến việc tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng tỉnh Hưng Yên Hai đề án này là chủ trương chiến lược đối với các cơ quan Đảng từ Trung ương đến địa phương Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu
nghiên cứu về “Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn
tỉnh Hưng Yên” Vì vậy, những tư liệu trên là nguồn thông tin bước đầu giúp tác giả
tham khảo, kế thừa, tiếp thu một số ý tưởng kết hợp với việc đánh giá, phân tích, từ
đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế thực hiện chính sách ứng dụng CNTT tỉnh Hưng Yên trong những năm tới
3 Mục đích và nhiệ vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Học viên lấy nghiên cứu này làm đề tài tốt nghiệp thạc sỹ ngành chính sách công
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10Luận văn có nhiệm vụ trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT, vai trò của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước?
Câu hỏi 2: Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng CNTT từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước tỉnh Hưng Yên thời gian qua như thế nào?
Câu hỏi 3: Giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước tỉnh Hưng Yên thời gian tới là gì?
4 Đối tượng và phạ vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện chính sách ứng dụng CNTT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT tại tỉnh Hưng Yên
- Thời gian: giai đoạn 2011-2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực tế; phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương;
Trang 11các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của sở, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT cho các cơ quan nhà nước ở nước ta nói chung và thực tế tại tỉnh Hưng Yên nói riêng Đồng thời, thu thập thông tin từ các tài liệu của các tổ chức và học giả trong nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp được dùng khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại trực tiếp với đối tượng nhằm thu thập thông tin Ngoài các thông tin thu thập được qua các số liệu thứ cấp và kết quả xử lý thông tin bằng phương pháp điều tra bảng hỏi, tác giả đã thực hiện thêm phương pháp phỏng vấn đối với một số đối tượng để làm rõ thêm thông tin mà các phương pháp thu thập thông tin nêu trên chưa đáp ứng được
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này cung cấp lý luận chính sách công về nghiên cứu vấn đề chính sách ứng dụng CNTT
- Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn từ tỉnh Hưng Yên từ đó
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT nhằm phát huy tối đa hiệu quả của chính sách đã ban hành và đề xuất hoàn thiện, đổi mới chính sách
6.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn cung cấp những kiến thức lý luận và thực tiễn về chính sách công, việc vận dụng vấn đề trong thực hiện chính sách ứng dụng CNTT tại tỉnh Hưng Yên từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các sở, ngành có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để chính sách có thể mang lại hiệu quả thiết thực nhất phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH ở địa phương
Trang 127 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Khái niệ chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Khái niệm chính sách công
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [16,tr.37]
Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước Các quyết định về chính sách công là những quyết định chính trị, bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề
xã hội đang đặt ra trong đời sống KT-XH theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách
Thuật ngữ “Công nghệ Thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài
viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt
và Whisler đã bình luận: Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)
Theo Điều 4, Luật Công nghệ thông tin, CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập,
xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [18,tr.1]
Khái niệm chính sách ứng dụng Công nghệ thông tin
“Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” [18,tr.1]
Đến nay, khái niệm chính sách ứng dụng CNTT ở nước ta vẫn là một khái niệm mới chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống Có nhiều quan
Trang 14điểm khác nhau về vấn đề này Vận dụng khái niệm chính sách công vào lĩnh vực
CNTT ta có thể hiểu khái niệm chính sách ứng dụng CNTT: Chính sách ứng dụng
CNTT là chính sách công, là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước về CNTT nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công
cụ chính sách để giải quyết vấn đề về CNTT theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định
Chính sách ứng dụng CNTT gồm có các bộ phận hợp thành quan trọng là: những đường hướng, hành động hay còn gọi là những quan điểm, định hướng, mục tiêu và biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo hiện đại hóa CNTT cả
về nhân lực và vật lực, thực hiện theo định hướng phát triển đã xác định Đây là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách từ khởi động, phân tích, soạn thảo ban hành, thực thi và đánh giá chính sách
1.2 Nội dung thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
1.2.1 Vấn đề của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Để xây dựng chu trình chính sách hiệu quả, điều đầu tiên chúng ta cần xác định đúng và kịp thời vấn đề chính sách Khi xác định vấn đề của xã hội sai sẽ dẫn đến vấn đề chính sách công sai, tất yếu chu trình chính sách sẽ sai, kéo theo nhiều tổn thất và hệ lụy trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước Do đó, muốn xác định được vấn đề chính sách đòi hỏi chủ thể xây dựng chính sách phải thường xuyên quan sát và phân tích thực tế để kịp thời chỉ ra và dự báo được những mâu thuẫn cơ bản nảy sinh trong đời sống KT-XH cần được giải quyết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội
Vấn đề của chính sách ứng dụng CNTT là chưa được ứng dụng rộng rãi trong đời sống, KT-XH, an ninh quốc phòng, chưa phát huy hết được sức mạnh CNTT, chưa có những chính sách ưu đãi rõ ràng cho phát triển CNTT, nguồn nhân lực CNTT còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng chuyên môn Đó là những mâu thuẫn đòi hỏi được giải quyết: Mâu thuẫn giữa sự phát triển mạnh mẽ của ứng dụng CNTT và các chính sách, văn bản luật của Việt Nam chưa phù hợp và đồng bộ; mâu thuẫn giữa thu nhập thấp của cán bộ làm công tác CNTT với trình độ và chi
Trang 15phí cuộc sống không ngừng biến động theo chiều hướng ngày càng tăng cao; mâu thuẫn giữa đãi ngộ và khả năng cống hiến Việc xác định chính xác và kịp thời các mâu thuẫn cơ bản trên sẽ giúp cho việc xây dựng, ban hành, thực thi chính sách phát triển ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao
a Vấn đề xây dựng quy hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
Xây dựng quy hoạch ứng dụng CNTT đang là một trong những vấn đề rất
được quan tâm trong giai đoạn phát triển KT-XH hiện nay Đặc biệt trong bối cảnh CNTT thế giới phát triển như vũ bão, nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của ứng dụng CNTT chưa đầy đủ; thực hiện chưa triệt để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
b Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, có hiệu quả trong toàn xã hội
CNTT được ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả vào hoạt động của các lĩnh vực
KT-XH, nghiên cứu - đào tạo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; hoạt động phòng, chống lụt, bão, thiên tai, thảm họa khác, cứu hộ, cứu nạn và các hoạt động khác được Nhà nước khuyến khích [18]
c Vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
Đào tạo, bồi dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác đối với cán bộ trực tiếp làm công tác CNTT Trên thực tế hiện nay, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập nói chung đã và đang quan tâm nhiều đến công tác đào tạo, bồi dưỡng sử dụng nguồn nhân lực, tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa cao, đào tạo bồi dưỡng nhiều khi còn lãng phí, không phù hợp với thực tiễn công việc Sử dụng cán bộ được đào tạo về CNTT vào những vị trí chưa phù hợp, chưa đúng chuyên môn
d Vấn đề quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông tin
Quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Để đổi mới quản lý nhà nước về CNTT các nhà lãnh đạo cần kết hợp chặt chẽ giữa ứng dụng CNTT với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà
Trang 16nước Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực CNTT, viễn thông và thông tin điện tử chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông, chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông tin là loại đầu tư xây dựng hạ tầng KT-XH Hiện nay, hệ thống quản lý nhà nước về CNTT gồm các cơ quan quản lý các cấp về CNTT ở Trung ương và địa phương Tuy nhiên chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, đơn vị còn chồng chéo chưa phù hợp với từng địa phương; Chưa có các chính sách phù hợp để quản lý và ứng dụng CNTT một cách thống nhất
Như vậy, trong các chủ trương phát triển CNTT nói chung, vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT luôn có một vị trí cực kỳ quan trọng và là yếu tố được Chính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm
1.2.2 Mục tiêu chính sách
Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu đối với ngành CNTT là phát triển mạng thông tin quốc gia trên quy mô cả nước, với băng thông rộng, dung lượng lớn, tốc độ và chất lượng cao, ổn định, giá thành thấp; Tăng tỷ lệ người tiếp cận với các ứng dụng CNTT và sử dụng mạng Internet; Đưa CNTT trở thành ngành công nghệp kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác;
Có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã quán triệt một số chủ trương lớn: Ứng dụng và phát triển CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát
triển KT - XH, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát
triển so với các nước đi trước; Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh, quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển; Mạng thông tin quốc gia
là kết cấu hạ tầng KT-XH quan trọng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ứng dụng và phát triển CNTT, đảm bảo được tốc độ và chất lượng cáo, giá cước rẻ; Phát
triển nguồn nhân lực cho CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với
việc ứng dụng và phát triển CNTT; Đồng thời phát triển công nghiệp CNTT thành
một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là phát triển công nghiệp phần mềm [9]
Trang 171.2.3 Giải pháp và công cụ chính sách
Giải pháp chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Khi hoạch định chính sách ứng dụng CNTT, các chủ thể đã tập trung vào một số giải pháp đồng bộ như sau:
Xây dựng quy hoạch ứng dụng công nghệ thông tin và ban hành các văn bản chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Để xây dựng quy hoạch phát triển ứng dụng CNTT tốt, trước tiên chúng ta phải gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch ứng dụng CNTT với quy hoạch phát triển KT-XH nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước tới năm 2020 và tầm nhìn 2030
Giải pháp chính sách đồng bộ ở đây thể hiện rõ trong việc hình thành một mạng lưới tổ chức khoa học trong các ngành; Xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT trong từng mốc thời gian cụ thể để có kế hoạch triển khai đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; Đồng thời đổi mới việc tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp, các tổ chức hiểu được vị trí, tầm quan trọng, đánh giá đúng những thành tựu đạt được của CNTT
Bên canh đó, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến việc hoàn thiện các chính sách đối với lĩnh vực CNTT Hiện nay, chưa có Thông tư hướng dẫn một cách nhất quán, cụ thể và rõ ràng nên việc triển khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT từ Trung ương đến địa phương còn lúng túng và chưa đồng bộ
Ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả công nghệ thông tin trong toàn xã hội
Các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội đi đầu trong việc triển khai, ứng dụng CNTT trong hoạt động chuyên môn theo phương châm tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả lâu dài Ứng dụng CNTT thể hiện ở việc tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả Đồng thời
các cấp ủy Đảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết
phục vụ lợi ích công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước
Trang 18Song song với việc ứng dụng CNTT, chúng ta cũng cần tập trung phát triển những dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực thương mại, thương mại điện tử và các dịch vụ công cộng (giáo dục, đào tạo từ xa, chữa bệnh từ xa, thư viện điện tử,…);
Để có thể ứng dụng CNTT trong toàn xã hội thì Nhà nước cần tạo môi thuận lợi cho ứng dụng CNTT; cần rà soát và tháo bỏ những nhận thức và quy định không phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất, áp dụng mức ưu đãi hiện hành cao nhất và từng bước đạt mức ưu đãi bằng hoặc cao hơn so với các nước trong khu vực cho việc ứng dụng và phát triển CNTT, đi đôi với việc thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả; Chuẩn hóa thông tin và các hệ thống thông tin trong từng lĩnh vực; Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc trao đổi và sử dụng chung các cơ
sở dữ liệu, các hệ thống thông tin trong nước và quốc tế; Có các biện pháp chủ động
và các quy định cụ thể về an toàn và an ninh thông tin, trước hết trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh - quốc phòng; Khuyến khích và hỗ trợ việc phổ cập và nâng cao trình độ ngoại ngữ trong một bộ phận nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên; Xây dựng tiêu chuẩn ngành, nghề với mức lương và chế độ đãi ngộ hợp
lý đối với đội ngũ cán bộ về CNTT
Đẩy mạnh việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
Phát triển quy mô và tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về CNTT, chú trọng phát triển nhanh lực lượng cán bộ chuyên sâu, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia phần mềm, đáp ứng kịp thời và thường xuyên nhu cầu trong nước và một phần thị trường nước ngoài, đạt chỉ tiêu về số lượng và chất lượng chuyên gia trong lĩnh vực CNTT ngang với mức bình quân của các nước trong khu vực
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt cần tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho GD&ĐT, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở GD&ĐT; Đầu tư thỏa đáng cho công tác đào tạo, nghiên cứu về CNTT; Gắn chặt giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất, kinh doanh;
Xã hội hóa mạnh mẽ việc đào tạo về CNTT; Khuyến khích và thu hút các tổ chức,
Trang 19các cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực về
CNTT của Việt Nam; Xây dựng và thực hiện chương trình cử giáo viên đi đào tạo,
bồi dưỡng ở trong và ngoài nước để nâng cao trình độ giảng dạy; Tạo điều kiện cho
học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đi học, thực tập và nghiên cứu về CNTT ở
nước ngoài; Áp dụng chính sách đặc biệt cho việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia
giỏi, nhân tài trong lĩnh vực CNTT;
Tăng cường, đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT
Đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực CNTT chính là việc đổi mới quản
lý trên tất cả các phương diện: xây dựng quy hoạch, cơ chế chính sách, tổ chức thực
hiện, đào tạo bồi dưỡng, thanh kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm trong lĩnh vực CNTT
Nhà nước cần điều chỉnh cơ chế tài chính, ưu tiên bố trí ngân sách để ứng
dụng CNTT trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp CNTT và phát
triển nguồn nhân lực CNTT; Cân đối lại tỷ lệ phân bổ ngân sách, đảm bảo tỷ lệ cân
xứng cho nhiệm vụ CNTT; Tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu được chủ động sử
dụng nguồn kinh phí này và tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả nghiên cứu,
đặc biệt được hưởng lợi chính đáng, hợp pháp từ kết quả nghiên cứu của họ Chủ
động tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với tổ chức, cá
nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực CNTT [18]
Đảng, Nhà nước cần sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống văn bản pháp quy
về quản lý, thực hiện chính sách ứng dụng và phát triển CNTT theo phương châm
năng lực quản lý phải theo kịp tốc độ phát triển, đầu tư phải thiết thực, hiệu quả,
không được lãng phí và đảm bảo công khai, minh bạch
Công cụ chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Công cụ dựa vào tổ chức, nhân sự
Đây là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình thực hiện chính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ được phân công
nhằm đạt được mục tiêu dự kiến Cụ thể ở đây, các nhà quản lý cần bố trí, sử dụng
nguồn nhân lực làm CNTT một cách hợp lý, phù hợp với vị trí việc làm, đúng
chuyên môn, đúng cơ cấu nguồn nhân lực của đơn vị
Trang 20Công cụ dựa vào quyền lực
Công cụ dựa vào quyền lực là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng quyền lực nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Để công tác ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cần nâng cao vai trò của công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm những sai phạm về CNTT từ trung ương đến địa phương
Công cụ tài chính
Công cụ tài chính là công cụ được các chủ thể sử dụng phổ biến khi triển khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Đây là công cụ dùng lợi ích vật chất và tinh thần để điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực CNTT Các tác động kích thích vật chất hoặc tinh thần của chủ thể chính sách đối với đối tượng thụ hưởng chính sách vô cùng phong phú Cụ thể, Nhà nước cần phải ưu tiên về tài chính để ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực thiết yếu, ưu đãi các nhóm chính
Công cụ thông tin
Cơ quan truyền thông cũng như cơ quan sử dụng cán bộ công chức, viên chức và người lao động có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền chính sách ứng dụng CNTT để nâng cao trách nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ
Một chính sách tốt không chỉ dùng công cụ cưỡng chế (công cụ quyền lực) hay khuyến khích vật chất (công cụ tài chính); Nó sẽ không đủ động lực để thúc đẩy các nhà nghiên cứu ứng dụng cống hiến sức lực và trí tuệ cho một sự nghiệp CNTT Như vậy, khi thực thi chính sách ứng dụng CNTT, chủ thể chính sách cần sử dụng linh hoạt kết hợp các công cụ nhằm mang lại kết quả tốt nhất trong triển khai thực thi chính sách ứng dụng CNTT hiện nay
1.3 Tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
1.3.1 Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Có một số phương pháp tiếp cận khi thực hiện chính sách trong đó phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” được xem là phương pháp truyền thống nhất khi thực hiện một chính sách Cách tiếp cận này đảm bảo được tính thống nhất khi ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn và tránh sự chồng chéo, mất tập trung khi thực thi Tuy nhiên, nó không phát huy được tính chủ động, sáng
Trang 21tạo của cơ sở và chưa thật sự phù hợp với hoàn cảnh, tình hình KT-XH của từng địa phương thực hiện Ngược lại phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” tuy khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” nhưng vẫn gặp phải một số vấn đề khi thực hiện vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ chuyên trách Ngoài ra phương pháp này chưa thật sự huy động được
sự tham gia của người dân và khối doanh nghiệp Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới nhằm đạt được mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc “từ trên xuống” và
“từ dưới lên”
Chính sách ứng dụng CNTT được Chính phủ hoạch định và thực hiện liên tục trong suốt quá trình đổi mới KT-XH ở Việt Nam Với định hướng thống nhất, chính sách phát triển CNTT là một trong công cụ quan trọng giúp Chính phủ thay đổi cơ cấu kinh tế bằng việc phát triển ngành công nghiệp mới, đặc biệt ngành công nghệ cao; đồng thời thông qua phát triển và ứng dụng CNTT trong mọi mặt đời sống KT-XH, chú trọng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước góp phần xây dựng thành công Chính phủ điện tử Cụ thể: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về CNTT; Bộ TT&TT chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi
Trang 22nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ TT&TT thực hiện quản lý nhà nước về CNTT theo phân công của Chính phủ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản
lý nhà nước về CNTT tại địa phương
1.3.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Đây là nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch Cần phải đầu tư thời gian và công sức để xây dựng kỹ lưỡng kế hoạch thực hiện chính sách ứng dụng CNTT trước khi đưa chính sách vào thực tiễn Các cơ quan có nhiệm vụ triển khai thực thi chính sách ứng dụng CNTT từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện: về tổ chức điều hành, về nguyên nhiên liệu, về thời gian triển khai thực hiện, về kiểm tra, đôn đốc đưa chính sách ứng dụng CNTT vào thực tiễn
Ngoài ra, cần phải xây dựng về nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách, về nhiệm vụ quyền hạn đối với các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức tham gia thực thi; về biện pháp khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT Việc lập kế hoạch thực hiện chính sách tốt sẽ giúp cho việc thực thi chính sách được khả thi và không phải qua điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện
1.3.3 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Phổ biến, tuyên truyền là một hoạt động quan trọng trong thực hiện chính sách ứng dụng CNTT của Đảng và Nhà nước Hoạt động này không chỉ giúp các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ban ngành cũng như các tổ chức doanh nghiệp và nhân dân tham gia ứng dụng CNTT hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, tác động tích cực của chính sách mà còn giúp các cơ quan Nhà nước, các cán bộ công chức, viên chức, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách được nhận thức đầy
đủ tính chất, tầm quan trọng, trình độ, quy mô của chính sách đối với các đối tượng vận dụng Cần phải lựa chọn hình thức, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính
Trang 23sách ứng dụng CNTT khác nhau như tổ chức hội thảo, hội thi, tọa đàm nhằm tạo mối quan tâm, thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội đối với công tác ứng dụng CNTT, đồng thời qua đó nghiên cứu xây dựng, phát triển các chương trình ứng dụng CNTT trong công tác quản lý điều hành, trong xử lý công việc hành chính v.v có sự tham gia của đối tượng ứng dụng CNTT
1.3.4 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Muốn tổ chức thực hiện tốt, phát huy được những nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền ở địa phương đồng thời xác định trách nhiệm cụ thể giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học sẽ Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt chú
ý đến trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng
Điều 4 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [19] Ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 58-CT/TW “Về đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH” và ngày 01/7/2014 Bộ chính trị (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW “về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” đã thể hiện cụ thể sự phân công, phối hợp thực hiện của các cơ quan có liên quan đến chính sách ứng dụng CNTT, cụ thể:
- Ban cán sự đảng Chính phủ xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết; hoàn thiện các cơ chế, chính sách, pháp luật về CNTT Đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành của Ủy ban quốc gia về ứng dụng CNTT; kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về an toàn, an ninh thông tin
- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các Luật về lĩnh vực CNTT, phê duyệt chủ trương, nguồn vốn cho các chương trình, dự án lớn theo thẩm quyền; tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh việc ứng dụng, phát triển CNTT
Trang 24- Ban cán sự đảng, đảng đoàn lãnh đạo xây dựng các đề án cụ thể triển khai Nghị quyết; đưa mục tiêu, nhiệm vụ ứng dụng, phát triển CNTT vào kế hoạch công tác dài hạn và hằng năm, gắn nội dụng ứng dụng, phát triển CNTT với các chương trình, dự án phát triển KT-XH; kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo CNTT các cơ quan đảng và bộ, ngành
- Cấp ủy, chính quyền các cấp tổ chức quán triệt, thực hiện Nghị quyết; xây dựng các đề án cụ thể triển khai Nghị quyết; xác định mục tiêu, nhiệm vụ ứng dụng, phát triển CNTT là nội dung quan trọng trong kế hoạch phát triển KT-XH hàng năm
và giai đoạn 5 năm; gắn nội dung ứng dụng, phát triển CNTT với các chương trình,
dự án phát triển KT-XH của địa phương Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác ứng dụng, phát triển CNTT và định kỳ báo cáo cấp ủy cấp trên về việc thực hiện Nghị quyết Kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có trách nhiệm tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết; đưa công tác ứng dụng, phát triển CNTT vào nội dung hoạt động; động viên đoàn viên, hội viên tích cực học tập nâng cao trình độ và tham gia có hiệu quả vào các hoạt động ứng dụng, phát triển CNTT
- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ TT&TT và các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết
1.3.5 Duy trì thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Duy trì thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là làm cho chính sách được tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Tuy nhiên, trong giai đoạn thực thi lại nảy sinh một số vướng mắc, có thể là do nhà hoạch định chính sách chưa lường hết diễn biến hay do những tác động làm thay đổi môi trường trước và sau khi ban hành chính sách Vì vậy các cơ quan ban hành chính sách ứng dụng CNTT
sử dụng hệ thống, công cụ quản lý để tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội có trách nhiệm tham gia thực hiện yêu cầu của Đảng, nhà nước và phát huy quyền làm chủ, tăng cường thực hiện dân chủ để cùng tham gia quản lý xã hội
Trang 251.3.6 Điều chỉnh thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Điều chỉnh thực hiện chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của đất nước, địa phương
Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh
bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh cơ chế và biện pháp chính sách diễn ra khá linh hoạt vì thế các cơ quan quản lý nhà nước về chính sách ứng dụng CNTT ở từng địa phương cần chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách cho phù hợp với tình hình KT-XH ở địa phương mình, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách ứng dụng CNTT
1.3.7 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Để thực hiện tốt chính sách ứng dụng CNTT thì một trong những nhiệm vụ quan trọng cần tập trung thực hiện đó là tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện các mục tiêu chính sách ứng dụng CNTT theo các chương trình, đề án như: Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông”; Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Quyết định 260-QĐ/TW, ngày 01/10
2014 của Ban Bí thư về việc ban hành Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan đảng giai đoạn 2015-2020; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; …
Kiểm tra việc chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành cơ quan của Trung ương đối với việc thực hiện các văn bản luật về chính sách ứng dụng CNTT, sự phối hợp của các ban, ngành tại địa phương khi triển khai Phát hiện kịp thời, kiên quyết xử
lý nghiêm các vi phạm về chính sách ứng dụng CNTT, các vi phạm trong quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT nhằm đảm bảo chính sách ứng dụng CNTT được thực hiện đúng theo mục tiêu đề ra
1.3.8 Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
“Đánh giá chính sách công là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí
cụ thể như sự phù hợp, đầy đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách
Trang 26nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai” hoặc “Đánh giá chính sách công
là các quy định, luật, nguyên tắc, thông lệ mà một nhóm hoặc tổ chức sử dụng để
mà thực hiện các quyết định và hành động liên quan đến đánh giá”.[17]
Như vậy, đánh giá việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là cách kiểm định các mục tiêu đã triển khai có đạt được hiệu quả hay không, nhờ cách đánh giá dựa vào các bên tham gia, cụ thể là các tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các ban ngành, đoàn thể, tổ chức doanh nghiệp và nhân dân
Đánh giá tổng kết trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan hành chính thuộc hệ thống chính trị và các cơ quan thẩm quyền riêng ban hành chính sách Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo điều hành của các cơ quan nhà nước còn phải xem xét, đánh giá tinh thần hưởng ứng, ý thức chấp hành chính sách của các cơ quan nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức viên chức, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp và toàn xã hội
1.4 Trách nhiệm thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin của các chủ thể
Chủ thể ban hành chính sách ứng dụng CNTT gồm có các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ TT&TT Ngoài ra, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng ban hành các văn bản phục vụ cho việc điều hành quản lý hoạt động của đơn vị mình Trong số các cơ quan kể trên, Bộ Nội vụ và Bộ TT&TT là hai cơ quan đóng vai trò chính trong việc tham mưu và trực tiếp xây dựng chính sách
Quốc hội:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước [19] Như vậy, Quốc hội thực hiện quyền lập pháp Quốc hội ban hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết Quốc hội chính là
Trang 27cơ quan ban hành văn bản Luật cao nhất liên quan đến CNTT nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung Quốc hội đã ban hành Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 Luật này quy định về những vấn đề chung của CNTT, về hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT, các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển CNTT, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT
Chính phủ
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước [19]
Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ Chính phủ thực hiện quyền hành pháp Theo đó, Chính phủ có quyền ban hành Nghị quyết, Nghị định, Quyết định…Trong lĩnh vực ứng dụng CNTT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử
Bộ Nội vụ
Theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực:
Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính, quản lý chính nhà nước
Bộ Nội vụ có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyết và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc ngành, lĩnh vực do Bộ Nội vụ quản lý hoặc theo sự phân công; ban hành thông tư, quyết định,
Trang 28chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản
Bộ Thông tin và Truyền thông
Bộ TT&TT là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; CNTT, điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tấn; thông tin đối ngoại; thông tin cơ sở và hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
Bộ TT&TT thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung quy định tại Nghị định
số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 của Chính phủ và những nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể của ngành tại Nghị định số 132/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TT&TT
Cụ thể, về CNTT, điện tử: Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch, chương trình, đề án, dự án về CNTT, điện tử; các cơ chế, chính sách, các quy định quản lý hỗ trợ phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp phần cứng, công nghiệp điện tử, công nghiệp nội dung số, dịch vụ CNTT; … Ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách quản lý, các quy định liên quan đến sản phẩm, dịch vụ CNTT, điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia; Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ và thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ về CNTT, điện tử; thực hiện quản lý chất lượng trong các hoạt động ứng dụng CNTT, cung cấp dịch vụ, mạng máy tính và sản phẩm, thiết bị CNTT, điện tử; Chủ trì, phối hợp xây dựng chính sách hỗ trợ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CNTT; chuẩn nhân lực CNTT, các chứng chỉ, chứng nhận chuyên ngành liên quan về CNTT; Tổ chức xây dựng hạ tầng CNTT phục vụ ứng dụng CNTT tạo nền tảng phát triển chính phủ điện tử gắn kết với chương trình cải cách hành chính; Quản lý chương trình ứng dụng và phát triển CNTT, điện tử; khung tương hợp Chính phủ điện tử và kiến trúc chuẩn hệ thống thông tin quốc gia; Thực hiện chức năng tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia theo quy định của pháp luật; Tổ chức kiểm tra, đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh
Trang 29nghiệp; Quy định và quản lý về an toàn thông tin; bảo đảm an toàn thông tin cho các hệ thống thông tin và Internet; bảo đảm an toàn thông tin cho các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT; … Quy định và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ an toàn thông tin theo quy định của pháp luật; tổ chức kiểm định, đánh giá cấp chứng nhận về an toàn thông tin; Xây dựng và tổ chức thực vận hành các hệ thống đảm bảo an toàn thông tin; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về an toàn thông tin
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thể chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập Trước hết là nhất nguyên về tổ chức Hệ thống chính trị ở Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong hệ thống chính trị thì có thể chia ra các yếu tố nhỏ hơn như yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thể chế chính trị:
- Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến Chính sách công nói chung và chính sách ứng dụng CNTT nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức của con người, thúc đẩy họ hướng tới những hành động tích cực phù hợp với lý tưởng chính trị xã hội, từ đó tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, chính sách ứng dụng CNTT không phải là ngoại lệ
- Hiến pháp cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chính sách Hiến pháp là luật cơ bản định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
Trang 30cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có các
cơ quan lập sách Hiến pháp là tối thượng buộc mọi chính sách công, trong đó có chính sách ứng dụng CNTT phải tuân theo, vì nền tảng của mối quan hệ công dân dựa trên hiến pháp Nói cách khác, việc xây dựng chính sách ứng dụng CNTT phải tuân thủ mọi quyền công dân, lợi ích quốc gia, giới hạn quyền lực của nhà nước
- Thể chế chính trị là yếu tố quan trọng thứ ba đối với việc xây dựng hoạch định chính sách Chính sách ứng dụng CNTT phải tùy thuộc vào thể chế chính trị để xây dựng, hoạch định cho phù hợp Khi thể chế thúc đẩy mạng lưới các tổ chức xã hội, người dân, doanh nghiệp tham gia vào thảo luận chính sách, lập chính sách thì chính sách sẽ được tổ chức hiệu quả hơn
1.5.2 Các yếu tố bên trong
Khi hoạch định chính sách ứng dụng CNTT ở Việt Nam còn chịu ảnh hưởng
bởi các yếu tố bên trong như vai trò của công luận và truyền thông, hệ thống các giá
trị xã hội và hệ thống kinh tế của nước ta
- Vai trò của công luận và truyền thông: được thể hiện ở việc phản ứng, bình luận quan điểm của người dân và cộng đồng được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác về vấn đề bất cập của CNTT hiện nay Truyền thông là những phương tiện truyền tải, phản ánh những thông tin hay hiện tượng xã hội ảnh hưởng nhiều đến quá trình chính sách sách CNTT
- Hệ thống các giá trị xã hội có sự ảnh hưởng lớn đến quá trình thảo luận chính sách Đó là sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, nghề nghiệp, chủng tộc, tầng lớp
xã hội, các nhóm lợi ích tạo nên một hệ thống các giá trị xã hội Giá trị xã hội có vai trò định hướng khi các tổ chức xã hội tham gia vào quá trình chính sách
- Hệ thống kinh tế là yếu tố quan trọng tác động rất lớn đến việc xây dựng chính sách ứng dụng CNTT Sự vận động của nền kinh tế kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội mới nảy sinh buộc các nhà hoạch định chính sách công phải tính toán xây dựng chính sách vừa giải quyết tình huống, vừa lường trước tác động sau này Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách vừa là phương tiện, là động lực, đòi hỏi các nhà lập sách phải nghiên cứu, cân nhắc các yếu tố của hệ thống kinh tế trong các gói chính sách đề xuất
Trang 31Ngoài ra, các yếu tố như năng lực của chủ thể lập chính sách cũng phải được cân nhắc Các năng lực phân tích, dự báo chính sách, năng lực phát hiện vấn đề, khả năng chính trị hóa các vấn đề xã hội đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn xây dựng chính sách và thực hiện sau này Do đó các tổ chức chủ thể chính sách thường xuyên nâng cao năng lực tổ chức, năng lực đội ngũ cán bộ làm chuyên môn hoạch định chính sách góp phần tăng cường chất lượng chính sách Với địa vị pháp
lý của mình, các cơ quan là các chủ thể chính của xây dựng chính sách
1.5.3 Các yếu tố bên ngoài
Việc xây dựng, hoạch định chính sách CNTT còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như yếu tố địa chính trị, địa chiến lược và lợi thế so sánh quốc gia
và quan hệ kinh tế quốc tế
Địa chính trị là sự phân bố và sự tương quan giữa các lực lượng chính trị trong mỗi nước cũng như các nước và các nhóm trong các liên quan với cơ cấu KT-XH, các vấn đề hình thành các quốc gia hay các vùng chính trị, biên giới cũng như cơ cấu hành chính của các nước, các vùng Khái niệm địa chính trị để chỉ tất cả những gì có quan hệ ít nhiều đến các vụ việc đối ngoại mang tính chính trị, là mối tương tác giữa một bên là môi trường và bối cảnh địa lý, với một bên là các tiến trình chính trị
Địa chiến lược là các giá trị chiến lược của các nhân tố địa lý trong chính sách đối ngoại của một quốc gia và trong mối quan hệ của nó với các quốc gia khác Bên cạnh đó, các lợi thế so sánh quốc gia và các quan hệ kinh tế cũng là yếu tố phải được tính đến trong quá trình hoạch định chính sách CNTT
Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu “Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin”, tác giả rút ra được một số kết luận sau:
CNTT giữ một vai rất quan trọng tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại Việt Nam, CNTT được xem là nền tảng vững chắc phục vụ cho tiến trình phát triển đất nước bền vững, hướng đến một trong những quốc gia có nền kinh tế, an ninh, chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội ổn định, tốt nhất tại Đông Nam Á và thế giới
Trang 32CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Ứng dụng và phát triển CNTT nhằm thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc dân, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTT giữ một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay, là nhân tố quan trọng, là kênh kết nối trao đổi giữa các thành phần của
xã hội, văn hóa, giáo dục, kinh tế và thời đại toàn cầu hóa
Có thể khẳng định CNTT trong nhịp sống văn hóa, xã hội, giáo dục, kinh tế
và thời đại ngày nay có tầm ảnh hưởng, tác động rất lớn đến sự phát triển, ổn định của các doanh nghiệp và Chính phủ của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai Vì vậy sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước tới việc thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là thiết yếu
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Hưng Yên, giai đoạn 2011-2015
Ngày 10/4/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Quyết định số 1605/QĐ-TTg, ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 Trên cơ sở
đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng CNTT như: Chỉ thị số 02/2011/CT-UBND, ngày 23/02/ 2011 của UBND tỉnh Hưng Yên về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước tỉnh Hưng Yên; Công văn số 660-CV/TU, ngày 30/10/ 2012 của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy về việc tổ chức lập dự án “Nâng cấp và mở rộng mạng thông tin diện rộng của Tỉnh ủy Hưng Yên giai đoạn 2013-2015”; Kế hoạch số 122/KH-UBND, ngày 16/8/2013 của UBND tỉnh về việc triển khai Lộ trình bắt buộc thực hiện trao đổi văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đến năm 2015; Trên tinh thần mục tiêu chung của Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên đã xác định được những mục tiêu thực hiện chính sách ứng dụng CNTT, cụ thể:
- Sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan đảng, nhà nước
để kết nối mạng thông tin diện rộng của Đảng, Nhà nước, kết nối Internet có quản
lý và kết nối hệ thống hội nghị trực tuyến
- Bảo đảm tốt điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật để có thể tham gia những Hội nghị trực tuyến do các cơ quan Trung ương triệu tập
- 100% các sở, ngành từ tỉnh đến cơ sở có hệ thống mạng nội bộ và mạng Internet kết nối đến Trung tâm dữ liệu tỉnh 65% các sở, ngành từ tỉnh đến cơ sở tương đương sử dụng phần mềm hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp
- 90% cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên liên quan tới xử lý thông tin đều có máy tính, mạng máy tính để làm việc với các hệ thống thông tin điện tử
Trang 34- Xây dựng trung tâm dữ liệu chung thống nhất trong toàn tỉnh; sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng để kết nối mạng thông tin diện rộng của các cơ quan Đảng, Nhà nước Triển khai hệ thống chứng thực chữ ký số của Ban Cơ yếu Chính phủ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước
- Việc bảo trì, bảo dưỡng các máy chủ, cơ sở dữ liệu và phần mềm các hệ thống thông tin được tập trung tại cấp tỉnh
- 100% các văn bản, tài liệu chính thức (theo quy định) trao đổi giữa các cơ quan trong tỉnh được gửi nhận dưới dạng điện tử, có tệp điện tử gắn kèm và được xác thực chữ ký số của Ban Cơ yếu Chính phủ, được lưu trữ trong hệ thông tin điều hành tác nghiệp của cơ quan
- 100% cán bộ, công chức của các sở, ban, ngành từ tỉnh đến cơ sở có hộp thư điện tử công vụ thuộc hệ thống thư điện tử công vụ tỉnh Hưng Yên
- 100% các cơ quan, đơn vị quản lý công tác tài chính, tài sản bằng máy tính
- Hầu hết các giao dịch điện tử giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước được thực hiện trên môi trường mạng máy tính
- 90% cán bộ, công chức trong các cơ quan có đủ kiến thức, kỹ năng đáp ứng được các yêu cầu về quản lý, tổ chức và triển khai ứng dụng, phát triển CNTT
thông qua đào tạo, tập huấn và tự học tập
Kết quả thực hiện các ục tiêu, cụ thể:
Về hạ tầng công nghệ thông tin
Việc đầu tư phát triển hạ tầng trang thiết bị CNTT tại tỉnh Hưng Yên được các cấp lãnh đạo, quản lý từ tỉnh đến cơ sở quan tâm, đã đáp ứng tốt nhu cầu ứng dụng CNTT trong các cơ quan đảng, nhà nước, doanh nghiệp và người dân
Trang 35(Tham khảo Phụ lục 2.1: Xếp hạng theo tiêu chí thành phần về Hạ tầng kỹ thuật CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)
Giai đoạn 2011-2015, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên đã phê duyệt và ban hành nhiều kế hoạch, đề án, dự án ứng dụng CNTT, trong đó có những dự án đầu tư trọng điểm Các kế hoạch, đề án, dự án CNTT này được triển khai khá đồng bộ, bước đầu nâng cấp hạ tầng kỹ thuật CNTT đáp ứng yêu cầu đề ra Theo báo cáo của
Bộ TT&TT về mức độ ứng dụng CNTT của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Hưng Yên được đánh giá là tỉnh có hạ tầng kỹ thuật CNTT ở mức tốt so với mặt bằng chung trong toàn quốc
Tại Báo cáo số 358/BC-STTTT, ngày 23/10/2015 “Báo cáo tổng kết thực hiện
kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước giai đoạn 2011-2015” của Sở Thông tin và Truyền thông, đã đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chính sách ứng dụng CNTT tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 - 2015, cụ thể:
- 100% hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng cho các cơ quan Đảng và Nhà nước đã được lắp đặt đến các sở, ngành từ tỉnh đến cơ sở đảm bảo kết nối ổn định, tốc độ cao Trên cơ sở hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng được triển khai, đã hình thành một số hệ thống mạng máy tính diện rộng (WAN) như: Mạng thông tin diện rộng của cơ quan đảng, nhà nước và một số hệ thông mạng thông tin diện rộng khác
- 100% các sở, ban, ngành từ tỉnh đến cơ sở có hệ thống mạng nội bộ (LAN) với trên 4.500 nút mạng, trong đó có trên 300 nút mạng được kết nối mạng diện rộng của các cơ quan đảng và lực lượng vũ trang (không kết nối mạng Internet) Một số cơ quan xây dựng hệ thống mạng nội bộ tách riêng với hệ thống mạng Internet, đảm bảo kết nối an toàn với Trung tâm dữ liệu tỉnh, một số cơ quan hệ thống mạng kết nối Internet để trao đổi thông tin, xử lý công việc hàng ngày
- Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Sở TT&TT và 10 huyện, thành phố đã xây dựng được phòng họp truyền hình trực tuyến tại trụ sở làm việc sử dụng đường truyền số liệu chuyên dụng của cơ quan đảng, nhà nước kết nối có tích hợp bảo mật,
Trang 36mã hóa thông tin của Ban Cơ yếu Chính phủ đảm bảo an toàn, an ninh thông tin tổ chức các hội nghị, họp trực tuyến với Trung ương, các huyện, thành phố trong tỉnh
Bảng 2.1 Thống kê hiện trạng hệ thống mạng máy tính (tính đến tháng 12/2015)
Stt Danh mục cơ quan
Tổng số mạng máy tính diện rộng(WAN)
Tổng số mạng máy tính nội bộ (LAN)
Tổng số nút mạng nội bộ (không kết nối vào Internet)
Tổng số nút mạng kết nối Internet
Tổng
số nút mạng khác
1 Các cơ quan đảng 01 13 280 320 8
2 Các cơ quan QLNN 01 35 0 2273 12
3 Các đơn vị khác 06 33 110 1709 15
(Nguồn: Báo cáo số 358/BC-STTTT, ngày 23/10/2015 của Sở TT&TT về tổng
kết thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015)
- Ước tính có trên 95% cán bộ, công chức (2817 máy tính/2863 cán bộ) từ cấp huyện trở lên có liên quan đến xử lý thông tin được trang bị máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng và thường xuyên sử dụng máy tính, mạng máy tính để làm việc với các hệ thống thông tin điện tử
- 100% các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh (161 xã, phường, thị trấn) được trang bị máy tính, máy in (trang bị từ 03 - 05 máy tính, máy in/xã) và kết nối mạng Internet để xử lý công việc Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh đúng thực
tế cần sử dụng máy tính trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã (mỗi xã có trên 20 cán bộ công chức), bởi trên thực tế có tới trên 50% cán bộ đã sử dụng máy tính cá nhân của mình để làm việc hàng ngày
Bảng 2.2 Thống kê hiện trạng máy tính (tính đến tháng 12/2015)
tính để bàn
Tổng số áy tính xách tay
Tổng số áy tính khác (MT bảng)
1 Các cơ quan Đảng 481 51 12
2 Các cơ quan quản lý Nhà nước 2110 141 22
3 Các xã, phường, thị trấn 483 0 0
4 Các cơ quan, đơn vị khác 1669 139 11
(Nguồn: Báo cáo số 358/BC-STTTT, ngày 23/10/2015 của Sở TT&TT về tổng kết thực
hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015)
Trang 37- Các trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh (02 trung tâm mạng: Trung tâm
mạng thông tin diện rộng của Tỉnh ủy và Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh do Văn phòng Tỉnh ủy và Sở TT&TT vận hành, quản lý) đã được nâng cấp, bổ sung trang
thiết bị: máy chủ, thiết bị mạng nhằm đảm bảo, duy trì hoạt động hệ thống thư điện
tử công vụ, hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp và các hệ thống thông tin chuyên ngành.Tại phòng mạng của các sở, ngành từ tỉnh đến cơ sở cũng được trang
bị, nâng cấp, bổ sung máy chủ, thiết bị mạng đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT ở mỗi cơ quan
Tại hai Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh đều được trang bị hệ thống phòng chống cháy nổ, báo cháy tự động đảm bảo đúng tiêu chuẩn; hầu hết những trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh và phòng mạng tại các cơ quan đơn vị đều được xây dựng và lắp đặt hệ thống chống các xung sét lan truyền đường mạng, nguồn điện
Bảng 2.3 Thống kê hiện trạng trang thiết bị CNTT tại các trung tâm tích hợp
dữ liệu tỉnh và phòng mạng của các sở, ban, ngành và tương đương
SL tại Trung tâm mạng diện rộng của T.U
SL tại Trung tâm tích hợp
dữ liệu tỉnh
SL tại phòng mạng các sở, ban, ngành
từ tỉnh đến cơ sở
1 Máy chủ dịch vụ hệ thống 02 15 17
2 Máy chủ cơ sở dữ liệu 07 01 82
3 Máy chủ dịch vụ mail công vụ 0 03 0
10 Thiết bị sao lưu dữ liệu 02 02 12
11 Lưu điện 05 (2KVA);
01(6KVA)
01 (40KVA) 82 (1KVA)
13 Thiết bị khác (điều hòa, máy
phát điện, báo cháy tự động, )
(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát Dự án nâng cấp và mở rộng mạng thông tin
diện rộng của Tỉnh ủy Hưng Yên giai đoạn 2013-2015)
Trang 38Bên cạnh các trang thiết bị CNTT nêu trên, một số trang thiết bị khác cũng được chú trọng đầu tư như: máy quét, máy in, máy chiếu cũng rất phổ biến và đồng đều tại các cơ quan, đơn vị; Ít nhất 01 máy in và máy quét/phòng làm việc, 01 máy chiếu/phòng phục vụ hội họp
Về ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ các cơ quan
Việc ứng dụng CNTT trong công tác tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, nhất là trong thực hiện chuyên môn nghiệp vụ từng bước khẳng định được vai trò quan trọng của tin học trong hoạt động của các cơ quan đảng, nhà nước; khai thác
sử dụng các ứng dụng CNTT trên mạng diện rộng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị Lãnh đạo các sở, ngành từ tỉnh đến cơ sở đã thực hiện và duy trì khá tốt việc trao đổi, xử lý thông tin qua mạng máy tính; khai thác những ứng dụng của các phương tiện, trang thiết bị CNTT; việc trao đổi, xử lý thông tin trên mạng đã và đang trở thành nhu cầu quan trọng hàng ngày trong chỉ đạo, điều hành Tại báo cáo của Bộ TT&TT về mức độ ứng dụng CNTT của các Bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mức độ ứng dụng CNTT tỉnh Hưng Yên được đánh giá là ở mức trung bình
so với mặt bằng chung toàn quốc
(Tham khảo Phụ lục 2.2: Xếp hạng theo tiêu chí thành phần về ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)
- Triển khai hệ thống thư điện tử công vụ tỉnh Hưng Yên: đã cấp được trên
4000 hộp thư điện tử với tên miền hungyen.gov.vn cho 100% cán bộ, công chức và
các đơn vị từ cấp huyện trở lên Đối với cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn
cơ bản đã được cấp hộp thư điện tử công vụ Tỷ lệ cán bộ, công chức thường xuyên
sử dụng thư điện tử trong công việc đạt trên 80% Tuy nhiên, sử dụng thư điện tử công vụ còn khá thấp, khoảng dưới 50%, nguyên nhân do còn nhiều cán bộ, công chức vẫn quen sử dụng thư điện tử miễn phí khác
- Triển khai sử dụng phần mềm hệ thông tin điều hành tác nghiệp, quản lý văn bản: có khoảng 50 sở, ngành từ tỉnh đến cơ sở sử dụng phần mềm hệ thông tin điều hành tác nghiệp và quản lý văn bản đạt tỷ lệ trên 90%, đã có trên 7.000 văn bản được gửi nhận trên mạng, giải quyết hồ sơ đúng hạn đạt tỷ lệ 99,8% Đa số các đơn
vị sử dụng đạt hiệu quả cao; cán bộ công chức, viên chức thường xuyên sử dụng
Trang 39phần mềm để xử lý công việc hàng góp phần tích cực trong công tác cải cách hành chính của cơ quan, đơn vị
Bảng 2.4 Kết quả xây dựng các cơ sở dữ liệu kho lưu trữ điện tử
cập nhật vào Văn kiện đảng
Tổng số đơn vị bảo quản được cập nhật vào Mục lục hồ sơ
1 Văn phòng Tỉnh uỷ 9.208 4.080
2 Huyện Ân Thi 1.128 154
3 Huyện Phù Cừ 1.130 389
4 Huyện Kim Động 950 134
5 Huyện Văn Giang 1.130 182
6 Huyện Văn Lâm 950 184
7 Huyện Khoái Châu 940 147
lý Kế toán - Tài chính, hệ thống thông tin quản lý hộ tịch, quản lý trường học, quản
lý tuyển sinh của ngành giáo dục, phần mềm quản lý giấy phép lái xe và các cơ sở
dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, đất đai,
Tại các cơ quan Đảng tỉnh Hưng Yên đã triển khai đồng bộ hệ thông tin điều hành tác nghiệp trên Lotus Notes: thư điện tử, xử lý văn bản, văn kiện đảng, mục lục hồ sơ lư trữ, đơn thư ; cơ bản các văn bản đi, đến được cập nhập và xử lý trên phần mềm xử lý công văn; 100% các văn bản trên giấy tờ cũ và các văn bản chủ yếu của Tỉnh ủy và các huyện, thành ủy đã được số hóa và cập nhập vào phần mềm Văn kiện đảng phục vụ khai thác điện tử, tiến tới tích hợp chung, thống nhất toàn quốc theo hướng dẫn của Cục Lưu trữ Trung ương Xây dựng hoàn chỉnh mục lục
Trang 40hồ sơ phông lưu trữ điện tử của Tỉnh ủy và các huyện, thành ủy; các hệ thống thông tin chuyên ngành: quản lý CSDL đảng viên đã cập nhật được trên 85% hồ sơ đảng viên; phần mềm chuyên ngành Kiểm tra Đảng, Dân vận, Tuyên giáo, Nội chính cũng được tích cực triển khai trên cơ sở chuyển giao của Trung ương; 100% các cơ quan Đảng đã triển khai và sử dụng có hiệu quả phần mềm quản lý tài chính đảng, quản lý tài sản đảng, thu nộp đảng phí
Bảng 2.5 Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý hồ sơ đảng viên
nhật hoàn chỉnh vào CSDL
1 Huyện Ân Thi 6.569 6.569
2 Thành phố Hưng Yên 4.461 4.230
3 Huyện Kim Động 5.623 5.584
4 Huyện Khoái Châu 7.124 6.798
5 Huyện Văn Giang 3.524 3.262
từ tỉnh đến cơ sở để sử dụng trong việc gửi nhận văn bản điện tử qua môi trường mạng nhằm đảm bảo tính xác thực của văn bản Tuy nhiên dự án này do Ban Cơ yếu Chính phủ triển khai, chuyển giao còn chậm, mới chỉ dựng lại ở một số cơ quan, chưa triển khai đến toàn bộ các đơn vị trong tỉnh theo như dự kiến được