Một trong những giá trị tiêu biểu của đồng bào dân tộc Thái Tây Bắc đó là kỹ thuật canh tác ruộng nước, nhất là phương thức “Hỏa canh thủy nậu”, “Dẫn thủy nhập điền”, và cùng với nó là
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐIÊU VĂN PHỨC
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU KỸ THUẬT CANH TÁC
RUỘNG NƯỚC TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐIÊU VĂN PHỨC
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU KỸ THUẬT CANH TÁC
RUỘNG NƯỚC TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN SƠN LA
Chuyên ngành: Lịch Sử Địa Phương
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Lực
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài này, em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Văn Lực Em xin cảm ơn sự tạo điều kiện của các thầy cô khoa Sử - Địa và sự ủng hộ động viên của các bạn trong lớp
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Trung tâm thông tin thư viện: Thư viện Tỉnh Sơn La, Thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã giúp em có nguồn tài liệu để triển khai thực hiện đề tài
Do hạn chế về thời gian, nguồn tư liệu và năng lực nghiên cứu nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót kính mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Điêu Văn Phức
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích và đóng góp của đề tài 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3.3 Mục đích 4
3.4 Đóng góp của đề tài 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục của đề tài 4
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở SƠN LA 5
1 Khái quát về dân tộc Thái 5
1.1 Nguồn gốc lịch sử 5
1.2 Kinh tế - xã hội - văn hóa 9
1.2.1 Về kinh tế 9
1.2.2 Về xã hội 10
1.2.3 Về văn hóa 12
Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ KỸ THUẬT LÀM ĐẤT VÀ MƯƠNG PHAI CỦA ĐỒNG BÀO THÁI SƠN LA 23
2.1 Kỹ thuật làm đất 23
2.2 Kỹ thuật dẫn thủy nhập điền hay hệ thống mương phai, lai lín 29
Chương 3 MỘT SỐ KỸ THUẬT CHỌN GIỐNG, TRỒNG TRỌT, CHĂM BÓN VÀ THU HOẠCH RUỘNG NƯỚC CỦA ĐỒNG BÀO THÁI SƠN LA 40
3.1 Kỹ thuật chọn giống, gieo mạ 40
3.2 Kỹ thuật chăm bón và thu hoạch ruộng nước 50
3.2.1 Chăm bón ruộng nước 50
3.2.2 Thu hoạch ruộng nước 54
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước, giữ nước và không ngừng tiếp thu cái mới để hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa văn hóa của 54 dân tộc anh em, trong đó có sự góp mặt của đồng bào dân tộc Thái Tây Bắc, Sơn La
Người Thái là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cư trú chủ yếu ở vùng thung lũng chân núi, lấy kinh tế nông nghiệp trồng trọt làm nguồn sống chính, trong
đó canh tác ruộng nước là chủ đạo Một trong những giá trị tiêu biểu của đồng bào
dân tộc Thái Tây Bắc đó là kỹ thuật canh tác ruộng nước, nhất là phương thức “Hỏa
canh thủy nậu”, “Dẫn thủy nhập điền”, và cùng với nó là hệ thống mương phai…
phương thức canh tác này không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cộng đồng dân tộc Thái mà còn lan truyền trên một địa bàn rộng lớn và nhiều dân tộc Tây Bắc khác cũng tiếp thu thành tựu văn hóa này
Đối với đồng bào Thái, kỹ thuật canh tác ruộng nước có vai trò quan trọng hơn hẳn
nét độc đáo riêng nhờ đó mà dân tộc Thái phát triển nền kinh tế rực rỡ với những thành tựu tiêu biểu về các mặt và đóng góp to lớn vào kho tàng văn hóa văn minh Đại Việt Thế nhưng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề nghiên cứu này một cách hoàn chỉnh, hệ thống, nhiều vấn đề khoa học chưa được làm
rõ Vì thế việc lựa chọn: “Bước đầu tìm hiểu kỹ thuật canh tác ruộng nước truyền thống của người Thái Đen Sơn La” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực
Trang 6Về thực tiễn:
+ Bổ sung thêm nguồn tài liệu về kỹ thuật canh tác ruộng nước của đồng bào Thái
ở Sơn La vào kho tàng văn hóa Việt Nam
+ Góp phần giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của kỹ thuật canh tác và phát triển chúng một cách rộng rãi hơn trong cộng đồng cư dân Việt
và sâu hơn về kỹ thuật canh tác ruộng nước của đồng bào Thái ở Sơn La [4]
+ Nguyễn Sinh Huy (2003): “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” của Nxb
Giáo dục Là bức tranh toàn cảnh về đại gia đình các dân tộc Việt Nam về đời sống tinh thần và vật chất trong đó có dân tộc Thái [8]
+ Bài: “Vài nét về luật tục Thái với vấn đề bảo vệ rừng ở Sơn La” Một số vấn đề
lịch sử và văn hóa Tây Bắc, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội năm 2011 [20] Bài viết cũng đã đề cập đến những tri thức của đồng bào Thái về sản xuất nông nghiệp, nhất là vấn đề bảo vệ nguồn nước và rừng đầu nguồn Những quy định này hết sức nghiêm ngặt được ghi nhận trong luật tục Thái vùng Tây Bắc và ở từng châu, mường Thế nhưng, sự đề cập này còn rất chung chung, thiếu cụ thể, nhất là kỹ thuật làm mương phai, chọn giống cây trồng vật nuôi nhiều vấn đề thuộc về tri thức bản địa của đồng bào Thái về sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được làm rõ
+ Bài: “Cây chuối và cây mía trong đời sống văn hoá của người Thái Việt Nam”
Một số vấn đề lịch sử và văn hóa Tây Bắc, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội [3] Bài viết cũng đã đề cập đến những tri thức của đồng bào Thái về sản xuất nông nghiệp, nhất là vấn đề trồng cây ăn quả trong các vườn nhà, ý nghĩa và biểu tượng về văn hóa của hai loại cây này Thế nhưng, sự đề cập này còn rất chung chung, thiếu cụ thể, nhất
Trang 7là kỹ thuật làm mương phai, chọn giống cây trồng, vật nuôi nhiều vấn đề thuộc về tri thức bản địa của đồng bào Thái về sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được làm rõ
+ Bài: “Tri thức dân gian Thái (Thuận Châu - Sơn La) trong sản xuất nông
nghiệp – Qua tư liệu điền dã tại bản Nà Cài – Chiềng Ly” Một số vấn đề lịch sử và văn
hóa Tây Bắc Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội năm 2011 [15]
Bài viết này có liên quan nhiều nhất đến đề tài, về cơ bản bài viết này cũng đã đề cập đến những tri thức của đồng bào Thái về sản xuất nông nghiệp, bao gồm: kỹ thuật làm đất, thời điểm tiến hành gieo trồng, chăm bón, thu hoạch Thế nhưng, sự phản ánh này chỉ ở một địa phương nhỏ hẹp của một bản, do đó tri thức bản địa về sản xuất nông nghiệp của đồng bào Thái vẫn chưa thể được khái quát chung cho toàn bộ vùng Sơn La-Tây Bắc
+ Cuốn: "Quam chiêm lang (Tục ngữ Thái)" cũng đề cập đến kỹ thuật canh tác ruộng nước của đồng bào Thái Sơn La Tuy nhiên, sự đề cập này còn rất vắn tắt và chung chung, lại chủ yếu dưới góc độ là những câu tục ngữ, ngạn ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất ruộng nước của đồng bào Thái [10]
Ngoài ra còn có các tài liệu dã sử như: “Quam tô mương”,( Lưu trữ Thư viện tỉnh Sơn La) (kể chuyện bản mường); “Phiết mương”… cũng có nói đến nguồn gốc của dân
tộc Thái ở Tây Bắc và những kinh nghiệm canh tác trồng lúa nước xưa kia được lưu truyền rộng trong cộng đồng cư dân khu vực này
Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này một cách hoàn chỉnh, hệ thống, giá trị tri thức bản địa về sản xuất nông nghiệp trong cộng đồng dân tộc Thái vẫn chưa được khơi dậy và bảo tồn Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học cũng đã định hướng và là nguồn tài liệu quí để tôi đi vào nghiên cứu đề tài này làm rõ những vấn đề khoa học mà các công trình trước chưa
có điều kiện thực hiện
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, mục đích và đóng góp của đề tài
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về kỹ thuật canh tác ruộng nước truyền thống của người đen Thái Sơn La
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Tỉnh Sơn La bao gồm các huyện: Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Thành Phố Sơn La, Mường La, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Vân Hồ, Phù Yên, Bắc Yên,
Trang 8Sông Mã, Sốp Cộp Trong đó đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu là huyện Thuận Châu -Quỳnh Nhai
Thời gian: Từ khi hình thành dân tộc Thái đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945
3.3 Mục đích
Nhằm tìm hiểu và làm rõ vai trò của kỹ thuật canh tác ruộng nước trong đời sống của đồng bào Thái ở Sơn La và những ảnh hưởng của nó đối với văn hóa truyền thống của dân tộc Thái tại khu vực này
3.4 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm khôi phục lại bức tranh lịch sử của dân tộc Thái xa xưa đã
có nét độc đáo về trình độ canh tác ruộng nước thông qua hệ thống mương phai để
“dẫn thủy nhập điền”, tái hiện một cách hoàn chỉnh từ nguồn gốc ra đời đến việc phát triển và lưu giữ những kĩ thuật canh tác của đồng bào Thái tại khu vực Sơn la Đồng thời góp phần giữ gìn những giá trị tốt đẹp trong đời sống của đồng bào Thái và bổ sung thêm nguồn tài liệu về kĩ thuật canh tác ruộng nước của đồng bào Thái vào kho tàng văn hóa Việt Nam
Ngoài ra đề tài còn là nguồn tư liệu cung cấp cho công tác giảng dạy trong nhà trường và là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên có nhu cầu tìm hiểu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng nhiều phương pháp khoa học trong đó chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chính Ngoài
ra còn có phương pháp liên ngành như: điền dã, phỏng vấn Từ đó lấy làm dẫn chứng sáng tỏ vấn đề đang nghiên cứu, làm cho đề tài thêm phong phú và sinh động hơn
Trang 9Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO THÁI ĐEN Ở SƠN LA
1 Khái quát về dân tộc Thái
1.1 Nguồn gốc lịch sử
Người Thái đen Sơn La là một ngành của dân tộc Thái Dân tộc Thái là một dân tộc lớn trong các dân tộc thiểu số Việt Nam, là dân tộc đông nhất của khu vực Tây Bắc Việt Nam Theo sự thống kê ở bảng danh mục của thành phần dân tộc Việt Nam, tổng cục thống kê, Hà Nội tháng 4 – 1999 thì dân tộc Thái đứng thứ ba (sau dân tộc Kinh và Tày), còn ở Sơn La dân tộc Thái chiếm 54,7% dân số
Từ xa xưa người Thái đã có mặt trên dải đất Việt Nam, góp công vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc
Sử cũ nước ta ghi, đời nhà Lý có các tù trưởng Ngưu Hống đã về kinh đô dâng cống vật cho triều đình Tư liệu lịch sử này đã chứng tỏ vào đời Lý (Thế kỷ XI) và có thể trước nữa quý tộc Thái đã làm chủ nhiều vùng ở miền Tây Bắc Một số tác giả người Pháp cũng đã viết về người Thái Tây Bắc (H.Roux, Sylvestve…) đều có ý cho rằng người Thái chỉ có mặt ở Tây Bắc sau những cuộc di thiên lớn của họ từ phương bắc xuống
Theo David Wyatt trong cuốn sách “ThaiLand a short history”, người Thái xuất phát từ phía nam Trung Quốc có chung nguồn gốc với các dân tộc thiểu số bây giờ là người Choang, Tày, Nùng Trước sức ép của người Hán và người Việt ở phía Đông và Bắc, người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỷ VII đến thế
kỷ XIII Trung tâm của họ là Điện Biên Phủ (Mường Thanh), từ đây họ tỏa khắp nơi
ở Đông Nam Á bây giờ như Lào, Theo PGS.TS Hoàng Lương, người Thái đã có mặt
ở nước ta từ thời đại Hùng Vương Các đợt thiên di của người Thái trong thời gian cuối thiên niên kỉ thứ nhất sau Công Nguyên (thế kỉ IX – X) và đầu thiên niên kỉ thứ hai (thế kỉ XI – XII) chỉ làm cho các nhóm Thái được bổ sung, tăng cường thêm chứ không phải đến thời điểm này người Thái mới bắt đầu thiên di vào sinh sống ở vùng Tây Bắc
Theo các tài liệu dã sử của địa phương như: Quam Tô Mương, Táy pú xấc, Phanh mương, Phiết mương và một số công trình nghiên cứu của GS Đặng
Trang 10Nghiêm Vạn, Đinh Xuân Lâm, Cầm Trọng…cho thấy: Người Thái thiên di vào nước
ta qua hai con đường
Đợt thứ nhất: vào khoảng thế kỉ thứ IX – X, do không chịu thần phục chính sách đồng hóa thôn tính của các triều đại phong kiến Hán tộc nên một bộ phận người Thái ở thượng nguồn sông Tây Giang đã men theo triền sông Đà và sông Mê Công thiên di xuống phía Nam vào vùng Bắc nước Lào và Tây Bắc Việt Nam hình thành nên một số điểm tụ cư của người Thái trắng ở dọc sông Đà như Mường Lay, Mường
Tè, Mường La Sau một thời kì tranh chấp với các cư dân bản địa (nhóm Nam Á), người Thái trắng đã định cư trong các thung lũng, đất đai màu mỡ, gần nguồn nước, giao thông đi lại thuận tiện… đến thế kỉ XIII, thế lực của trung tâm Thái Mường Lay trở nên cường thịnh, các thủ lĩnh Lôm Lẹc, Lẹc Ma đã bành trướng thế lực ra các vùng xung quanh… phía Bắc phát triển đến giáp Vân Nam ( Trung Quốc), phía Đông đến Mường Tè, phía Tây sang đến tận Nậm U ( Thượng Lào), phía Nam phát triển dọc sông Đà, từ Mường Chiên ( Quỳnh Nhai) đến tận tả ngạn Mường La Người Thái
đã đánh thắng các cư dân bản địa Nam Á làm chủ toàn bộ vùng Mộc Châu rộng lớn, phía Đông đến Mường Tấc ( Phù Yên), phía Bắc đến Mường Vạt (Yên Châu), phía Tây, Tây Nam là Mường Ét, Chiềng Cọ (thuộc tỉnh Sầm Nưa của Lào), phía Nam là
Đà Bắc, Mai Châu ( Hòa Bình) Từ đó vùng đất Mường Sang (Mộc Châu) đã trở thành trung tâm của người Thái trắng Người Thái ví Nhọt Cằm như “Then” ( trời),
“Phạ” (đất) nổi tiếng khắp vùng
Trang 11Đợt thứ hai: vào đầu thiên niên kỉ thứ hai sau công nguyên (thế kỉ X – XI):
“một bộ phận của người Thái đen từ Mường Ôm, Mường Ai, miền đất nằm giữa sông Nậm U và sông Hồng (người Thái gọi là Nậm Tao), thuộc miền Nam tỉnh Vân Nam
do Tạo Ngần (con Tạo Suông) dẫn đầu thiên di xuống chiếm Mường Lò mà cánh đồng Nghĩa Lộ là trung tâm” Trong luật tục Thái ở Thuận Châu cũng viết: “người Thái xưa ở đất Hán kéo nhau xuống ăn Mường Lò…” Đến đời con là Tạo Lò tiếp tục phát triển thế lực đến các miền xung quanh như Mường Min (Tú Lệ ), Than Uyên, Dương Quý, Văn Bàn thuộc ven sông Hồng… Ông đã được các vùng lân cận
vì nể, chịu dâng tiến nhiều của cải châu báu:
“Kim, Than đến dâng bát, Rặt bát hoa viền vàng”
“Muổi, La đến cống trâu Rặt trâu đen đuôi hoa” [11; tr 313]
út của Tạo Lò ) tiếp tục cầm binh đánh thắng các bộ tộc Nam Á mở rộng thế lực ra Mường Chiên (nay thuộc Mường La) sang Mai Sơn lên Sơn La, Mường Muổi (Thuận Châu) đến tận Mường Thanh ( Điện Biên) Để chiếm cứ đất đai, ổn định địa bàn cư trú, Lạng Chượng đã phải nhiều lần chinh chiến với các cư dân bản địa nhóm Nam Á
Theo sử thi Táy pú xấc và Quan tô mương của dân tộc Thái thì: “Lạng Chượng
đã phải chật vật lắm mới thắng nổi quân Nam Hán (bao gồm các tộc người Khơ mú,
La Ha, Xinh mun, Kháng) Truyền thuyết còn kể rằng quân Xá (tức Nam Á) có tên làm bằng đồng nhọn, quân Thái chỉ có tên tre, Lạng Chượng mới nghĩ cách lập mưu thách nhau bắn xem tên của ai cắm vào đá là thắng Quân Xá bắn tên đồng thì đá bật
ra Quân Thái biết cách làm cục xáp ong vào đầu tên tre nên bắn vào đá thì dính Quân Xá chịu thua phải chịu dâng trống đồng, để quân Thái chiếm đất còn quân Xá phải chạy vào vùng sâu mà ở” [4; tr 12]
Mường Lay, Mường Muổi, thường xuyên xung đột, lấn chiếm lẫn nhau Đến thời Tạo Ngần (cuối thế kỉ XIV), do chăm lo đến phát triển kinh tế, xây dựng bản mường, khuyên bảo nhân dân dần dần thế lực của Tạo Ngần ở Mường Muổi trở nên cường thịnh thu phục được hai trung tâm Thái ở Mộc Châu, Mường Lay và các tộc người
Trang 12khác ở Tây Bắc, xóa đi tình trạng phân tán cát cứ, thống nhất được Tây Bắc Từ đây lịch sử xã hội Thái nói chung, văn hóa Thái nói riêng có những bước phát triển quan trọng
Qua các cứ liệu khảo cổ học ở Tây Bắc và truyền thuyết của người Thái thì đã
có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của dân tộc này Có quan điểm cho rằng người Man Thanh (Thái Thanh) và Tày Mười (Hàng Tổng) ở Thanh Hóa, Nghệ An hiện nay có nguồn gốc từ Mường Thanh (Điện Biên) và Mường Muối, Huyện Thuận Châu (Sơn La) di cư từ lâu đời
Để giải thích nguồn gốc xuất hiện con người của dân tộc mình, người Thái đã xây dựng lên các câu chuyện bản Mường, các truyền thuyết thần bí Tiêu biểu là truyền thuyết “Ải Lậc Cậc” người có công khai phá bốn cánh đồng lớn vùng Tây Bắc: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than Cùng với nó là truyền thuyết “Năm Tẩu Púng” ở Tuần Giáo – Điện Biên kể về sự ra đời của các dân tộc ở Tây Bắc
Các sách kể chuyện của người Thái, cũng như những truyền thuyết dân gian đã nói về quê hương xa xưa của người Thái là vùng có ba dải đất lớn, được tưới nước bởi 9 con sông và là nơi Sông Đà gặp Sông Hồng (Hin Xam Xẩu, Nậm Cẩu Que, Pá
Te Tao) tựu chung lại
Trong sử thi kể chuyện bản Mường “Quam Tô Mương” của người Thái đen còn
kể rằng họ trực tiếp là con cháu của Ải Ngu Háu (Chúng Hổ Mang) Sở dĩ người Thái đen lấy rắn hổ mang làm ông tổ là do bắt đầu từ mối tình Tạo Qua (đời thứ 10 của tù trưởng Thái đen Lạng Chượng) với nàng Xo người Khơ Mú dòng dõi Khum Quàng, Ămpoi làm vợ hai Hai người sinh được một con trai khôi ngô tuấn tú đó chính là Hổ Mang Do ghen ghét, vợ cả của Tao Qua tìm cách giết chàng trai bằng cách bắt chàng trèo lên hốc cây có rắn Hổ Mang, chàng đã bắt được con rắn độc to lớn này Từ đó chàng mang tên rắn Hổ Mang “Ải Ngu Hán” và trở thành ông Tổ của người Thái đen hiện nay
Theo cuốn Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam – Ban dân tộc học Tây Bắc xuất
bản 1975 đã có đoạn ghi „Từ lâu quê hương của người Thái, cũng như một số bộ tộc anh em nằm trong một khu vực rộng lớn với những khu trung tâm nổi tiếng Xip – Xoong – Pănna (Vân Nam), khu vực Mường Ôm, Mường Ai (thuộc các châu Tung Lăng, Hoàng Nham), khu vực Bơ Te (thuộc miền Tây Nam Vân Nam) Họ đến Tây
Trang 13Bắc từ rất lâu rồi, tổ tiên của họ có thể là một thành phần trong nhóm cư dân bản địa của các ngành người Việt cổ”
Về sự có mặt của dân tộc Thái Tây Bắc, cho đến nay tuy vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: cư dân thuộc nhóm tiếng Tày – Thái vốn sinh sống ở vùng cao nguyên Thanh Tạng (Tây Tạng – Trung Quốc), do không chịu thần phục chính sách đồng hóa thôn tính của các triều đại phong kiến Hán tộc nên vào thời điểm cuối thiên niên kỉ II Sau Công Nguyên họ đã ồ ạt tìm đường thiên di xuống phía nam theo đường sông Mê Công và sông Hồng (người Thái gọi là Năm Tạo) đổ bộ lên Myanma, Lào và vào vùng Tây Bắc Việt Nam Đến cuối thế kỉ XIII đầu thế kỉ XV ở Tây Bắc Việt Nam xuất hiện ba trung tâm Thái: điểm cực Nam và Tây Nam là Mộc Châu (trung tâm của người Thái Trắng), điểm cực Bắc và Tây Bắc là Mường La, vùng giữa là Mường Muối (trung tâm của người Thái đen hiện nay)
Về tên gọi, người Thái tự gọi mình là Phủ Tay hay Côn Tay đều có nghĩa là người, có hai ngành Thái đó là: Thái đen (Tay Đăm) và Thái Trắng (Tay Đon) hay Tay Khao
Tóm lại người Thái đã có nguồn gốc lâu đời ở nước ta, họ đã đoàn kết cùng nhau xây dựng bản mường góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Hiện nay đồng bào Thái ở Sơn La chiếm 54,7% dân số trong đó 2/3 là người Thái đen, họ sống, cư trú rải rác trong 8/11 huyện thành: Thành Phố Sơn La, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mường La, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Sốp Cộp [11; tr 307]
1.2 kinh tế - xã hội- Văn hóa
1.2.1 Về kinh tế
Nền kinh tế nông nghiệp đã trở thành nguồn sống chủ yếu của đồng bào Thái Sơn La Trong trồng trọt cây lúa được coi là trung tâm giữ vai trò chủ đạo, bên cạnh việc trồng trọt người Thái vẫn còn bảo lưu hình thái kinh tế chiếm đoạt cổ xưa: săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá với các mức tương đối quan trọng Bởi vậy đồng bào Thái
Trang 14Nguồn thực phẩm cũng có từ việc chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan…) đặc biệt
là gia súc lớn vừa là nguồn cung cấp thực phẩm trong sinh hoạt và cũng là nguồn cung cấp sức kéo để làm ruộng, nương, kéo ngô, làm nhà cửa… nguồn thực phẩm tự nhiên cũng là nơi cung cấp cho đồng bào như: hái lượm rau, măng, củ, quả, săn thú rừng, đánh bắt cá ở sông suối… người Thái đen đã đúc kết đặc điểm kinh tế của mình qua câu ngạn ngữ:
“miếng cơm ở đất Thức ăn ở rừng”
Nền kinh tế của đồng bào Thái Sơn La chưa có sự phân công lao động lớn như chăn nuôi vẫn chưa tách ra khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp nên chưa xuất hiện các thị trường tập trung Phần lớn nền kinh tế của đồng bào Thái vẫn là tự cung tự cấp, họ có thể tự cung cấp lương thực, thực phẩm cho đến công cụ lao động như cuốc, xẻng, các đồ dùng sinh hoạt, vật dụng gia đình bằng các nghề thủ công truyền thống
Ngày nay được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới các vùng xa xôi hẻo lánh, vùng sâu vùng xa và tới đồng bào các dân tộc thì cơ cấu kinh tế của đồng bào Thái cũng có bước phát triển hơn Giao lưu kinh tế trở nên phát triển và ngày càng
mở rộng, cuộc sống được cải thiện dần, kinh tế gia đình ngày càng khá giả hơn trước
và đồng bào Thái đã tham gia làm chủ xây dựng quê hương, bản mường
Đồng bào Thái có các nghề phụ gia như: dệt vải, đan lát, làm mộc… Phụ nữ Thái thì giỏi dệt vải, thêu thùa Đàn ông thì đan lát, làm mộc tạo ra những sản phẩm phong phú và mang tính thẩm mĩ cao
Trang 15đã được triều đình phong kiến trung ương công nhận quyền thống trị ở địa phương với tính cách “thế tập” Người Thái có câu:
"Sích bẩu châu căm"
Về hình thức trong bộ máy hành chính của cả nước các châu mường chỉ có vị trí như cấp huyện, xong về thực chất mỗi châu Mường có tính cách như một “triều đình nhỏ” được triều đình phong kiến trung ương công nhận quyền “Thế tập” của quý tộc cũng như quyền tổ chức bộ máy hành chính và cai quản địa phương theo tập quán và luật lệ riêng Trong từng đơn vị châu mường có nhiều người cư trú cho nên quý tộc Thái cùng với bộ máy hành chính của họ không những thống trị nhân dân lao động Thái mà
Các
giáo
Các bản
Xổng Xổng
Trang 16Sau khi đất nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào Thái Sơn La đã quy tụ và sống ổn định dưới các đơn vị hành chính bản Mường Mỗi bản gồm khoảng 40- 50 nóc nhà cùng nhau sinh sống, đều có người đứng đầu là trưởng bản
1.2.3 Về Văn hóa
Văn hóa là kết quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh dựng nước
và giữ nước của dân tộc Quá trình sinh sống, hòa huyết đồng bào Thái Tây Bắc đã sáng tạo ra nền văn hóa nghệ thuật dân gian đa dạng, phong phú đậm đà bản sắc dân tộc đúng như người Thái đã nói:
“Ăn cơm nếp, uống rượu cần
xã hội Người Thái thường có câu thành ngữ để nói về ngôn ngữ nhà sàn của họ
“Hươn mi hản quản mi xấu” có nghĩa là “nhà có gác, sàn có cột” Nhà sàn của người Thái đen thường mang một vẻ rất riêng, không lẫn vào đâu được Nhà thường được cấu trúc bởi các loại cây thân gỗ và các loại cây như tre, nứa… và được lợp bằng cỏ gianh, khi làm nhà để nối các cột kèo, người Thái sử dụng các đòn đâm qua lỗ đục của các cột, kiểu kiến trúc có vẻ rất đơn sơ nhưng lại rất chắc chắn Nhà của người Thái đen bao giờ cũng làm số gian lẻ hai đầu hồi “tạp cống”, khúm núm như mai rùa
và có khâu cút trọc trời
Tuy nhiên cũng là dân tộc Thái sinh sống ở Sơn La nhưng nhà sàn của người Thái đen có điểm khác so với nhà sàn của người Thái trắng Nhà sàn của người Thái đen: người Thái đen làm nhà sàn từ 3 đến 5 gian, trước kia còn 7 gian, cột chôn chính khúm núm, mai rùa, hai đầu nóc hồi được trang trí “khau cút” một biểu tượng mang ý nghĩa chỉ vai trò, địa vị của các tầng lớp trong xã hội “khau cút” là hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc Ngược lại nhà sàn của người Thái trắng: có mái phẳng, có các lan can bằng gỗ ở phía trước hoặc bao quanh nhà, hai đầu hồi không có “khau cút”
Trang 17Trải qua nhiều thế kỉ sinh tồn và phát triển hình dáng ngôi nhà sàn của người Thái đã đa dạng lại càng thêm phong phú Qua sử sách, đặc biệt là các tác phẩm văn học dân gian, hình dáng nhà sàn được nghệ nhân dân giải thích dựa theo những quan niệm và tư tưởng khác nhau Một số truyện cho rằng hình dáng ngôi nhà sàn Thái đen giống mai rùa, nhà sàn Thái trắng giống mai cua là vì ngày xưa con người được Then dạy cho cách làm nhà nhưng họ quên mất cách làm mái Họ định lên trời hỏi Then thì có một con rùa từ dưới suối bò lên nói rằng: các ông cứ làm nhà theo thân hình của tôi, ngôi nhà sẽ bền và chắc, không lo bị mưa gió làm đổ Nói ròi rùa dựng
4 chân lên và thụt đầu vào mai Từ đó người Thái đen làm nhà có hai cửa ở hai đầu hồi, mái giống hình mai rùa, nhà có hệ thống cột vững chắc
Người Thái trắng làm nhà gần bờ sông đang uốn cây để buộc mái thì một người bị cây bật phải ngã xuống đất chết tươi Họ dừng lại không làm nữa lúc đó con cua dưới bờ sông ngoi lên bảo với con người: “các ông cứ làm mái như mai của tôi, nhà sẽ đẹp và con người không bị chết” Từ đó người Thái đen làm nhà có hình mai rùa còn nhà của người Thái trắng có hình mai cua [9; tr 35]
Hình dáng và tín ngưỡng về khau cút trên nóc nhà sàn của người Thái đen cũng vô cùng phong phú và độc đáo Khau cút được làm từ tre hoặc gỗ theo các hình thù khác nhau Nhà sàn của người Thái đen có nhiều dạng khau cút, dạng đơn giản nhất là hai thanh tre bắt chéo vào nhau là dấu hiệu của nhà phụ nữ góa bụa (me mải) nên gọi là khau cút mải Tiếp đến là Khau quai ( sừng trâu), khau bẻ ( sừng dê), cút chim may (cút trăng khuyết), cút nêm (cút lá tre) là dấu hiệu của nhà bình thường, khau cút pua (khu cút chùm) dấu hiệu của nhà có nhiều thế hệ sinh sống, có nơi dành cho quý tộc Khau cút căm (khau cút vàng) dưới có thanh gươm là dấu hiệu của nhà quý tộc giữ chức vụ quân sự Khau cút pua (khau cút hoa sen) là dấu hiệu của gia đình quý tộc lớn [6; tr 111]
Ngày nay, chiếc khau cút không còn vai trò chắn giữ mái gianh nữa mà chỉ có vai trò trang trí cho ngôi nhà của mình vì vậy hình dáng chiếc khau cút có thêm nhiều họa tiết mới mang hơi thở của phong cách kiến trúc hiện đại đẹp và phong phú
về kiểu cách nhưng mối liên hệ giữa các kiểu dáng của chiếc khau cút này với văn hóa của dân tộc Thái mờ nhạt hơn so với các kiểu dáng khau cút cổ truyền ( khau bẻ, khau cút pua…)
Trang 18Bên cạnh nếp nhà sàn đặc biệt đó thì người Thái đen còn có trang phục truyền thống riêng biệt mà ta không thể nhầm lẫn với dân tộc khác Trang phục nữ của người Thái đen vừa đẹp vừa gọn và đặc biệt làm nổi rõ những đường nét trên cơ thể của họ, họ mặc áo cánh ngắn (xứa cỏm) khuy cắt bằng bạc và hình bướm, ve ôm sát lấy thân người váy màu đen không trang trí hoa văn Trang phục của người Thái trắng khác ở điểm là cổ chữ V, áo gam màu sáng còn người Thái đen thì cổ áo hình tròn hoặc thường có màu tối Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, phụ nữ có chồng búi tóc trên đỉnh đầu (tẳng cẩu), Phụ nữ Thái trắng khi có chồng vẫn không búi tóc lên trên đỉnh đầu Trong dịp tết, lễ phụ nữ thường mặc áo dài, với các loại xẻ nách, chui đầu trang trí hoa văn Đặc biệt trong tang ma, con dâu trưởng phải mặc áo dài có tên là “xửa trai” đặc trưng của phụ nữ thái đen là đầu đội khăn Piêu, phụ nữ Thái trắng là đội nón rộng vành và đan bằng nan tre
Trang phục nữ Thái đen còn có khăn Piêu màu đen, hai đầu có thêu những hoa văn hình kỉ hà bằng chỉ nhiều màu sắc Cùng với áo, váy, chiếc khăn này đã được nhiều người ca ngợi bằng văn, hội họa, âm nhạc… Song một chi tiết có liên quan tới lịch sử tộc người mà chưa ai để ý miêu tả đến là những hoa cuộn và thêu chỉ màu gọi là cút đính thành chùm ở mép đường viên hai đầu Số lẻ ( kị) cút piêu là tượng trưng cho sự chung thủy và số chẵn ( đối ) tượng trưng cho sự lừa dối Số cút piêu theo đúng tiêu chí truyền thống thì phải lẻ 3;5 để biểu thị sự chung thủy của người vợ với người chồng và để đặt tên cho khăn người ta cũng căn cứ vào số lượng cút trong một chùm, nếu chùm 3 thì gọi là piêu cút Xam, tức khăn 3 cút, chùm 5 là piêu cút hả tức khăn 5 cút Hai số lẻ 3;5 là phổ biến không thấy hiện tượng 1; 7; 9 [14; tr 158]
Trang phục nam giới: Ngày thường mặc áo màu đen, cổ tròn, xẻ ngực, cài cúc vải có hai cúc dưới vạt trước, quần kiểu chân quê màu chàm đen Dịp lễ tết họ mặc
áo dài, xẻ nách màu chàm đầu cuốn khăn, chân đi guốc Trong tang ma họ mặc nhiều loại áo, tương phản màu sắc với ngày thường, có nối cắt may dài, thụng không lượn nách với các loại: xẻ ngực, xẻ nách…
Người Thái rất nổi tiếng về nghệ thuật thêu, dệt vải, nguyên liệu chính để dệt và thêu là sợi bông và sợi tơ tằm do vậy nghề trồng bông nuôi tằm rất phát triển
Dệt vải, theo phân công tự nhiên thì việc làm ra vải là lao động chủ yếu của nữ giới, nam giới là người hỗ trợ trong việc chế tác các công cụ để cho nữ giới sản xuất
Trang 19ra sản phẩm này Trong tập quán truyền thống, xã hội Thái đã rèn luyện cho phái nữ một tay nghề làm vải thành thạo Điều đó ngay từ khi lọt lòng mẹ được một tháng tuổi, bé gái mặc dù chưa biết gì, nhưng cũng đã được tiếp xúc với tục làm nghi thức xác định nghề nghiệp Hôm đó bà mẹ đem đọt bông cuốn vào tay cháu bé, rồi lấp một ống bương dỗ xuống sàn nhà và xướng to những câu sau:
Dậy!
Dậy lớn, Dậy khôn!
Dậy đi nương theo cô!
Dậy đi ruộng theo cha!
Dậy nhặt bông theo mẹ!
Dậy lớn dạy khôn mau!
(Tứn!
Tứn nháu, tứn sung!
Tứn pay hay đom a!
Tứn pay na đòm ải!
Tứn kếp phải đom êm!
Tứn nháu tứn sung văn dơ!) [18; tr 130]
Sau đó, người mẹ thay mặt con gái của mình đáp lời: “vâng” ! chắc cháu sẽ lớn khôn và chăm chỉ vải vóc rồi ! ( ờ ! co chi nháu chi xung xắc mắn phải huk lỏ) Qua
đó chúng ta thấy được ngay từ khi còn nhỏ các cháu bé gái đã được dạy việc dệt vải , trải qua năm tháng bé gái lớn dần thì bắt đầu đi nhặt bông và sau đó có thể tự dệt
ra những tấm vải và cắt may chiếc áo cho phù hợp với mình
Nói về việc cắt may áo trong thiên tình ca Sống chụ son sao đã miêu tả:
“Mười tuổi nhuộm răng đen học làm gái biết cắt áo che đôi vú
biết gom tóc làm độn biết sửa dáng hình xuống “Khuống” thành gái tơ!” [18; tr 132]
Người Thái rất nổi tiếng về dệt vải, là con gái Thái thì không được phép ngừng tay làm vải mà phải đạt tới trình độ dệt vải tinh xảo như câu tục ngữ sau:
"Khuổm mư pên lai, hai mư pên bók "
(Sấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá) [18; tr 132]
Trang 20Theo người Thái những người đàn bà nào sành nghề làm vải thì được bản mường tặng danh hiệu “đàn bà tám cạnh sắc nét” ( me pa pét liêm) Như vậy: ngay từ
xa xưa nghề trồng bông và nuôi tằm đã rất phát triển điều đó khẳng định đó là một nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc Thái
Bên cạnh nghệ thuật thêu dệt vải thì ẩm thực cũng là một nét nghệ thuật độc đáo của đồng bào Thái nói chung và Thái đen Sơn La nói riêng Ẩm thực là một nét nghệ thuật đặc biệt của người Thái (Sơn La), lương thực chính của người Thái là gạo nếp, gạo nếp đồ thành xôi và người Thái chỉ ăn xôi nếp đồ cách thủy Chỉ cần quan sát bữa ăn chúng ta cũng có thể biết được sự khác biệt giữa văn hóa của dân tộc Thái với các dân tộc khác Chẳng hạn trong khi người Kinh coi xôi là quà ăn lót dạ buổi sáng, ăn chơi cho vui miệng hoặc dùng trong các nghi thức tập quán như cỗ cưới, ma chay, tết cổ truyền và thường không thể thiếu món xôi gấc trong cúng lễ của nhà chùa thì có xôi oản… Thì ngược lại người Thái coi xôi là cơm Mặc dù hiện nay người Thái đã có thói quen ăn cơm tẻ nhưng họ vẫn coi cơm nếp là thứ lương thực lí tưởng đồng thời vẫn là vật đặc trừng cho văn hóa tộc người
Ngoài ra người Thái còn rất nổi tiếng với cơm lam (Khẩu lam) bỏ gạo nếp vào ống nứa, trong ống nứa có luồn lá rong sau đó đổ nước lã vào rồi nướng trên ngọn lửa Khi gạo chín rồi tước vỏ tre nứa lấy cơm mà ăn Nếu ống bằng tre pheo, khi đốt chín, tước vỏ ta sẽ được thỏi cơm lam bọc một lớp giấy Nếu là ống nứa hoặc tre mỏng thì lót thêm lá dong để khi đốt không bị cháy Thỏi cơm lam được bọc bởi lớp giấy của tre hoặc lá dong ấy làm cho cơm nếp lan tỏa hương sắc đặc biệt gợi lên một cảm giác mấy
ai được dịp thưởng thức hết vị ngon của thiên nhiên hoang dã ban cho mình!
Trong phong tục tập quán, cơm lam còn là thứ dành cho bà mẹ mới sinh nở ở thời gian đầu của “tháng kiêng” (bươn căm) hay còn gọi “tháng lửa” (bươn phay),
“tháng tốt” (bươn dì) vào thời gian đó chỉ được ăn một thứ là cơm lam nếp, không được ăn cùng mâm và thức ăn như người bình thường Sau khi rút các thỏi cơm lam
để ăn, vỏ ống được bó lại đem treo ở các trạc cây ven rừng Đây là “dấu hiệu” để báo cho Then trên trời biết, đứa trẻ đã ra đời và tiếp tục sống Ngược lại nếu không thấy những vỏ ống nếp lam, Then xóa sổ sống thì bé chết
Như vậy chúng ta có thể thấy được cơm lam không chỉ là một thứ cơm truyền thống mà nó có ảnh hưởng quan trọng trong phong tục tập quán của đồng bào Thái trước kia cũng như vậy và bây giờ cũng thế, văn hóa đó vẫn tiếp tục được duy trì
Trang 21Một trong những nét độc đáo của văn hóa ẩm thực phải kể đến đó là mời rượu
"Phi" (Ma) Tục lệ này có từ lâu đời, người Thái xưa cho rằng thế giới có 3 bộ phận cấu thành: Cõi trời - cõi người - trái đất Trong cõi trời phải có các "Phi" theo con người mang đến điều tốt lành hoặc ám ảnh gay tai họa cho con người Khi nâng chén rượu đầu tiên, chủ và khách chúc nhau những lời tốt lành chính là lúc gia chủ mời "Phi" phù hộ
độ trì cho gia đình, dòng họ mình và khách, nếu gia chủ và khách cụm ly nhau là tỏ thái
độ tôn trọng và đoàn kết, thì cách thể hiện sự tôn trọng đối với "Phi" đó là gia chủ hoặc khách ngồi gần đổ một chút rượu từ chén của mình vào 2 chén rượu Phi, còn nếu ngồi
xa thì đổ một chút rượu xuống sàn nhà Người Thái tin rằng hành động như vậy sẽ khiến các "Phi" vui, âm dương hòa hợp mọi sự sẽ tốt lành
Các món ăn chủ yếu của người Thái là đồ nướng như cá nướng, thịt nướng, thịt vùi do… Trong các dịp lễ, tết thường làm bánh trưng, trong cưới xin, vào nhà mới thường uống rượu cần, rượu sắn cất từ ngô hoặc gạo
Ngoài ra thì người Thái là một trong bốn nhóm tộc người có chữ viết riêng, điều này có ý nghĩa lớn đối với dân tộc Thái nói chung và người Thái đen Sơn La nói riêng trong việc ghi chép lại những giá trị văn hóa, thiết chế xã hội,… mà đến ngày nay còn lưu giữ lại là nguồn tài sản vô giá cho tộc người, cùng các ngành nghiên cứu khoa học
Trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của dân tộc Thái, chúng ta không thể không nói đến “xên mo”(làm cúng), “Khắp một lao”(hát cúng), “Khắp sư”(hát thái),
“thiên trường ca”, “Sống chụ xôn xao” (tiễn dặm người yêu), Sử Thi “Táy pú xấc” (những bước đường chinh chiến của ông cha); tục ngữ Thái “Quan chiêm lang” và bên cạnh đó là một kho tàng giá trị văn hóa sâu sắc chưa được biên soạn và vẫn đang tồn tại trong dân gian: Bài cúng tổ tiên, bài cúng ồn
Trong sản xuất, đời sống sinh hoạt, hát (người Thái gọi là khắp) đối với họ không thể thiếu được Người ta tự hát một mình hoặc hát cho mọi người nghe một cách say xưa Trước đây đã có những cuộc hát kéo dài đến 2, 3 ngày đêm Qua hát người ta không những thưởng thức được thi vị của ý thơ mà còn gửi gắm tâm tư, tình cảm vào những âm thanh trầm bổng của giọng hát hay Hễ có thơ là người ta có thể hát ngay theo một lối hát cho hợp với thể loại Đó chính là các làn điệu dân ca biểu hiên bằng lối hát thơ thích hợp của từng vùng Cũng là truyện thơ, nhưng khi hát làn điệu khác nhau hoàn toàn Không bao giờ hát sử thi Táy Pú Xấc như hát tập thơ Anh
Trang 22hùng ca Chương han, người ta cũng không hát Phanh mương (Kể chuyện dựng bản mường) như hát chuyện thơ chàng Lú, Nàng Ủa Lại cũng có thể có hai lối hát cho cùng một tác phẩm thơ Chuyện thơ Sống Chụ xon xao khi nhà dỗi ngân nga thì phải theo làn điệu “khắp sư”, khi hát ở các bữa tiệc cưới thì phải theo làn điệu “khắp báo sao” Hát có kèm theo nhạc khí, chiêng trống tăng thêm không khí rạo rực, sôi nổi hoặc lâm ly thấm thiết Có thể nói, những giá trị văn hóa tinh thần phong phú đa dạng của dân tộc Thái tràn đầy sức sống
Cùng với những tinh hoa văn hóa độc đáo thể hiện đời sống tình cảm đằm thắm thiết tha của cộng đồng dân tộc, đồng bào Thái còn có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp như: Lễ mừng thọ, lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới, hội ném còn, Hạn Khuốn
Trong đó tiểu biểu phải kể đến phong tục như là: lễ mừng cơm mới
Người dân tộc Thái nơi đây quan niệm, để có một mùa vụ bội thu, thì sự phù
hộ của đất trời, tổ tiên là rất quan trọng Vì vậy, trước khi thu hoạch lúa, các gia đình đều làm lễ cúng cơm mới với ý nguyện bày tỏ lòng biết ơn với tổ tiên, trời đất Anh Đường Văn Liên cho biết: "Từng nhà tổ chức một Nhà em có làm nhưng em đã làm cách đây 2 hôm rồi Em cũng làm mâm cỗ như này Đặc trưng của người Thái có thịt
gà, chuẩn bị đủ thức ăn cho mọi người Còn cúng thì dành một con gà trống để thờ tổ tiên mình Người Thái phải sắm đầy đủ từ các loại củ như sắn, khoai, hoa quả như bưởi, mía… mình mời tổ tiên về mừng cơm mới Mời tổ tiên, họ hàng đến mừng cơm mới đến nhà, họ sẽ biết và đến cùng nhau"
Lễ cơm mới các thành viên quây quần bên nhau Đây sẽ là dịp để ông bà, cha
mẹ dạy bảo con cháu biết quý trọng sức lao động, đạo lý, lối sống đúng mực ở đời
Vì thế, dù công việc bận rộn đến đâu, con cháu vẫn cố gắng sắp xếp thời gian về xum vầy cùng gia đình trong ngày cơm mới Anh Lò văn Dũng, cháu của ông Tun, cho biết:
"Cũng như mọi gia đình trên đất Mường Phăng, năm nào đến vụ mùa cũng làm lễ tổ chức ăn cơm mới Thời ông thời cụ cứ truyền lại như vậy và chúng tôi phát huy nên giờ làm vẫn không có gì khác Phong tục này rất vui và hay, một phần là để người dân gìn giữ và phát huy truyền thống, một phần để người dân tổ chức ăn cơm mới là họ thấy mình được mùa Ai không tổ chức là không được mùa Mường Phăng nghề chính
là nông nghiệp lúa nước nên việc làm ruộng làm nương hết sức quan trọng"
Cái cách người Thái bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên cũng rất đặc biệt Ngoài những lễ vật như lợn, gà, các loại hoa quả, trên mâm lễ dâng lên tổ tiên còn có
Trang 23bát cơm mới mang đặc trưng của của người Thái Ông Lò Văn Hanh, anh họ của ông Tun cho hay: "Lễ cúng vừa có cơm mới, cơm cũ và cơm nhuộm màu Cơm để cúng lúa mới gặt khi còn non, mới chín 2/3 thôi mình gặt về, tuốt ra cho vào chõ hấp chín
cả thóc Đem ra phơi nắng để cho khô lúc đó mới đem đi sát Về vo qua để ráo nước mới cho vào đồ Cho nên nó vừa dẻo, vừa thơm"
dòng họ nên mỗi gia đình làm một ngày khác nhau Nhưng có một điểm chung là người Thái chọn ngày làm cơm mới là đều hướng về ông bà tổ tiên của mình Lò Văn Biên, bí thư xã Mường Phăng, cho biết: "Người Thái 10 ngày cúng 1 lần Nhà nào họ
to thì 5 ngày cúng 1 lần Ăn cơm mới thì trong tháng 30 ngày thì có 3 ngày thì mình chọn ngày nào cũng được Thường thường dân tộc Thái một năm chỉ làm một lần Chuẩn bị thu hoạch làm lễ cơm mới, lấy lúa hơi non để làm cơm cúng Làm thế này
để tổ tiên được ăn cơm mới trước mình" [ 16 ]
Lễ cơm mới được người Thái coi trọng và gìn giữ từ này sang đời khác bởi nó vừa phản ánh tín ngưỡng tâm linh, vừa biểu hiện nét văn hóa truyền thống đặc trưng, mang tính nhân văn sâu sắc và khắc sâu ý nghĩa xã hội Bởi lẽ, đây cũng là dịp để anh em trong gia đình, thông gia, làng xóm hội ngộ, chung vui, chia sẻ với nhau công việc làm ăn, xây dựng gia đình và thắt chặt thêm tình đoàn kết thôn bản hướng về một cuộc sống đủ đầy
Trong tất cả các lễ hội, ngày Tết của người Thái ở Tây Bắc, bên cạnh phần lễ là các nghi thức, nghi lễ thuộc về tâm linh thì phần hội không thể thiếu trò chơi ném còn
Để chuẩn bị cho ngày hội ném còn, các cô gái Thái đã chuẩn bị khâu quả còn trước vài tháng Quả còn được bàn tay khéo léo của các cô thôn nữ Thái khâu bằng vải, hình trái còn to bằng quả cam lớn, bên trong có nhồi bông, cỏ mềm, vải vụn, hoặc hạt của cây bông Bên ngoài còn được trang điểm bằng rua ngũ sắc trông sặc sỡ rất đẹp
dựng một cây tre dài từ 15-20m Trên ngọn cột tre, ngoài lá cờ ngũ sắc phấp phới biểu hiện của hội Xuân còn có một vòng tre đường kính ước khoảng hai gang tay, có quấn giấy đỏ Vòng tròn dán giấy đỏ này coi như là tâm điểm để các đội thi nhau ném Đội nào ném thủy tâm đó, coi như dành phần thắng
Trang 24Trong tâm thức của người Thái, trò chơi ném còn có ý nghĩa rất đặc biệt Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái Lò Văn Ín ở Điện Biên cho biết: “Quả còn trong quan niệm của người Thái tượng trưng cho dương còn vòng tròn dán giấy đỏ trên cây tre tượng trưng cho âm Người Thái chơi ném còn thể hiện âm-dương hòa hợp và mang ý nghĩa phồn thực Chính vì thế, những gia đình hiếm muộn con cái rất hào hứng tham gia ném còn để cầu tự” [16]
Ngoài ra, khi tổ chức hội thi ném còn, quả còn ném thường hướng về đầu nguồn sông hay suối, chính là hướng về các bản làng người Thái vì người Thái thường sinh sống bên đầu nguồn con nước Có lẽ vì thế, trò chơi ném còn vẫn trường tồn, trở thành trò chơi dân gian vui nhộn và thu hút nhiều người hào hứng tham gia nhất
Cách chơi ném còn rất đơn giản, chỉ cần người chơi chia làm hai đội, đứng hai đầu cây tre và dùng quả còn xoay tròn ném lên vòng tròn treo trên đầu cây tre Nếu đội nào ném trúng thủng vòng tròn thì thắng cuộc
Hội ném còn của người Thái không phân biệt lứa tuổi, ai cũng có thể tham gia Thậm chí, du khách miền xuôi lên vui hội, sẽ được các cô giái Thái duyên dáng trong váy cóm hướng dẫn bạn cách chơi Nếu bạn là người thắng cuộc sẽ được các già làng thưởng cho chum rượu ngô hay chính quả còn bạn ném làm kỷ niệm
Ngoài ra, đồng bào Thái còn có các tập tục truyền thống lâu đời như: Ma chay, cưới xin, cúng bản, cấm mường… Trong "Táy Pú Xấc" có ghi nhắc đến:
"Đến Tạo Chuông làm lễ Tạo Chuông làm lễ Tạo chuông mới lại theo tục xưa Mỗi suối mỗi trâu mổ
Một ngày dùng hai Mo" [4; tr 208]
Với những phong tục có từ ngày xưa này, đời đời con cháu nhớ ơn và luôn ghi nhớ những nét đẹp văn hóa các thế hệ đi trước sáng tạo ra và để lại một nét tâm linh văn hóa nhằm tạo dựng một bản mường một cuộc sống tốt đẹp hơn
"Mo bản cày cấy ruộng bản Pán Thạo xen giấy của Tạo gần xưa
Cả đời gửi bào cúng tế ngày xưa truyền lại Không bỏ bản từ thời cha ông " [4; tr 277]
Trang 25Hay:
"Cả đời thạo bài tư xưa cúng tế Bản cha ông truyền lại không buông" [4;tr 301]
dân Thái, trong các gia đình, dòng họ, bản mường
"Bản Pán để Mo Mương Dõi họ Lường từ xưa cúng tế" [4; tr 288]
Trong khi hành lễ thì có rất nhiều thủ tục, cũng như chuẩn bị đầy đủ về vật chất, các hiện vật phục vụ trong công việc hành lễ Những lễ cúng lớn của mường hay riêng chủ mường ngoài các lễ vật khác ra còn phải có lễ vật muông thú rừng như: Cá, gà rừng, gà lôi, các loại chim, chuột, sóc Song những thứ đó không thể kiểm ngay một lúc được nên phải có người chuyên kiếm mà sấy khô dần cho đủ
"Ngày cúng tế gọi bản dân vui Đảng
ầm ầm sôi động nhà to " [4; tr 287]
Ngoài ra còn rất nhiều phong tục đặc sắc khác, chúng tôi xin đưa ra một số phong tục tiêu biểu như: Dân tộc Thái Tây Bắc có rất nhiều phong tục trong việc kết hôn, trong đó có bước "Pán khẩu sống sứa Pha" (Bữa cơm xin đệm chăn) đây là bước đánh dấu hết thời gian ở rể Nhà trai chuẩn bị các loại lễ vật đón dâu:
Hay vào hàng năm khi mùa xuân đến cũng là lúc người Thái làm lễ "Xên Bản" Tiếng trống hòa với tiếng chiêng, tạo ra một thứ âm thanh rộn rã và rất riêng của vùng Tây Bắc, như chào mọi người cùng tham gia lễ hội với nhân dân trong bản, trong mường
Trang 26Theo quan niệm của người Thái, cây được chọn để thờ là một loại cây to ở đầu bản, gọi là Co Lắc Mương (Cây trụ mường) Gốc cây to được coi là nơi hội tụ hồn bản, là nơi thần linh hội nhập và trú ngụ Đây là nơi rất linh thiêng và kiêng kị đối với người Thái, con gái không bao giờ được vào, đối với con trai thì hàng năm cũng chỉ được vào một lần trước hôm cúng để phát dọn trước khi làm lễ, không một
ai dám xâm phạm vì như vậy sẽ động đến các vị thần
Xên bản dưới góc độ tâm linh thì còn lưu giữ trong đó nhiều giá trị văn hóa, cần được phát huy hơn nữa, làm cho nhiều người hiểu được, biết được cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Thái Tây Bắc
Mỗi phong tục tập quán có một sắc thái riêng, nhưng tựu chung lại là thể hiện phong phú của đời sống tình cảm, nếp tư duy của cộng đồng dân tộc đã phát triển đạt tới trình độ cao chứ không phải là “cách tư duy mờ mịt kiểu tôn giáo” Đặc biệt, với việc sáng tạo ra chữ Thái cổ và bộ sử thi Táy pú xấc là một tác phẩm đặc sắc đóng góp vào nền văn hóa, văn minh dân tộc
Truyện thơ “Sống trụ xôn xao” khi nhàn dỗi ngâm nga thì phải theo làn điệu
“Khắp sư”, khi hát ở các bữa tiệc thì phải theo làn điệu “Khắp báo sảo” Có thể nói những giá trị văn hóa tinh thần phong phú đa dạng của dân tộc Thái tràn đầy sức sống, cùng với tinh hoa văn hóa độc đáo thể hiện đời sống tinh cảm đằm thắm thiết tha của cộng đồng dân tộc Đồng bào Thái còn nhiều phong tục tập quán tốt đẹp như: lễ mừng thọ, lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới, hội ném còn, hạn khuốn Không những thế trong xã hội còn nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo, “vạn vật hữu linh”, tín ngưỡng linh hồn, tô ten ma thuật, thờ cúng tổ tiên… nhiều truyền thống xưa kia của người Thái đến nay vẫn còn được bảo lưu và duy trì làm giàu kho tàng văn hóa tộc người thêm đa dạng hơn Với những phong tục tập quán, những nét văn hóa tiêu biểu mà chỉ có ở dân tộc Thái góp phần thêm phong phú nền văn hóa văn minh dân tộc
Một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của đồng bào Thái đó là kỹ thuật canh tác ruộng nước nhất là phương thức dẫn thủy nhập điền, đao canh thủy nậu, hệ thống mương phai, phương thức canh tác này không chỉ có ý nghĩa với cộng đồng dân tộc Thái mà còn lưu truyền trên một địa bàn rộng lớn và các dân tộc trong khu vực Tây Bắc đã tiếp thu văn hóa này
Trang 27
Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ KỸ THUẬT LÀM ĐẤT VÀ MƯƠNG
PHAI CỦA ĐỒNG BÀO THÁI SƠN LA
2.1 Kỹ thuật làm đất
Hoàn toàn khác với các tộc người sinh sống ở rẻo giữa và rẻo cao, sống ở vùng thấp, trong các thung lũng chân núi, người Thái lấy việc trồng lúa nước trên những mảnh ruộng ở các thung lũng chân núi làm nguồn sống chính Họ coi trọng việc sản xuất lúa gạo và lúa gạo được coi trọng hơn cả trong cuộc sống của họ Dân gian Thái có câu :
"Thóc gạo ngồi trên, bạc tiền ngồi dưới"
( Khẩu nặm năng nưa, ngân căm năng tẩu) [1; tr 182] Trong hoạt động trồng trọt, ruộng nước là đối tượng canh tác chính của người Thái Điều này đã quy định mọi hoạt động sống của xã hội, con người cộng đồng Thái, người Thái cho rằng ruộng và nương là lẽ sống Như vậy trồng trọt là nguồn sống chính trong đó canh tác ruộng nước đứng hàng đầu
Canh tác ruộng nước: Từ ngày xưa ruộng đã là đối tượng canh tác chính của người Thái ở Tây Bắc nói chung và Thái đen ở Quỳnh Nhai-Thuận Châu nói riêng Đối với ruộng nước, việc trồng lúa nước họ có nhiều kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ
- Phân loại ruộng:
+ Theo địa hình: Tận dụng đất đai, lợi dụng địa hình người Thái đã khai phá được những khu ruộng ở thung lũng và ruộng bậc thang trên các sườn dốc Loại ruộng ở các thung lũng bằng phẳng họ gọi là Na tông Ruộng ở eo hẹp men theo chân núi hoặc trên sườn dốc gọi là Na hon Tuy vậy Na tông chỉ được hiểu theo nghĩa tương đối, các cánh đồng trong các thung lũng chân núi không thể bằng phẳng mà thường có nhiều khu với nhiều độ cao khác nhau Trong việc khai thác các thửa ruộng, người Thái tập trung vào việc xây dựng bờ ngăn nước là chính Ngược lại với ruộng bậc thang (Na hon) họ lại tập trung vào việc tạo mặt bằng cho thửa ruộng là chính trên cơ sở có mặt bằng rồi mới xây dựng các bờ ngăn nước
+ Theo nguồn nước: Người Thái ở Tây Bắc phân ruộng thành hai loại: Ruộng nước mưa (na nặm phạ) và ruộng nước ngâm (na nặm che) Ruộng nước
Trang 28mưa (chờ mưa) thường trên sườn dốc, một năm chỉ canh tác được một vụ Chính vì phải chờ nguồn nước trời nên thời vụ ở loại ruộng này thường muộn hơn ruộng nước ngâm Nếu tháng 8 lịch Thái (tháng 3 âm lịch) người ta bắt đầu thời vụ làm ruộng ngâm nước, thì mãi tới tháng 10 - 11 lịch Thái (tháng 5- 6 âm lịch) họ mới bắt đầu thời vụ làm ruộng Na hon Ruộng nước ngâm thường ở các thung lũng lòng chảo vùng cư trú tập trung của các bản Thái, với loại ruộng này người Thái có thể chủ động việc tưới, tiêu nước cho lúa Ruộng nước ngâm của họ bao gồm nhiều loại: Ruộng nương phai, ruộng sộc (na huổi), ruộng đầm lầy (na bươm) Nguồn nước chính cung cấp cho na tông là các sông, suối (nặm) Thông qua hệ thống Mương, Phai cổ truyền của họ Ruộng bậc thì lấy nước từ các khe lạch, ruộng đầm lầy lấy nước có sẵn trong các mạch ngầm tại ruộng Do chủ động được nguồn nước tưới, ruộng nước ngâm thường được người Thái chủ động về cả thời vụ và khâu canh tác có điều kiện để thâm canh
+ Theo chất đất: Theo người Thái, Na tông bao giờ cũng tốt hơn Na hon Để phân loại cụ thể hơn họ phân loại ruộng theo hạng: Hạng tốt: Naha - ruộng nhiều mùn Tốt nhất là Na hán bản - ruộng mùn, thứ hai là ruộng nằm kề miệng nương (
na pá mương) Cuối cùng là ruộng nằm ở cuối mương ( na khó sái pai nặm) Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nghề trồng lúa nước, vấn đề quan trọng hàng đầu chính là ở khâu chọn đất Cũng như nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, người Thái rất quan tâm đến việc tìm cho mình những mảnh đất thuận tiện cho sản xuất Mục đích của công việc này là nhằm chọn lựa những mảnh, mảnh đất màu mỡ, tốt tươi góp phần đưa lại năng suất cao Đất sản xuất nông nghiệp của người Thái cũng như nhiều dân tộc anh em khác chủ yếu là đất rừng và đất phù sa ven suối hoặc ven đồi Ở mỗi loại đất này, đồng bào lại có những “tiêu chí” khác nhau để lựa chon cho mình những mảnh đất tốt nhất
“Dệt hay dệt lìn piêng Dệt na châng tắm chắng dú nặm” [11; tr 408]
Tức là: Làm nương chọn (làm) đất bằng; Làm ruộng (chọn) chỗ thấp mới đủ nước Đây chính là tri thức đặc biệt quý trong kho tàng kinh nghiệm của đồng bào được hình thành trong quá trình lịch sử lao động sản xuất Đối với họ, làm nương phải chọn nơi đất thấp tơi xốp, làm ruộng phải chọn nơi đất trũng nhiều nước
Trang 29Hay:
“Na kem mương, cỏng bản na chăm”
(Ruộng chân mương, dưới bản ruộng tốt) [11; tr 408]
Những kinh nghiệm trên cho thấy người Thái quan niệm rất rõ ràng về việc chọn đất đai làm ruộng Đất ruộng phải gần nguồn nước, đảm bảo cho tưới tiêu Ruộng gần bản thuận lợi cho chăm bón, làm cỏ Đối với người Thái thì chính những yếu tố này là một trong những nhân tố đặc biệt đảm bảo cho khả năng mùa màng bội thu
Từ cuộc sống ở những vừng đầm lầy rất có thể con người đã chuyển từ hình thức hái lượm lúa hoang sang hình thức trồng lúa đơn giản trên lầy, mà có thể nói biện pháp thủy nậu (sục đất với nước để thành bùn) là biện pháp trồng trọt đầu tiên trước khi con người phát minh ra cái cuốc, cái cày
Người Thái coi trọng các khâu: cày vỡ đất, giãy cỏ, phát bụi rậm, làm bờ, cấy
ải, bừa Theo họ đây là giai đoạn thực hiện bóc trần giãy sạch (háy rọn, chọn khoa) Nông cụ để thực hiện công đoạn này gồm: Dao (mịt), cày (phày), mai (của), bừa (bàn)
Đặc điểm chủ yếu của nông nghiệp dùng cày trong đó đặc biệt là nông nghiệp trồng lúa nước là dùng sức kéo gia súc trong khâu làm đất (cày bừa đất) Phương thức canh tác dùng cày trên ruộng nước, phương thức này thể hiện các tộc người sống ở vùng thấp và cả một phần các tộc người sống ở dẻo giữa và vùng núi cao Có thể thấy điển hình ở người Thái nói chung và người Thái đen nói riêng với những nét đặc trưng cơ bản của nó Đó là lối canh tác dùng cày, trồng lúa trên những thửa ruộng có nước Ruộng nước là khoảnh đất có mặt bằng, xung quanh có bờ ngăn giữ nước Trên đó người ta thực hiện các khâu canh tác: cày, bừa, phân bón, gieo trồng
và thu hoạch Như vậy muốn làm ruộng nước trước hết phải có cách giải quyết nước, sau đó phải tạo ra mặt bằng và đắp bờ xung quanh để giữ nước Nếu như thiếu một trong những điều kiện trên thì không còn được gọi là ruộng nước nữa
Khi vỡ đất (cày), người Thái dùng trâu làm sức kéo, lớp đất được cày lên không sâu quá 10 - 15cm Theo tập quán, khi hết mùa vỡ đất họ lại cất cày tại nơi thờ cúng
tổ tiên, cày và phơi đất ải được người Thái áp dụng từ xa xưa tục ngữ Thái có câu:
"dệt hay bốm cha, dệt na bốm phản"
(Làm nương thì cày ủ, làm ruộng thì cày ải) [1; tr 186]
Trang 30Thời gian phơi đất ải thường kéo dài tới một tháng, sau đó mới làm bờ lại, tháo nước vào và bừa Người Thái có thói quen bừa đất làm ruộng cấy rất kỹ (ban nuôn), có những mảnh ruộng họ bừa tới gần chục lượt mới cấy Bừa của người Thái
có bộ răng bằng gỗ là phổ biến ít thấy dùng bừa bằng sắt như người Việt Tuy vậy ruộng của người Thái khi bừa xong đất rất nhuyễn, thích hợp cho sự phát triển của cây lúa
Một đặc điểm quan trọng là bờ ruộng của người Thái phải đạt tiêu chuẩn: Trơn, nhẵn tự bôi dầu (nặm măn, kăn kiếng) Từ khi cáy cho tới lúc thu hoạch lúa, bờ ruộng bao giờ cũng phải sạch, quang đãng (pe căn chăn khẩu) Đây chính là một trong những biện pháp phòng chống chuột và sâu bệnh
Quá trình làm đất người Thái có một quan niệm phổ biến rằng phải hòa nhuyễn nước với đất thành bùn mới trồng được lúa nên người Thái có câu:
"Na pông ó bó khẩu"
(Ruộng bùn là nguồn thóc gạo) Khâu làm đất của người Thái phổ biến nhất là theo lối “Đao canh thủy nậu” và
“Đao canh hỏa chủng”
Đao canh thủy nậu là khâu làm đất mà theo lối này đồng bào phát cây cỏ ở ngay ruộng của mình và nếu trong ruộng có rơm dạ thì tiến hành rải rơm dạ cho đều thửa ruộng, việc làm như vậy giúp cho lượng tro bùn được hòa đều vào cả thửa ruộng Khi thấy cỏ phát trong ruộng đã bị héo hoặc đã chết thì tiến hành đốt làm cho đất được tơi xốp và đảm bảo nguồn phân xanh trong tự nhiên Sau đó tiến hành tháo nước vào
và cho trâu quần sục bùn hoặc bừa thẳng không cần cày rồi sau đó thực hiện việc cấy trồng trên mảnh đất ấy
Đao canh hỏa chủng đây cũng là một khâu làm đất tương đối phổ biến Đồng bào dùng dao phát cỏ, ngoài những cây có sẵn trong thửa ruộng còn đi phát ở thêm vùng lân cận và xung quanh thửa ruộng của mình rồi gánh mang vào thửa ruộng Khi nhận thấy lượng phân xanh cung cấp cho thửa ruộng đã được đảm bảo thì ngay sau
đó đồng bào Thái tiến hành thả nước vào để làm cho cỏ thối rữa ra sau đó mới cấy lên, và tiến hành cày bừa cùng với công tác gieo trồng Theo quan niệm của người Thái với những lối “Đao canh thủy nậu” và “Đao canh hỏa chủng” sẽ làm cho đất được tơi xốp, cấy lúa tốt, khỏe mạnh và cho năng suất cao Với việc canh tác theo hình thức “Đao canh thủy nậu và đao canh hỏa chủng” đã phản ảnh khá đầy đủ và rõ
Trang 31nét sự độc đáo lối canh tác này của đồng bào Thái đen nói chung và đồng bào Thái đen Quỳnh Nhai nói riêng giúp đảm bảo cung cấp nguồn lương thực cho cuộc sống, đem lại hiệu quả kinh tế cao, lương thực không chỉ đảm một năm mà còn dư thừa sang năm sau
Theo phương pháp vỡ ruộng hoang cổ truyền của người Thái mà họ gọi là natí (ruộng vỡ) được tiến hành như sau: đầu tiên là tìm ra nguồn nước, sau đó phát cây, phát rừng để khô rồi đốt Dùng mai đào mương để dẫn nước rồi xây dựng mặt bằng
và be bờ tạo thành ruộng, tiếp đó dùng mai xới đất cho nước vào ngâm rồi lùa trâu vào và đưa người vào sục đất thành bùn là có thể cấy lúa được Cách làm đó có thể canh tác theo lối hỏa canh thủy nậu đã ghi trong sách cổ của Trung Quốc (như sử ký – hỏa thực liệt truyện, diêm thiết luận…)
Ngoài ra cùng với hai lối canh tác phổ biến như trên thì còn thêm khâu bừa đất cũng đóng vai trò khá quan trọng không chỉ có tác dụng xáo trộn đất và phun bùn, hạn chế cỏ dại tái sinh còn làm cho đất thêm tơi xốp, làm cho mặt bằng canh tác trong thửa ruộng được bằng phẳng và thuận lợi cho việc canh tác
Do đặc điểm địa hình của ruộng bậc thang nên việc lắp bờ giữ nước là rất quan trọng Muốn lắp bờ người ta phải dùng cai mai Đó là công cụ có thể thay được cuốc đồng thời thay được xẻnh, nó có tác dụng đào sâu trên đất bùn, hót đất bùn lên đắp bờ cao thấp khác nhau và cũng có thể dùng để sục bùn, cỏ nước hòa nhuyễn rồi cấy luôn Người Thái có cách xử lí quá trình lắp bờ của mình rất tốt, trong mỗi một mùa
vụ mỗi gia đình lại bắt đầu công việc sửa chữa bờ,sửa chữa lại những chỗ bị sạt lở do người đi dẫm sạt, trâu bò xéo lên Để đảm bảo lượng nước cần thiết trong mối ruộng
và ruộng nước của các khu ruộng phía dưới Bờ ruộng vừa được lắp bằng đất vừa lắp bằng đá giữ cho bờ ruộng không bị đổ vỡ, sạt lở, đất lắp chặt sẽ giúp cho nước trong ruộng giữ được lâu hơn, quá trình thẩm thấu chậm hơn, chiều cao từ thửa ruộng trên
so với thửa ruộng dưới có thể hàng mét, điều này phụ thuộc vào độ dốc của khu đất khai phá ruộng bậc thang
Theo ông Điêu Văn Hại ở Mường Giôn- Quỳnh Nhai một già làng lớn tuổi và
có khá nhiều kinh nghiệm trong quá trình canh tác đã kể lại về quá trình làm đất cụ thể như sau “quá trình làm đất của đồng bào Thái đen, trước hết phải sửa sang mương phai hoặc làm mới mương phai để dẫn nước về tới ruộng Sau khi nước đã về tới ruộng rồi thì bắt đầu tiến hành khâu làm đất, khâu này là một khâu khá quan trọng
Trang 32và phải làm thế nào để đất được tơi xốp? có làm được như vậy thì mới dễ dàng cho việc cấy lúa Phần lớn ruộng của người Thái đen trên Quỳnh Nhai, Sơn La chủ yếu là ruộng bậc thang nên bờ của ruộng hay bị đổ nên người dân tiến hành đắp bờ vừa để tránh bị đổ bờ ruộng vừa để giữ được nước Sau khi đã đắp bờ xong thì tiến hành cày đất lên và sau đó bừa đi để tạo thành mùn giữ nước, quá trình cày bừa tiến hành hai lần làm như vậy đất được tơi xốp thuận lợi cho việc cấy lúa, cùng với đó thì trong quá trình cày bừa bà con thường cho phân xanh và phân thường để giúp cây lúa phát triển tốt hơn”
Như vậy từ lời kể của ông Hại, ta cũng thấy được rằng quá trình làm ruộng cũng trải qua nhiều bước và trong đó nước vẫn là yếu tố hàng đầu quan trọng bậc nhất không thể thiếu được Trong ca dao, tục ngữ Thái cũng có nói đến tầm quan trọng và tác dụng của nước để lại những kinh nghiệm canh tác quý báu về vấn đề này:
“ Na hảnh khấu khô Báu mi chơ lau khẩu chăn”
(Ruộng cạn khô; Không bao giờ lúa tốt)
“ thay loc ban muôn Năm măn căn kiểng”
(cầy sâu bừa kĩ; bờ trơn nhẵn tựa bôi dầu) [ 1; tr 187]
“ dệt hay pốc tủm bàu mạy Dệt na hẩy nặm thổm cốc”
(Làm nương xới (lấp) ử lá cây; làm ruộng (thì phải) cho nước ngập gốc cây lúa)
“ dệt hay bốm cha Dệt ná bốm phản” [11; tr 182]
(làm nương chặt cây để thật nhỏ; làm ruộng phơi ải luống cày)
Đồng bào Thái cũng rất độc đáo trong việc lựa chọn cửa ruộng, cửa ruộng của ruộng của đồng bào Thái dài khoảng 20-30cm, sâu khoảng 8cm(ruộng to) ruộng nhỏ cửa ruộng dài khoảng 20-25cm sâu 5-6cm Cửa ruộng phải được đặt chéo góc nhau ở bên bờ, có như vậy độ màu mỡ của thửa ruộng trên không bị trôi hết xuống dưới, mà mặt nước ruộng lúc nào cũng giữ được mức nước cần thiết cho mỗi giai đoạn cây lúa cần nước để làm đòng, làm bông Nếu cửa ruộng nằm ở phía góc trái, bờ ruộng phía trên chảy xuống thì cửa nước chảy xuống ruộng dưới sẽ nằm ở phía bên phải của bờ ruộng theo kiểu sole nhau Với việc tạo cửa nước vào một đầu và thoát ra một đầu
Trang 33khác nhau sẽ làm cho lượng nước chảy vào ruộng mang theo nhiều chất dinh dưỡng
từ nguồn nước chảy từ rừng, từ thôn bản đổ vào ruộng và giữ lại được một phàn trong ruộng, một phần chảy xuống khu ruộng phía dưới
Những tri thức dân gian trên của đồng bào Thái cho thấy kinh nghiệm của họ rất phong phú và mang đậm yếu tố triết lý sâu xa về tầm quan trong của việc làm đất trong ruộng nước Cũng thông qua đó, người Thái còn cho chúng ta thấy mối quan hệ chặt chẽ: Đất – Người – Nước
2.2 Kỹ thuật dẫn thủy nhập điền hay hệ thống mương phai, lai lín
Người Thái đen Sơn La phần lớn là sống với nền nông nghiệp lúa nước Vì thế, đối với người Thái, yếu tố nước luôn có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện ở
hai khía cạnh: nước phục vụ cho sản xuất, chăn nuôi (tưới ruộng, nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản) và nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày (ăn
uống, tắm rửa, giặt giũ…), với phương thức canh tác trên ruộng nước thì việc đầu tiên là phải đưa nước về ruộng Do điều kiện sống ở ven chân các dãy núi, bên cạnh các con suối lớn nhỏ với những dải đất phù sa nhỏ hẹp các con suối đem lại đã tạo
ra đặc trưng độc đáo trong lao động sản xuất nông nghiệp của người Thái nói chung
và người Thái đen nói riêng
Vốn là cư dân nông nghiệp làm ruộng nước, người Thái đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và tri thức dân gian phong phú trong việc khai thác, bảo vệ và sử dụng
có hiệu quả nguồn nước thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và chăn nuôi Chính các kinh nghiệm và tri thức dân gian này đã làm nên một phần các giá trị văn hoá mang tính bản sắc tộc người của họ
Qua lao động sản xuất tộc người Thái đã tích lũy rất nhiều kinh nghiệm, dẫn, giữ nước Thử hỏi có mấy cộng đồng người làm ruộng đã đúc rút được tập quán làm thủy lợi của mình bằng biểu tượng ngôn ngữ hay chưa? Thế vậy mà người Thái đã có bốn chữ nổi lên bốn giải pháp thủy lợi cổ truyền khá hoàn chỉnh xếp gọn trong câu thành ngữ: “Mương, Phai, Lai, Lín”
Xưa nay, chúng ta vẫn biết đến hệ thống thuỷ lợi nổi tiếng - mương phai, lai,
lín và cọn nước - của người Thái Về mặt này, họ đã đạt được những thành tựu đáng
kể trong việc khai thác và sử dụng nguồn nước tưới tiêu bằng phương pháp dẫn thuỷ nhập điền Trong các khâu kỹ thuật liên hoàn, biện pháp thuỷ lợi luôn được người Thái đặt lên hàng đầu với ý thức, vai trò và tầm quan trọng
Trang 34Có thể nói, hệ thống thuỷ lợi mương phai của người Thái chẳng những là một trong những thành tố văn hoá vật chất, phản ánh những kinh nghiệm dân gian truyền thống đã được đúc kết, mà còn thể hiện bản sắc đặc trưng văn hoá tộc người của họ Đây là mặt biểu hiện cụ thể của văn hóa lúa nước có cội nguồn, từ cư dân nói tiếng Tày – Thái cổ
“Pản phai au lìn kén Dệt bản mương ha phủ thảu”
(Đắp phai cần đất sét; Dựng bản mường cần người già) [11; tr 483]
“Kin khảu nha lưm xìa na Kin pa nha xìa nặm”
( Ăn cơm không được quên ruộng; ăn cá đừng quên nước) [11; tr 483]
“ Dệt hay báu pền khỉ chạn Dệt phài chắng mi nặm xó na”
(Làm mương đừng có lười; Làm phai mới có nước vào ruộng) [11; tr 483]
“ Mi nặm chẳng pền na
Mi na chẳng pền khẩu”
(Có nước mới thành ruộng; có ruộng mới có lúa (ăn)) [1; tr 189]
Một trong những tiêu chí quan trọng đầu tiên khi chọn đất dựng nhà của người Thái là phải gần nguồn nước Minh chứng cho điều này là cho dù hầu hết làng bản của người Thái đều được bố trí theo lối mật tập trong các thung lũng lòng chảo hay trải dài theo các sườn đồi, nhưng bao giờ nơi cư trú của họ cũng đều gắn với khe
suối, gần nguồn nước, thuận tiện cho việc đắp mương phai để dẫn thủy nhập điền và
nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
Nếu điểm qua các hình thái cư trú của người Thái, chúng ta thấy, nhiều tên bản
thường được bắt đầu hoặc liên quan đến yếu tố nước (nặm) như: huổi (suối), bó (mỏ nước), xốp (miệng/cửa khe suối), noong (ao/hồ)
Nhưng cho dù sinh sống bằng canh tác ruộng nước hay bằng nương rẫy là chính, thì những bản của họ bao giờ cũng thường bố trí gần khe suối, thuận tiện cho việc lấy nước sinh hoạt, đánh bắt cá, đáp ứng một phần nhu cầu thực phẩm hàng ngày Những bản gần kề sông suối, đóng vai trò trung tâm thường có tên gọi là
bản Tá Đo (bến thuyền)
Trang 35Nước chẳng những là tiêu chí để chọn nơi cư trú, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc khai khẩn đồng ruộng, tạo điều kiện cho sự hình thành các đơn vị cư dân đông đúc Những mường lớn xưa kia của người Thái ở Tây Bắc đều được hình thành trên cơ sở của các cánh đồng rộng lớn như câu tục ngữ: “nhất Thanh, nhì Lò, tam Tấc, tứ Than” vốn cũng đều là những vùng có hệ thống sông suối dày đặc, thuận tiện cho việc làm thủy lợi, phục vụ tưới tiêu cho các cánh đồng, nuôi sống một lượng
cư dân đông đúc
Có thể nói, tri thức dân gian Thái phong phú và đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Đồng thời thông qua đó, chúng ta còn thấy được những mối liên hệ giữa yếu tố nước với hàng loạt những yếu tố quan trọng của cuộc sống cộng đồng bản làng Nhiều bộ phận người Thái sống kết hợp giữa canh tác ruộng nước và nương rẫy
Mương là đường khai để dẫn nước vào miệng ruộng Nói về việc đào mương,
người ta dễ thấy ở người Thái với trình độ kỹ thuật thủ công đã đạt được thành tựu đáng kể Có những con mương dài ngót chục cây số vắt qua triền núi đá hoặc uốn mình men theo đường khúc khuỷu của chân đèo đầy chướng ngại vật, thế mà họ đã tạo nên được để đưa nguồn nước từ xa đổ vào ruộng Nước đổ vào mương thường bắt đầu
từ hai đầu phai.Đây là một trong những thành tựu lớn trong thâm canh lúa ở miền núi Điều quan trọng là dân tộc Thái đã biết lợi dụng địa hình, tính toán, khắc phục những vật cản nguy hiểm (như đá, núi đá ) cùng với Phai, Mương là một bằng chứng hùng hồn về sự cần cù, thông minh của người Thái ở Sơn La nói chúng và Thái đen Quỳnh Nhai nói riêng Chỉ với con dao, cái cuốc họ đã dùng đôi bàn tay đầy tài hoa xây dựng nên một hệ thống Mương, Phai đủ sức tưới tiêu cho đồng ruộng
Phai là một loại đập ngăn suối, sông con, được dựng bằng gỗ, tre, nứa, rơm rạ
đất để dâng mực nước từ mương tới ruộng và đất để dẫn nước đổ vào mương dẫn tới đồng ruộng Như vậy phai quyết định lưu lượng nước ở trong mương, phai vững thì mương có nước tưới cho ruộng và mùa màng đảm bảo thu hoạch tốt Ngược lại nếu phai vỡ thì mương khô, ruộng cạn mùa mang thất bát, bởi vậy người Thái có câu
ví von:
"po tai phai păng, po nhăng phai mẳn"
(Phai vỡ như cha chết hay cha chết như Phai vỡ, Phai vững như cha còn hay cha còn như Phai vững) [ 17; tr 107]
Trang 36Với nhận thức về mối tương quan đó, người ta đã khôn khéo đắp phai để dâng nước lên cao tới mức cần thiết đổ vào mương Phai có nhiều loại: loại có đà và không
có đà, tuỳ theo điều kiện địa hình mà họ đắp loại phai nào thích hợp
Muốn làm Phai, trước hết phải chọn vị trí có địa hình thuận lợi cho việc dẫn nước và dựng Phai: Hai đầu Phai thường phải có đá đầu, gốc cây lớn để làm chỗ dựa Trước tiên họ đặt một cây lớn - mẹ nằm cát (mẹ non xai) xuống đáy suối, hai đầu tỳ chắc vào đá, gốc cây ở hai bên bờ Mẹ nằm cát là nền móng của Phai Nếu suối rộng phải dùng hai, ba cây gỗ làm mẹ nằm cát và người Thái có cách nối thật hoàn hảo Tại điểm nói họ cho mẹ nằm cát tỳ vào trụ được làm bằng đá cách làm trụ này phổ biến là: Lấy tre quây tròn lại rồi cho đá vào Đặt xong mẹ nằm cát, người ta dựng đầu Phai (có chọn Phai) bằng cách: Xếp các cây gỗ theo hình dải quạt có tâm điểm tỳ trên đáy suối và đầu kia tỳ trên mẹ nằm cát
Lớp trên cùng họ dùng phên tre, nứa, đất đá đắp lên mặt Phai cho kín để ngăn nước lại, dâng cao thác vào mương với cách làm Phai như trên, nước càng chảy mạnh càng nén vào đầu Phai tỳ chặt vào mẹ nằm cát Phai càng vững chắc Ưu điểm lớn nhất của loại Phai này là: Ngăn được nước dâng cao tràn vào Mương, nhưng vẫn thoát được cát sả do nước cuốn từ trên đồi núi xuống Hiện nay, mặc dù nhiều nơi ở Quỳnh Nhai xây dựng Phai bằng hệ thống bê tông cốt thép nhưng không dùng được
do cát sỏi, đất đá bị cản lại lấp đầy dòng suối phía trên Phai
Vì tính quan trọng của Phai đối với đời sống của cộng đồng, tập quán nên Phai của của người Thái quy định trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Phai của mọi thành viên Nghĩa vụ làm Phai làm Mương được quy định trong việc mường của người Thái ở Sơn La nói chung và Thái đen Quỳnh Nhai nói riêng Mỗi mường thường có một viên quan (quan ha) và một đội trực thường xuyên kiểm tra bảo vệ và sửa chữa Mương Phai Hàng năm để cầu mong cho Phai vững, các mường Thái đều làm lễ cúng Phai (xên phai), cũng có nơi tế Phai riêng, cũng có nơi làm luôn trong lễ cúng mường (xiên mường)
Để đánh giá tầm quan trọng của Phai, từ nhận thức đầy đủ về mối tương quan giữa cuộc sống con người với công trình thủy lợi mà dân tộc Thái đã tạo ra được một cách đắp Phai tương đối vững vàng đủ sức ngăn được dòng suối, sông còn chảy siết
và dâng mực nước lên tới mức cần thiết để đổ vào mương Khúc suối, sông con chỗ đặt Phai xưa còn là biểu tượng nơi ngụ của “chúa nước” (chẩu nậm) tương tự như