41 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NÉT CẢI BIẾN TRONG ĐÁM CƯỚI CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN .... Với mong muốn góp phần công sức nhỏ giúp mọi người hiểu rõ th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ÔN THỊ LAN HƯƠNG
TÌM HIỂU TỤC CƯỚI XIN CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU
Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ÔN THỊ LAN HƯƠNG
TÌM HIỂU TỤC CƯỚI XIN CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU
Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Bùi Thị Nguyệt Quỳnh
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh - giảng viên môn Lịch sử Việt Nam khoa Sử Địa đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, thư viện trường Đại học Tây Bắc, tập thể sinh viên lớp K52 Đại học sư phạm Lịch sử cùng toàn thể bạn bè giúp đỡ, góp ý kiến trong quá trình thực hiện đề tài
Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bác, các cô chú ở huyện Tam Đảo, thư viện huyện Tam Đảo, thư viện tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu và cung cấp nhiều thông tin quan trọng Do thời gian hoàn thiện còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhật được
sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Ôn Thị Lan Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích, phương pháp nghiên cứu 3
4 Đóng góp của đề tài 5
5 Cấu trúc 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG1: KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC 6
1.1 Khái quát về huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc 6
1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 6
1.1.2 Khái quát về lịch sử hình thành huyện Tam Đảo 8
1.1.3 Truyền thống đấu tranh của nhân dân Tam Đảo 10
1.2 Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc 12
1.2.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình tộc người 12
1.2.2 Đặc trưng văn hoá truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc 13
CHƯƠNG 2: TỤC CƯỚI XIN CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC 24
2.1 Chọn con dâu của người Sán Dìu 24
2.2 Quan niệm về hôn nhân và cưới hỏi của người Sán Dìu 25
2.3 Chọn ông bà mối (Sgoi Moi nhin) 26
2.4 Các bước tiến hành cưới hỏi 27
2.4.1 Lễ dạm hỏi (Hị Sú Nghen Shang) 27
2.4.2 Lễ đón Lục Mệnh (Hị Hạ Thênh) 27
2.4.3 Lễ ăn hỏi (Mun nghen cạ) 28
2.4.4 Lễ sang bạc (Cộ nghen) 28
Trang 52.4.5 Lễ gánh gà (Tam cay) 29
2.4.6 Lễ cưới chính thức (Shênh ca chíu) 30
2.5 Nghi lễ sau khi cưới 40
2.5.1 Lễ lại mặt (Thap quác chéc) 40
2.5.2 Lễ nhận mặt ông, bà mối (Sgêch chuy thooi chíu) 41
2.6 Một số bài hát giao duyên (sọong cô) được hát trong đám cưới 41
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NÉT CẢI BIẾN TRONG ĐÁM CƯỚI CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN 43
3.1: Một số cải biến trong tục cưới xin hiện nay của người Sán Dìu huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc 43
3.2 Một số nhận xét về tục cưới xin của người Sán Dìu huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc 46
3.2.1 Các giá trị văn hoá trong tục cưới xin truyền thống 46
3.2.2 Một vài yếu tố tiêu cực trong tục cưới xin truyền thống 48
3.3 Một số kiến nghị trong việc bảo tồn tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo – Vĩnh Phúc 49
KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ẢNH
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo ra, nó tồn tại cùng sự phát triển của xã hội loài người Một trong những khía cạnh của văn hoá là đời sống văn hoá tinh thần của con người, trong đó gần gũi nhất liên quan mật thiết tới từng cá nhân trong cộng đồng mà con người ai cũng phải trải qua Các nghi thức liên quan đến quá trình phát triển của con người gồm có các nghi thức trong dân gian như sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin và ma chay, trong đó cưới xin là một hiện tượng văn hóa đặc sắc
Đề cập đến văn hóa dân tộc mình Đảng đã có nhận thức “Tình cảm dân
tộc, tâm lí dân tộc sẽ tồn tại lâu dài và là lĩnh vực nhạy cảm nhất” Đảng ta chỉ
rõ “Bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam gồm những giá trị bền vững, những
tinh hoa được vun đắp nên qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”[6 ; 22
- 23] Đời sống văn hóa là lĩnh vực đặc biệt quan trọng của xã hội loài người, hình thành, tồn tại cùng sự phát triển của xã hội
Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
đứng trước xu thế hội nhập “Văn hóa ngày càng liên quan chặt chẽ đến ổn định
xã hội, an ninh quốc gia và dân tộc để phát triển toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội” [10 ; 30] Chính vì vậy việc giữ gìn và phát huy truyền
thống văn hóa dân tộc chính là trách nhiệm, bổn phận của mỗi người Cũng có nghĩa là việc tìm hiểu nghiên cứu về văn hóa dân tộc là quan trọng, đặc biệt là quốc gia đa dân tộc như Việt Nam
Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, tồn tại và phát triển đã tạo nên nền văn hoá phong phú đặc sắc có bề dày lịch sử Đóng góp vào “tấm thảm dệt màu sắc văn hoá hài hoà ấy” dân tộc Sán Dìu là một trong những dân tộc thiểu số có vai trò và vị trí nhất định tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam
Dân tộc Sán Dìu không phải là dân tộc bản địa, mà là dân tộc thiên di từ Trung Quốc xuống Việt Nam từ khoảng hơn 300 năm cách ngày nay theo nhiều
Trang 7con đường khác nhau Theo thống kê năm 2003, thì người Sán Dìu cư trú ở nhiều tỉnh thuộc khu vực Trung du niền núi Bắc Bộ như: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang và Vĩnh Phúc Ở Vĩnh Phúc cư dân Sán Dìu sống tập trung chủ yếu ở huyện Tam Đảo, ở đây chiếm khoảng 90% dân tộc Sán Dìu của toàn tỉnh Vĩnh Phúc
Tuy là một dân tộc thiểu số nhưng dân tộc Sán Dìu đã góp phần không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế cho tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và
cả nước nói chung Tuy nhiên cho đến nay những hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của người Sán Dìu vẫn còn hạn chế, nhất là vấn đề cưới xin Vì thế ta cần phải đi sâu tìm tòi, nghiên cứu đề có những hiểu biết căn bản để khắc phục những hiểu biết chưa cụ thể về tục cưới xin của người Sán Dìu ở Tam Đảo – Vĩnh Phúc
Từ nhận thức lí luận, ý nghĩa khoa học cũng như giá trị thực tiễn Trên cơ
sở tư liệu thu thập được và bản thân là một người con của dân tộc Sán Dìu đã được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của văn hoá Sán Dìu, tôi cảm nhận được sự giản dị, giàu tình cảm của nền văn hóa ấy Tuy nhiên, một số văn hoá truyền thống của dân tộc không được giới trẻ trong cộng đồng dân tộc Sán Dìu chú ý đến, điều này có thể ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy truyền thống dân tộc của văn hoá Sán Dìu Vì lí do trên đã thôi thúc tôi mạnh dạn tìm hiểu và lựa
chọn đề tài: “Tìm hiểu tục cưới xin của dân tộc Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc” Với mong muốn góp phần công sức nhỏ giúp mọi người hiểu rõ thêm về
tục cưới xin của dân tộc Sán Dìu ở huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những năm gần đây việc nghiên cứu văn hoá, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam được đẩy mạnh và thu được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hoá Việt Nam, trong
đó dân tộc Sán Dìu cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả như:
Cuốn “Bản sắc văn hoá các dân tộc Việt Nam” của Nguyễn Hoàng _NXB dân tộc học (1940) tác giả đã viết đặc trưng một số dân tộc qua các mẩu truyện
Trang 8ngắn Trong tác phẩm của ông có một phần viết về câu chuyện viết về “Người chủ của những chiếc xe quyệt” chính là viết về dân tộc Sán Dìu ở một số khía cạnh như dân số, tên gọi, sự du nhập, tục lệ, tín ngưỡng một cách khái quát nhất
Cuốn “Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam” của Nguyễn Văn Huy,
đã đề cập một cách khái quát 54 dân tộc Việt Nam trong đó có dân tộc Sán Dìu Tuy nhiên cuốn sách mới chỉ nói một cách khái quát về phong tục của người Sán Dìu
Cuốn “Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc” của Lâm Quang Hùng_NXB hội khoa học lịch sử Vĩnh Phúc Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến tục cưới xin tuy nhiên mới là khái quát tục lệ này
Trong cuốn “Văn hoá dân tộc thiểu số Vĩnh Phúc” của Lâm Quý_ NXB
sở văn hoá thông tin Vĩnh Phúc (2005) Đã nhắc đến một cách sơ lược những nét văn hoá truyền thống của dân tộc Sán Dìu sống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của tác giả các cơ quan ban ngành khác của huyện Tam Đảo và của tỉnh Vĩnh Phúc Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu ít quan tâm hoặc chưa đi sâu tìm hiểu một cách kĩ càng về tục cưới xin của người Sán Dìu nói chung và nhất là người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
Vì vậy đề tài “Tìm hiểu tục cưới xin của dân tộc Sán Dìu huyện Tam
Đảo tỉnh Vĩnh Phúc” sẽ góp phần làm rõ vấn đề ta quan tâm, đề tài cũng góp phần
giáo dục truyền thống văn hoá, ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc Sán Dìu
cho thế hệ trẻ người Sán Dìu ở Tam Đảo – Vĩnh Phúc
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích, phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành lịch sử Việt Nam, lĩnh vực lịch sử địa phương, cụ thể hơn là đề tài tập trung nghiên cứu phong tục cưới xin và các
nghi thức trong cưới xin của người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 93.3 Mục đích nghiên cứu
Dân tộc Sán Dìu trên phạm vi cả nước đã được giới nghiên cứu dân tộc học và văn hoá học chú ý, nghiên cứu bởi những nét độc đáo, khác biệt trong sinh hoạt văn hoá của họ Tuy nhiên, văn hoá là một phạm trù vô cùng rộng lớn,
và đặc trưng văn hoá của người Sán Dìu ở mỗi vùng miền lại có nhiều điểm khác biệt Vì vậy, em đã chọn đề tài này với mong muốn góp phần gìn giữ những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc trên mọi miền Tổ quốc Việt Nam Đề tài tập trung tìm hiểu về tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo và đặc biệt là giải pháp góp phần khôi phục và bảo tồn những nét đặc trưng trong tập quán này Đề tài sẽ trả lời các câu hỏi mà thực tiễn đặt ra là: Tập quán này có ý nghĩa gì trong cộng đồng người Sán Dìu ở Tam Đảo? Xu hướng biến đổi hiện nay là gì? Cần phải làm gì để khôi phục và bảo tồn tập quán này? Qua đây, em xin đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp để công tác này trở nên có ý nghĩa hơn với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc
Sán Dìu ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc nói riêng
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài Bước đầu tìm hiểu tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc được thực hiện trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê - nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước về văn hoá dân tộc Việc tìm hiểu tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo trong khoá luận này nhất nhất tuân thủ những quan điểm của phương pháp duy vật lịch sử Tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo – Vĩnh Phúc được nhìn nhận trong những bối cảnh tự nhiên, xã hội cụ thể, ở các giai đoạn lịch sử cụ thể Nó được nhìn nhận trong trạng thái vận động, với nguyên tắc xem xét của quan hệ lượng chất, quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng, giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở đây được xem xét trong các mối quan hệ với tự nhiên, xã hội, các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đường lối và chính sách dân tộc, tác động của các trào lưu phát triển, đổi mới, mở cửa, hội nhập… Điền dã Dân tộc học là phương
Trang 10pháp chủ đạo được em sử dụng để hoàn thành khoá luận này Thông qua các đợt điền dã tại các xã để tìm hiểu thu thập tư liệu về tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo và những biến đổi của nó, ảnh hưởng của nó hiện nay Để bổ sung tài liệu và có điều kiện so sánh, nghiên cứu thư tịch được em chú trọng trong quá trình hoàn thành khoá luận này Các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh được em sử dụng để xử lý tư liệu, phục vụ
biên soạn khoá luận
4 Đóng góp của đề tài
Đóng góp của đề tài Đề tài góp thêm nguồn tư liệu giúp tìm hiểu, nghiên cứu về văn hoá Sán Dìu nói chung và tập quán cưới xin nói riêng Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể sẽ là cơ sở giúp các cơ quan quản lý văn hoá tham khảo trong quá trình điều chỉnh, bổ sung, rà soát để thực hiện công tác khôi phục,
bảo tồn tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo
5 Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thì nội dung khoá luận gồm có ba chương
Chương 1:
Khái quát về nguồn gốc lịch sử và đời sống văn hoá của dân tộc Sán Dìu
ở huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC
1.1 Khái quát về huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Huyện Tam Đảo nằm chính giữa phía bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, gần ngã ba ranh giới của tỉnh Vĩnh Phúc với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, phía nam giáp huyện Bình Xuyên, tây nam giáp huyện Tam Dương, phía tây giáp huyện Lập Thạch, phía tây bắc giáp huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang, phía bắc và đông bắc giáp huyện Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên Bản đồ huyện chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Huyện Tam Đảo là một huyện miền núi, nằm phía Tây Bắc của dãy núi Tam Đảo Diện tích tự nhiên của huyện là 23.641,60ha (236,42 km²), trong đó có hơn 120km2
Trang 12Khí hậu
Do địa hình phức tạp, nhất là sự khác biệt về địa hình giữa vùng núi cao với đồng bằng thấp ven sông nên khí hậu, thời tiết của huyện Tam Đảo được chia thành hai tiểu vùng rõ rệt: Tiểu vùng miền núi; Tiểu vùng khí hậu vùng thấp (các tiểu vùng về khí hậu không trùng với địa giới hành chính cấp xã)
Cụ thể:
Tiểu vùng miền núi, gồm toàn bộ vùng núi Tam Đảo thuộc trị trấn Tam Đảo và và phần giáp chân núi của các xã Minh Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình 180
C-190C, độ ẩm cao, quanh năm có sương mù tạo cảnh quan đẹp Khí hậu tiểu vùng miền núi mang sắc thái của khí hậu ôn đới, tạo lợi thế trong phát triển nông nghiệp với các sản vật ôn đới và hình thành các khu nghỉ mát, phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng vào mùa hè
Tiểu vùng khí hậu vùng thấp, bao gồm phần đồng bằng của các xã Minh Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù và toàn bộ diện tích của các xã còn lại Tiểu vùng khí hậu của vùng mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí tuyến vùng Đông Bắc Bắc Bộ Nhiệt độ của tiểu vùng trung bình ở mức 220
mùa đông chủ đạo là gió mùa Đông Bắc
Cảnh quan môi trường
Huyện Tam Đảo có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có thế mạnh trong phát triển du lịch và xây dựng các khu nghỉ mát như: Vùng núi tự nhiên Tam Đảo quanh năm có mây mù bao phủ tạo ra cảnh quan thiên nhiên nên thơ, huyền
bí Có các công trình tự nhiên và nhân tạo, tạo cảnh quan đẹp như: Một số thác nước và mặt nước các công trình thuỷ lợi Thác Bạc, Hồ Xạ Hương, Hồ Vĩnh Thành Cột phát sóng truyền hình Tam Đảo ở độ cao trên 1200m là một công
Trang 13trình kiến trúc có thể phát triển thành khu tham quan du lịch Ngoài ra, trong vùng còn có các khu rừng tự nhiên, có vườn quốc gia Tam Đảo rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái Từ điều kiện thời tiết, khí hậu và các cảnh quan tự nhiên đẹp, đầu thế kỷ XX, người Pháp đã phát hiện và xây dựng ở vùng núi Tam Đảo một khu nghỉ mát ở độ cao 900m - 950m và từ đó đến nay, Tam Đảo đã trở
thành một địa danh du lịch nổi tiếng ở Việt Nam
Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi ở Tam Đảo tuy nhỏ nhưng thuận lợi cho việc phục vụ tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, huyện Tam Đảo có hai đập chứa nước lớn là hồ Xạ Hương và hồ Làng Hà ngoài
Năm 1890 toàn quyền Đông Dương Pôn Đu Me thành lập tỉnh Vĩnh Yên, Vĩnh Yên có phủ Vĩnh Tường và huyện: Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch
Tháng 2 - 1950 tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập, Bình Xuyên và Tam Dương lúc này thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Đầu năm 1968 Vĩnh Phúc với Phú Thọ sát nhập với nhau thành tỉnh Vĩnh Phú hai huyện này thuộc Vĩnh Phú
Tháng 10 - 1977, huyện Bình Xuyên hợp nhất với Yên Lạc thành Mê Linh, Tam Dương hợp nhất với Lập Thạch thành Tam Đảo
Trang 14Tháng 6 - 1988 Tam Đảo tách thành Tam Dương và Bình Xuyên Như vậy đến thời điểm này huyện Tam Đảo cũ đã không còn nữa
Huyện Tam Đảo mới được thành lập theo nghị định số 153/2003/NĐ-CP ngày 9 – 12 - 2003 của chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiện nay huyện gồm có 9 đơn vị hành chính gồm : một thị trấn Tam Đảo và 8 xã ( Đạo Trù, Bồ Lý, Đaị Đình, Hồ Sơn, Tam Quan, Hợp Châu, Minh Quang, Yên
Dương)
Tình hình dân cư, kinh tế, xã hội huyện Tam Đảo:
Về dân cư, Tam Đảo là nơi cư trú của các dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Cao Lan mỗi dân tộc với những nét độc đáo riêng về văn hóa và những nét tương đồng nhau sau quá trình sống đan xen nhau tạo nên tính đa dạng về văn hóa trên địa bàn huyện cùng nhau xây dựng và phát triển kinh tế của huyện
Dân số năm 2010 dân số của toàn huyện Tam Đảo là 71.528 người, mật
độ dân số trung bình là 303 người/km2
, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 41,9% So với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Vĩnh Phúc thì Tam Đảo là một trong các huyện có mật độ dân số thấp Mật độ dân số không đều giữa các
xã trong huyện, dân cư tập trung cao ở các xã vùng thấp và thưa thớt tại vùng thị
trấn Tam Đảo, các thôn, xóm vùng ven núi của các xã vùng đồng bằng
Các dân tộc với những nét văn hóa riêng sống cộng cư với nhau tạo nên tính đa văn hóa trên địa bàn huyện Các dân tộc trong huyện cùng nhau sản xuất xây dựng và phát triển kinh tế Do địa hình đa dạng nên hoạt động sản xuất khá phong phú Ngoài làm ruộng là nghề truyền thống thì bên cạnh đó còn một số nghề thủ công cũng phát triển như làm ngói, đúc gang, nghề mộc, đan lát, thêu thùa Ở Tam Đảo do được thiên nhiên ưu đãi thời tiết mát mẻ nên ngoài những cây nông sản như lúa, ngô, khoai, sắn, thì còn chú trọng sản xuất các loại rau quả có lợi thế như rau su su, măng tre, nhiều đặc sản khác như dứa, chè, vải, mít, các loại thú quý như hươu, nai, hoẵng…
Cư dân nơi đây dựng lên những công trình văn hóa độc đáo và sáng tạo Rải giác trong toàn huyện có nhiều công trình văn hóa vừa mang tính chất lịch
Trang 15sử vừa có giá trị nghệ thuật cao Ví dụ quần thể đình ở xã Tam Canh, hệ thống
chùa Tây Thiên, Thiền Viện trúc lâm
1.1.3 Truyền thống đấu tranh của nhân dân Tam Đảo
Cũng như nhân dân cả nước nhân dân Tam Đảo sẵn có truyền thống yêu nước đấu tranh chống ngoại xâm Ngay từ các thế kỉ đầu công nguyên, nhân dân các xã ở Tam Đảo đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược Nam Hán do Hai Bà Trưng lãnh đạo
Ngược dòng lịch sử, ngày 3/2/1930 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân trong đó có nhiều người con quê hương Tam Đảo ngày nay Mười lăm năm sau, nhất là giai đoạn 1939-1945 nhân dân ta chịu cảnh một cổ hai chòng đô hộ
và đàn áp dã man Thời kỳ này nhiều làng xã của thị xã Vĩnh Yên, Tam Dương, Lập Thạch, Bình Xuyên (hiện nay có một số thuộc Tam Đảo) đã thành lập được mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc, các đội tự vệ và là căn cứ của huyện, tỉnh, Trung Ương sau này Các phong trào chống sưu cao thuế nặng, bắt đi lính,
đi phu phát triển và bị Nhật, Pháp đàn áp mạnh ở nhiều nơi như ở xã Tam Quan… càng tạo sự căm phẫn trong nhân dân Khi Nhật đảo chính Pháp, Trung Ương có chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, với phương châm “Bám lấy nạn đói mà cổ động quần chúng lên đường đấu tranh”, nhân dân trong huyện đã mở đầu cao trào kháng Nhật cứu nước bằng các cuộc biểu tình phá kho thóc để cứu nạn đói, tiêu biểu như: Phá kho thóc Cầu Tre (Hồ Sơn); Kho Miêu Duệ, Kho Ấp Dần (Đại Đình)… bị phá, hàng nghìn thùng thóc được chia cho nhân dân; tiếp đến là diễn thuyết công khai của Việt Minh về chính sách của Đảng cho đông đảo nhân dân Do vậy, phong trào đã phát triển mạnh, nhiều vùng đất đã về tay cách mạng, nhiều trận đánh đã làm địch khiếp sợ như đội quân Phạm Hồng Thái và binh sĩ yêu nước địa phương đã tiêu diệt một tiểu đội Nhật ở đồn Tam Đảo, giải phóng trên 1000 tù nhân vào 16 - 7 - 1945 Đến cuối tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng ở địa phương hoàn toàn làm chủ mảnh đất của mình và điều căn bản là đã đập tan chế độ áp bức bất công mở ra
Trang 16kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của dân tộc và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ngay trên quê hương mình Tuy số đảng viên ít nhưng những người cộng sản Tam Đảo đã trở thành hạt nhân lãnh đạo quần chúng đứng lên cùng với cả nước làm cuộc cách mạng thần thánh
Bước vào giai đoạn 1945 - 1954, cả nước bắt tay vào xây dựng và củng cố chính quyền, giải quyết nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm Giai đoạn này, Chi bộ Đảng được thành lập ở hầu hết các xã trong huyện, nhiều đảng viên mới được kết nạp, hàng nghìn thanh niên Tam Đảo lên đường bảo vệ quê hương, đất nước Dưới sự lãnh đạo của các Chi bộ Đảng chủ trương đưa giáo viên lên các xã miền núi, vùng sâu xoá nạn mù chữ được thực hiện có hiệu quả
Giai đoạn 1954 - 1975 đất nước tạm thời chia thành hai miền, miền Bắc từ
vĩ tuyến 17 được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm tồn tại dưới chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ Cùng với nhân dân cả nước, các chi bộ Đảng và nhân dân Tam Đảo khắc phục khó khăn thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, hoàn thành cải cách ruộng đất, sản xuất được khôi phục, lòng tin của nhân dân vào chế độ mới được củng cố, văn hóa – xã hội có bước phát triển mới, nhất là giáo dục đã góp phần củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), chính sách hậu phương chi viện cho tiền tuyến được nhân dân trong huyện hưởng ứng mạnh mẽ…
Từ 1964 - 1968 Đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, trong đó có nhiều điểm của huyện nằm trong kế hoạch đánh phá của giặc Mỹ như Yên Dương, Đạo Trù, Tam Đảo, Tam Quan… Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, các Chi bộ Đảng và nhân dân các dân tộc trong huyện thực hiện lấy phòng là chủ yếu, còn lực lượng vũ trang thì lấy chống và đánh là chủ yếu Kết quả đã đào được hàng trăm hầm trú ẩn trên trục đường giao thông, hố tránh máy bay, các gia đình, trường học đều có hầm trú ẩn… Tam Đảo còn được tiếp đón nhiều
bộ, ngành Trung Ương, của tỉnh về sơ tán tại Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Bồ
Lý, Yên Dương… Tiếp nối truyền thống anh dũng quân và dân Tam Đảo dưới
sự lãnh đạo thống nhất của các Chi bộ Đảng đã nêu cao tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu Trong bốn năm chống chiến tranh phá hoại lực lượng du
Trang 17kích của huyện đã bắn máy bay nhiều trận, tiêu biểu là trận địa 12,7 ly trên núi Shan Chấy Thòi của Trung đội dân quân dân tộc Sán Dìu, xã Đạo Trù, bắn rơi máy bay phản lực F4D của Mỹ Đây là chiến công oanh liệt của quân và dân Tam Đảo Thời kỳ lên đường kháng chiến chống Mỹ để làm nên ngày 30 - 4 -
1975 lịch sử, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thu về một mối cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bước sang thời kì đất nước độc lập phát triển mạnh trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đồng bào Sán Dìu nói riêng và các anh em dân tộc trong toàn huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc nói chung luôn gắn bó với Đảng,
xây dựng quê hương giàu đẹp qua các thời kì
1.2 Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình tộc người
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc gồm có 54 dân tộc, sống đoàn kết với nhau cùng nhau xây dựng và phát triển đất nước và dân tộc Sán Dìu là một trong những dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở khu vực miền Bắc nước ta
Dân tộc Sán Dìu có nhiều tên gọi khác nhau như “Shan deo nhin” (Sơn dao nhân) người Sán dìu, Trại đất (Người trại ở nhà đất) để phân biệt với người trại ở nhà cao, nhà sàn (Cao Lan, Dao), mán quần cộc, mán váy xẻ (dựa theo trang phục) Tên gọi của người Sán Dìu chủ yếu dựa vào đặc điểm canh tác, loại hình nhà ở hay đặc điểm của trang phục của họ [3 ; 143]
Người Sán Dìu di cư từ Trung Quốc vào nước ta từ khá sớm Theo lời kể của những người già và sự ghi chép trong gia phả của người Sán Dìu thì dân tộc Sán Dìu là tộc người thiểu số sống ở miền nam Trung Quốc thuộc vùng Quảng Đông, Quảng Tây Do không chịu được sự áp bức thống trị của bọn quan địa phương cùng với nạn giặc dã liên miên, nên người Sán Dìu đã phải phân tán, một bộ phận đã vượt biên sang Việt Nam vào khoảng 300 năm cách đây và sống định cư ở nhiều khu vực khác nhau Như vậy là người Sán dìu ở Việt Nam nói chung và người sán dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang
Trang 18Năm 1960 nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức công nhận tên gọi của tộc người này là dân tộc Sán Dìu Hiện nay người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc cư trú xen kẽ với tộc người Kinh, sống tập trung thành các làng xóm Trải qua nhiều biến động của Lịch sử, dân tộc Sán Dìu vẫn giữ được những nét văn hóa tốt đẹp, truyền thống của dân tộc mình
Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Sán Dìu nằm trong ngữ hệ Hán - Tạng, nhóm ngôn ngữ Hán, dựa vào chữ Hán người Sán Dìu sáng tạo ra chữ Nôm Sán Dìu để ghi chép Trong giai đoạn hiện nay người Sán Dìu đã biết dùng
hệ thống chữ cái La tinh ghép vào để phiên âm tiếng nói của mình, vì vậy dễ dàng hơn trong việc ghi chép cũng như truyền bá văn hóa của mình so với hệ thống chữ nôm
Người Sán Dìu ở Tam Đảo sống thành các làng nhỏ (Son) ven chân núi Tam Đảo, họ đến đây từ rất sớm
Theo tác giả StéPhane Leguc viết trong bài: “Vài nhận xét về cư dân và sự tiến triển của dân số vùng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) trong nửa đầu thế kỉ XX”
nghiên cứu lịch sử số 2,3 tháng 3 và tháng 5 năm 1999 đã khẳng định: “ Vùng
chân núi Tam Đảo đa phần là người Sán Dìu chọn để sinh sống Họ đã đến định
cư từ rất sớm trên mảnh đất Vĩnh Phúc, người Sán Dìu coi đây là một vùng đất
có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý nên đồng bào đã sinh cơ lập nghiệp và sống
định cư ở vùng đất này” [12 ; 44, 49]
1.2.2 Đặc trưng văn hoá truyền thống của người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
Văn hoá vật chất
Người Sán Dìu thường sống thành các làng gọi là Son Mỗi làng có
khoảng 200 - 300 hộ gia đình Các làng được thiết lập ở các triền đồi, nhà dựa lưng vào núi đồi Các con đường dân sinh đi vào các làng thường xuyên được tu
bổ, xung quanh làng có lũy tre bao bọc Cấu trúc của một làng của người Sán Dìu gồm có nhà ở, vườn, giếng nước và đường giao thông, suối nước, trong mỗi làng có một đình, miếu hoặc chùa
Trang 19Nhà ở
Nhà ở của người Sán Dìu làm theo quy mô nhỏ một hộ gia đình, trước kia nhà được đắp đất giống nhà của người dân tộc Kinh Thời xưa nhà của người Sán Dìu chủ yếu là nhà đắp vách, các vách tường được dùng bằng cây nứa chẻ
ra buộc với nhau thành ô vuông nhỏ, sau đó lấy rơm khô trộn với đất vàng và nước lấy hỗn hợp đó đắp lên những ô nứa đó, miết phẳng tạo thành bức tường, còn mái nhà thì được lợp bằng rơm rạ, cỏ tranh hoặc lá cọ Tùy theo điều kiện kinh tế và số người trong gia đình mà làm ngôi nhà được làm to hay nhỏ, nhiều hay ít gian Nhà của người Sán Dìu thường làm theo số gian lẻ như ba gian hai trái hoặc là năm gian Người Sán Dìu kiêng làm nhà có số gian chẵn như hai
gian hoặc bốn gian
Trang phục
Không sặc sỡ và thêu thùa cầu kỳ nhiều hoa văn, màu sắc như một số dân tộc khác, bộ trang phục truyền thống của người Sán Dìu khá đơn giản mà vẫn đẹp mắt, gọn gàng và từ đó toát lên vẻ mạnh mẽ khoẻ khoắn.Trang phục của Người Sán Dìu là một nét đặc trưng văn hóa của người Sán Dìu và nó thể hiện khác nhau trên mỗi bộ trang phục của nam và nữ giới
Nữ giới: Trang phục truyền thống của người Sán Dìu gồm khăn đội đầu,
áo dài ngang đầu gối, áo ngắn mặc bên trong, ngực đeo yếm trắng, váy xẻ nhiều lớp dài đến ngang đầu gối, bắp chân cuốn xà cạp trắng Váy áo đều màu chàm thắt lưng bằng dải lụa xanh đỏ Ve áo nẹp bằng vải trắng tạo thành hai vết trắng mềm mại hình chữ "V" mở từ hai vai khép lại ở thắt lưng ngang eo bụng Áo dài
có bốn thân, cổ bẻ có nẹp trơn Và đặc biệt thông qua cách mặc áo có sự phân biệt giữa người có chồng và người chưa có chồng Với những bộ trang phục truyền thống ngày xưa đều do bàn tay người phụ nữ tự khâu, xong cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ dần thay thế sức lao động của con người thì
nó mới được may bằng máy Những bộ váy áo này nhìn như có vẻ đơn giản như vậy nhưng thực tế thì đòi hỏi người thợ may cũng phải có những kỹ năng và cách may thật khéo léo làm sao cho những đường xếp của chiếc váy không co, rúm "Đặc biệt chiếc váy của người phụ nữ Sán Dìu thời xưa là váy xẻ miếng
Trang 20Người ta xếp những miếng vải chàm chồng lên nhau ở phần trên rồi khâu lại có dây dải buộc vào eo lưng Phần dưới để xếp, không khâu chỉ Váy chỉ dài đến đầu gối thường là năm hoặc bảy miếng vải xếp lại Hiện nay họ may váy có hai mảnh xếp phía trước và phía sau lồng vào nhau ở hai bên Với kiểu váy này khiến người phụ nữ luôn luôn phải giữ ý tứ khi lao động cũng như khi đi đứng
Kèm theo bộ trang phục, người phụ nữ Sán Dìu còn một số đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay, xà tích nhẫn bạc, túi đựng trầu Hầu hết phụ nữ Sán Dìu ngày xưa nhuộm răng đen ăn trầu Cái túi trầu cũng là một đồ trang sức với dây đeo dài khoảng 15cm, túi được khâu hình múi bưởi, có dây luồn vào miệng túi
để rút đóng và mở túi ra khi ăn trầu Hai quai túi được dệt bằng chỉ xanh đỏ nhiều hoa văn đẹp, đầu quai có tua chỉ xanh đỏ thường được quàng vào cổ để phía trước ngực thuận lợi khi ăn trầu cau Khi đi đường họ vắt ra phía lưng hoặc buộc vào thắt lưng cho tiện Miệng túi trầu được thêu nhiều hoa văn đẹp
Nam giới: Trang phục của đàn ông Sán Dìu lại đơn giản, mộc mạc hơn nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp khoẻ khoắn, mạnh mẽ Quần, áo có màu chàm, áo được may theo kiểu bà ba, có hai túi rộng; quần dài, cạp chun, ống quần rất rộng
để thuận lợi cho việc leo núi, làm nương
Những bộ trang phục đó được người Sán Dìu mặc thường ngày, trong các hoạt động, mọi sự kiện bởi đó là những thứ trang phục duy nhất mà họ có Song trong những ngày lễ tết, ngày hội, đám cưới, hay trong những buổi hát giao duyên người Sán Dìu xúng xính trong những bộ trang phục mới hơn ngày thường Điều đáng chú ý là bộ trang phục của người Sán Dìu do chính đôi bàn tay người phụ nữ Sán Dìu nhuộm để cho vải may trang phục có những màu sắc ưng ý Theo bà Diệp Thị Vòng – Thôn Tân Phú xã Đạo Trù cho biết: "ngày xưa vào tháng 1 hàng năm người phụ nữ dân tộc Sán Dìu lại đi phát nương, trồng cây tràm, tới tháng 6, tháng 7 thì thu hoạch về, tán ra trộn với nước vôi sau thu được nước tràm cái, sau đó mua vải thô, mộc về nhuộm Nếu thuận nắng thì có thể trong một tháng thì xong nhưng nếu thời tiết xấu phải làm đi làm lại vài lần mới được."
Trang 21Trong xu thế hội nhập giao thoa văn hoá, sự ảnh hưởng lẫn nhau của các cộng đồng dân tộc là một điều tất yếu, tuy nhiên mặt trái của nó là sự mai một bản sắc dân tộc, hầu như các thế hệ trẻ đều ít hiểu biết về vốn văn hoá truyền thống của dân tộc mình Đặc biệt, trang phục của nhiều dân tộc đã bị mai một vì giới trẻ tiếp thu văn hoá của người Kinh Trang phục của người Sán Dìu cũng dần bị mai một, ngày nay người Sán Dìu ít mặc trang phục truyền thống trong đời sống hàng ngày, những bộ trang phục truyền thống ấy chỉ được họ mặc
trong các sự kiện, hoạt động văn hóa tiêu biểu, trọng đại trong năm
Ẩm thực
Ăn uống không chỉ là khái niệm thuộc phạm trù sinh học mà còn là phạm trù thuộc lĩnh vực văn hóa nó thể hiện nét đẹp trong văn hóa ẩm thực, cách ứng
xử trong ăn uống, tập quá của tộc người
Các món ăn truyền thống của người sán dìu gồm có:
Món cơm, cháo được chế biến từ lương thực chính là gạo và ngô Với một số giống lúa truyền thống như chiêm hoang (chiêm thơm), tám thơm, mộc truyền Bữa sáng người sán dìu thường ăn cháo hoa hoặc cơm nguội vì theo người Sán Dìu bữa sáng là bữa phụ, bữa trưa và tối mới là bữa chính Bữa ăn của người Sán Dìu được pha trộn với một số lương thực khác như: Ngô, đỗ, củ
từ, củ mài…, cách pha trộn này nhằm tiết kiệm gạo tận dụng lương thực phụ trong thời kì khó khăn, thời kì giáp hạt
Gạo nếp không được coi là lương thực chính hàng ngày của người Sán Dìu, mà thường gạo nếp chỉ ăn ào dịp lễ tết, hoặc những ngày có khách tới chơi, đặc biệt người Sán Dìu có món cơm lam (chốc thồng van) nổi tiếng thơm ngon
Một số loại bánh của dân tộc Sán Dìu được làm ăn trong các ngày lễ tết, mỗi loại có đặc điểm hình dáng hương vị và làm trong các dịp tết lễ khác nhau như:
Bánh trưng gù (chổng), bánh gio (voi slúi chổng): hai loại bánh này được gói vào hai tết lớn của dân tộc Sán Dìu đó là tết Nguyên đán và tết Đoan ngọ (tết Đoan Ngọ của người Sán Dìu ăn vào 1-5 âm lịch hàng năm)
Trang 22Bánh gối (nép cóc phồ), bánh dợm, bánh dầy: được gói vào các tết như tết thanh minh (ăn vào khoảng cuối tháng hai hoặc đầu tháng ba, theo âm lịch tùy theo lịch của từng năm), tết tháng bảy âm lịch (tết xá tội vong nhân) và tết Đông chí tháng mười một âm lịch hàng năm
Bánh oẳn (mon thót): loại bánh này được làm để cúng trong các buổi làm
ma, làm chay trong các đám tang của người Sán Dìu
Các loại bánh này nguyên liệu chính là bột gạo nếp và đỗ vàng nấu chín khi đã làm thành bánh thì được gói lá chuối hoặc lá dong rồi đem đi đồ Riêng bánh trưng gù thì gói bằng gạo nếp đã ngâm, đỗ sống và thịt mỡ, bánh được gói bằng một lớp lá chít bên trong và lớp lá dong bên ngoài sau đó cuốn lạt giang thật chặt rồi đem luộc Còn đối với bánh gio của người Sán Dìu được làm khá cầu kì qua các công đoạn như lọc nước gio (gio cẵng cây vừng, cẵng cây đỗ tương, cây gió) Sau đó lấy nước gio đó ngâm gạo sao cho gạo có màu đỏ mới đem đi gói và bánh này cũng được gói bằng lá chít với lá dong, bánh gio đem chấm mật mía ăn rất thanh mát
Ngoài ra còn có nhiều loại rau, thịt cá Các loại rau của đồng bào chủ yếu
là tự trồng không sử dụng hóa chất, có một số loại rau được hái ở ven sông, suối
Thủ công nghiệp: người Sán Dìu chủ yếu sống bằng nghề nông trồng lúa nước, ngoài ra thì có một số hộ gia đình cũng làm nghề thủ công nhưng quy mô không lớn họ chỉ làm phụ trong những ngày nông nhàn Một số ngành nghề như: đan lát (rổ, thúng, nong, nia, dần, sàng), nghề mộc, thêu dệt, khai thác lâm, thổ sản Những sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu của người dân trong
chính bản làng của họ, hiệu quả kinh tế chưa cao
Văn hoá tinh thần
Trong những tục lệ của dân tộc Sán Dìu đặc biệt là tục cưới xin và tang
ma thì có rất nhiều nét độc đáo Một trong những nét đặc sắc của dân tộc Sán Dìu là tục cưới xin Trong việc cưới xin người ta rất chú trọng đến việc xem số,
so tuổi đôi trai gái Trước khi tiến hành lễ cưới phải có sự giúp tay của ông bà mối Ông bà mối này trở thành bố mẹ thứ ba Đám cưới trải qua nhiều thủ tục tỉ
mỉ, sau khi đám cưới xong cô dâu ở lại hẳn nhà chồng sinh sống
Trang 23Về tín ngưỡng, người Sán Dìu có thế giới quan phong phú với quan niện con người có linh hồn và thế giới có ba tầng Thiên, Địa, Âm Khi con người chưa làm chủ được tự nhiên và những hiện tượng chưa giải thích được, thì niềm tin vào thánh thần, ma quỷ chi phối đời sống tinh thần một cách mạnh mẽ Với người Sán Dìu các tập tục thờ cúng trở thành nhu cầu thường xuyên
Tuy các nghi lễ thờ cúng phức tạp xong chung quy lại họ chỉ thờ một số
vị thần chính như:
Thờ cúng tổ tiên
Thờ thần thành hoàng, thổ địa
Thờ thần bà mụ - coi về tâm linh của trẻ con
Thờ vật linh, mộc linh, địa linh
Tất cả những nét đặc trưng đó đã làm nên một nét văn hóa Sán Dìu truyền thống của người Sán Dìu nói chung và người Sán Dìu ở Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng Bất cứ một dân tộc nào dù có nhỏ bé nhưng họ đều có một kho tàng văn hóa nghệ thuật, kho tàng chuyện cổ tích, thơ ca riêng của dân tộc mình Cũng như nhiều dân tộc khác văn hóa dân gian của người Sán Dìu được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình xây dựng quê hương làng bản của mình
Đối với người Sán Dìu có lẽ độc đáo nhất là những làn điệu hát Sọong cô (hát đối) rất phổ biến Soọng cô (âm Hán - Việt: Soọng là sướng, cô là ca; Soọng
cô có nghĩa là ca hát) là một thể loại dân ca trữ tình, một sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú hấp dẫn của dân tộc Sán Dìu Hát sọong cô chủ yếu là phần đối đáp giao duyên và những lời hát du Khi tiếng hát cất lên nghe tiếng dặt dìu, lúc ngân cao lúc trầm ấm làm say mê lòng người, những lời ca ấy trở thành món ăn tinh thần có sức sống mãnh liệt lắng đọng trong tâm hồn của người Sán Dìu
Môi trường của các buổi hát Sọong cô không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và hoàn cảnh người ta có thể hát một đêm, nhiều đêm, hát trong nhà hát bên bờ suối, khi làm nương, trong đám cưới, trong các dịp lễ hội, đầu xuân chúc nhau
Trang 24Nếu các vũ điệu xưa vốn chỉ dùng trong các nghi lễ tín ngưỡng hay đám
ma, đám chay chỉ do các thầy cúng đảm nhiệm; thì cũng từ xa xưa, Soọng cô cũng là lối hát đối đáp, giao duyên, do từng đôi nam nữ, hay một tốp nam, tốp
nữ hát đối đáp trong ngày hội xuân, trong lễ cưới, khi lao động sản xuất, lúc nông nhàn, bên bếp lửa hay dưới ánh trăng khuya
Soọng cô có hai hình thức: Hát giao duyên gắn với đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất (hị soon soọng cô), hát đối đáp trong lễ hội, lễ cưới (sênh ca
chíu cô)
Hát giao duyên
Những đêm hát giao duyên của các chàng trai cô gái Sán Dìu thường diễn
ra ở trong nhà, bên bờ suối, hoặc khu đất trống trước làng Nếu hát trong nhà thì đầu tiên khách phải xin phép gia chủ để được phép hát Khi đã được gia chủ đồng ý thì các chàng trai cô gái thoả sức trổ tài hát của mình Khi bạn hát đến chủ nhà thường đặt ra những lời hát đối để thử thách sự thông minh trong cách đối đáp của bạn hát, nếu như bạn hát không đối đáp lại được thì buổi hát dừng lại, mời bạn về để hôm khác có sự chuẩn bị kĩ hơn sẽ đến hát tiếp Những câu hát nhẹ nhàng trầm lắng, làm cho con người ta quên đi cảm giác về thời gian Hát giao duyên không chỉ là phương tiện thể hiện tài năng của các đôi nam nữ
mà còn là nơi gửi gắm và thể hiện ước mơ, quan niệm về người bạn tình cũng như tình cảm của những người đang tìm hiểu nhau Từ những đêm hát này mà
có biết bao đôi trai gái đã bén duyên và yêu nhau Trong hát giao duyên , có những câu hát thể hiê ̣n nỗi nhớ nhung của chàng trai, cô gái khi đang yêu:
Nhớ anh lắm lắm anh ơi
Nhớ đêm không ngủ nhớ ngày không ăn
Nhớ anh cơm chẳng buồn ăn
Hai bên tay áo ướt đầm như mưa
Bên cạnh những lời tâm tình, còn có nhữn lời than thở, những ước nguyện của đôi trai gái, hát Sọong cô thể hiện sự chủ động trong tình yêu của những chàng trai, cô gái Sán Dìu Từ đó họ mơ đến cuộc hôn nhân hạnh phúc của mình
Trang 25Hát trong đám cưới
Theo quan niê ̣m của người Sán Dìu thì đám cưới có thể thiếu lợn , rượu nhưng không thể thiếu làn được làn điệu hát Soọng cô, vì đó là những nghi thức bắt buô ̣c trong lễ cưới của họ Theo phong tu ̣c khi nhà trai đến rước dâu thì bên nhà gái mang một chiếc ghế ra để ở cửa ra vào cùng một ấm trà pha sẵn và mô ̣t vài miếng trầu đã têm với ng ụ ý là nhà trai phải hát đúng những câu hát của nhà gái đưa ra thì mới được mời vào nhà Sau khi đáp ứng được câu hỏi của nhà gái đưa ra, nhà trai được mời vào trong nhà Đại diện bên nhà trai là ông quan lang trưởng (người thay mă ̣t bố me ̣ chú rể đi đón dâu ) sẽ xin phép ho ̣ hàng nhà gái làm lễ cúng tổ tiên và đón cô dâu về nhà Lúc này, tại nhà gái diễn ra lễ Khai Hoa Tửu (Hoi Va Chíu) và những làn điệu Soọng Cô vang lên là những lời hát mừng và tạ ơn công lao của tổ tiên Soọng Cô trong đám cưới thường do các cặp nam giới đối đáp nhau, nhà trai cử hai anh hát, nhà gái cũng cử hai anh Hát suốt ngày suốt đêm cho đến khi tan tiệc cưới
Qua thời gian, do nhiều nguyên nhân điệu hát Soọng Cô đang bị mai một dần, số lượng người thực sự biết hát Soọng Cô không còn nhiều Một số bài hát
do được truyền khẩu theo thời gian đến nay đã không còn lưu giữ được… Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển điệu hát Soọng cô không chỉ có ý nghĩa gìn giữ bản sắc văn hóa độc đáo của người Sán dìu mà còn để “hồn cốt” văn hoá của người Sán Dìu ăn sâu vào trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân
Soọng Cô được hát theo sách, có bài bản sẵn Người đi hát phải thuộc sách hát Ngày nay, có nhiều bài hát Soọng Cô lời mới, dựa vào từ, vào giai điệu của những câu hát cổ, người Sán Dìu đã sáng tác thêm những bài hát mới ca ngợi quê hương đất nước
Do đặc điểm hát đối đáp giao duyên theo lối ngẫu hứng, nên hát Soọng cô không có nhạc đệm Hát Soọng cô của dân tộc Sán Dìu có từ bao giờ, đến nay ít người biết Theo các cụ già thì người Sán Dìu cư trú ở Tan Đảo – Vĩnh Phúc đã bao đời, từ thế hệ trước đến thế hệ sau, người già truyền dạy cho con trẻ, người biết hát dạy người không biết hát Tiếng hát Soọng cô đã được duy trì và ngân lên không bao giờ dứt Có thể nói dân tộc Sán Dìu là một dân tộc có tâm hồn thơ
Trang 26ca Đồng bào yêu thích ca hát, ca ngợi quê hương xứ sở, ca ngợi sức sáng tạo lao động, tình yêu lứa đôi, lên án sự gian ác, nói lên khát vọng cuộc sống ấm no, hạnh phúc Soọng cô đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc Sán Dìu Đó là sản phẩm tinh thần, là tiếng nói của người lao động, được lưu truyền qua bao thế hệ trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt và lao động của đồng bào dân tộc Sán Dìu
Các buổi hát thông thường có các bước sau:
Hát làm quen
Hát chào hỏi
Hát mời nhau uống nước ăn trầu
Hát tâm tình đôi nam nữ
Hát sang canh gà gáy
Kin cheo xút mon cô tại mói
Nhúy ca tại cộ nam ca thoi
Dịu dan ki mạn sênh ca chíu
Sọong theo sênh cô hô loáng thoi
Dịch nghĩa
Sáng nay anh tiễn em xuất giá
Nhà gái tiễn đưa sang nhà trai
Ngày tốt hôm nay có đám cưới
Hát bài tình ca hai họ nghe
Như vậy hát sọong cô được coi như là món ăn tinh thần là nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng, cư dân Sán Dìu Nó giúp cho người dân giảm bớt mệt mỏi trong những ngày lao động vất vả và còn làm tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó
Trang 27trong cộng đồng Tuy nhiên hiện nay hát Sọog cô của người Sán Dìu đã phần nào bị mai một, lối hát chỉ còn lại trong những câu chuyện của người già Còn nam nữ thanh niên dường như không biết hát và nghe Sọong cô nữa Vì vậy chính quyền cũng có nhiều chính sách để bảo tồn và phát huy làn điệu dân ca đặc sắc của dân tộc Sán Dìu
Ngoài những bài hát mừng vui trong đám cưới, ngày tết… thì người Sán Dìu còn có những bài than, khóc trong các đám tang Đó là những lời lẽ lâm li, đau buồn, thống thiết của con cháu trong gia đình đối với người đã khuất Qua bài than, khóc đó sẽ thể hiện sự đau sót của người thân đối với người đã chết, những bài than đó cũng ca ngợi đức tính cần cù, lòng tận tuỵ, hi sinh của người quá cố đối với con cháu
Ngoài ra người Sán Dìu có loại văn cúng khá phổ biến Đó là áng văn mô
tả về nguồn gốc tộc người hay văn răn dạy con cháu:
Ví dụ một bài cúng đã phiên âm ra Tiếng Việt
Tử lòng bàn cổ phân thiên địa
Nhất triều thiên tử nhất triều thần
Khứ là nhàn ngôn đo mạc thuyết
Văn tri đán xương bất hữu thân
Gia ốc trú tại Tân Châu Huyện
Đại bình hang khai vũ gia nhân
Thủ thê tiện thị trương gia tấu
Hợp hôn bán niên thế vũ nhi
Thế giới vũ nhi thập phân nguyệt
Sinh hạ vu tử an vũ nhi
Sinh hạ vũ nhi an cửu tuế
Nương kim ngộ bênh bất an ninh
Đặc biệt sách cúng (nguyên bản chữ Hán Nôm) của người Sán Dìu rất đa dạng và phong phú hiện nay còn khá nhiều Đó là các loại sách cúng tiểu nhi, sách thờ, các tờ điệp dùng trong lễ cấp sắc, sách cúng hạ thổ, cúng trong đám cưới, cúng trong tang ma
Trang 28Cũng như các dân tộc khác, người Sán Dìu cũng có kho tàng truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn bằng tiếng dân tộc khá phong phú và đa dạng Nhiều câu truyện cổ tíchcó tính giáo dục cao như: truyện Chu Mại Sìn, Cạo chấy loang kênh (kinh sách dạy con), mở đất mở trời, thoi nhúy…
Như vậy kho tàng văn hoá nghệ thuật của người Sán Dìu vô cùng phong phú và đặc sắc, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hoá Việt Nam Cho đến ngày nay, những giá trị văn hoá đó vẫn được lưu truyền, giữ gìn và trở thành một nét riêng hiếm có góp phần vào nền văn hoá Việt Nam Tất cả làm nên một nét văn hoá Sán Dìu truyền thống không chỉ của người Sán Dìu ở Tam Đảo – Vĩnh Phúc nói riêng mà cho cả người Sán Dìu cả nước nói chung
Trang 29CHƯƠNG 2 TỤC CƯỚI XIN CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC 2.1 Chọn con dâu của dân tộc Sán Dìu
Trong phong tục cưới xin cổ truyền của người Sán Dìu thời xưa thì đôi trai gái để nên duyên vợ chồng sẽ trải qua hai cách: thứ nhất đôi trai gái quen và
tìm hiểu nhau qua các buổi hát giao duyên (Sọog cô) trong các đám cưới hoặc trong dịp tết, cách thứ hai là bố mẹ chàng trai sẽ tìm vợ cho con trai mình
Cách thứ nhất: Từ đêm giao duyên: Mỗi dịp tết đến xuân về, vào lúc bà
con kết thúc mùa vụ trong năm, sau những ngày tháng lao động vất vả, cực nhọc, đây là lúc đồng bào hưởng thụ thành quả lao động của mình trong năm và bắt đầu một năm mới tràn đầy sức sống, yêu thương hạnh phúc với trăm hoa đua
nở, lộc non trên cành, sắc xuân hoà vào lòng người kể từ ông lão đến trẻ thơ với những gương mặt rạng rỡ niềm vui Nhưng vui hơn ai hết lại chính là các chàng trai, cô gái, vì họ có những cuộc gặp gỡ và hát giao duyên trong những ngày hội đầu xuân Niềm vui được nhân lên gấp bội khi đến tết, các đêm hát giao duyên
(soọng cô) với những chủ đề hát về quê hương đất nước, lao động sản xuất và
tình yêu đôi lứa Họ hát từ làng này qua làng khác, từ đêm này sang đêm khác Đám hát qua mỗi làng, mỗi đêm ngày một thêm đông, có thể lên tới trên năm mươi người Họ hát với nhau bằng những lời ca tiếng hát mượt mà, chan chứa tình yêu Qua những ngày hội xuân, sau những buổi hát giao duyên đó, các chàng trai cô gái có cơ hội làm quen, tìm hiểu và đến với nhau Khi chàng trai đã chọn được cô gái mà mình ưng ý, chàng trai về nhà xin phép gia đình, để rồi đợi qua tháng giêng, tháng hai ấm áp, chàng trai nhờ ông mai bà mối mang lễ trầu cau sang nhà cô gái hỏi cô về làm vợ Do vậy, mùa xuân không chỉ là mùa của lễ hội, mùa vui chơi, hát giao duyên mà còn là mùa cưới, mùa của những đôi trẻ
kết duyên vợ chồng
Cách thứ hai: Bố mẹ tìm vợ cho con: Khi trong nhà có con trai đến tuổi
trưởng thành, bố mẹ bắt đầu lo chuyện “xây dựng” gia đình cho con trai Trong
Trang 30cuộc sống lao động hằng ngày, hội hè đình đám, bố mẹ chàng trai luôn để mắt đến những cô gái và xem trong những cô gái có ai có thể làm con dâu mình được hay không? Nếu bố mẹ ưng ý cô gái nào thì sẽ nói với con trai là đã tìm được vợ cho con Trong trường hợp chàng trai không đồng ý thì thôi, bố mẹ lại tìm người con gái khác Ngược lại nếu chàng trai đồng ý cô gái đó, bố mẹ tìm ông mai bà mối làm cầu nối se duyên cho chàng trai cô gái nên duyên vợ chồng
Tiêu chí chọn vợ hoặc chồng của người Sán Dìu không phải là nhan sắc,
mà phải “môn đăng hộ đối”, gia đình phải có nhà, có ruộng, có trâu Ngoài ra,
bố mẹ cô gái, chàng trai đó phải là người siêng năng chăm chỉ, khoẻ mạnh, đạo đức tốt, có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng Chế độ hôn nhân của người Sán Dìu theo chế độ một vợ, một chồng Sau khi kết hôn vợ về ở hẳn bên nhà chồng Gia đình theo chế độ phụ quyền, con theo họ cha, quyền quyết định
thuộc về người đàn ông trong gia đình
2.2 Quan niệm về hôn nhân và cưới hỏi của dân tộc Sán Dìu
Mỗi dân tộc có một tục cưới xin riêng, đối với người Sán Dìu thì cưới xin
là một sự kiện quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người, con người khi lớn lên mà không qua việc cưới xin thì có nghĩa là người thừa, người vô phúc, thành gánh nặng của gia đình, cha mẹ Đối với dân tộc Sán Dìu khi đôi trai gái yêu thương nhau, hoặc cô gái được bố mẹ chàng trai ướm chọn cho con trai mình thì việc đầu tiên cần làm là phải xem tuổi (lá số) của đôi trai gái Lá số có nghĩa là
“số mệnh” của đôi trai gái Thầy cúng căn cứ vào ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch mà định ra số mệnh của mỗi người Dựa vào thuyết “Căn duyên và định mệnh” thì thầy cúng sẽ so tuổi đôi trai gái xem có hợp nhau hay không, nếu hợp
sẽ tiến đến hôn nhân, nếu không hợp thì dù đôi trai gái có yêu nhau thì cũng sẽ không được sự đồng ý của gia đình Trong mỗi làng các thầy cúng đều có quyển sách “lục mệnh – hợp hôn”
Do mỗi người có một căn số riêng nếu cô dâu hoặc chú rể có căn số không tốt như vợ co số sát chồng, chồng sát vợ, hoặc sát bố mẹ chồng bố mẹ vợ, sát con thì đôi trai gái đó muốn đến với nhau cần phải mời thầy cúng cao tay đến
Trang 31cúng giải hạn, làm hình nhân thế mạng vào lúc cưới hoặc ngay sau khi cưới để tránh người bị sát sẽ chết
Đối với người có căn duyên sát con, khi vợ có thai từ một đến hai tháng thì nhà chồng phải có lễ cầu sinh (giải hạn) thì mới mẹ tròn con vuông được nếu không người mẹ sẽ bị sảy thai
Lễ cầu sinh diễn ra với nhiều nghi lễ cúng bái với các thầy cúng cao tay, nhờ thầy viết sớ, nhờ pháp sư can thiệp Khi sớ được tấu lên thì đôi vợ chồng trẻ
sẽ phải đi một đoạn đường do thầy cúng chỉ, đoạn đường đó cách xa gia đình mình khoảng 200-300m Đến đó họ thay bỏ bộ quần áo đang mặc ở đó thầy cúng đã có mặt để chuẩn bị cúng, sau đó hai người mặc quần áo khác đã được chuẩn bị sẵn đi, về để thầy cúng ở lại làm phép trừ tà rồi về sau Theo quan niệm của người Sán Dìu thì làm như vậy thì sau này người mẹ sinh con mới dễ dàng
Tục lệ cưới xin cổ truyền của người Sán Dìu được tiến hành một cách khá chặt chẽ, theo các bước tuần tự, có bước trước thì mới có thể có tiếp bước sau được Các nghi thức từ khi dạm ngõ đến lễ cưới phải trải qua một thời gian khá
dài từ vài tháng đến 1 năm Nhà trai là phía chủ động trong việc cưới xin
2.3 Chọn ông bà mối (Sgoi Moi nhin)
Người Sán Dìu rất quan trọng trong việc chọn ông bà mối cho con mình,
vì ông bà mối được coi là cha mẹ thứ ba của đôi vợ chồng trẻ, người trung gian kết nối cho đôi trẻ Tốt nhất là chọn được ông bà mối có quan hệ họ hàng bên nhà gái (bác, bá, cô, dì, anh, chị của cô gái) Những người được chọn làm ông bà mối phải là người có đủ cặp vợ chồng, sống hiền hoà với mọi người, gia đình sống hạnh phúc, sinh con có đủ cả trai và gái, có uy tín, và được mọi người kính trọng Sở dĩ ông bà mối thường được chọn bên nhà gái là để ông bà mối dễ dàng giúp hai họ có tiếng nói chung Họ không chỉ đại diện nhà trai, truyền đạt ý kiến, nguyện vọng của nhà trai đến nhà gái mà còn đại diện cho nhà gái tìm hiểu về gia cảnh nhà trai cho nhà gái rõ, vì cô dâu tương lai chính là cháu gái mình Do vậy ông bà mối là người rất công tâm, thành ý tác hợp và giúp đỡ hai họ kết tình thông gia và đôi trẻ nên duyên vợ chồng