Chính nguồn nhân lực có chất lượng cao mới là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá trình, bởi lẽ những yếu tố khác ta vẫn có thể có được nếu có tri thức, song tri thức chỉ xuất hiện trong quá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MẠNH CƯỜNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO TỪ THỰC TIỄN TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành : Chính sách công
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN ĐÌNH HẢO
HÀ NỘI, 2016
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: Thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Yên Bái là công trình nghiên
cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Hảo các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học - Xã hội thuộc Viên Hàn lâm Khoa học - Xã hội Việt Nam
Vậy nay tôi viết lời cam đoan này xin trân trọng đề nghị Học viện Khoa học - Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học - Xã hội Việt Nam xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Mạnh Cường
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 8
1.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao 8 1.2 Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam 20 1.3 Tầm quan trọng và các yêu cầu cơ bản của việc thực hiện chính sách nhân lực chất lượng cao 22 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao 25
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TỈNH YÊN BÁI 36
2.1 Thực trạng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008 – 2015 36 2.2 Thực trạng thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Yên Bái 382.3 Đánh giá chung về tổ chức thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Yên Bái 43
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TỈNH YÊN BÁI 52
3.1 Nội dung các bước thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao 52 3.2 Định hướng chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập giai đoạn 2016-2020 57 3.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao 62
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân tài là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển
và ổn định của quốc gia Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về thu hút và sử dụng nhân tài, tạo môi trường và điều kiện để làm giàu thêm "nguyên khí của quốc gia"
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: Con người luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Trí thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và luôn được tái sinh với chất lượng ngày càng cao hơn bất cứ một nguồn lực nào khác Lịch sử phát triển nhân loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: Nguồn lực con ngươi là lâu bền nhất, chủ yếu nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp tiến bộ của nhân loại
Sự phát triển và hội nhập quốc tế trong những năm qua ở nước ta là vô cùng mạnh mẽ với những thành tựu đột phá trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội, đặc biệt là lĩnh vực khoa học công nghệ, kinh tế trong đó nhân tố đóng vai trò quyết định sự biến đổi về chất dẫn tới sự ra đời của kinh tế trí thức, chính là nguồn nhân lực chất lượng cao
Trước đây, các nhân tố tạo cho sự phát triển truyền thống như đất đai, lao động vốn được coi là quan trọng nhất, song ngày nay đã có sự thay đổi Chính nguồn nhân lực có chất lượng cao mới là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá trình, bởi
lẽ những yếu tố khác ta vẫn có thể có được nếu có tri thức, song tri thức chỉ xuất hiện trong quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tế trong đời sống kinh tế -
xã hội; từ chính quá trình sản xuất ra sản phẩm để nuôi sống con người và làm giàu cho xã hội Vì vậy để có được tốc độ phát triển cao, các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút nhân tài có chất lượng cao Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp, công ty, các sản phẩm chủ yếu là cạnh tranh về tỷ lệ hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, nhờ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trang 5
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó việc thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao nhìn chung còn thiếu đồng bộ, còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém, bất cập trong quá trình thực thi triển khai thực hiện chính sách nên kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội chưa đạt yêu cầu đề ra Chất lượng nguồn nhân lực chưa được tăng lên nhiều, chủ yếu tăng về lượng,
số lượng người có trình độ bằng cấp xong chưa thực sự có hiệu quả về chất, năng lực còn chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và đổi mới, phát triển đất nước Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả trong công tác lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; sự phát triển của các đội ngũ doanh nghiệp…làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng
Công tác thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao chưa tập trung, còn dàn trải, hiệu quả chưa cao, cách thức, nguồn lực thu hút và sử dụng nguồn nhân lực còn hạn chế và thiếu tầm nhìn chiến lược, đổi mới về công tác cán bộ khu vực công còn chậm, chưa theo kịp với sự đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài; chưa ngang tầm với thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Lĩnh vực thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn chỉ tập trung lớn ở khối
cơ quan Đảng và Nhà nước, khu vực hành chính công; việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào các lĩnh vực công nghệ cao, khoa học kỹ thuật trọng điểm làm bước đột phá về kinh tế, phát triển khối doanh nghiệp và kinh tế tư nhân còn chưa được chú trọng
Với lý do đó cùng với những kiến thức tiếp thu được trong quá trình nghiên
cứu học tập, học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất
lượng cao từ thực tiễn tỉnh Yên Bái” làm luận văn thạc sỹ với mong muốn đề tài
này góp một phần nhỏ cho tư liệu nghiên cứu và định hướng việc thu hút nhân lực chất lượng cao
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở tỉnh Yên Bái cũng như trong cả nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các hội thảo khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sỹ của các nhà khoa học
ở dưới góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau như:
Trang 6
Đề tài khoa học của GS.TS Bùi Văn Nhơn – Học viện hành chính Quốc gia
làm chủ nhiệm với nội dung: “Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” (2005)
Hội thảo “Chính ách th h t ng n nhân ực ch t ư ng cao trong h ực công ở iệt am hiện nay” do Trường đại học Nội vụ Hà Nội tổ chức (2014) “Các y t tác động tới ch t ư ng ng n nhân ực à nhân ực ch t ư ng cao trong h ực công”của GS.TS hạm Văn Sơn – Giám đốc Trung tâm cung
ướng và h trợ đào tạo nhân lực – Bộ Giáo dục và Đào tạo;
“ hực trạng th h t à ản ng n nhân ực ch t ư ng cao tại một
đ a phư ng à t chức công ở nước ta”của GS.TS Đ Minh Cương – Chủ nhiệm
Bộ môn Văn hóa, doanh nghiệp và lãnh đạo, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội;
“ ác động c a chính ách th h t trí thức tr công tác tại các x h h n
đ i ới iệc phát tri n inh t – x hội h ực mi n n i”của Ths Nguy n Mạnh
Hùng – hó Giám đốc ự án 600 tri thức tr – hó Vụ trưởng Vụ Công tác thanh niên, Bộ Nội vụ;
“ ệ th ng ng y n t c trong th h t ng n nhân ực ch t ư ng cao
à áp d ng cho nh ực công ở iệt am hiện nay” của TS Nguy n Nghị Thanh
– hó Trưởng khoa Khoa Khoa học chính trị – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
Nghị quyết TW 3 (khóa VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH -HĐH đất nước nêu nhiệm vụ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ
từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học tr ;
Nghị Quyết số 39/NQ- C ngày 04/10/2010 của Chính phủ về việc triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011-2020;
Nghị quyết số 03/2007/NQ-HĐN ngày 13/7/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái về chính sách thu hút, khuyến khích phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái;
Trang 7
Nghị quyết số 25/NQ-TU ngày 22/12/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011-2020
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2020;
2015-Báo cáo số 01/BC-UBN ngày 08/01/215 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc Báo cáo tình hình thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011-2020;
Quyết định 24/2014/QĐ-UBN ngày 13/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái Ban hành chính sách thu hút, đào tạo cán bộ khoa học, cán bộ quản lý; h trợ đào tạo cán bộ, học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2014-2016;
Quyết định số 1338/2007/QĐ-UBND ngày 05 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc ban hành chính sách thu hút, khuyến khích phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái;
Quyết định số 20/2008/QĐ-UBND ngày 04/9/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái sửa đổi bổ sung Quyết định số 1338/2008/QĐ-UBND ngày 05 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành chính sách thu hút, khuyến khích phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và đào tạo cán
bộ dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái;
Quyết định số 33/2011/QĐ-UBND ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc phê duyệt Đề án “ hát triển nguồn nhân lực Y tế trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011-2015”;
Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 33/2011/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án “ hát triển nguồn nhân lực Y tế trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011-2015”;
Trang 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tạo
cơ sở khoa học cho phân tích việc thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Yên Bái
Nghiên cứu nội dung chính sách thu hút nguồn nhân lực, kết quả thực hiện với những mặt đạt được và hạn chế để đưa ra giải pháp hoàn thiện chính sách thu
hút nguồn nhân lực chất lượng cao
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và thực
ti n về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
Nghiên cứu, phân tích và đánh giá nội dung của chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như kết quả thực hiện để thấy được những mặt đạt được và tồn tại, hạn chế của chính sách tại tỉnh Yên Bái
Chỉ ra những hạn chế, yếu kém của chính sách và nguyên nhân của những hạn chế trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp đảm bảo theo đúng quy trình các bước tổ chức thực hiện chính sách để góp phần hoàn thiện chính sách và đem lại hiệu quả cho việc thực thực hiện chính sách tại tỉnh Yên Bái trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, đề tài tập trung nghiên cứu về việc thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh Yên Bái Trong đó, tập trung vào nghiên cứu những nội dung đã triển khai thực hiện của chính sách và nhóm đối tượng là nguồn nhân lực được thu hút theo danh mục ngành nghề nêu ở trong chính sách
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung của chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phạm vi tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008-2015 Chỉ nghiên cứu chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trên góc độ thực hiện qua đó đánh giá kết quả của chính sách và chỉ ra các ưu điểm, nhược điểm trong quá trình triển
Trang 9Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực ti n của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các phương pháp cụ thể được sử dụng: Nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tế; phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh…
hương pháp nghiên cứu bàn giấy: Nghiên cứu các tài liệu sẵn có và kế thừa các kết quả nghiên cứu
hương pháp phân tích chính sách, áp dụng cho phân tích quy trình thực hiện chính sách công trong quản lý quá trình thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
hương pháp phân tích và tổng hợp số liệu: hục vụ cho việc minh chứng, minh họa cho các nội dung đánh giá, phân tích
hương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà quản lý, triển khai thực hiện chính sách ở địa bàn nghiên cứu
hương pháp tham vấn: Khảo sát trên cơ sở báo cáo đánh giá thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực của các đơn vị có đối tượng thực hiện chế độ thu hút
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
ận: Luận văn hệ thống hóa lý thuyết về chính sách công, làm rõ vị
trí, vai trò, đặc điểm thực hiện chính sách thu hút đối với nguồn nhân lực chất lượng cao; góp phần làm phong phú thêm lý luận về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
Trang 10
thực tiễn: Luận văn chỉ ra một số hạn chế trọng việc thực thi chính sách
như: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao; phổ biến, tuyên truyền chính sách thu hút; phân công phối hợp thực hiện chính sách thú hút; đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm từ đó cung cấp những vấn đề có giá trị tham khảo cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các tỉnh Yên Bái trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách thu hút nhân
lực chất lượng cao
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực
chất lượng cao tại tỉnh Yên Bái
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Yên Bái
Trang 11
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
1.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
1.1.1 Các khái niệm cơ bản có liên quan
Khái niệm nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Theo cách hiểu thông thường, nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định đang và có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được có khả năng điểm lại thu nhập trong tương lai Một quan điểm khác lại cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được trang bị ở các mức độ khác nhau sẵn sàng tham gia vào một công việc lao động nào đó, đó là những người lao động có kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo giáo trình kinh tế lao động thì: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế
xã hội Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ ) là ở ch : trong quá trình vận động, nguồn nhân lực chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sống, sinh, chết ) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp ) Chính vì vậy, nguồn nhân lực là một khái niệm khá phức tạp, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Nguồn nhân lực còn được hiểu như là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Cách hiểu này muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con người, nghiêng
về sự biến động tự nhiên của dân số và ảnh hưởng của nó tới sự biến động nguồn nhân lực
Trang 12
Nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lượng hóa được, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng lao động, tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong nguồn nhân lực
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuấ và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội
Theo Thuyết lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển o đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (trừ những người bị dị tật bẩm sinh) Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Liên hiệp quốc cũng có cách tiếp cận tương tự và cho rằng: Nguồn nhân lực
là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người và quan hệ tới sự phát triển của m i cá nhân và của đất nước
Tại Việt Nam, theo ý kiến của các nhà khoa học tham gia chương trình khoa – học công nghệ cấp Nhà nước, mã số KX-07 thì: Con người Việt Nam-mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội do giáo sư, tiến sĩ khoa học hạm
Trang 13
Minh Hạc làm chủ nhiệm, cho rằng nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất còn trong dịp gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học – công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc khi đề cập đến vấn đề tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học – công nghệ và các cơ quan Chính phủ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong lời phát biểu của mình nguyên Thủ tướng han Văn Khải đã khẳng định: Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta Giáo sư, tiến sĩ Hoàng Chí Bảo cho rằng: Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng – hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người tức là kết cấu bên trong của nguồn nhân lực bao gồm sức mạnh thể lực, trí tuệ và sự kết hợp hai yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên
Trong luận án tiến sĩ triết học – nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả Đoàn Khải cho rằng: Nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội
o khi nghiên cứu nguồn nhân lực xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau như vậy nên có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng nhìn chung các khái niệm đó đều thống nhất về nội dung cơ bản là: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn Cho nên nguồn nhân lực nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc – đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng nguồn nhân lực
Trang 14
Khi nói tới nguồn nhân lực phải nói tới cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề Khi nói nguồn nhân lực cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của con người, bởi vì trí lực
là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển nguồn nhân lực Ngoài
ra, khi nói đến nguồn nhân lực cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực ti n, đạo đức và nhân cách con người
o đó, nguồn nhân lực tiếp cận dưới góc độ phổ quát của Kinh tế chính trị được hiểu là: Tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động
xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
Khái niệm nguồn nhân lực xã hội:
Nguồn nhân lực xã hội là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động
Nguồn nhân lực quốc gia là toàn bộ những người từ độ tuổi bước vào tuổi lao động trở lên, có khả năng lao động, như vậy là không có giới hạn trên
Nguồn nhân lực xã hội một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng nhất sau đây:
- Nguồn nhân lực xã hội là nguồn lực của con người
- Nguồn nhân lực xã hội phản ánh khả năng lao động của xã hội
Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao:
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu tốt nhất của nhà tuyển dụng và sử dụng, tức là có kiến thức, có kỹ năng, có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc
Theo cách hiểu mang tính chất định tính thì nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồng cũng như toàn
xã hội Nếu tiếp cận theo cách hiểu mang tính chất định lượng thì nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu theo cách khác nhau là:
Trang 15
Một là, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người lao động đã qua đào
tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật Trên thực tế, khái niệm lao động đ a đào tạo rất phức tạp vì hiện nay có rất nhiều hình thức và phương
pháp đào tạo khác nhau từ học nghề ngắn hạn đến trung cấp, cao đẳng, đại học và
cao hơn nữa đều được xem là ao động đ a đào tạo Như vậy, nếu coi nguồn
nhân lực chất lượng cao là lao động qua đào tạo sẽ dẫn đến một sự phân hóa lớn
về trình độ của nguồn nhân lực này
Hai là, một cách hiểu theo định nghĩa hẹp hơn là coi nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng, nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách, nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng Thực tế, có một cách có thể hiểu hẹp hơn nữa là chỉ xem những người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ mới là nguồn nhân lực chất lượng cao
Có thể thấy, về mặt khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao chưa có sự thống nhất Cả hai cách hiểu mang tính định tính và định lượng đều có những hạn chế nhất định Cách hiểu về mặt định tính sẽ dẫn đến khó khăn trong việc thống kê nguồn nhân lực chất lượng cao Cách hiểu về mặt định lượng sẽ không tính đến những nghệ nhân, những người có khả năng đặc biệt làm được những công việc
mà ít người làm được những lại không qua trường lớp đào tạo nào Mặt khác, không phải bất cứ người lao động nào đã qua đào tạo đều có khả năng đáp ứng được yêu cầu của các công việc tương ứng với trình độ đào tạo nhưng vẫn được xem là nhân lực có chất lượng cao Vì vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao là một
bộ phận của nguồn nhân lực nói chung, nhưng là một bộ phận đặc biệt, bao gồm những người có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên đang làm việc trong lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển bền vững của cộng đồng nói riêng và toàn xã hội nói chung Vậy thế nào là nguồn nhân lực chất lượng cao? Trước hết, nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình
độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu chuẩn phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (lao động lành nghề,
Trang 16
trên đại học) Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nói đến nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất, cho nên khi nói về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của đất nước
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức, chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc
Như vậy các thành phần nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm:
Đội ngũ tri thức, nhà khoa học: Đội ngũ tri thức, nhà khoa học có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải cách thể chế hành chính nhà nước;
Đội ngũ những nhà lãnh đạo quản lý: Là đội ngũ những người lãnh đạo quản
lý trong khu vực doanh nghiệp và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị khu vực công Đội ngũ công nhân tri thức, thợ bậc cao: Là đội ngũ những người trong khu vực sản xuất công nghiệp, khu công nghệ cao;
Đội ngũ những người thợ thủ công mỹ nghệ lành nghề trong lĩnh vực ngành nghề truyền thống: Là những người làm trong lĩnh vực sản xuất các ngành nghề truyền thống được trang bị kiến thức, kỹ thuật h trợ quá trình sản xuất
Đội ngũ những người nông dân tri thức: Là những người làm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được trang bị kiến thức, kỹ thuật h trợ quá trình sản xuất
Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh
tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức độ cao phải dựa trên ít nhất 3 trụ cột cơ bản: Áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là con người được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức,
Trang 17
tăng nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo đề trở thành "nguồn vốn – vốn con người, vốn nhân lực"
Theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, nhu cầu của con người
được chia thành năm bậc từ thấp đến cao Đó là: nh cầ ật ch t, nh
cầ an toàn, nh cầ x hội, nh cầ đư c ính trọng và nh cầ đư c
th hiện bản thân Theo Maslow, những nhu cầu ở mức thấp sẽ phải được
thỏa mãn trước khi xuất hiện nhu cầu ở mức cao hơn Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa Như vậy, để thu hút được nguồn nhân lực nói chung, nhà tuyển dụng phải có những chính sách tác động đến các yếu tố thỏa mãn nhu cầu của con người
gồm: Lư ng, thưởng, ph c i; Công iệc, đi iện àm iệc, môi trường
àm iệc; C hội đào tạo, th ng ti n; hững y t môi trường ng; Các giá tr tinh thần
Như vậy chính sách thu hút có thể hiểu giản đơn là chính sách đề ra tác động đến các yếu tố nhằm thỏa mãn nhu cầu của đội ngũ nhân lực chất lượng cao để họ có làm việc cống hiến cho sự nghiệp chung
1.1.2 Các tiêu thức xác định nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhiều mục tiêu cụ thể về phát triển nguồn nhân lực cho những năm đầu của thể kỷ XXI đã được đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta:
Về thể lực (nâng cao tầm vóc trung bình của thanh niên, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng tr em, giảm tỷ lệ mắc bệnh ); về trí lực (bao gồm trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn – kỹ thuật ) và về giữ gìn, phát huy những bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam để đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước và đó được xem là các tiêu chí của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
Với cách hiểu như vậy, có thể đưa ra 6 tiêu chí để đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao đó là:
Khả năng thích ứng nhanh nhất với môi trường lao động và với tiến bộ khoa học công nghệ mới, với năng lực chuyên môn và trình độ thành thạo nghiệp vụ cao
Trang 18
Có ý chí vượt khó, bền bỉ trong công việc, có năng lực kiềm chế bản thân
Có đạo đức nghề nghiệp thể hiện qua tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần dân chủ, hợp tác và ý thức về tập thể, vì cộng đồng cao
Có kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thay đổi, thích ứng nhanh, hội nhập cao, có sáng kiến đột phá, sáng tạo trong công việc
Có năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội trong công việc, có năng lực cạnh tranh, có đóng góp thực sự hữu ích cho xã hội
Năng lực về thể chất (thể lực) của nguồn nhân lực chất lượng cao:
Nói đến thể lực là nói đến tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực, sức khỏe phát triển hài hòa của con người về cả thể chất lẫn tinh thần Đó là sức khỏe cơ thể
và sức khỏe tinh thần Trong hiến chương của tổ chức y tế thế giới đã nêu: "Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thỏa mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh hay thương tật" Quan niệm về chất lượng nguồn nhân lực mà đề tài phân tích là năng lực tinh thần và năng lực thể chất của nguồn nhân lực, tức là nói tới sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong
đó năng lực thể chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng Nếu con người có thể lực tốt thì mới phát huy được lợi thế của sức mạnh trí tuệ trong phát triển kinh tế xã hội
và ngược lại Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải trí thức vào hoạt động thực ti n, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất phát triển kinh tế - xã hội o đó, sức khỏe là yếu tố quan trọng của nguồn nhân lực, tình trạng sức khỏe được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe như: Chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Trình độ kinh tế - xã hội càng phát triển càng đòi hỏi ở thể lực, bởi nếu không có thể lực và tinh thần tốt khó có thể chịu được sức căng thẳng của công việc, nhịp độ cuộc sống trong thế giới hiện đại, không thể tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới và vật hóa các tri thức đó thành sản phẩm có ích Nâng cao tuổi thọ trên cơ sở tăng cường thể lực cùng với cải thiện nhanh về hình thể, trước hết là chiều cao và trọng lượng của người lao động
Năng lực tinh thần (trí lực) của nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 19
Chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao được phản ánh chủ yếu thông qua sức mạnh trí tuệ, đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng của nguồn nhân lực, đặc biệt trong điều kiện trí tuệ hóa lao động hiện nay Trí lực của nguồn nhân lực biểu hiện ở năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi và kỹ năng lao động nghề nghiệp của người lao động thông qua các chỉ số: Trình độ văn hóa, dân trí, học vấn trung bình của một người dân, số lao động đã qua đào tạo, trình độ và chất lượng đào tạo; mức độ lành nghề (kỹ năng, kỹ xảo ) của lao động; trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh; năng suất, chất lượng hiệu quả của lao động
a) rình độ học n: Là chỉ tiêu đầu tiên biểu hiện trí lực của người lao
động, bởi lẽ nó thể hiện sự hiểu biết của người lao động về những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội, là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của m i cá nhân Trình độ học vấn của nguồn nhân lực được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Thứ nhất: Tỷ lệ người biết chữ trong tổng số dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế
Thứ hai: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có trình độ văn hóa tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Thứ ba: Số năm đi học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế
Thứ tư: Tỷ lệ dân số đi học chung các cấp: Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Thứ năm: Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Chính phủ các nước căn cứ vào các chỉ tiêu trên để xây dựng mục tiêu phát triển giáo dục trong chiến lược giáo dục của quốc gia
Ví dụ: Định hướng phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2015 với mục tiêu đạt tỷ lệ đi học chung của các cấp tiểu học là 100%, cấp trung học cơ sở là 80%, cấp trung học phổ thông là 45%
Trang 20
Trình độ dân trí của dân cư phản ánh trình độ học vấn của lực lượng lao động, là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, bởi lẽ trình độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng tiếp thu và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực ti n góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
b) rình độ ch y n môn ỹ th ật:
Chất lượng của nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, quan trọng hơn là trình độ chuyên môn kỹ thuật, thông qua số lượng và chất lượng của lao động đã qua đào tạo Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp Lao động có chuyên môn kỹ thuật bao gồm những công nhân từ bậc
3 trở lên (có bằng hoặc không có bằng) cho tới những người có trình độ trên đại học Họ được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kỹ năng thực hành về công việc nào đó và được thể hiện qua các chỉ tiêu so sánh như sau:
Thứ nhất: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc là % số lao động đã qua đào tạo (từ sơ cấp, công nhân kỹ thuật đến sau đại học) so với lực lượng lao động đang làm việc Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực
Thứ hai: Trình độ chuyên môn kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ lao động được đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước, từng vùng, từng ngành Chỉ tiêu này đánh giá một cách cụ thể nhất về trình
độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực chất lượng cao
Thứ ba: Là cơ cấu các loại lao động đã qua đào tạo theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật và cấp bậc đào tạo thể hiện cơ cấu lao động có trình độ đại học, cao đẳng/số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp/số lao động là công nhân kỹ thuật Chỉ tiêu này cho thấy cơ cấu đào tạo có cân đối với nhu cầu nhân lực của nền kinh tế hay không, trên cơ sở đó có kế hoạch điều chỉnh nhu cầu đào tạo cho phù hợp Các nghiên cứu của các nhà khoa học gần đây cho thấy rằng, cơ cấu trên thể hiện ở Việt Nam còn bất hợp lý "thừa thầy, thiếu thợ"
Trang 21tế (kết quả điều tra về giám đốc doanh nghiệp của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cho thấy 79% trong tổng số 77% tổng số chủ doanh nghiệp đã tốt nghiệp đại học chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý kinh tế) Đây cũng chính là tiềm năng có thể khai thác theo hướng sử dụng tốt lực lượng lao động có trình độ cao để tăng tỷ trọng lao động có kỹ năng và cải thiện cơ cấu lao động có trình độ cao góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Ngoài ra, trí lực của nguồn nhân lực còn biểu hiện ở kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người lao động, chúng phụ thuộc trước hết vào khả năng của m i người, sự say mê nghề nghiệp, ý thức rèn luyện kỹ năng Mặt này thể hiện qua thông số năng lực hoạt động chuyên môn của người lao động
kỹ năng nghề nghiệp là chưa đủ, cần phải tạo lập cho m i con người Việt Nam có
tư duy năng động, sáng tạo, dám mạo hiểm, sẵn sàng thích ứng và thích ứng cao
Trang 22
trong một thế giới đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index)
Nếu quan niệm nguồn nhân lực là tổng thể năng lực lao động trong nền kinh
tế của một quốc gia, tức là bộ phận trực tiếp hoạt động và sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội không thể tách rời những điều kiện phát triển con người trong quốc gia đó Trên ý nghĩa đó, thì chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện
gián tiếp thông qua chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development
Index) Theo Liên hiệp Quốc, sự phát triển nhân lực của quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau có thể so sánh với nhau bằng một thước đo chung, đó là chỉ số phát triển con người hay chỉ số phát triển nhân lực H I là một chỉ tiêu tổng hợp gồm 3 tiêu chí cụ thể:
1) Mức độ phát triển kinh tế: Được xác định bằng tổng sản phẩm quốc nội (G ) bình quân đầu người hằng năm
2) Chỉ tiêu về phát triển giáo dục (chỉ tiêu học vấn): Được xác định bằng tỷ
lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đi học của các cấp giáo dục
3) Chỉ tiêu y tế: Tính bằng tuổi thọ bình quân của người dân
Theo quy uốc quốc tế, chỉ số H I mang giá trị từ 0 tới 1 gồm: Chỉ số trình
độ học vấn, chỉ số thu nhập, chỉ số tuổi thọ; có nơi, còn sử dụng thêm 2 tiêu chí: môi trường tự nhiên và hệ thống an sinh xã hội Chỉ số học vấn có giá trị bằng 1, khi 100% số người lớn (trên 15 tuổi) biết đọc, biết viết; bằng 0 khi 0% số người lớn (trên 15 tuổi) biết đọc, biết viết Chỉ số tuổi thọ có giá trị bằng 1 khi tuổi thọ bình quân là 85 tuổi; bằng 0, khi tuổi thọ bình quân chỉ đạt 25 tuổi Chỉ số thu nhập bằng 1, khi G đạt bình quân đầu người đạt 40.000 US (theo sức mua tương đương); bằng 0 khi G bình quân đầu người chỉ đạt 160US /năm
Nước ta là một trong mười nước có chỉ số xếp hạng H I cao hơn xếp hạng
G /người trên 20 bậc, điều này chứng tỏ nước ta đã cố gắng tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, quan tâm đến các yếu tố sức khỏe, y tế, giáo dục (tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay là 68,5; 90% dân số được tiếp cận các dịch vụ xã hội) o đó, chỉ số H I tuy không phản ánh trực tiếp chất lượng nguồn
Trang 23
nhân lực, song nó cho biết khá rõ môi trường xã hội ở đó nuôi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, phẩm chất đạo đức, thái
độ và phong cách làm việc của người lao động
Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh phát triển nền kinh
tế thị trường, nhiều nhà nghiên cứu lý luận nước ta cho rằng, khi nói tới nguồn nhân lực thì ngoài thể lực và trí lực của con người cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người Đồng thời, khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực con người, không thể không nói đến đạo đức, nhân cách, thái độ và phong cách làm việc của con người Đây là những phẩm chất đạo đức, tinh thần có vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của con người, nó thúc đẩy tính tích cực và làm tăng hiệu quả hoạt động của con người o vậy, phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, đòi hỏi người lao động phải có hàng loạt phẩm chất cần thiết như: có ý thức tổ chức kỷ luật; tự giác trong lao động, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, tác phong làm việc nhanh nhẹn, chính xác, có lương tâm nghề nghiệp tất cả những phẩm chất đó nằm trong phạm trù đạo đức của con người, tức là đào tạo con người "vừa hồng, vừa chuyên"
1.2 Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải cụ thể bằng cơ chế nào đó để nguồn nhân lực chất lượng cao tự xuất hiện một cách tự nguyện (không
hề ép buộc) sẵn sàng đóng góp trí tuệ, tài năng của mình cho tổ chức Việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải được tiến hành bằng sức mạnh động viên chính trị - tinh thần và cả những hấp dẫn về lợi ích vật chất Cần phải lưu ý rằng, không phải mọi thứ đề ra có thể quy ra của cải Lịch sử phát triển của dân tộc ta cho thấy những bậc hiền tài đều là những con người khảng khái, thông tuệ, bản lĩnh, tiền tài, nhan sắc không d gì có thể mua chuộc, lay chuyển được họ Trong nhiều trường hợp niềm tự hào về truyền thống vinh quang của cả dân tộc có một sức mạnh ghê gớm lôi kéo những người tài giỏi hết lòng tâm huyết, sáng tạo vì đất nước, vì dân tộc
Trang 24
Chính sách thu hút là một tập hợp quyết định có liên quan của nhà nước nhằm tạo dựng được nguồn nhân lực, những cá nhân có tài năng có kiến thức, kỹ năng và trình độ cao để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị có chất lượng và hiệu quả cao
Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là một hay nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau của nhà nước, của một địa phương hay một tổ chức, cá nhân ban hành nhằm đề ra các tiêu chí cụ thể về nguồn nhân lực chất lượng cao,
có kèm theo các điều kiện về tiêu chuẩn và các ưu đãi về vật chất, tinh thần nhằ m thu hút đối tượng nguồn nhân lực chất lượng cao để họ so sánh lựa chọn, từ đó tự nguyện đến đăng ký làm việc đối với nhà nước, địa phương hay tổ chức, cá nhân
đã đề ra chính sách thu hút đó
Mục tiêu của chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và đáp ứng một phần nhu cầu nhân lực của các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp, nhất là các đơn vị trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao hiệu quả nền công vụ và các sự nghiệp y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ
Tổ chức thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải đạt được các mục tiêu:
- Khuyến khích được sự lao động sáng tạo của nguồn nhân lực chất lượng cao
- Đảm bảo được các điều kiện về vật chất và tinh thần trong lao động và cuộc sống của nguồn nhân lực chất lượng cao
- Khích lệ được sự phát huy sáng tạo, kỹ năng lao động nghề nghiệp của nguồn nhân lực chất lượng cao để biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp nhằm đạt được hiệu suất, hiệu quả trong công việc
Các nguyên tắc chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam được
xác định gồm:
Thứ nhất: Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải căn cứ vào nhu cầu phát triển nhân lực, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao
Trang 251.3 Tầm quan trọng và các yêu cầu cơ bản của việc thực hiện chính sách nhân lực chất lượng cao
Một à: Chính ách th h t ng n nhân ực ch t ư ng cao à đi iện ti n
y t đảm bảo ự thành công c a ự nghiệp công nghiệp h a, hiện đại h a r t
ng n
Đối với chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ thúc đẩy sự phát triển, sự thay đổi về nhiều mặt Chẳng hạn, nó làm thay đổi cơ cấu nguồn nhân lực, làm chuyển biến từ một cơ cấu lạc hậu sang một cơ cấu tiến bộ hơn; cơ cấu các khu vực lớn trong kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế kỹ thuật, cơ cấu trong nội bộ m i ngành, cơ cấu nguồn nhân lực ở từng vùng, từng địa phương cho đến cơ cấu nguồn nhân lực trong nội bộ từng doanh nghiệp Công nghiêp hóa, hiện đại hóa là một yếu tố tác động rất mạnh đến nguồn nhân lực
Đối với Việt Nam, bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất
là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững Bởi vì: Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, riêng về kinh tế, mục tiêu này ngày càng mở rộng được thị trường, bán được nhiều hàng hóa dịch vụ Muốn thế, phải có sức mạnh trong cạnh tranh, tức là chất lượng và giá cả Chất lượng và giá
cả hàng hóa lại phụ thuộc vào hai yếu tố chủ chốt đó là trình độ công nghệ của sản xuất và trình độ chuyên môn, kỹ thuật của nguồn nhân lực Hơn nữa, quá trình hội
Trang 26
nhập kinh tế thế giới là quá trình giao lưu, trao đổi giữa Việt Nam và các nước trên thế giới về hàng hóa dịch vụ, tiền tệ, công nghệ mới, nguồn nhân lực theo hai chiều ra và vào Nguồn vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ mới vào Việt Nam kéo theo công ăn, việc làm, các nghề mới, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý Những di n biến này tác động trực tiếp vào nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam
o vậy, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam đặc biệt quan trọng cho sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Cho nên, cần tạo ra và cải thiện tất cả các điều kiện cần thiết để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhanh, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
ai à: Chính ách th h t ng n nhân ực ch t ư ng cao à đi iện đ r t
ng n hoảng cách t t hậ à t ng trưởng nhanh
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao Tỷ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao còn thấp so với nhu cầu của thực tế
Trong khi dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và cho xuất khẩu lao động Đây là tình trạng đáng báo động, không phù hợp với quy luật tăng trưởng là tỷ lệ tăng trưởng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật bao giờ cũng phải cao hơn tốc độ tăng trưởng G để đảm bảo tăng trưởng G một cách vững chắc
Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, chủ yếu vẫn là nước nông nghiệp, nên ngay cả nguồn nhân lực được gọi là chất lượng cao vẫn còn mang nặng thói quen và tập quán của những người tiểu nông, thiếu năng động, tính tổ chức kỷ luật trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại còn yếu, thích tự do, tác phong công nghiệp, trình độ văn hóa còn thấp Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn khoảng cách khá xa so với một số nước Đông Á Cụ thể, ta đang ở mức gần tương đương với Indonesia, nhưng thua hầu hết các nước và lãnh thổ khác như Nhật Bản,
Trang 27
Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Thái Lan, hilipin Từ đó dẫn đến một loạt các yếu kém khác như trình độ vận dụng khoa học kỹ thuật kém, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao và đương nhiên dẫn đến sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn ở vị trí rất thấp
Như vậy, vấn đề cơ bản, có tính chất chiến lược trong chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là phải tăng nhanh về số lượng để nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề, đảm bảo cơ cấu đào tạo hợp lý giữa đại học, cao đẳng trở lên so với trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu kinh tế tri thức ở Việt Nam, có như thế mới rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới, góp phần tăng trưởng nhanh và bền vững
Ba à: Chính ách th h t ng n nhân ực ch t ư ng cao à động ực ch
y ti p cận à phát tri n n n inh t tri thức
Thực tế, quá trình công nghiệp hóa ở các quốc gia trên thế giới cho thấy: Trong tiến trình công nghiệp hóa, nếu nước nào biết dựa vào việc khai thác và sử dụng năng lực của nguồn nhân lực, thì luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định như Nhật Bản, hần Lan, Ireland là những nước nghèo tài nguyên xong đã vươn lên trở thành những quốc gia giầu có, phát triển hàng đầu thế giới dựa vào kinh tế tri thức
Tóm lại: Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển Điều đó lý giải tại sao con người, mà trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao, được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội
lượng cao như: Yêu cầu về thực hiện mục tiêu; về đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, tính pháp lý, tính hợp lý, khoa học, đảm bảo lợi ích hài hòa cho các đối tượng… Khi thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cần đáp ứng nhu cầu nhân lực của cơ quan, đơn vị tuyển dụng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của đơn vị sử dụng
Trang 28
Khi thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải xuất phát từ thực tế nhu cầu phát triển nhân lực, vị trí việc làm còn thiếu và trên cơ sở chỉ tiêu biên chế được giao, thuộc các lĩnh vực trong danh mục cần thu hút
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
Yếu tố địa chính trị:
Địa chính trị được hiểu là sự phân bố và sự tương quan giữa các lực lượng chính trị trong m i nước cũng như giữa các nước và các nhóm trong các liên quan với cơ cấu kinh tế xã hội, các vấn đề hình thành các quốc gia hay các vùng chính trị, biên giới cũng như cơ cấu hành chính của các nước, các vùng Khái niệm địa chính trị để chỉ tất cả những gì có quan hệ ít nhiều đến các vụ việc đối ngoại mang tính chính trị, là mối tương tác giữa một bên là môi trường và bối cảnh địa lý, với một bên là các tiến trình chính trị Trong khi đó địa chiến lược được hiểu là giá trị chiến lược của các nhân tố địa lý trong chính sách đối ngoại của một quốc gia và trong mối quan hệ của nó với các quốc gia khác Như vậy địa chính trị có một v ngoài trung lập khi nghiên cứu những đặc điểm địa lý và chính trị của các khu vực khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu sự tác động của địa lý đến chính trị, thì địa chiến lược đòi hỏi phải có kế hoạch và đề ra các biện pháp toàn diện để thực hiện các mục tiêu quốc gia hoặc bảo vệ những tài sản có ý nghĩa quân sự
tính đ n trong á trình hoạch đ nh chính ách công Khái niệm này chỉ hả n ng
ản x t c a một ản phẩm ới chi phí th p h n o ới ản x t các ản phẩm hác ở các c gia hác nha
Trong trường hợp của nước ta lợi thế so sánh của Việt Nam là các lợi thế tĩnh hay còn gọi các lợi thế cấp thấp, nếu các lợi thế này không có khả năng tái sinh thì nó sẽ dần mất đi Điều này thấy rất rõ hai lợi thế mà Việt Nam đang có là nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dao Mặc dù Việt Nam được coi là một đất nước phong phú về các loại khoáng sản, nhưng nếu tính theo mức đầu người thì không phải là nước giầu khoáng sản Việt Nam có nguồn lao động
Trang 29
tr dồi dào, tuy nhiên lực lượng này lại chưa quen với lối lao động công nghiệp, dẫn đến kỹ năng làm việc kém, việc tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế o đó chất lượng lao động không cao, thế nhưng tiền công lao động lại quá cao nếu tính theo năng suất lao động
Bên cạnh đó là tính chất của vấn đề chính sách công; môi trường thực thi chính sách công; mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách công; tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách công; đặc tính của đối tượng chính sách công
1.4.2 Yếu tố chủ quan
Được thể hiện là phản ứng, bình phẩm, quan điểm của nhân dân được thể hiện dưới hình thức nay hay hình thức khác về một hiện tượng hay một vấn đề xã hội hoặc chính sách công nào đó Trong khi đó truyền thông là những phương tiện truyền tải, phản ánh những thông tin hay hiện tượng xã hội Công luận chịu ảnh hưởng nhiều của truyền thông
Công luận và truyền thông có sự h trợ và cộng hưởng lẫn nhau tạo nên sức mạnh, ảnh hưởng lan truyền đến chính sách
Bao gồm sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, nghề nghiệp, chủng tộc, tầng lớp
xã hội, các nhóm lợi ích… tất cả đều tạo nên một hệ thống các giá trị xã hội Chính sách công ảnh hưởng rất lớn về hệ thống các giá trị xã hội o đó, chính sách công phải thể hiện sự tồn tại trong sự đa dạng và thỏa hiện của hệ thống các giá trị xã hội
Hệ thống các giá trị xã hội là một yếu tố quan trọng trong xây dựng chính sách công, trong đó giá trị là cái ao ước, là biểu hiện của nhu cầu của cá nhân hay nhóm xã hội, trở thành mục đích hành động của cá nhân và nhóm xã hội đó Giá trị có vai trò định hướng chung cho hành động, chuẩn mực là một bước cụ thể hóa cái giá trị, là quy tắc ứng xử, quy định cách thức hành động của cá nhân và nhóm, biểu hiện dưới dạng các thể chế thành văn (luật pháp của nhà nước) hay không thành văn (phong tục, tập quán…)
Trang 30
Còn các tiêu chuẩn chính là những khuân mẫu ứng xử trong các tình huống
cụ thể cho cá nhân và nhóm xã hội, gắn với thực tế vô cùng đa dạng và phong phú của đời sống, bảo cá nhân hay nhóm xã hội phải làm gì, làm như thế nào
Như vậy hệ thống giá trị xã hội bao gồm sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, nghề nghiệp, chủng tộc, tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích… Tất cả tạo nên một hệ thống các giá trị xã hội Chính sách công chịu ảnh hưởng rất lớn về hệ thống các giá trị xã hội Chính sách công phải thể hiện sự tồn tại trong sự đa dạng và thể hiện của hệ thống các giá trị xã hội…
hút nguồn nhân lực chất lượng cao Hệ thống kinh tế tác động rất lớn đến việc xây dựng chính sách thu hút nguồn nhân lực Sự vận động của nền kinh tế kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội mới nảy sinh buộc các nhà hoạch định chính sách phải tính toán xây dựng chính sách vừa giải quyết tình huống mới, vừa lường trước tác động sau này Khi nền kinh tế càng lớn, càng hiện đại các vấn đề xã hội phát sinh
từ lý do kinh tế càng nhiều, càng phức tạp khiến cho đa số chính sách công tập trung cho vấn đề kinh tế như lao động việc làm, thương mại, kinh doanh quốc tế, chuyển giao công nghệ, đầu tư, tín dụng, lãi xuất ngân hàng, thị trường chứng khoán, bất động sản…
Trong điều kiện thực tế nước ta hiện nay, hệ thống kinh tế đa dạng và ngày càng phức tạp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trước thực
tế đó các nhà lập chính sách công gặp nhiều khó khăn hơn trong công tác xây dựng chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách, vừa là phương tiện động lực, đòi hỏi nhà lập chính sách nghiên cứu cân nhắc các yếu tố của hệ thống kinh tế trong các gói chính sách công đề xuất
o chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là kết quả hoạt động của nhiều người từ nhiều cơ quan khác nhau Quan hệ trong các bộ phận làm chính sách vừa tế nhị vừa căng thẳng Năng lực của chủ thể lập chính sách cũng phải được cân nhắc, bên cạnh đó phải đề cập đến năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm chính sách công, các mối quan hệ vừa riêng tư của các
Trang 31chính trị, kinh tế và pháp lý trong quá trình quản lý xã hội “Q y n ực nhà nước à
th ng nh t, c ự phân công à ph i h p giữa các c an nhà nước trong iệc thực hiện các y n ập pháp, hành pháp, tư pháp” Với địa vị pháp lý của từng
cơ quan, các cơ quan là các chủ thể chính của xây dựng chính sách Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, dùng quyền lực để phục vụ lợi ích của nhân dân, bởi vậy ý chí quản lý của Nhà nước luôn thống nhất với nguyện vọng của nhân dân Như vậy chính sách công dù thuộc cơ quan nhà nước nào là chủ thể chính đều cần phải được mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng thực hiện
Năng lực hoạch định chính sách của Nhà nước được thể hiện trên các mặt như năng lực phân tích, năng lực dự báo chính sách, năng lực phát hiện các vấn đề của chính sách công, năng lực lựa chọn các vấn đề kinh tế - xã hội cần phải được giải quyết, khả năng chính trị hóa các vấn đề xã hội, năng lực tham vấn cộng đồng người dân và doanh nghiệp, năng lực đề xuất mục tiêu chính sách công và các biện pháp giải quyết – công cụ chính sách công
Nhìn tổng thể, năng lực thiết kế một chính sách trọn gói, năng lực phân tích hoạch định chính sách là rất quan trọng đối với các tổ chức, các nhà lập chính sách công Cuối cùng năng lực thuyết phục cho tính khả thi của chính sách đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn xây dựng chính sách và thực hiện sau này Đương nhiên là các tổ chức chủ thể chính sách thường xuyên nâng cao năng lực tổ chức, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm chuyên môn xây dựng chính sách sẽ tăng cường chất lượng chính sách Ngược lại nếu năng lực đội ngũ lập chính sách quá
Trang 32Yếu tố năng lực của đối tượng chính sách phải bàn đến khi xây dựng chính sách Năng lực của đối tượng chính sách được hiểu biết qua tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, mối quan hệ xã hội, trình độ văn hóa…Sự tham gia của đối tượng chính sách là yếu tố quan trọng đến sự thành hay bại của một chính sách Năng lực của đối tượng chính sách lại ảnh hưởng đến khả năng tham gia mặc dù lợi ích là yếu tố quyết định đến sự tham gia Bên cạnh đó năng lực thực thi chính sách của đối tượng chính sách công cũng phải được cân nhắc Trong thực tế đất nước ta trải dài từ Bắc tới Nam, có sự khác biệt lớn về năng lực của đối tượng chính sách o đó các nhà lập chính sách không thể bỏ qua yếu tố này
Bên cạnh đó là yếu tố về mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách công; năng lực thực thi chính sách công của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy quản lý Nhà nước; các điều kiện vật chất để thực thi chính sách công; sự đồng tình, ủng hộ của người dân và các đối tượng tham gia thực hiện chính sách đối với chính sách
nhân lực chất lượng cao
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ chất lượng nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia đó Tại một quốc gia có trình độ kinh tế phát triển cao, thì ở đó
Trang 33
nguồn nhân lực có chất lượng cao, kể cả trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe, tuổi thọ
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao càng có điều kiện đầu tư cho giáo dục
và đào tạo, khi giáo dục và đào tạo phát triển lại góp phần quyết định trực tiếp vào việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao o đó, trình độ phát triển kinh tế xã hội
và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ biện chứng với nhau và tác động qua lại lẫn nhau Hay nói cách khác, kinh tế là nên tảng của phát triển xã hội, của con người, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao và đến lượt nó nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Đối với Việt Nam, do trình độ kinh tế - xã hội còn ở mức độ thấp nên chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, do đó việc thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2010-2020 và tạo ra bước phát triển mới trong thế kỷ XXI
Giáo dục và đào tạo đóng góp vai trò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
Ngày nay, khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững thì vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên quan trọng
Trong tác phẩm "Đầu tư vào tương lai" (Investing the future), Jacques Hallak (chuyên gia cấp cao về giáo dục tại viện Kế hoạch hóa quốc tế) đã nêu lên 5 yếu tố cho sự phát triển nguồn lực con người, đó là: Giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm, tự do chính trị và kinh tế Theo ông những nguồn này gắn
bó với nhau nhưng giáo dục và đào tạo là nhân tố quan trọng nhất Thực tế cho thấy quốc gia nào quan tâm đến giáo dục và đào tạo thì quốc gia đó có nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao không phải tự nhiên mà có, phải thông qua quá trình thu hút, giáo dục, đào tạo dài lâu và phù hợp với yêu cầu của tiến bộ xã hội Giáo dục là nhân tố cơ bản để hình thành, phát triển ở m i con người nhân
Trang 34
cách, sức lao động, tạo ra cho con người sự phát triển hài hòa cả thể lực – trí lực – tâm lực Trong bản tổng kết của Ủy ban giáo dục đi vào thế kỷ XXI của UNESCO năm 1995, đã cho rằng "Giáo dục là của cải nội sinh" Kết quả của giáo dục đối với m i người là nội lực của người ấy và hơn nữa, nội lực ấy phải có khả năng tạo
ra của cải vật chất, tạo ra phúc lợi cho toàn xã hội Trong báo cáo đã đưa ra bốn
nguyên lý của giáo dục, còn được gọi là bốn trụ cột của nền giáo dục: học đ bi t; học đ àm; học đ ch ng ng ới mọi người à học đ t n tại
Trong giai đoạn hiện nay, khi tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì chất lượng nguồn nhân lực trở thành nguồn tài nguyên quan trọng hơn mọi tài nguyên khác
Đối với nước ta, để thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm
2020, thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn tiếp cận kinh tế tri thức đưa đất nước đuổi kịp các nước trong khu vực và thế giới đòi hỏi phải cải cách giáo dục và đào tạo một cách mạnh mẽ đang là một yêu cầu cấp bách như văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng đã
khẳng định: " hát tri n giáo d c à đào tạo à một trong những động ực an trọng th c đẩy ự nghiệp công nghiệp h a, hiện đại h a à đi iện đ phát h y
ng n ực con người – y t c bản đ phát tri n x hội, t ng trưởng inh t nhanh à b n ững"
Trình độ phát triển khoa học công nghệ
Cơ cấu nòng cốt của đội ngũ lao động là đội ngũ trí thức với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, quản lý kinh tế - xã hội là lực lượng nòng cốt trong nguồn nhân lực có chất lượng cao Cũng chính từ đội ngũ này mà đào tạo, bồi dưỡng thut hút các tài năng tr , tạo nên một thế hệ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học giỏi và những cán bộ có năng lực công nghệ giỏi cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam đang di n ra quá trình đổi mới khoa học, công nghệ, quá trình này di n ra rộng khắp, từ các doanh nghiệp, các ngành, địa phương và chính quá trình này kéo theo sự đổi mới về nguồn nhân lực Trong lịch
sử phát triển của loài người, bao giờ các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cũng dẫn đến sự biến đổi có tính cách mạng, sự biến đổi về chất lượng của lực
Trang 35
lượng sản xuất xã hội; trong đó con người là một thành phần chủ chốt của lực lượng sản xuất ấy Trường hợp của Việt Nam cũng thế, sự đổi mới khoa học công nghệ đang và sẽ tác động ngày càng mạnh đến nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
Phát triển dân số có kế hoạch tạo điều kiện nâng cao chính sách thu hút chất lượng nguồn nhân lực chất lượng
Tăng trưởng dân số có tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Theo kết quả nghiên cứu, cứ tăng 1% dân số thì yêu cầu G phải tăng
ít nhất 3% thì mới đảm bảo được sự phát triển kinh tế - xã hội bình thường, tức là theo đó có đủ sản phẩm và dịch vụ ở mức cần thiết để đảm bảo duy trì sản xuất, tạo công ăn việc làm và mức sống như hiện tại
Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2014, tổng dân số Việt Nam là xấp xỉ 90,5 triệu người Mức độ gia tăng tương đối cao của lực lượng lao động trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thời gian lao động nhàn r i ở nông thôn tương đối cao như hiện nay đang đặt ra những vấn đề lớn cần giải quyết trong khi đó chất lượng lao động thấp thể hiện ở ch tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong tổng lực lượng lao động thấp và cơ cấu lực lượng lao động bất hợp lý
Trong khi đó, thị trường lao động chưa phát triển, chất lượng giáo dục, đào tạo và dạy nghề còn thấp dẫn đến một loạt vấn đề mâu thuẫn liên quan đến giải quyết việc làm, đến việc phát triển chất lượng của lực lượng lao động, hay nói chung hơn là phát triển nguồn nhần lực của Việt Nam đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
o đó, tăng trưởng dân số phù hợp với mức tăng trưởng của sức sản xuất xã hội, trong đó phù hợp với tăng chất lượng của nguồn nhân lực sẽ giúp kinh tế phát triển ổn định Ngoài tốc độ tăng trưởng còn cần đặc biệt chú trọng tới vấn đề chất lượng dân số, vì chất lượng dân số chính là chất lượng nguồn nhân lực
Hiện nay, với 90,5 triệu người, Việt Nam trở thành nước đông dân thứ 13 trên thế giới và xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á sau Inđônêxia và hilipin, mật độ dân số cao gấp hai lần nước đông dân nhất thế giới là Trung Quốc Chắc chắn
Trang 36Chính sách thu hút nguồn nhân lực (phát triển kỹ năng) bao gồm chính sách
về quy mô đào tạo, chính sách về cơ cấu đào tạo, chính sách tài chính trong phát triển đào tạo nguồn nhân lực (bao gồm cả giáo dục phổ thông, đại học, đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề tại các trường, cơ sở dạy nghề và trong sản xuất ) Đây chính là hệ thống chính sách mang tính chất chiến lược dài hạn có tác động lớn đến chất lượng, trình độ nguồn nhân lực của một đất nước, của một địa phương
b) Chính ách bảo ệ à t ng cường th ực ng n nhân ực ch t ư ng cao
Đó là những chính sách chăm sóc, bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho người dân, nhằm tạo dựng nên những thế hệ người Việt Nam cân đối, cường tráng, góp phần phát triển nguồn nhân lực có thể lực tốt, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện con người và thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
c) Chính ách th h t à ử d ng ng n nhân ực ch t ư ng cao
Đây là nhóm chính sách tác động trực tiếp nhất đến quá trình quản lý nguồn nhân lực, bao gồm chính sách về việc làm (chính sách đa dạng hóa việc làm, chính sách khuyến khích, h trợ tạo việc làm, chính sách về cơ cấu việc làm); chính sách
về thị trường lao động; chính sách khuyến khích tài năng
Trang 37
d) Chính ách ti n ư ng, bảo hi m x hội, th t nghiệp
Chính sách về bảo hiểm xã hội, các điều kiện về lao động và đào tạo, luân chuyển lao động, quy định mức lương tối thiểu là môi trường pháp lý để xử lý các mối quan hệ lao động xã hội, góp phần thúc đẩy nguồn nhân lực xã hội ngày một phát triển
Vì các chính sách này đã tạo ra môi trường pháp lý cho quá trình hình thành
và phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng
Khi chính sách vĩ mô của nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế
xã hội thì nó thúc đẩy phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngược lại nếu không phù hợp nó sẽ kìm hãm hoặc làm lãng phí nguồn nhân lực và rất khó khăn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
e) Chính ách đ i ngộ à trọng d ng
Các đối tượng thuộc diện thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải được xét tuyển công khai, cạnh trang công bằng, phải được tôn trọng, tôn vinh và ưu tiên để cân nhắc đề bạt vào những vị trí chức danh xứng đáng
Được ưu tiên xem xét cho thuê nhà ở, h trợ vốn vay ưu đãi để mua nhà ở
xã hội
Kết luận Chương 1
Vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đang là n i lo lắng bức xúc của tất cả các ngành nghề trong xã hội hiện nay, đây cũng là vấn đề thời sự cấp bách, một bài toán còn chưa tìm được lời giải đáp thỏa đáng, là mối quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội
Việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và tình trạng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư, từ trong nước ra nước ngoài đang là vấn đề khó khăn cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trong những năm tới, đất nước còn rất nhiều cơ hội để tiến lên xong cũng cũng không ít thách thức, khó khăn Đòi hỏi chúng ta phải tranh thủ cơ hội, vượt
Trang 38
qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh
và bền vững hơn Để sự nghiệp đổi mới phát triển không ngừng, đúng định hướng
xã hội chủ nghĩa, vấn đề quan trọng là phải chủ động nắm bắt thời cơ, đẩy lùi và khắc phục nguy cơ, từng bước tạo ra thế và lực mới, ổn định chính trị - xã hội, củng mọi mặt để phát triển đất nước bền vững Điều đó cũng với nguy cơ bị tụt hậu xa hơn về các mặt so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là những thách thức lớn và gay gắt, đòi hỏi một cách gắt gao chúng ta phải tạo dựng và phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu, giúp nước ta từng bước phát triển nhanh và bền vững
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển của xã hội, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao
Trang 39
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TỈNH YÊN BÁI
2.1 Thực trạng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008 - 2015
2.1.1.1 Lực ư ng ao động c a tỉnh:
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 576.039 người (không có trình độ chuyên môn kỹ thuật: 490.917 người (85,22%); qua đào tạo nghề ngắn hạn: 15.134 người (2,63%); trung cấp nghề: 4.345 người (0,75%); cao đẳng nghề: 910 người (0,16%); trung cấp chuyên nghiệp: 25.865 người (4,49%); cao đẳng: 15.693 người (2,72%); đại học: 22.900 người (3,98%); thạc sĩ: 253 người (0,044%); tiến sĩ: 13 người (0,0023%)
Trong đó:
- Số người có việc làm là 503.877 người (chưa đi học: 42.014 người (8,34%); chưa tốt nghiệp tiểu học: 61.806 người (12,27%); tốt nghiệp tiểu học: 116.485 người (23,12%); tốt nghiệp trung học cơ sở: 170.233 người (33,78%); tốt nghiệp trung học phổ thông: 113.349 người (22,5%)
- Số người biết chữ là 527.236 người, số người đã qua đào tạo là 81.167 người [1, tr 4]
2.1.1.2 Ch t ư ng đội ngũ cán bộ, công chức, i n chức c a tỉnh
a) Kh i Đảng, đoàn th :
Đến năm 2014, tổng số cán bộ khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể (không tính cấp xã) làm công tác chuyên môn có 939 người, trong đó: trình độ trên đại học 48 người (chiếm 5,1%) ; trình độ đại học là 762 người (chiếm 81,15%); trình độ cao đẳng trở xuống là 129 người (chiếm 13,7%) (trong đó: cao đẳng 38 người, trung cấp 85 người, sơ cấp 06 người)
b) Kh i hành chính ự nghiệp: