Trên cơ sở định hướng phát triển bền vững, tỉnh Thái Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội - môi trường theo hướng bền vững, nhằm góp phần cùn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TIẾN HIỆP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI BÌNH THEO HƯỚNG
BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số : 60.31.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Hoàng Ngọc Phong
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
NGUYỄN TIẾN HIỆP
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 11
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế bền vững 11
1.2 Phát triển kinh tế theo hướng bền vững 19
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI BÌNH 25
GIAI ĐOẠN 2005 - 2015 25
2.1 Thực trạng phát triển kinh tế 25
2.2 Đánh giá tổng quát thực trạng phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của tỉnh 39
2.3 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu đối với phát triển kinh tế của tỉnh 41
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI BÌNH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 44
3.1 Định hướng phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập 44
3.2 Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020 50
3.3 Các giải pháp phát triển bền vững kinh tế tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập 61
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WECD Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát
triển KT-XH Kinh tế -xã hội
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
KTTD Kinh tế trọng điểm
CAIRNS Nhóm các nước có lợi ích xuất khẩu nông
sản GTSX Giá trị sản xuất
KCN Khu công nghiệp
SXCN Sản xuất công nghiệp
CCN Cụm công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
GDTX Giáo dục thường xuyên
THPT Trung học phổ thông
TDTT Thể dục thể thao
Trang 5Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững
kinh tế địa phương giai đoạn 2013-2020 23
So sánh một số chỉ tiêu về kinh tế của tỉnh Thái Bình
năm 2014 so với vùng và một số tỉnh lân cận 38
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên gần đây, phát triển bền vững đã trở thành một khái niệm được nhắc tới nhiều trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng cũng như tại các hội thảo, hội nghị khoa học không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn cầu Nói tới phát triển kinh tế và phát triển xã hội, phát triển quốc gia hay phát triển địa phương, phát triển toàn cầu hoặc phát triển khu vực, v.v , “phát triển” đều được hướng tới theo nghĩa “phát triển bền vững” Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, do đó đã được toàn thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử
Hiện nay chưa có bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới khẳng định đã đạt được sự phát triển bền vững theo đúng nghĩa của nó Sự phát triển đang diễn ra ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương hiện nay là sự phát triển theo hướng bền vững Do vậy, phát triển bền vững là cái đích mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương đang phấn đấu thực hiện nhằm giải quyết những mâu thuẫn gay gắt trong phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), ổn định xã hội (nhất là tiến bộ, công bằng xã hội; giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm; quản lý sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro thiên tai )
Ở Việt Nam, ngày 17/08/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số: 153/2004/QĐ-TTg, phê duyệt “Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Tăng trưởng nhanh và bền vững là một trong những quan điểm xuyên suốt của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020, đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI thông qua Ngày 12 tháng 4 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Trang 7Quyết định số 432/QĐ -TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu, xu thế hội nhập và tác động mạnh của các Hiệp định thương mại tự do (FTA); Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đây là cơ hội mở ra với hàng hóa nông sản xuất khẩu; chế biến hàng xuất khẩu, nâng cấp chất lượng
và sức cạnh tranh của nền kinh tế; cơ hội về thu hút đầu tư từ các dòng vốn dịch chuyển đầu tư từ các quốc gia
Tỉnh Thái Bình là một trong số ít các tỉnh, thành phố đầu tiên trong cả nước xây dựng được chương trình phát triển bền vững cấp địa phương UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng Định hướng phát triển bền vững tỉnh Thái Bình (Chương trình Nghị sự 21 tỉnh Thái Bình) nhằm cụ thể hóa việc thực hiện định hướng chiến lược phát triển bền vững quốc gia trên địa bàn tỉnh Trên cơ sở định hướng phát triển bền vững, tỉnh Thái Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội - môi trường theo hướng bền vững, nhằm góp phần cùng các tỉnh phía Nam vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển theo hướng bền vững và cũng đã đạt được những kết quả bước đầu đáng kể: tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, vấn đề môi trường được đặc biệt quan tâm, đời sống của nhân dân trong tỉnh từng bước được cải thiện và nâng cao Tuy nhiên, nếu xem xét dưới góc độ phát triển kinh tế theo hướng bền vững thì vẫn còn có những thách thức đặt ra như: tăng trưởng kinh tế chưa cao và chưa bền vững, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nhất là cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề, năng suất lao động chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng; phát triển kinh tế xã hội của tỉnh còn dựa nhiều việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu là tài nguyên đất nông nghiệp và mặt nước; tỷ lệ hộ nghèo
Trang 8vẫn còn; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh còn
sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải Nhiều nguồn tài nguyên đang có xu hướng bị khai thác quá mức, sử dụng lãng phí
và kém hiệu quả.Môi trường ở một số điểm dân cư, một số khu công nghiệp, làng nghề bị xuống cấp, mức độ ô nhiễm ngày càng tăng tại các dòng sông và nguồn nước
Trong thời gian tới tỉnh Thái Bình cần phải làm gì để thực hiện có hiệu quả phát triển theo hướng bền vững nói chung và đặc biệt là bền vững về phát triển kinh tế? Để giải quyết những vấn đề đang đặt ra như trên là rất khó khăn, phức tạp bởi nó liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị -kinh tế -
xã hội và tất cả các điều đó đều liên quan đến vấn đề phát triển theo hướng
bền vững Vậy nên tác, giả chọn vấn đề "Phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình
theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập" làm đề tài cho Luận văn
Thạc sỹ của mình với mục đích góp phần nhỏ bé vào nhiệm vụ lớn lao, lâu dài của toàn tỉnh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phát triển bền vững nói chung và phát triển kinh tế theo hướng bền vững nói riêng là một vấn đề khoa học được đề cập ở những khía cạnh khác nhau, qua tìm hiểu tác giả thấy có một số công trình khoa học nổi bật như sau:
- Khái niệm “Phát triển bền vững” được biến đến ở Việt Nam vào những khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta (Việt Nam) tiếp thu nhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như: "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá các khái
Trang 9niệm về phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I”(2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước như: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra hệ thống các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990); mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987); mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990); mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của Worl Bank (WB)
Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình như: "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát triển kinh
tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là chỉ báo quốc tế về phát triển Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Xã hội học
Trang 10(2003) của tác giả Bùi Đình Thanh với tiêu đề "Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI" tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển bền vững: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên cần nói thêm rằng những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội cũng vẫn chưa được làm rõ
- Phát triển bền vững ở Việt Nam - thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng của Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007), Nxb Lao động
Ngoài những tài liệu được in thành sách xuất bản, còn có những nghiên cứu khác được đăng trên các tạp chí, các báo cáo tham luận tại các diễn đàn, hội thảo, tuy nhiên đi sâu vào từng địa phương cụ thể vấn đề phát triển kinh tế theo hướng bền vững còn ít được đề cập đến Do vậy, đây làm một đề tài độc lập, được đề cập một cách đầy đủ và hệ thống về phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập Các công trình nghiên cứu ở trên cùng các tài liệu khác được tác giả kế thừa có chọn lọc trong quá trình làm luận văn
Đề tài: “Phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập” tập trung vào việc đánh giá thực trạng phát triển kinh tế
Trang 11của tỉnh, từ đó đưa ra phương hướng phát triển các ngành kinh tế theo hướng bền vững được xem xét trong bối cảnh hội nhập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá, khái quát hóa và xây dựng khung lý thuyết về phát triển theo hướng bền vững ở phạm vi cấp tỉnh, đề tài luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững
và đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế theo hướng bền vững tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập đến năm
2020
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển bền vững;
+ Phân tích hiện trạng phát triển kinh tế của tỉnh Thái Bình;
+ Tổng quan bối cảnh hội nhập của Việt Nam trong thời gian tới, từ đó đưa ra những đánh giá, nhận định của nó tác động với phát triển kinh tế của tỉnh Thái Bình;
+ Căn cứ vào việc phân tích hiện trạng phát triển kinh tế của tỉnh, đánh giá những tác động của bối cảnh hội nhập tới phát triển kinh tế của tỉnh từ đó đưa ra định hướng và giải phápđể phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình phát triển kinh tế và các ngành kinh tế chủ yếu và môi trường được xem xét dưới góc độ tổng thể các yếu tố tác động tới phát triển của tỉnh trong thời gian tới, đảm bảo phát triển bền vữngtheo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Nghiên cứu phát triển kinh tế theo hướng bền vững tỉnh Thái Bình dưới góc độ kinh tế học và chính trị học, không đi sâu vào phát triển bền vững ở dưới các góc độ khác như xã hội học, văn hóa học, môi trường học
+ Về không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Thái Bình và các tỉnh liền kề trong bối cảnh hội nhập và không gian kinh tế mở;
+ Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
* Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Đề tài được xây dựng dựa trên phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp luận chủ yếu của đề tài là lý luận Mác-xít được sử dụng trong toàn bộ nội dung của luận văn Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp chúng ta nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và chúng luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng
Trên cơ sở quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển để xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu của đề tài Vận dụng các quan điểm này để làm cơ sở cho việc xem xét các sự kiện và quá trình phát triển, mà cụ thể là quá trình phát triển kinh tế theo hướng bền vững tỉnh Thái Bình Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu của luận văn thuộc chuyên ngành kinh tế học, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để làm rõ bản chất chung của phát triển kinh tế theo hướng bền vững, tức là làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, tăng trưởng, ổn định kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội,bảo vệ môi trường trong quá trình
Trang 13phát triển của tỉnh Thái Bình cả về thực trạng quá khứ và tương lai đến năm
2020
* Quan điểm hệ thống
Quan điểm này được sự dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu Kinh
tế của tỉnh Thái Bình là một bộ phận của nền kinh tế vùng vàcả nước nói chung, nó có mối quan hệ với nhiều ngành khoa học khác và trong nội bộ của
nó cũng có sự liên kết và gắn bó với nhau Vì vậy, coi vấn đề phát triển kinh
tế của tỉnh như là một hệ thống nằm trong hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng
* Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Trong thực tế, các sự vật - hiện tượng luôn có sự phân hóa theo không gian làm cho chúng có sự khác nhau giữa nơi này với nơi khác Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về kinh tế của tỉnh không thể tách rời với vấn đề phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng và cả nước
* Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Sự phát triển kinh tế ở quá khứ và bối cảnh tương lai có ảnh hướng lớn đến phát triển kinh tế của tỉnh Thái Bình ở hiện tại Việc nghiên cứu vấn đề kinh tế của tỉnh Thái Bình trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai sẽ làm rõ được bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo tính logic, khoa học và chính xác nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu này, ngoài những phương pháp chung như phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
* Phương pháp phân tích, tổng hợp:Dựa trên việc phân tích tài liệu đã
có cũng như thực tế sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghiên cứu, từ đó sẽ rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy dủ nhất
Trang 14nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra.Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong phần đánh giá thực trạng phát triển kinh tế theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình (Chương 2), trên cơ
sở khung lý thuyết đã được xây dựng ở Chương 1 Từ số liệu đã được hệ thống hóa, tác giả phân tích sự thay đổi, chuyển dịch để đánh giá sự thay đổi đó là tích cực hay hạn chế Phương pháp này giúp cho luận văn đảm bảo được tính logic, bám sát vấn đề, đánh giá đúng thực trạng của đối tượng nghiên cứu
* Phương pháp thông kê: Phương pháp này được áp dụng ở nhiều giai
đoạn thực hiện của luận văn Tổng hợp, số liệu, tài liệu, tư liệu , áp dụng phương pháp này để thống kê số liệu và ứng dụng trong xử lý và phân tích các số liệu thống kê về dân số, kinh tế- xã hội của tỉnh, sắp xếp theo từng thời
kỳ nghiên cứu
* Phương pháp kế thừa: Phương pháp này luận văn sử dụng trong việc
thu thập số liệu, thông tin, số liệu thứ cấp và tham khảo tài liệu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện nội dung luận văn Tức là dựa vào các số liệu thống kê của tỉnh và các Sở ban ngành trong tỉnh đã có sẵn để từ đó tổng hợp, phân tích và đánh giá tình hình Phương pháp này được thể hiện rõ trong chương 2 của luận văn khi đánh giá thực trạng phát triển kinh tế theo hướng bền vững của tỉnh giai đoạn 10 năm 2005-2015
* Phương pháp hệ thống hoá: Phương pháp này được sử dụng trong
phần tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến phát triển kinh tế theo hướng bền vững (Chương 1) Từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác nhau, tác giả luận văn sử dụng phương pháp hệ thống hóa để phân loại các loại tài liệu thành những nhóm khác nhau để tổng hợp, nghiên cứu, tham khảo từ đó
Trang 15xác định được “cái mới” của đề tài, tập trung khai thác và làm rõ trong nội dung luận văn
* Phương pháp thực địa: Trong quá trình thực hiện đề tài sử dụng
phương pháp này để kiểm tra độ chính xác, tin cậy của các nguồn tài liệu đã thu thập được.Các nguồn tài liệu cần thu thập tương đối đa dạng, phong phú cần chọn lọc chính xác Đối với công tác nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội, trước hết cần quan tâm đến các dạng thông tin sau: Số liệu thống kê, các bản
đồ, các dạng khác (trên mạng, những cuộc điều tra…)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển theo hướng bền vững nói chung và phát triển kinh tế bền vững ở cấp địa phương như: nội dung, tiêu chí, mối quan hệ qua đó góp phần làm rõ các quan điểm phát triển kinh tế theo hướng bền vững
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế theo hướng bền vững tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005 - 2015, từ đó chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếuđối với phát triển kinh tế của tỉnh
- Phân tích bối cảnh quốc tế, bối cảnh khu vực và bối cảnh trong nước tác động đến phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình trong thời gian tới
- Đưa ra các quan điểm, đề xuất các mục tiêu, định hướng và giải pháp khoa học, khả thiđể phát triển kinh tế theo hướng bền vững tỉnh Thái Bình đặt trong bối cảnh hội nhập
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương, gồm các chương sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững;
- Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005-2015;
- Chương 3: Định hướng, mục tiêu, phương hướng và giải pháp phát
triển kinh tế tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế bền vững
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Sự giàu có của bất kỳ đất nước nào trong thế kỷ XXI sẽ được xây dựng chủ yếu trên nền tảng văn minh về trí tuệ của con người, nó khác với trước đây là dựa vào sự giàu có nguồn tài nguyên thiên nhiên Ngày nay, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, sự quan tâm chủ yếu của con người không phải là khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra năng suất và sản lượng bằng mọi giá Trái lại, vấn đề năng suất và sản lượng phải được tạo ra do sự phát triển cân đối cùng với việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau Cách nghĩ
ấy được coi là "tư duy bền vững" và cách làm ấy được coi là "hành động cho
sự phát triển bền vững" và đang được mọi quốc gia, mọi khu vực luôn tìm
cách vươn tới Phát triển bền vững là đòi hỏi cao nhất đối với phát triển kinh
tế - xã hội của mọi quóc gia cũng như của từng lãnh thổ trong mỗi quốc gia
Một thời gian dài vào những năm 60-70 của thế kỷ XX xuất phát từ yêu cầu của một thể thống nhất trong quá trình phát triển người ta đã sử dụng thuật ngữ "phát triển đồng bộ", tức là mọi đối tượng phát triển đồng thời, đầy
đủ trong mối tương quan trong hệ thống Thời gian sau này để tránh những gò
ép trong khi thực hiện đồng bộ cứng nhắc và cũng là xuất phát từ yêu cầu về
Trang 17sự nhịp nhàng, hài hòa, cân đối trong phát triển mà vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra, các nhà kinh tế học đã sử dụng thuật ngữ "phát triển cân đối" Yêu cầu của phát triển cân đối là các bộ phận trong hệ thống phát triển một cách cân bằng, phụ thuộc lẫn nhau và chi phối ràng buộc nhau một cách lỏng lẻo hơn, cốt nhất là sự phối hợp với nhau để cùng đạt được hiệu quả Quan điểm này rất thịnh hành ở các nước phương Tây vào những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ XX
Nhiều năm gần đây, khi mà môi trường sống của con người bị phá hủy, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, tầng ozôn bị phá hủy do phát triển công nghiệp quá tải, tình trạng đói nghèo và tệ nạn thất nghiệp không giảm và rất nhiều vấn đề xã hội khác phát sinh thì người ta nghĩ tới cái" ngưỡng" của sự phát triển Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện và ngày nay đang được thịnh hành Phát triển để thỏa mãn những nhu cầu của hôm nay mà không tổn hại đến sự phat triển của tương lai là đòi hỏi lớn lao đối với nhân loại khi lựa chọn các quyết sách về sự phát triển nhằm đạt được cả 3 mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường Trong điều kiện bình thường tính nhân văn trong phát triển phải được tôn trọng và đảm bảo trên thực tế Các tính toán của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải dựa trên yêu cầu bền vững của sự đan kết các yếu tố phát triển( đảm bảo tính liên ngành, liên vùng) nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn thế mọi hoạt động cần phải được tổ chức khoa học
Sau những thảm họa về môi trường và và những bài học về sự trả giá:"sự trả thù của tự nhiên"(Ph ăng ghen), con người nhận ra rằng: nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận Những áp lực nảy sinh trong quá trình phát triển, làm tổn hại về môi trường sinh thái đã đặt nhân loại trước những thách thức to lớn, những độ dốc cần phải vượt để hướng tới sự phát triển bền vững
Trang 18Đến những năm 80 của thế kỷ XX, lý luận về sự phát triển bền vững được hình thành về cơ bản.Năm 1980, trong báo cáo chiến lược về "bảo vệ thế giới" lần đầu tiên người ta chính thức sử dụng khái niệm phát triển bền vững.Năm 1981 nhà khoa học nông nghiệp người Mỹ L.R.Brown xuất bản
một tác phẩm nổi tiếng “xây dựng một xã hội bền vững”
Năm1987, Liên Hiệp quốc thành lập ủy ban môi trường và Phát triển thế giới (WCED) Năm 1987, tổ chức này đã đệ trình lên Đại hội đồng bảo an Liên hiệp quốc khóa 42 bản báo cáo" Tương lai chung của chúng ta" báo cáo
này lần đầu tiên chính thức sử dụng khái niệm bền vững và được hiểu là" thỏa
mãn nhu cầu của thé hệ chúng ta nhưng không thể hy sinh nhu cầu của thế hệ sau" Ủy ban của Liên hiệp quốc về môi trường xác định phát triển bền vững
là:" sự phát triển đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của chúng ta trong việc thỏa mãn những nhu cầu đó trong tương lai".Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả,
xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội
phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh
tế - xã hội - môi trường
Tuyên bố Rio đã làm rõ định nghĩa trên coi sự phát triển bền vững là "sự phát triển đáp ưng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ"
Còn theo giáo sư Lê Thạc Cán: " Phát triển bền vững là phát triển trong
đó tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của thế hệ đang sống, nhưng vẫn đảm bảo các điều kiện cần thiết cho các thế hệ tương lai"
Một dự án nâng cao năng lực Việt Nam của Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định: "Sự phát triển nhằm đáp ứng được như cầu của Việt Nam hiện nay,
Trang 19trong khi vẫn bảo tồn được các hệ sinh thái cần cho cuộc sống, vì lợi ích của các thế hệ mai sau"
Khái niệm phát triển bền vững với ba nội dung (xã hội, kinh tế, môi trường) đã cảnh tỉnh nhân loại hiện nay không nên gây cản trở cho sự phát
triển của chính mình cũng như của các thế hệ tương lai Phát triển bền vững
không bao giờ là một khái niệm tuyệt đối và luôn là mục tiêu cần phấn đấu; nội dung cụ thể của quá trình tăng trưởng bền vững không chỉ thay đổi theo từng khu vực trên thế giới mà còn luôn tiến triển cùng với sự phát triển của tri thức và giá trị đang tồn tại trong các xã hội hiện nay
Phát triển bền vững cũng có ý nghĩa rộng hơn bảo vệ môi trường nghĩa
là chú ý tới lợi ích lâu dài."Môi trường" là nơi có con người sống và hoạt động còn "phát triển bền vững" là quá trình vận động của mối quan hệ giữa con người và môi trường theo chiều hướng làm cho môi trường ngày càng tốt hơn và bền vững hơn Vì vậy, môi trường và phát triển là hai mặt của vấn đề"Phát triển bền vững"tạo nên một thể thống nhất không thể tách rời nhau được
Tuy còn những vấn đề chưa được thống nhất cao, thậm chí còn gây tranh cãi, nhưng các định nghĩa này đều chỉ ra cái ngưỡng của sự phối hợp 3 mặt đó là: Tăng trưởng kinh tế; công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Sự phát triển hôm nay không thể quá vì những lợi ích trước mắt mà làm tổn hại đến tương lai, chà đạp lên yêu cầu chung của cộng đồng, của hiệu quả tổng thể mai sau Lợi ích các bộ phận phải tuân thủ lợi ích toàn cục lâu dài Đó là những nguyên tắc cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội Thực tế chỉ ra rằng, đứng trên quan điểm như vậy đời sống vật chất và mặt bằng dân trí quyết định rất nhiều tới phát triển bền vững
1.1.2 Ba trụ cột chủ yếu để phát PTBV
Trang 20- Bền vững về kinh tế: Đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch
- Bền vững về xã hội: Là phải xây dựng một xã hội trong đó nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong
đó giáo dục - đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội
- Bền vững về tài nguyên và môi trường: Là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cảvề số lượng và chất lượng các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái
và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường sạch
Có thể khẳngđịnh: "phát triển bền vững" là một ý niệm, khái niệm vô cùng hữu ích, đáng lưu tâm Nhưng nếu chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, và tăng trưởng kinh tế là hoàn toàn chưa đủ, chưa khai thác hết sự quan trọng của khái niệm, ý niệm "bền vững".Ý niệm ấy
sẽ hữu ích hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là xã hội (gồm cả yếu tố văn hóa)
Do vậy, nếu ta khẳng định có một mối liên kết giữa kinh tế - xã hội và môi trường, rộng ra là vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội (trong đó có vốn con người), thì hủy hoại vốn văn hóa và vốn xã hội cũng là hủy hoại vốn kinh tế Nói cách khác, những mất mát, suy đồi không thể phục hồi của văn hóa và xã hội chắc chắn sẽ đe dọa sự bền vững của phát triển kinh tế
Trang 21Phát triển bền vững không chỉ là vấn đề lý luận được các nhà kinh tế học trên thế giới nghiên cứu, quan tâm mà tại Việt Nam phát triển bền vững được Đảng và Nhà nước ta chú trọng và thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng.Trong lúc nhiều quốc gia trên thế giới đang đi theo con đường phát triển bền vững thường chỉ chú trọng tới tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường thì Đảng ta còn nhấn mạnh thêm vấn đề phát triển văn hóa và củng cố an ninh, quốc phòng Đây là một trong những đặc điểm cơ bản trong quan điểm của Đảng về phát triển bền vững, phù hợp với nền văn hiến và truyền thống của dân tộc Việt Nam là dựng nước phải đi đôi với giữ nước Đại hội VI đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong nhận thức của Đảng về phát triển đất nước, vì đây là lần đầu tiên Đảng yêu cầu phải có sự thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác Quan điểm đó của Đảng hoàn toàn phù hợp với quan niệm của thế giới
về phát triển bền vững
1.1.3 Nguyên tắc cơ bản về phát triển bền vững
- Con người là trung tâm của phát triển bền vững: Nguyên tắc quán
triệt nhất trong mọi giai đoạn phát triển là đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để đạt được nguyên tắc này, cần phải dựa vào tăng trưởng kinh tế, song sự tăng trưởng kinh tế lại phải được đặt trên nền tảng sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên, bảo tồn và cải thiện môi trường, không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Bên cạnh đó, phải coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, kết hợp hài hoà xã hội, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường lâu
bền Đồng thời, cần từng bước thực hiện nguyên tắc"Mọi mặt cùng có lợi"
- Bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển: Để thực hiện được điều này, cần xây dựng
Trang 22hệ thống pháp luật có hiệu lực về bảo vệ môi trường, chủ động gắn kết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự
án phát triển kinh tế-xã hội; coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chí quan trọng đánh giá đánh giá các giải pháp phát triển Mặt khác, cần tích cực và chủ động ngăn chặn, phòng ngừa những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra và áp dụng nguyên tắc "Người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn"
- Phát triển phải đảm bảo đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của
thế hệ hiện tại và không gây trở ngại đối với cuộc sống của thế hệ tương lai:
Đây được coi là nguyên tắc không thể thiếu để đạt được sự phát triển bền vững Theo lý giải của các chuyên gia, nội dung của nguyên tắc này là tạo điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận với những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, trí thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo được, giữ gìn và cải thiện môi trường, phát triển hệ thống sản xuất thân thiện với môi trường, xây dựng một lối sống lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên
- Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững đất nước: Với phương châm của
nguyên tắc này là công nghệ hiện đại và thân thiện với môi trường cần được
ưu tiên sử dụng ở những ngành và lĩnh vực có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy phát triển nhiều ngành và lĩnh vực khác
- Sự nỗ lực của tất cả cộng đồng: Rõ ràng, để đạt được sự phát triển
bền vững, không thể chỉ là nỗ lực của một cấp, ngành nào đó, mà là sự nghiệp của toàn dân, của các bộ, ngành, các cấp Đây cũng là một nguyên tắc không thể thiếu cùng với các nguyên tắc khác liên quan đến việc mở rộng quan hệ
Trang 23hợp tác quốc tế và kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường với đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội
1.1.4 Các chỉ tiêu xác định phát triển bền vững
Theo Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển (Brundtland Commision), thước đo đánh giá tính chất bền vững của phát triển, thể hiện trên các góc độ đo lường sau:
- Ở góc độ kinh tế và môi trường, có khái niệm GDP xanh (green
GDP) dựa trên cơ sở thước đo kinh tế truyền thống GDP nhưng bổ khuyết thêm những khía cạnh mà thước đo GDP đã bỏ qua những tình trạng ô nhiễm
và rác thải chẳng hạn, vốn là những vấn đề tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống thường nhật của con người Các chỉ tiêu đó bao gồm các chỉ tiêu phản ánh mức độ hủy hoại môi trường, sự bảo vệ môi trường và sự thay đổi của nguồn vốn tự nhiên
- Góc độ đo lường sự bền vững về mặt xã hội như tính minh bạch, sự
tin cậy, mức độ an toàn của cuộc sống v.v vẫn còn đang trong quá trình tìm tòi mà chưa có được hệ thống các chỉ tiêu mang tính chuẩn mực và phổ cập Tình trạng thiếu thốn các thước đo cũng đang góp phần làm tính bền vững cho phát triển chưa có được sự quan tâm đầy đủ, trong khi các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn vẫn đang là mối quan tâm hàng đầu trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia
Tuy nhiên, việc đánh giá trên thực tế rất khó khăn và đôi khi vướng mắc ngay từ trong quan niệm Chẳng hạn, thật khó xếp những chi phí bảo vệ môi trường vào loại tiêu dùng trung gian hay tiêu dùng cuối cùng Do đó, để
áp dụng các tiêu chí này vào việc đánh giá cụ thể từng địa phương, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và đòi hỏi phải có những điều tra khảo sát, thu thập số liệu, con người , nguồn lực kinh phí và tình hình cụ thể của mỗi tỉnh, thành phố và mỗi địa phương Chẳng hạn như đối với các tỉnh đồng bằng, không có
Trang 24rừng, thì diện tích che phủ có thể được tính toán lượng hóa bằng diện tích trồng cây phân tán, diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày, diện tích rừng ngập mặn phòng hộ ven biên Hoặc khi đánh giá sự phát triển bền vững về kinh tế người ta có thể sử dụng thêm các chỉ tiêu như: Các chỉ tiêu phản ánh
về mức độ mở cửa của quốc gia( chỉ số kinh tế mở) hoặc tiêu hao năng lượng bình quân trên giá trị GDP hoặc GRDP, mức độ nợ quốc gia và nợ công v.v Vì đề tài luận văn với mục tiêu và đối tượng là nghiên cứu phát triển về kinh tế một địa phương cụ thể, do đó luận văn sẽ làm rõ nội dung này ở phần nghiên cứu tiếp dưới đây
1.2 Phát triển kinh tế theo hướng bền vững
1.2.1 Nội dung phát triển kinh tế theo hướng bền vững
Về mặt kinh tế, mục tiêu phát triển bền vững hàm ý rằng nền kinh tế phải có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng phải gắn với phát triển hiệu quả và đặc biệt phải ổn định, tránh gây những cú sốc lớn đối với nền kinh tế
Tiêu chí tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững phải được thể hiện cùng một lúc cả yêu cầu về số và chất lượng tăng trưởng Điều đó có nghĩa là: Phải thể hiển ở khả năng duy trì một cách lâu dài, bền bỉ tốc độ tăng trưởng phải được đặt ra xứng tầm của nó Bền vững trong tăng trưởng chỉ đạt được khi tăng trưởng nhưng phải có hiệu quả, hay tạo ra các giá trị đóng góp ngày càng lớn Số lượng tăng trưởng thường đo lường bằng các chỉ số mang tính truyền thống như mức và tốc độ tăng trưởng GDP Chất lượng tăng trưởng cần nhấn mạnh đến các tiêu chí như:
- Hiệu quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng: Tức là so sánh kết quả đạt được
về tăng trưởng kinh tế với chi phí để thực hiện nó, hay nói theo cách của kinh tế học
là cái giá trả cho thực hiện sự tăng trưởng GDP Các chỉ tiêu so sánh có thể thực hiện được như năng suất lao động (hiệu quả sử dụng lao động), suất đầu tư tăng trưởng (hiệu quả sử dụng vốn)…
Trang 25- Cấu trúc tăng trưởng GDP và cơ cấu ngành kinh tế: Đây là yếu tố phản ánh khá rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế Cấu trúc tăng trưởng phán ánh xu thế hiệu quả và bền vững của các yếu tố bên trong cấu thành tăng trưởng GDP, đó là cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào, cấu trúc tăng trưởng theo đầu ra và cấu trúc tăng trưởng theo ngành Kết quả của cấu trúc tăng trưởng theo ngành phản ánh qua cơ cấu ngành kinh tế Thông thường, hàm lượng công nghệ cao và chế biến sâu trở thành động lực chính của tăng trưởng và quyết định một nội dung về chất của cơ cấu kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế có thể được thực hiển bởi các phương thức khác nhau
và từ đó dẫn đến các kết quả khác nhau Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế không gắn với sự thúc đẩy phát triển cơ cấu kinh tế thì sẽ gây tác động nguy hại, không những không làm gia tăng mà còn có thể làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, do vậy tăng trưởng chỉ là kết quả về mặt ngắn hạn, không thể bền vững
về dài hạn Do vậy, các quốc gia đều đặt ra mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, có thể sử dụng các công cụ kinh tế để tác động vào các nhân tố tăng trưởng sau đây:
+ Tăng đầu tư xã hội cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ;
+ Tăng số lượng và quy mô hoạt động của các doanh nghiệp;
+ Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật;
+ Kích thích động lực lao động
1.2.2 Các chính sách nhằm thực hiện phát triển bền vững kinh tế ở Việt Nam
Về kinh tế Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách được thể chế hóa bằng luật và các văn bản dưới luật nhằm thực hiện Định hướng chiến lược phát triển bền vững Trong giai đoạn kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, các chính sách tiếp tục hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong toàn nền kinh tế, các ngành và lĩnh vực, cũng như các địa phương trong điều kiện hội nhập Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã kết thúc đàm phán và chính thức ký kết
Trang 26việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Việt Nam chính thức trở thành nước thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 1/1/2007, đánh dấu một mốc quan trọng đưa Việt Nam tham gia sâu toàn diện vào nền kinh tế thế giới, hội nhập cùng cộng đồng quốc tế.Các chính sách trong điều kiện đó vừa hướng tới việc tiếp tục mở cửa thị trường thông thoáng hơn với thế giới và cả trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á, với nhiều giải pháp chính sách quan trọng Trong những năm qua, hàng loạt các chính sách đã được ban hành trong nước nhằm tạo điều kiện cho Việt Nam có thể tận dụng được cơ hội mới, với các lợi thế so sánh mới khi thị trường ngày càng rộng mở tới hơn
150 nước thành viên của WTO và ký kết các Hiệp định song phương với các nước ngoài WTO Nhờ vậy, thương mại và đầu tư đã được đẩy mạnh, bộ mặt kinh tế đất nước đã được cải thiện cả về quy mô kinh tế, quy mô xuất khẩu, năng lực cạnh tranh sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh và quản lý Ở trong nước, để đón thời cơ này, chỉ riêng năm 2005, Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp thống nhất cho mọi loại hình kinh tế công và tư, được đánh giá cao ở trong và ngoài nước Các thủ tục hành chính cũng không ngừng được tinh giản để các doanh nghiệp có thể thành lập với các thủ tục một cửa, tiếp cận thị trường và tín dụng thuận lợi, thuận lợi trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế hay thủ tục xuất nhập khẩu Nhờ việc hoàn thiện các văn bản chính sách nói trên, vị thế của môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung đã được cải thiện trong tương quan giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế Trong bối cảnh thế giới đã lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu (2007 - 2008), gây nhiều tác động bất lợi về thương mại, đầu tư đến nền kinh tế trong nước, Việt Nam đã tiến hành nhiều điều chỉnh chính sách kinh tế để vừa phát triển sản xuất kinh doanh, vừa đưa lạm phát về mức thấp, cùng với tăng trưởng ở tốc độ hợp lý, bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hướng tới phát triển
Trang 27bền vững Trong hai năm gần đây, tình hình kinh tế được cải thiện, một phần quan trọng nhờ có chính sách kinh tế đúng và điều hành tốt của các cấp chính quyền, sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân và cộng đồng quốc tế
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững kinh tế
- Bộ chỉ thị của Uỷ ban phát triển bền vững Liên hiệp quốc (CDS)
Uỷ ban PTBV của LHQ (CSD) được ra đời năm 1992 do sự ủng hộ của Hội đồng Kinh tế và Xã hội thuộc LHQ và là kết quả trực tiếp của Hội nghị LHQ về môi trường và phát triển Một yếu tố quan trọng trong hoạt động của
Uỷ ban này là tập trung vào việc xây dựng và thử nghiệm một bộ gồm 58 tiêu chí (lúc đầu là 134) Bộ tiêu chí này đã bao quát các khía cạnh xã hội, môi trường, kinh tế và thể chế của phát triển bền vững Đây là bộ chỉ thị được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam lựa chọn để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho quốc gia mình
Bảng 1.1: Bộ chỉ thị PTBV về kinh tế của Uỷ ban Phát triển bền vững
LHQ (UN CSD)
1 GDP bình quân đầu người
2 Tỷ lệ đầu tư trong GDP
3 Cán cân thương mại hàng hoá và dịch vụ
4 Tỷ lệ nợ trong GNP
5 Tổng viện trợ ODA hoặc nhận viện trợ ODA so với GNP
6 Mức độ sử dụng vật chất
7 Tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người/ năm
8 Tỷ lệ tiêu dùng nguồn năng lượng có thể tái sinh
9 Mức độ sử dụng năng lượng
Nguồn: Uỷ ban phát triển bền vững Liên hiệp quốc (CDS)
Trang 28- Quyết định số 2157/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương giai đoạn 2013-2020
Tại Quyết định trên trong 28 chỉ tiêu chung, có chỉ tiêu tổng hợp là chỉ số phát triển con người, chỉ tiêu về lĩnh vực kinh tế,chỉ tiêu về lĩnh vực xã hội, chỉ tiêu về lĩnh vực tài nguyên và môi trường Các chỉ tiêu về lĩnh vực kinh tế tại
Bảng 1.2, đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế khuyến khích chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp
của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tốc độ tăng trưởng chung; mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị tổng sản phẩm trên địa bàn.Chỉ tiêu về
xã hội gồm: Tỷ lệ hộ nghèo; tỷ lệ thất nghiệp; tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo; tỷ lệ người dân đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; tỷ lệ xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới; số người chết do tai nạn giao thông Trong chỉ tiêu đặc thù vùng quy định rõ các chỉ tiêu cho từng vùng miền như: vùng trung du, miền núi; vùng đồng bằng; vùng ven biển; đô thị trực thuộc trung ương và nông thôn
Bảng 1.2: Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững kinh tế địa
phương giai đoạn 2013-2020
2 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) Hệ số
3 Năng suất lao động xã hội Triệu đồng /lao động
4 Tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách trên địa bàn %
Trang 29- Tổng hợp chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững kinh tế đối với các địa phương nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng
Qua bảng danh mục các chỉ tiêu được thống kê ở mục trên, tác giả nhận thấy
để xây dựng bảng chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững cần phù hợp với mục tiêu phát triển của tỉnh trong quá khứ để đối chiếu so sánh cũng như trong các định hướng tương lai và các chỉ tiêu này phải phù hợp với
hệ thống chỉ tiêu quốc gia, vì vậy tác giả đưa ra 7 chỉ tiêu để đánh giá phát triển bền vững kinh tế tỉnh Thái Bình như bảng sau:
Bảng 1.3: Chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững kinh tế tỉnh Thái Bình
3 Tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách trên địa bàn %
4 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) %
5 Năng suất lao động xã hội Triệu đồng/người
6 Tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách trên địa bàn %
7 Diện tích đất lúa được bảo vệ và duy trì (theo Nghị
triển của tỉnh Thái Bình trong thời gian qua sẽ được trình bày ở chương 2
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THÁI BÌNH
106039 độ kinh Đông Từ Tây sang Đông dài 54 km, từ Bắc xuống Nam dài
49 km
Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của Vùng KTTĐ Bắc Bộ, Tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, hành lang Hải Phòng - Hà Nội - Lạng Sơn - Nam Ninh và Vành đai kinh tế ven vịnh Bắc bộ,
có đường biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh tế Khoảng cách từ Thái Bình tới TP Hải Phòng là 70 km và thủ đô Hà Nội 110 km Đây
là 2 thị trường tiêu thụ rộng lớn (nhất là nông sản thực phẩm và lao động), là trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật, kinh nghiệm quản trị, chuyển giao công nghệ và cung cấp thông tin cho Thái Bình
Đánh giá: Vị trí địa lý như trên tạo điều kiện thuận lợi cho Thái Bình
phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong vùng, cả nước và quốc tế; song cũng là một thách thức lớn đối với Thái Bình trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Trang 312.1.1.2 Địa hình
Thái Bình thuộc châu thổ ĐBSH, có địa hình tương đối bằng phẳng với
độ dốc nhỏ hơn 1% (trên 1km), quá trình biến thiên phổ biến từ 1-2 m so với mặt biển Nhìn chung, toàn tỉnh có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, nhưng
ở từng khu vực có địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung
Đánh giá: Là tỉnh đồng bằng cộng với yếu tố địa hình thuận lợi giúp Thái
Bình phát huy được lợi thế tối đa của tỉnh là sản xuất nông nghiệp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
2.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới của đồng bằng ven biển, chịu ảnh hưởng của gió mùa Mùa hè nóng bức, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 23 - 24o
C, nhiệt độ thấp nhất ở mức 4oC và cao nhất tới 38 - 39oC Về mùa đông thường ấm hơn những tỉnh nằm sâu trong đất liền Số giờ nắng trong năm từ 1600 - 1800 giờ Lượng mưa trung bình năm từ 1500 mm - 1900 mm, cao nhất 2528 mm và thấp nhất là 1173 mm Độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm từ 80 - 90%
Đánh giá: Điều kiện khí hậu của tỉnh rất thích hợp với các loại cây
nhiệt đới, phát triển các loại rau màu có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên,trước các tác động của biến đổi khó lường của khí hậu sẽ là thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
2.1.1.4 Tài nguyên
- Tài nguyên đất: Đất đai của Thái Bình chủ yếu là đất bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Trên tổng thể đất có 5 loại, bao gồm: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở dân cư và đất chưa
sử dụng Diện tích đất tự nhiên phân bổ tương đối đồng đều giữa các huyện từ
20 - 25 ngàn ha/huyện Thành phố Thái Bình là đơn vị hành chính có diện tích
Trang 32nhỏ nhất khoảng 6.771 ha Hai huyện ven biển là Tiền Hải và Thái Thụy có điều kiện mở rộng diện tích lấn ra biển là lợi thế so sánh của tỉnh Thái Bình
Đánh giá: Đất đai của tỉnh màu mỡ là điều kiện thuận lợi để phát triển
nền nông nghiệp toàn diện, với cơ cấu cây trồng vật nuôi phong phú, đa dạng
- Tài nguyên nước:Tỉnh Thái Bình có 04 con sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý và 12 con sông nhỏ với tổng chiều dài là 498 km Nguồn nước ngầm trong lòng đất tuy chưa có số liệu điều tra cơ bản, nhưng dự báo trữ lượng khá lớn
Đánh giá: Nguồn nước của Thái Bình tương đối dồi dào, có khả năng
đáp ứng cho sản xuất và đời sống ở mức tăng trưởng cao.Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh cần có những giải pháp toàn diện để duy trì được chất lượng nguồn nước tốt
- Tài nguyên thủy sản: Thái Bình nằm trong vùng biển thuộc ngư trường đánh bắt vịnh Bắc Bộ, có trữ lượng hải sản khoảng 40 - 50 vạn tấn Thái Bình
có hơn 50 km bờ biển, có 5 cửa sông lớn: Cửa sông Thái Bình, Diêm Điền, Trà Lý, cửa Lân, cửa Ba Lạt, nhiều bãi ngang rộng và hàng chục ngàn km vùng lãnh hải Khu vực cửa sông và ven bờ có khả năng lớn về nuôi trồng thủy sản như tôm, cua, sò, nghêu Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có khoảng hơn 6.000 ha ao, hồ nằm xen kẽ trong thổ cư, ven làng và hàng ngàn ha mặt nước của 04 sông lớn chảy qua có thể khai thác cho sản lượng không nhỏ nếu được đầu tư vốn và kỹ thuật cho nông dân
Đánh giá: Thái Bình có nguồn lợi thuỷ sản phong phú và đa dạng gồm
thuỷ sản nước ngọt, thuỷ sản nước lợ và nước mặn tạo điều kiện thuận lợi cho Thái Bình khai thác và nuôi trồng tổng hợp nguồn lợi này khá lớn
- Tài nguyên khoáng sản: Mỏ khí Tiền Hải C khai thác từ năm 1981 với sản lượng bình quân cung cấp mỗi năm khoảng trên 20 triệu m3 khí thiên nhiên Lượng khí này được khai thác chủ yếu phục vụ cho phát triển công
Trang 33nghiệp sản xuất đồ sứ tráng men, vật liệu xây dựng ở khu công nghiệp Tiền Hải Mỏ khí D14 sông Trà Lý cách thị trấn Tiền Hải và khu công nghiệp khí đốt Tiền Hải khoảng 5-6 km do Công ty Anzoi phát hiện năm 1996 đang được khai thác phục vụ cho khu công nghiệp khí đốt Tiền Hải, hiện nay trữ lượng
và áp suất khí đang giảm dần
Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu 400 m có trữ lượng khoảng 12 triệu
m3, đã khai thác từ năm 1992, với sản lượng khai thác hàng năm khoảng hơn
10 triệu lít đã được thị trường trong và ngoài nước biết đến với các nhãn hiệu nước khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải
Trong lòng đất tỉnh Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng ĐBSH, được đánh giá có trữ lượng rất lớn (hơn 58 tỷ tấn) nhưng phân bố ở độ sâu 600-1000m Đây là tiềm năng, lợi thế của tỉnh trong những năm tới khi Khoa học kỹ thuật phát triển Chính phủ đã cho phép Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam triển khai thăm dò, thử nghiệm công nghệ than sâu tại Tiền Hải
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có đất sét để làm gốm, có một số mỏ khoáng sản như Titan nhưng đang ở giai đoạn thăm dò trữ lượng
Đánh giá: Thái Bình không có nhiều mỏ quặng kim loại như một số địa
phương khác trong vùng đồng bằng Sông Hồng Tuy nhiên, nguồn tài nguyên của tỉnh lại khá phong phú Công nghệ khoa học ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi sẽ là cơ sở để ngành công nghiệp khai khoáng của tỉnh phát triển trong thời gian tới
- Tài nguyên du lịch: Thái Bình có cảnh quan thiên nhiên tương đối thuần khiết của miền Đồng bằng ven biển, có các cồn đảo ven biển như cồn Vành, cồn Thủ, cồn Đen Rừng ngập mặn Thụy Trường, Nam Phú - nơi dừng chân của các loài chim quý, cảnh thiên nhiên hoang dã Các lễ hội truyền thống và những công trình văn hoá đã được xếp hạng quốc gia như chùa Keo, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, từ đường Lê Quý Đôn, đền thờ, lăng mộ, nơi
Trang 34phát tích của nhà Trần tại huyện Hưng Hà, nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Tân Hoà (Vũ Thư), Nam Cường (Tiền Hải) Thái Bình có gần 82 lễ hội đặc sắc của quê hương, 16 loại hát múa, nghệ thuật cổ truyền như: chiếu chèo “làng Khuốc”, múa rối nước “làng Nguyễn” (Đông Hưng) và làng vườn Bách Thuận (Vũ Thư)
Đánh giá: Thái Bình là tỉnh đồng bằng và có biển, ngoài ra lại có khá
nhiều công trình văn hóa được xếp hạng di tích quốc gia và có nhiều lễ hội truyền thống Đây sẽ là những lợi thế để thu hút khách du lịch tới tỉnh
- Tài nguyên con người:
+ Dân số: Quy mô dân số tỉnh Thái Bình tương đối ổn định, nhiều năm
qua duy trì ở mức trên 1,7 triệu dân, trong đó dân đô thị chiếm 13,4%, dân số nông thôn chiếm 86,6% Mật độ dân số là 1.138,16 người/km2 cao hơn mật độ dân số trung bình của vùng ĐBSH (mật độ dân số của vùng là 961,36 người/km2
) Cùng với cả nước, Thái Bình cũng đang trong thời kỳ có cơ cấu dân số “vàng"
+ Về quy mô lao động: Nguồn lao động của tỉnh chiếm tỷ lệ khá cao so
với dân số (bình quân 78%), trong đó lao động trong độ tuổi lao động chiếm bình quân 60% so với dân số Từ năm 2010-2015, dự kiến lao động trong độ tuổi tăng từ 1.055 nghìn người lên 1.073 nghìn người, bình quân mỗi năm tăng khoảng 3,6 nghìn lao động, với tốc độ tăng 0,34%/năm
+ Chất lượng lao động: Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh tăng từ
42% năm 2010 lên 50,5% năm 2013, đạt 55% năm 2015 trong đó qua đào tạo nghề lần lượt từ 29% lên 36,5%, tăng lên 41,5% Công tác xã hội hóa hoạt động đào tạo nhân lực được đẩy mạnh, huy động được sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động đào tạo nhân lực; thực hiện tốt các chính sách, ưu đãi thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng, chính sách hỗ trợ tài chính cho học sinh, sinh viên
Trang 35Đánh giá: Quy mô dân số Thái Bình thuộc loại cao của Vùng đồng
bằng sông Hồng Quy mô dân số lớn là lợi thế về thị trường tiêu thụ sản phẩm.Thái Bình có nguồn lao động dồi dào có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra áp lực về giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn vẫn đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu cũng như trong cả nước
2.1.2 Đánh giá kết quả phát triển kinh tế của tỉnh trong thời gian qua
2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế: Do chịu tác động từ khó khăn
chung của kinh tế vĩ mô cả nước nên tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình trong giai đoạn qua cũng bị chững lại, tăng trưởng bình quân chung toàn tỉnh (giá so sánh 2010)giai đoạn 2011-2015 đạt 7,6%/năm Quy mô kinh tế năm 2015 (giá
so sánh 2010) gấp gần 1,5 lần so với năm 2010
- Thu nhập bình quân đầu người: Mức sống dân cư của tỉnh từng bước
được cải thiện Năm 2010, GRDP/người (giá hiện hành) đạt khoảng 16,3 triệu đồng/năm, năm 2013 đạt 24 triệu đồng,năm 2014 đạt 26,5 triệu đồng/năm, năm 2015 đạt 29,2 triệu đồng tương đương khoảng 1.380 USD
Bảng 2.1 Hiện trạng quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Chỉ tiêu
Năm
2010 2013 2014 2015 Giai đoạn
2011-2015 Tổng GRDP
Trang 362.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a) Thực trạng phát triển ngành nông - lâm - thủy sản
- Ngành sản xuất nông nghiệp
+Về đảm bảo an ninh lương thực: Trong thời gian qua tỉnh đã tập trung
chỉ đạo, thực hiện các biện pháp thay đổi mạnh về cơ cấu giống, trà vụ và tích cực phòng trừ dịch bệnh nên năng suất lúa đạt cao và ổn định từ 130 tạ/ha trở lên Mặc dù diện tích trồng lúa hàng năm giảm để chuyển đổi sang nuôi trồng các cây, con khác có hiệu quả kinh tế cao hơn nhưng sản lượng lương thực liên tục ổn định trên 1 triệu tấn/năm,đảm bảo an ninh lương thực cho Tỉnh và góp phần vào ổn định an ninh lương thực Quốc gia
+ Chuyển dịch cơ cấu cây trồng,vật nuôi: Cơ cấu giống lúa và thời vụ
gieo cấy tiếp tục có sự chuyển biến mạnh mẽ; năm 2010 diện tích lúa dài ngày
vụ xuân chiếm 10,9%, vụ mùa chiếm 3,87%; đến năm 2014 diện tích lúa dài ngày vụ xuân chiếm 4,62%, vụ mùa chiếm 3,33% Các vùng chuyển đổi (trừ
mô hình trồng cây ăn quả và dâu, cói) đều mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa, bước đầu tạo ra vùng sản xuất hàng hóa, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, góp phần xóa đói giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân
Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình 2011-2015
Trang 37Nguồn: Sở KH& ĐT tỉnh Thái Bình năm 2015
Xây dựng và phát triển cánh đồng mẫu lớnđạt kết quả khá tích cực, kết quả bước đầu đã giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân và hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và mối liên kết giữa nhà sản xuất
và nhà tiêu thụ sản phẩm nông sản
+ Xây dựng các cơ chế chính sách thúc đẩy sản xuất nông nghiệp: Tỉnh
Thái Bìnhđã tiến hành hỗ trợ sản xuất giống, sử dụng giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, mua máy móc công cụ sản xuất nông nghiệp, đầu tư xây dựng kiên cố kênh mương, xây dựng vùng sản xuất tập trung Trong những năm qua nhờ xây dựng các cơ chế chính sách hợp lý đã tạo cho sản xuất nông nghiệp có sự thay đổi về chất khá rõ nét Tỉnh Thái Bình đã hoàn thành quy hoạch vùng lúa chất lượng cao, vùng cây màu và cây vụ đông; các xã trong tỉnhxây dựng nông thôn mới hoàn thành thực hiện phương án dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tăng trưởng nhanh và bền vững
+ Chăn nuôi đạt tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng
trong ngành nông nghiệp và từng bước hình thành ngành sản xuất chính:
Phương thức chăn nuôi đang được thay đổi tích cực theo hướng phát triển chăn nuôi trang trại, áp dụng phương pháp công nghiệp, từng bước thay thế cho chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng Công tác phòng, chống dịch bệnh được củng
cố tăng cường với nhiều biện pháp đồng bộ, quyết liệt, do vậy một số dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc và gia cầm tuy có xảy ra nhưng ở quy mô
Trang 38nhỏ và được khống chế kịp thời, thiệt hại không đáng kể Sản lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm năm 2015 đạt 230 nghìn tấn, tăng 22,1% so với năm 2010
+ Chuyển dịch về phương thức sản xuất nông nghiệp:Trên địa bàn
tỉnhđã hình thành các mô hình liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp và các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, nông dân trong việc sản xuất tiêu thụ lúa giống, lúa Nhật; phát triển hình thức hợp tác chăn nuôi gia công giữa các chủ trang trại với các doanh nghiệp trong và ngoài nước Ngoài ra còn hình thức hợp tác theo nhóm gắn kết chăn nuôi theo chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm ở 8
xã với 52 nhóm VIETGAHP và 1.008 hộ tham gia
- Ngành sản xuất lâm nghiệp
+ Về bảo vệ rừng: Những năm gần đây công tác quản lý bảo vệ rừng được
thực hiện rất tốt, lực lượng bảo vệ rừng các xã cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát theo lịch được phân công, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm.Tuy nhiên vẫn còn một số hiện tượng chăn thả gia súc, lấy củi khô trong rừng ngập mặn, đánh bắt hải sản trong rừng mới trồng là một trong những nguyên nhân làm cho rừng mới trồng có tỷ lệ sống thấp
+ Trồng rừng: Tổng diện tích rừng trồng trên địa bàn ven biển Thái
Bình là 5.679 ha; trong đó rừng trồng trên cạn là 1.405 ha, rừng ngập mặn 4.161,56 ha Tổng diện tích rừng phòng hộ nội đồng là 1.947 ha (diện tích quy ra theo số cây trồng phân tán cứ 2000 cây tương đương 1ha) chủ yếu được trồng bằng nguồn vốn của chương trình 661
- Ngành nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản
Sản xuất thủy sản phát triển ổn định cả về nuôi trồng và khai thác Diện tích nuôi trồng thủy hải sản được mở rộng từ 13.366 ha năm 2010 tăng lên 15.119 ha năm 2015 Sản lượng thuỷ sản năm 2015 đạt 168,5 nghìn tấn, gấp 1,5 lần so với năm 2010, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 114,3 nghìn tấn (gấp 1,6lần), sản lượng khai thác đạt 54,2 nghìn tấn (gấp 1,2 lần) Đến năm
2015 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 60 nghìn tấn
Trang 39Thủy sản phát triển ổn định trên cả ba lĩnh vực: nuôi trồng, khai thác và dịch vụ đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế nông – lâm – thủy sản của tỉnh; giá trị sản xuất ngành thủy sản (theo giá CĐ1994) năm 2013 đạt 1.049,2 tỷ đồng, năm 2015 đạt 1.112,6 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 8,5%/năm
b) Thực trạng phát triển ngành công nghiệp - xây dựng và đô thị
Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức, sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn duy trì và tiếp tục phát triển ổn định Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Thái Bìnhnăm 2015 (giá cố định 1994) đạt 16.275,3 tỷ đồng, gấp 1,6 lần năm 2010, bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng 9,9%/năm, trong đó khu vực kinh tế vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh 21,9%/năm, khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 5,8%/năm, khu vực kinh tế nhà nước giảm 0,32%/năm
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 6 khu công nghiệp và 31 cụm công nghiệp được quy hoạch chi tiết với tổng diện tích 1.820,35 ha, thu hút được 295 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 20.959,41 tỷ đồng, trong đó có 240 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh với tổng vốn đăng kí 12.149,8 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 78 nghìn lao động; giá trị sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp đóng góp trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp cả tỉnh
Nghề và làng nghề vẫn duy trì phát triển Đến nay, toàn tỉnh tăng thêm
13 làng nghề so với năm 2010, nâng tổng số làng nghề được công nhận đạt tiêu chuẩn lên 242 làng nghề Bên cạnh việc phát triển các làng nghề truyền thống, trong những năm qua đã du nhập thêm một số nghề mới: dệt chiếu ni lông, móc sợi góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho lao động nông thôn Giá trị sản xuất trong các làng nghề đóng góp khoảng 21-22% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, tạo việc làm cho khoảng 148,8 nghìn lao động
Trang 40c) Thực trạng phát triển ngành thương mại dịch vụ
- Khu vực dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng khá và ổn định Công tác xúc tiến thương mại và quản lý thị trường được tăng cường, thị trường xuất khẩu tiếp tục được giữ vững và mở rộng, một số trung tâm thương mại, siêu thị, chợ nông thôn được đầu tư xây dựng, nâng cấp góp phần đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Năm 2015, tỉnh thu hút trên 2 triệu lượt khách (trong đó có trên 25.000 lượt khách quốc tế), tổng doanh thu ước đạt 588,3 tỷ đồng Lượng khách du lịch tăng 22,5%/năm, doanh thu du lịch tăng 21,8%/năm;Giá trị sản xuất khu vực dịch vụ năm 2015 (giá cố định 1994) đạt 6.352 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 5 năm (2011-2015) đạt 7,8%/năm
- Thương mại phát triển tương đối toàn diện trong giai đoạn 2011-2015, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 28.605 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 15,9%/năm; kim ngạch xuất khẩu đạt 1.270 triệu USD, gấp 2,6 lần năm 2010, tăng 20,9%/năm, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.280 triệu USD, tăng bình quân 23,6%/năm; Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chuyển dịch tích cực, tỷ trọng hàng chế biến tăng dần
d) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
- Cơ cấu kinh tế theo ngành: Năm 2015, tỷ trọng ngành nông nghiệp
trong GRDP giảm còn 33,9%; tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng lên 66,1% Sản xuất nông nghiệp mặc dù có tỷ trọng giảm dần, nhưng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ước đạt 3,36%/năm giai đoạn 2011-2015; Quy mô giá trị sản xuất không ngừng tăng lên năm 2013 (theo giá cố định 1994) đạt 6.536,2 tỷ đồng, năm 2015 đạt 7.013,6 tỷ đồng gấp 1,18 lần so năm 2010