Tính cấp thiết của đề tài Năm 2012, Ban chỉ đạo Nhà nước về thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập là một trong những bước đi khá toàn diện nhằm
Trang 1nhằm hoàn thiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng cá nhân tôi, các số liệu có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng, kết quả trong luận văn
là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đó
Lào Cai, ngày 20 tháng 3 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Khang Liệu
Trang 2Nội đã tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Đại Thắng và tập thể các Thầy, Cô trong Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại Bách Khoa Hà Nội, ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai… đã giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tuy nhiên, do trình độ và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên chuyên đề này không thể tránh khỏi những thiếu xót, khuyết điểm Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, sửa chữa của Thầy, Cô để chuyên đề này được hoàn thiện hơn
Tác giả
Nguyễn Thị Khang Liệu
Trang 3TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 4
1.1 Tổng quan lý luận về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập 4
1.1.1 Những vấn đề lý luận về đơn vị sự nghiệp công lập 4
1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công 7
1.1.3 Những vấn đề lý luận chung về các đơn vị sự nghiệp y tế công lập 8
1.1.3.1 Đặc điểm và mục tiêu của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập 8
1.1.3.2 Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp y tế công lập 10
1.1.4 Cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công nói chung và đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng 11
1.1.4.1 Khái niệm và mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công 11
1.1.4.2 Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập có thu nói chung và các đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng 14
1.1.4.3 Nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chinh 15
1.2 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công và ở các đơn vị sự nghiệp y tế công lập ở Việt Nam 24
1.2.1 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chiu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công 24
Trang 41.3 Kinh nghiệm của một số nước trong quản lý tài chính các bệnh viện 30
1.3.1 Hệ thống bệnh viện công lập thuộc các nước Đông Âu 30
1.3.2 Mô hình bệnh viện công của Trung Quốc 32
1.3.3 Hệ thống bệnh viện của Mỹ 32
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LÀO CAI, GIAI ĐOẠN 2013-2015 35
2.1 Khái quát về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai 35
2.1.1 Mô hình tổ chức quản lý và chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai 35
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai 39
2.2 Phân tích tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 42
2.2.1 Phân tích thực trạng quản lý khai thác các nguồn thu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 42
2.2.1.1 Thực trạng nguồn ngân sách Nhà nước cấp 53
2.2.1.2 Thực trạng nguồn thu từ viện phí trực tiếp và bảo hiểm y tế 55
2.2.1.3 Thực trạng thu từ nguồn các hoạt động dịch vụ 56
2.2.1.4 Thực trạng thu từ nguồn thu khác 59
2.2.2 Phân tích tình hình quản lý các khoản chi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 60
2.2.3 Thực trạng phân cấp và quản lý tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai 70
2.3 Đánh giá chung tình hình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai 72
2.3.1 Kết quả đạt được 72
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 72
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 76
Trang 5ĐA KHOA TỈNH LÀO CAI 77
3.1 Định hướng phát triển và hoàn thiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn tới 77
3.1.1 Chiến lược phát triển Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2020 77
3.1.2 Sứ mạng và tầm nhìn của bệnh viện đến năm 2020 77
3.1.3 Mục tiêu chiến lược phát triển 79
3.1.4 Các định hướng đổi mới và hoàn thiện cơ chế tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai 79
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn hiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2020 80
3.2.1 Đa dạng hóa các nguồn tài chính tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Lào Cai 80
3.2.2 Tăng cường xã hội hóa công tác khám bệnh, chữa bệnh 81
3.2.3 Thực hiện một số giải pháp trực tiếp nhằm tăng nguồn thu 83
3.2.4 Đẩy mạnh công tác quản lý các khoản chi phí 86
3.2.5 Đẩy mạnh công tác quản lý và sử dụng tài sản 88
3.2.6 Tăng cường giám sát và phân cấp quản lý cho các đơn vị, khoa, phòng trực thuộc 88
3.2.7 Kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài chính, kế toán 91
3.2.8 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và tin học hoá trong quản lý tài chính 92
3.3 Các kiến nghị 93
3.3.1 Các kiến nghị chung 93
3.3.2 Các kiến nghị cụ thể 94
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BVĐK Bệnh viện Đa khoa
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
Trang 7Bảng 2.1 Nguồn tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013 -
2015 43 Bảng 2.2 Nguồn kinh phí thường xuyên của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013 – 2015 48 Bảng 2.3: Số lượng bệnh nhân và số viện phí thu được của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 55 Bảng 2.4: Số thu từ hoạt động dịch vụ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 57 Bảng 2.5: Nguồn thu khác của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-
2015 59 Bảng 2.6 Tổng hợp số liệu chi của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-
2015 63 Bảng 2.7: Mức thu nhập bình quân của người lao động tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 68 Bảng 2.8: Kết quả tiết kiệm chi quản lý hành chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 69 Bảng 3.1 Tình hình khám chữa bệnh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 82 Bảng 3.2 Dự kiến nguồn thu tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai đến năm 2020 83
Trang 8Hình 2.2: Sự biến đổi nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp theo chỉ số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013-2015 44 Hình 2.3: Sự biến đổi nguồn thu từ viện phí trực tiếp theo chỉ số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013-2015 44 Hình 2.4: Sự biến đổi nguồn thu từ bảo hiểm Y tế theo chỉ số biến động liên hoàn
và cố định giai đoạn 2013 – 2015 45 Hình 2.5: Sự biến đổi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ theo chỉ số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013 – 2015 45 Hình 2.6: Sự biến đổi nguồn thu khác theo chỉ số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013 – 2015 46 Hình 2.7: Cơ cấu nguồn tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2013 46 Hình 2.8: Cơ cấu nguồn tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2014 47 Hình 2.9: Cơ cấu nguồn tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2015 47 Hình 2.10: Sự biến đổi nguồn kinh phí thường xuyên từ Ngân sách nhà nước cấp theo chỉ số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013-2015 50 Hình 2.11: Sự biến đổi nguồn kinh phí thường xuyên từ viện phí trực tiếp theo chỉ
số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013-2015 50 Hình 2.12: Sự biến đổi nguồn kinh phí thường xuyên từ bảo hiểm y tế theo chỉ số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013-2015 50 Hình 2.13: Sự biến đổi nguồn kinh phí thường xuyên từ hoạt động dịch vụ theo chỉ
số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013-2015 51 Hình 2.14: Sự biến đổi nguồn kinh phí thường xuyên từ các nguồn khác theo chỉ số biến động liên hoàn và cố định giai đoạn 2013-2015 51 Hình 2.15: Cơ cấu nguồn tài chính thường xuyên của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2013 52 Hình 2.16: Cơ cấu nguồn tài chính thường xuyên của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2014 52 Hình 2.17: Cơ cấu nguồn tài chính thường xuyên của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2015 53 Hình 2.18: Số lượng bệnh nhân và số viện phí thu được của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015 55
Trang 9Hình 2.20: Nguồn thu khác của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn
2013-2015 59
Hình 2.21: Cơ cấu chi của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2013 64
Hình 2.22: Cơ cấu chi của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2014 64
Hình 2.23: Cơ cấu chi của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2015 65
Hình 3.1: Dự kiến nguồn thu tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai đến năm 2020 84
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2012, Ban chỉ đạo Nhà nước về thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập là một trong những bước đi khá toàn diện nhằm thay đổi tư duy, nhận thức của nhiều đơn vị khi thực hiện chủ trương của Nhà nước và Chính phủ, nhất là trong thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công
Với vai trò là cơ quan thường trực, giúp việc cho Ban chỉ đạo, Bộ Tài chính đã tích cực tham mưu với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nội dung Kết luận số 37-TB/TW của Bộ Chính trị về
Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công” Tuy nhiên, tiến độ triển khai và kết quả đạt được của các nội dung về đổi mới cơ chế hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp công chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu
Đặc biệt, việc khảo sát, đánh giá cụ thể các cơ chế hiện tại về chính sách tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài chính đối với từng lĩnh vực để có nền tảng xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với từng lĩnh vực cụ thể đảm bảo phù hợp cũng sẽ được Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành triển khai tích cực trong năm 2013 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai là bệnh viện hạng 2, được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2013 trên cơ sở sáp nhập hai bệnh viện đa khoa tỉnh số 1 và số 2, với qui mô ban đầu là 500 giường bệnh, đến năm 2015 được giao bổ sung 100 giường bệnh, nâng qui mô nâng lên thành 600 giường bệnh Về tổ chức bộ máy, Bệnh viện gồm có Ban giám đốc, 6 phòng chức năng, 20 khoa lâm sàng và 7 khoa cận lâm sàng; đội ngũ cán bộ công nhân viên chức có đến cuối năm 2015 là 676 người Là một đơn vi sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế phục vụ nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho người dân cũng như đảm bảo công tác cứu, chữa bệnh nhân Hàng năm Bệnh viện không ngừng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị
và nhận chuyển giao kỹ thuật từ truyến trên nhằm đảm bảo công tác khám bệnh, chữa bệnh và cung cấp thêm ngày càng nhiều dịch vụ kỹ thuật y tế cho bệnh nhân
Trang 11Trước sự đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là việc đổi mới cơ chế giá thu dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, đòi hỏi Bệnh viện phải không ngừng hoàn thiện, đổi mới phong cách phục vụ, công tác quản lý tài chính, cân đối thu – chi, nhằm tăng cường tự chủ và phát triển bệnh viện ngày càng bền vững
Trong thời gian qua, công tác quản lý tài chính của bệnh viện vẫn còn nhiều vấn đề chưa hợp lý nên việc đảm bảo cân đối thu, chi còn gặp nhiều khó khăn Những khó khăn này do nhiều yêu tố gồm cả khách quan lẫn chủ quan Nhận thức
được vấn đề này, đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai ” là cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
Phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai khi áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu; phát hiện những thuận lợi và khó khăn cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó
Đề xuất các giải pháp có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và góp phần xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai ngày càng phát triển
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu
- Phạm vi nghiên cứu là kết quả áp dụng Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP), Nghị định số 85/2012/NĐ-CP và tập trung nghiên cứu toàn bộ hoạt động tài chính của Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Lào Cai năm 2013 - 2015, từ đó có các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn tiếp theo
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trên, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp để hệ thống hoá các vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu; phương pháp đồ thị bảng biểu, phương pháp mô hình hóa, phương pháp so sánh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài là tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập
có thu nói chung và các bệnh viện công lập nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn là phân tích thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính để góp phần nâng cao chất lượng khám bệnh và chữa bệnh của bệnh viện, là tài liệu tham khảo cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai
và các bệnh viện khác
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn đã hoàn thành ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục cáctài liệu tham khảo, được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Phân tích thực trạng việc áp dụng cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm
về tài chính ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013-2015
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP 1.1 Tổng quan lý luận về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1 Những vấn đề lý luận về đơn vị sự nghiệp công lập
a Khái niệm
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Theo Điều 9 Luật Viên chức) Sau đay gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công hoặc viết tắt là đơn vị SNCL
“Dịch vụ sự nghiệp công” là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác
b Vai trò của đơn vị sự nghiệp công trong nền kinh tế
Hoạt động của các đơn vị sư nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân Ngày 27/6/2012, tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức họp báo công bố số liệu tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012
Đối tượng của tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012 là các đơn vị sản xuất, kinh doanh, các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, đoàn thể, hiệp hội, đơn vị sự nghiệp, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng
Tính đến ngày 01/7/2012, cả nước có gần 5,2 triệu đơn vị kinh tế, hành chính
sự nghiệp, thu hút 22,8 triệu lao động So với năm 2007, số đơn vị tăng 27,4%, tương đương 1,11 triệu đơn vị; lao động tăng 38,5%, tương đương 6,3 triệu người Tốc độ tăng bình quân hằng năm về đơn vị là 5%, lao động 6,7% thể hiện sự mở rộng về quy mô của các đơn vị So với giai đoạn 2002-2007 thì các tốc độ đều tăng thấp hơn Sự phát triển về số lượng đơn vị và lao động thể hiện xu hướng tích cực
Trang 14Mức tăng ở các đơn vị kinh tế cao hơn với 28,1% đơn vị và 42,6% lao động; trong khi đó ở đơn vị sự nghiệp tăng lần lượt là 5,7% và 20,5%
Doanh nghiệp là loại hình dẫn đầu mức tăng về số lượng và thu hút lao động Tính đến hết năm 2011, cả nước có gần 342.000 doanh nghiệp đang tồn tại, tăng hơn 216.000 doanh nghiệp; thu hút 11 triệu lao động, tăng 65% so với năm 2007 Loại hình kinh tế tập thể-hợp tác xã hiện có 13,6 nghìn, tương đương năm 2007 về
số lượng và giảm 11,8% lao động Tính đến 1-7-2012, cả nước có 4,6 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp và thủy sản với 7,9 triệu lao động, tăng 23,4% về cơ sở và 20,5% về số lượng lao động so với năm 2007
So với năm 2007, số lượng đơn vị hành chính sự nghiệp tăng không cao như các đơn vị kinh tế Trong khi số lượng các đơn vị hành chính giảm nhẹ sau 5 năm (giảm 0,4%) thì các đơn vị sự nghiệp tăng khá hơn với mức tăng 10,6% về số lượng đơn vị và 26,5% về lao động Các đơn vị kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp giảm 15,7% số đơn vị và 62% lao động so với năm 2007 do chủ trương của Nhà nước chuyển hoạt động của các đơn vị này sang hạch toán kinh tế độc lập Trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định
và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cụ thể:
Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao…có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng, khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ, cung ứng các sản phẩm văn hóa và nghệ thuật phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước
c Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công
Đơn vị sự nghiệp công được xác định bởi các tiêu thức cơ bản:
- Là các đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, y tế, văn hóa thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm
Trang 15- Được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao
- Đơn vị sự nghiệp công được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí được tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức
- Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán
Một khái niệm rất mới được các nhà quản lý kinh tế đưa ra đó là đơn vị SNCL khi hoạt động cung cấp “dịch vụ công” của các đơn vị sự nghiệp được công nhận Tuy nhiên, không phải tất cả các đơn vị sự nghiệp công đều có khả năng thu và có nguồn thu Nguồn thu của các đơn vị rất khác nhau ở từng lĩnh vực, từng ngành, từng địa phương Vì vậy, một cơ chế tài chính chung cho tất cả các loại hình đơn vị
sự nghiệp công sẽ là không hiệu quả
d) Phân biệt đơn vị sự nghiệp công và đơn vị sự nghiệp tư
- Đơn vị sự nghiệp công: Là cơ sở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán), hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo và Dạy nghề; sự nghiệp Y tế, Đảm bảo xã hội; sự nghiệp Văn hoá - Thông tin (bao gồm cả đơn vị phát thanh truyền hình ở địa phương), sự nghiệp Thể dục- Thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác
- Đơn vị sự nghiệp tư: Là cơ sở do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và hoạt động theo quy định của pháp luật; được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học - công nghệ, môi trường, xã hội, dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em
Trang 161.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công
a) Phân loại đơn vị sự nghiệp công theo lĩnh vực
- Đơn vị sự nghiệp y tế: Các bệnh viện, các viện và trung tâm có giường bệnh,
cơ sở điều dưỡng và phục hồi chức năng thuộc các Bộ, ngành và địa phương; các cơ
sở khám chữa bệnh thuộc viện nghiên cứu, trường đại học y, dược trong toàn quốc; các Trung tâm Y tế (bao gồm Trung tâm y tế quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, Trung tâm y tế dự phòng, Trung tâm phòng chống các bệnh xã hội, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, Trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ em – kế hoạch hóa gia đình hoặc Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản), Trung tâm tin học
y tế thuộc các Bộ, ngành, địa phương; các viện, trạm, trại hoặc các đơn vị khác có chức năng và nhiệm vụ phòng chống bệnh dịch thuộc các Bộ, ngành, địa phương; các đơn vị có chức năng kiểm định vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế; kiểm nghiệm thuốc, hóa mỹ phẩm, thực phẩm; kiểm dịch y tế thuộc các Bộ, ngành, địa phương; các cơ sở sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế, máu và các chế phẩm từ máu, dịch truyền hoặc các sản phẩm khác thuộc ngành y tế
- Đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề, gồm: Các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt, trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ
- Đơn vị sự nghiệp văn hóa - thể thao, gồm: Trung tâm kỹ thuật điện ảnh, Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa – thể thao – du lịch, Trung tâm triển lãm văn hóa thông tin, Bảo tàng, thư viện, các Tạp chí, báo văn hóa, thể thao trực thuộc các Sở và Bộ Văn hóa thể thao và du lịch, các Trung tâm văn hóa thể thao tại các huyện, thị, thành phố
Ngoài ra, còn có đơn vị sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kinh tế và các sự nghiệp khác
b) Phân loại đơn vị sự nghiệp công theo khả năng đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên
Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công được phân loại theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ như sau:
Trang 17- Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi phí hoạt động, gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp công có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%
+ Đơn vị sự nghiệp công đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp, từ nguồn ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng
- Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ trên 10% đến dưới 100%
- Đơn vị sự nghiệp công do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp công có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống
+ Đơn vị sự nghiệp công không có nguồn thu
Đến năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP) quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định có hiệu lực từ ngày 06/4/2015, bao gồm 3 Chương và 24 Điều, có nhiều điểm mới nổi bật, trong đó về phân loại đơn vị sự nghiệp công lập được dựa trên mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị cả về chi thường xuyên và chi đầu
tư Theo đó, Chính phủ quy định 4 loại đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
(i) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư
(ii) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên
(iii) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên
(iv) Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
1.1.3 Những vấn đề lý luận chung về các đơn vị sự nghiệp y tế công lập
1.1.3.1 Đặc điểm và mục tiêu của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập
- Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, là đơn vị hoạt động công ích nên được cấp ngân sách đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ được giao đồng thời có nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp y tế Đơn vị SNCL trong lĩnh vực
y tế thực hiện quyền chủ sở hữu theo uỷ quyền của Nhà nước đối với nguồn tài chính
Trang 18từ NSNN cấp và nguồn thu phí, lệ phí, thực hiện quyền sở hữu với tư cách là chủ sở hữu đối với nguồn tài chính từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, từ viện trợ, tài trợ và tương ứng mức độ tự chủ của đơn vị SNCL đối với từng nguồn kinh phí là khác nhau
- Nguồn thu chủ yếu của đơn vị sự nghiệp y tế là viện phí, mà đơn giá nhiều dịch vụ theo khung quy định của Nhà nước đã ban hành quá lâu, mức thu thấp; mặc
dù gần một nửa số dịch vụ đã được điều chỉnh giá từ năm 2012 nhưng cũng mới chỉ đảm bảo 3/7 yếu tố cấu thành giá, gây khó khăn cho đơn vị trong quá trình thực hiện Do đó, hàng năm ngân sách nhà nước vẫn phải đảm bảo một phần chi phí chi thường xuyên tạo nên tư tưởng trông chờ sự bao cấp Mặt khác, việc thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 85/2012/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-
CP thì việc nâng cao chất lượng dịch vụ là tiêu chí đánh giá quan trọng nhất Khi chất lượng dịch vụ tăng sẽ khuyến khích người bệnh đến khám, chữa bệnh và làm tăng thu
- Việc thực hiện tự chủ trong các bệnh viện cần hết sức thận trọng, vì các nguồn thu, chi đều liên quan trực tiếp đến người bệnh Các bệnh viện xác định khám, chữa bệnh là dịch vụ công đáp ứng an sinh xã hội, mà nâng cao chất lượng dịch vụ đó để thu hút người bệnh, nhất là người bệnh có Thẻ bảo hiểm y tế trong tiến trình bảo hiểm y tế toàn dân hiện nay của Chính phủ Như vậy cơ chế tự chủ về tài chính trong đơn vị sự nghiệp y tế không được tách rời khỏi chất lượng dịch vụ
mà chất lượng dịch vụ tốt đòi hỏi máy móc hiện đại cùng đội ngũ cán bộ giỏi tương ứng với chi phí lớn
- Các chính sách tự chủ và cơ chế tài chính áp dụng cho ngành y tế phải khác hoàn toàn so với các ngành kinh tế và không thể giống với các ngành văn hóa, thể thao, giải trí Cần cải thiện thu nhập của CBNV y tế, nhưng không sử dụng “lợi nhuận” để tạo động lực làm việc của CBNV y tế Nghiên cứu các chính sách đãi ngộ thỏa đáng (đặc biệt) đối với CBNV y tế dựa vào kết quả làm việc, không gắn với “lợi nhuận” của bệnh viện
Trang 191.1.3.2 Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập sẽ được đổi mới theo hướng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện cho đơn
vị để mở rộng và phát triển các hoạt động, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh Bên cạnh đó, Nhà nước sẽ tăng cường vai trò quản lý nhà nước về giá và chất lượng dịch vụ y tế
Đây là tinh thần tổng quát của Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính Phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị
sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập
Theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp y tế được đăng ký và phân loại theo các nhóm sau đây:
Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển
Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên
Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên
Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ
Việc đăng ký, phân loại các đơn vị sự nghiệp y tế được ổn định trong thời gian
03 năm, sau thời hạn 03 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp Trường hợp đơn
vị có biến động về nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm thay đổi cơ bản mức tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên thì được xem xét điều chỉnh việc phân loại trước thời hạn
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp y tế thành 4 nhóm dựa trên cơ sở mức độ bảo đảm chi phí hoạt động từ các nguồn thu
Trang 20Mỗi nhóm đơn vị sẽ có cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính phù hợp để phát huy tính tích cực của đội ngũ cán bộ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả hoạt động
1.1.4 Cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công nói chung và đơn vị sự nghiệp
y tế công lập nói riêng
1.1.4.1 Khái niệm và mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công
Cơ chế quản lý tài chính có thể khái quát đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn
vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước
Cơ chế quản lý tài chính còn là mối quan hệ tài chính theo phân cấp:
+ Giữa Chính phủ (Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư) với các Bộ, ngành, các địa phương
+ Giữa Bộ chủ quản, Bộ quản lý ngành với các đơn vị trực thuộc ở trung ương; giữa UBND tỉnh với các đơn vị địa phương
+ Giữa các đơn vị sự nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước với các bộ phận, đơn
vị dự toán trực thuộc
Theo quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ và Nghị định số 16/2015/ NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị SNCT và trách nhiệm của cơ quan quản lý các cấp
“Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công” là các quy định về quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công Qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của các đơn vị
Khác với cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp đơn thuần, cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công có những đặc trưng sau:
+ Đơn vị sự nghiệp công có các hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp
đủ các loại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật
Trang 21+ Đơn vị sự nghiệp công có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng
và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật + Đơn vị sự nghiệp công thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước
Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động
sự nghiệp đối với số còn lại (nếu có)
+ Đơn vị sự nghiệp công mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản kinh phí thuộc NSNN theo quy định của Luật NSNN; được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ
+ Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước, đơn vị SNCL được chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế
độ chi tiêu nội bộ cho các khoản chi hoạt động thường xuyên cao hơn hoặc thấp hơn quy định, trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng; đảm bảo hoạt động thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ được giao, phù hợp với đặc điểm đơn vị, tăng cường công tác quản lý và sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả Quy chế chi tiêu nội bộ
và việc xây dựng các định mức chi của đơn vị SNCT đã khắc phục những bất cập, lạc hậu của một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách hiện hành của Nhà nước như: chế độ công tác phí, chế độ chỉ tiêu hội nghị, chi biên soạn giáo trình, chi vượt giờ của ngành giáo dục, chi bồi dưỡng trực đêm của ngành y tế, chi tổ chức xét
xử của ngành toà án
+ Cơ chế TCTC cho phép các đơn vị được quyết định kế hoạch sử dụng lao động và xây dựng quỹ tiền lương, tạo ra cơ sở pháp lý để các đơn vị SNCL được
Trang 22phép tăng thu nhập cho người lao động, hợp pháp hoá các khoản thu nhập ngoài lương của cán bộ, viên chức Từ đó tạo động lực khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
+ Tự chủ trong việc lập, chấp hành dự toán thu, chi: Để đáp ứng các yêu cầu của cơ chế tài chính mới đối với cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công, cơ chế cấp phát ngân sách cũng có thay đổi cơ bản so với cơ chế cấp phát bằng hạn mức kinh phí như trước đây Từ năm 2004, thực hiện cấp phát ngân sách theo phương thức: các đơn vị sử dụng ngân sách căn cứ tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách, quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị SNCL đã được cấp chủ quản phê duyệt, khối lượng nhiệm vụ thực tế phát sinh và dự toán được giao để rút kinh phí tại Kho bạc Nhà nước để chi tiêu Vì vậy quyết định giao dự toán của cơ quan chủ quản cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc là cơ sở pháp lý quan trọng nhất
để các đơn vị SNCL được rút kinh phí qua kho bạc Nhà nước Ngoài ra, các đơn vị SNCL được chuyển kinh phí chưa được sử dụng sang năm sau thực hiện Cơ chế cấp phát mới thuận tiện và đơn giản hơn cho các đơn vị sử dụng ngân sách đồng thời tăng cường vai trò kiểm tra, kiểm soát của Kho bạc Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN
Từ năm 2015, điểm mới của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP) đó là: Tương ứng với từng loại hình đơn vị
sự nghiệp công lập, Nghị định quy định việc tự chủ của các đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính trên nguyên tắc các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động càng nhiều thì mức độ tự chủ càng cao để khuyến khích các đơn vị tăng thu, giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước, trong đó có bao cấp tiền lương tăng thêm để dần chuyển sang các loại hình đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên, đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư
Theo đó, đối với các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định các đơn vị này được giao quyền
tự chủ khá rộng như được quyết định số lượng người làm việc, được vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định, được tự quyết định mức trích quỹ
Trang 23bổ sung thu nhập mà không bị không chế mức trích Quỹ bổ sung thu nhập như các loại hình đơn vị sự nghiệp khác (đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên bị khống chế không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do nhà nước quy định; đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên bị khống chế không quá 2 lần, đơn vị do nhà nước bảo đảm chi thường xuyên bị khống chế không quá 1 lần)
1.1.4.2 Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập có thu nói chung và các đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng
a Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập
Hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu rất đa dạng, tham gia nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội nên quản lý tài chính khá phức tạp, thường được quy định
cụ thể của từng ngành Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp là những vấn đề còn mang tính phức tạp hơn nữa bên cạnh nguồn thu từ ngân sách Nhà nước cấp, các đơn vị này còn có nguồn thu chi trả của dân cư, các nguồn do đơn vị tự tìm kiếm, khai thác Cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu không những góp phần giảm bớt các khoản chi sự nghiệp của ngân sách Nhà nước cấp, mà còn khuyến khích cung cấp các dịch vụ chất lượng cao cho xã hội với chi phí tiết kiệm
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp liên quan đến hiệu quả kinh tế xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Do đó nếu có cơ chế quản lý tài chính hợp lý sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính của đất nước
b Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Mục tiêu và bản chất nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta, một Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, phải coi y tế là một sự nghiệp chung cũng giống như sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta vậy
Trang 24Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một trong những công việc hết sức to lớn, quan trọng mang lợi ích chung và lâu dài cho toàn bộ xã hội Với phương châm xây dựng một xã hội XHCN bền vững và phát triển toàn diện, coi trọng yếu tố quyết định là con người thì không thể đặt các hoạt động y tế ngoài sự nghiệp chung của toàn xã hội được
Do vậy, sự nghiệp y tế là yêu cầu tất yếu khách quan của chế độ xã hội ở nước
ta và phải nhằm thực hiện những mục tiêu đem lại những kết quả về chăm sóc sức khoẻ nhân dân cao nhất Phấn đấu để mọi người dân đều được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi
Nghị định số 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ phân loại đơn vị sự nghiệp y tế theo 4 nhóm, theo đó, các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay được chủ động hơn trong hoạt động của mình, phần nào giảm bớt đi gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước và thể hiện sự đổi mới trong quản lý các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung cũng như
sự nghiệp y tế nói riêng
1.1.4.3 Nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chinh
a) Nguồn tài chính
- Kinh phí do NSNN cấp:
+ Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ, được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao
Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: Ngân sách nhà nước
hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công
Đối với đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm:
Trang 25Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ);
Kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia;
Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:
+ Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí)
+ Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của mỗi đơn vị, bao gồm:
(1) Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo: Thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ chức trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thực hành thực tập, sản phẩm thí nghiệm; thu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ
và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
(2) Sự nghiệp Y tế, Đảm bảo xã hội: Thu từ các hoạt động dịch vụ về khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y tế dự phòng, đào tạo, nghiên cứu khoa học với các tổ chức; cung cấp các chế phẩm từ máu, vắc xin, sinh phẩm; thu từ các hoạt động cung ứng lao vụ (giặt là, ăn uống, phương tiện đưa đón bệnh nhân, khác); thu
từ các dịch vụ pha chế thuốc, dịch truyền, sàng lọc máu và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
(3) Sự nghiệp Văn hóa, Thông tin: Thu từ bán vé các buổi biểu diễn, vé xem phim, các hợp đồng biểu diễn với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; cung ứng dịch vụ in tráng lồng tiếng, phục hồi phim; thu từ các hoạt động đăng, phát quảng cáo trên báo, tạp chí, xuất bản, phát thanh truyền hình; thu phát hành báo chí, thông tin cổ động và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Trang 26(4) Sự nghiệp Thể dục, thể thao: Thu hoạt động dịch vụ sân bãi, quảng cáo, bản quyền phát thanh truyền hình và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật (5) Sự nghiệp kinh tế: Thu tư vấn, thiết kế, quy hoạch, dịch vụ nông lâm, thuỷ lợi, thuỷ sản, giao thông, công nghiệp, xây dựng, địa chính, địa chất và các ngành khác; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
+ Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng
- Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật
+ Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành cho số lao động trực tiếp phục vụ công tác thu phí và lệ phí; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định phục
vụ cho công tác thu phí và lệ phí;
+ Chi cho các hoạt động dịch vụ, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao tài sản
cố định; sửa chữa tài sản cố định; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình
Trang 27thức vay của cán bộ, viên chức; chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có)
- Chi không thường xuyên, gồm:
+ Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
+ Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
+ Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
+ Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng theo giá hoặc khung giá
do nhà nước quy định;
+ Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định; + Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
+ Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định);
+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;
+ Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
+ Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)
c) Đặc điểm của cơ chế tự chủ tài chính
* Tự chủ về các khoản thu, mức thu:
- Đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định
Trường hợp nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định
Đơn vị thực hiện chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách - xã hội theo quy định của nhà nước
- Đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được cơ quan nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm
Trang 28chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá, thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận
- Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ
vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Nghị định số 16/2015/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP) qui định chi tiết:
+ Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị (Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên)/ hoặc tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên); + Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn
vị tự bảo đảm chi thường xuyên căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Trang 29- Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc
- Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật
* Tiền lương, tiền công và thu nhập:
- Tiền lương, tiền công:
+ Đối với những hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao, chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt là người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định;
+ Đối với những hoạt động cung cấp sản phẩm do nhà nước đặt hàng có đơn giá tiền lương trong đơn giá sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn
vị tính theo đơn giá tiền lương quy định Trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan
có thẩm quyền quy định đơn giá tiền lương, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ
do nhà nước quy định;
+ Đối với những hoạt động dịch vụ có hạch toán chi phí riêng, thì chi phí tiền lương, tiền công cho người lao động được áp dụng theo chế độ tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước Trường hợp không hạch toán riêng chi phí, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định
- Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN; tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị, trích lập Quỹ bổ sung thu nhập sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu; khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định (gọi tắt
Trang 30là tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định) do đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm từ các khoản thu sự nghiệp và các khoản khác theo quy định của Chính phủ Trường hợp sau khi đã sử dụng các nguồn trên nhưng vẫn không bảo đảm đủ tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định, phần còn thiếu sẽ được NSNN xem xét, bổ sung để bảo đảm mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ
* Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm:
Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau: + Trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp:
- Tối thiểu 25% đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên
- Tối thiểu 15% đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên
- Tối thiểu 5% đối với đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
+ Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập:
- Không khống chế mức trích đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư
- Tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên
- Tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên
- Tối đa không quá 1 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
Quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ làm cơ sở để tính tổng thu nhập tăng thêm trong năm của đơn vị, bao gồm:
- Tiền lương ngạch bậc và phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có): Tính trên cơ sở hệ số lương, hệ số phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của người lao động trong đơn vị (lao động trong biên chế và
Trang 31lao động hợp đồng từ 1 năm trở lên) và mức tiền lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định
- Tiền lương tăng thêm của người lao động do nâng bậc theo niên hạn hoặc nâng bậc trước thời hạn (nếu có)
Quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm của đơn vị nêu trên không bao gồm khoản tiền công trả theo hợp đồng vụ việc
+ Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi:
- Tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên
- Tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;
- Tối đa không quá 1 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
+ Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
+ Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
+ Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm:
- Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên được quyết định sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có)
- Đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên đơn vị được quyết định mức trích vào các quỹ cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Trước đây, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP còn qui định trích lập Quỹ dự phòng
ổn định thu nhập để bảo đảm thu nhập cho người lao động
* Nội dung sử dụng các Quỹ:
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ
Trang 32chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giao vốn theo quy định)
để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)
- Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm
Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ
số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị
- Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn
vị
- Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế
* Tự chủ trong giao dịch tài chính:
- Mở tài khoản giao dịch:
Đơn vị sự nghiệp công được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước Lãi tiền gửi là nguồn thu của đơn
vị và được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc bổ sung vào quỹ khác theo quy định của pháp luật, không được bổ sung vào Quỹ bổ sung thu nhập; Các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước, các khoản thu dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước, các khoản thu phí theo pháp luật về phí,
lệ phí, đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh
Trang 33- Vay vốn, huy động vốn: Đơn vị sự nghiệp công có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị
để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Riêng các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất theo quy định Khi thực hiện vay vốn, huy động vốn, đơn vị sự nghiệp công phải có phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả nợ vay, lãi vay theo quy định; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả của việc vay vốn, huy động vốn
1.2 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công và ở các đơn vị sự nghiệp y tế công lập ở Việt Nam
1.2.1 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chiu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp công
a) Tình hình thực hiện triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính tại đơn vị sự nghiệp công
Năm 2002, cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công có thu thực
hiện theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ
về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu
Năm 2006, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của
Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, thay thế Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Ngày 09/8/2006, Bộ Tài chính có Thông
tư số 71/2006/TT-BTC, hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP
Số lượng các đơn vị đã thực hiện theo Nghị định 43:
- Các Bộ và cơ quan Trung ương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 756 đơn vị sự nghiệp trực thuộc; trong đó: 173 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động; 484 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và 99 đơn vị do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
Trang 34- Các địa phương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 23.399 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, trong đó: có 219 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động; 9.868 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
và 13.312 đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
Từ năm 2007 đến 2010, Thanh tra Bộ Tài chính đã thanh tra tại 36 đơn vị dự toán cấp II và một số đơn vị dự toán cấp III trực thuộc, đối với ngành Y tế, Giáo dục
và Đào tạo, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông; Thanh tra các Sở Tài chính địa phương đã tiến hành thanh tra tại 884 đơn vị hành chính sự nghiệp
Năm 2015, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của
Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 4 năm 2015 và thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP Hiện nay, các Bộ ngành, các tỉnh đang triển khai thực hiện
b) Một số kết quả đạt được của các đơn vị thực hiện tự chủ tài chính
- Các đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính đã chủ động sử dụng kinh phí NSNN giao hiệu quả hơn để thực hiện nhiệm vụ; đồng thời chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng dịch
vụ, tạo điều kiện tăng nguồn thu
- Các đơn vị đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ để tăng cường công tác quản
lý trong nội bộ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp, khai thác nguồn thu, tăng thu, tiết kiệm chi, do vậy nhiều đơn vị đã tiết kiệm chi thường xuyên góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sự nghiệp
- Về kết quả tăng thu của các đơn vị sự nghiệp: Nhìn chung, kết quả thu sự nghiệp đều tăng, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên đạt từ 50-80%
- Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, đơn vị đã đổi mới phương thức hoạt động, tiết kiệm chi, thu nhập đã từng bước được nâng cao Nguồn thu sự nghiệp, cùng với nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên, đã góp phần bảo đảm bù đắp nhu cầu tiền lương tăng thêm cho cán bộ, nhân viên
- Đơn vị sự nghiệp đã từng bước đã được tự chủ huy động vốn để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, tạo điều kiện mở rộng các hoạt động sự nghiệp và các hoạt động dịch vụ trong đơn vị
Trang 35c) Một số tồn tại về xây dựng quyền tự chủ, xây dựng dự toán
Qua công tác thanh tra, kiểm tra thấy bên cạnh những kết quả đạt được, còn có hạn chế, tồn tại trong việc triển khai, thực hiện Nghị định 43 của Chính phủ, cụ thể:
+ Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng quy định:
Một số đơn vị được thanh tra ban hành và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng với hướng dẫn tại Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ
-khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập và quỹ phát t
- Về Quản lý các hoạt động dịch vụ các đơn vị đều chưa hạch toán kịp thời, đầy đủ, chính xác doanh thu, chi phí hoạt động dịch vụ dẫn tới tính thiếu thuế GTGT và thuế TNDN
- Tại các đơn vị đều chưa xây dựng tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiện vụ được giao như khối lượng công việc hoàn thành trong năm, chất lượng công việc hoàn thành… nên việc chi trả thu nhập tăng thêm trong năm đều tính theo
hệ số chức vụ cấp bậc công tác và bình bầu A,B,C…
- Tự ban hành tỷ lệ trích chênh lệch thu chi vào Quỹ dự phòng tài chính; trích Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp không đúng; trích Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, trợ cấp mất việc
- Nhiều khoản chi thường xuyên phát sinh nhưng chưa được qui định cụ thể trong qui chế chi tiêu nội bộ mà thực hiện theo quyết định của thủ trưởng đơn vị, dẫn tới hạn chế về tính công khai, dân chủ trong quá trình quản lý tài chính
+ Lập và giao dự toán chưa sát với thực tế:
- Tại một số đơn vị, chưa xác định rõ cơ cấu nguồn thu và khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên, để làm cơ sở xác định chính xác mức hỗ trợ của NSNN
Trang 36- Một số đơn vị lập dự toán thu, chi NSNN vẫn mang theo tâm lý khi lập dự toán thu chưa phản ánh hết các nguồn thu, hoặc lập dự toán với số thu thấp hơn số thực thu năm trước, nội dung chi cao hơn để được tăng hỗ trợ từ NSNN, lập dự toán chi cao hơn số quyết toán các năm trước liền kề, nhưng không có thuyết minh và lý giải hợp lý nguyên nhân tăng
+ Xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp, dẫn đến cấp kinh phí không chính xác:
Một số đơn vị đã xác định nguồn thu sự nghiệp không chính xác, cơ quan chủ quản chưa thẩm tra, đánh giá đầy đủ, nên đã xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp
để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
- Qua tổng hợp số liệu thu chi thường xuyên các năm từ 2005-2008 thấy, có đơn vị tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí trên 10%, nhưng vẫn được xác định là đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí (NSNN cấp 100%) Nguyên nhân do dự toán năm 2007 (năm đầu thời kỳ ổn định) một số đơn vị lập dự toán số thu sự nghiệp thấp, đồng thời xác định số chi thường xuyên cao hơn thực tế, dẫn tới xác định không đúng tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí
- Đơn vị đã tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động, nhưng cơ quan chủ quản vẫn cho phép áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên Việc đơn vị xác định không đúng loại hình tự chủ dẫn đến NSNN hàng năm vẫn phải cấp bù kinh phí hoạt động thường xuyên (Ví dụ có đơn
vị từ năm 2006 đến năm 2009, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên năm 2006 là 154%, năm 2007 là 166%, năm 2008 là 146%, năm 2009 là 256% nhưng vẫn được NSNN cấp bổ sung kinh phí: năm 2006 là 431 triệu đồng, năm
2009 là 200 triệu đồng )
+ Quản lý các hoạt động dịch vụ còn nhiều sai sót, thiếu hướng dẫn:
Hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp cũng đã đóng góp một phần đáng
kể nguồn thu cho đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên song việc quản
lý hoạt động dịch vụ tại các đơn vị cũng còn nhiều tồn tại như: chưa hướng dẫn giá thu dịch vụ, phân phối việc liên kết với các tổ chức cá nhân có máy móc thiết bị (tại các bệnh viện thuộc Bộ Y tế) hạch toán thiếu, không kịp thời doanh thu, chi phí dẫn
Trang 37tới thực hiện nghĩa vụ với NSNN không đầy đủ, thiếu thuế GTGT, thiếu thuế TNDN Qua thanh tra tại 03 Bộ thấy các đơn vị được thanh tra đã hạch toán thiếu doanh thu là 21.803 triệu đồng (03 Bộ), về việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN còn thiếu là 20.832 triệu đồng (03 Bộ)
b Những tồn tại, bất cập về cơ chế chính sách tự chủ tài chính
- Một số Bộ ngành chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, đo đó chưa đồng bộ
với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
- Nhiều định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành đã lạc hậu hoặc còn thiếu; không hợp lý nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung
- Việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành và chất lượng hoạt động sự nghiệp của đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm chưa được thực hiện, nên đã hạn chế việc chi trả thu nhập theo mức độ hoàn thành công việc; chi trả thu nhập ở một số đơn vị vẫn mang tính cào bằng hoặc bình quân
1.2.2 Thực trạng áp dụng cơ chế tự chủ, tự chiu trách nhiệm về tài chính trong các bệnh viện công lập ở Việt Nam
a) Tình hình thực hiện triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Theo thống kê của Bộ Tài chính, giai đoạn năm 2001 - 2010, tổng nguồn vốn dành cho lĩnh vực y tế đạt 280.705 tỷ đồng chiếm 2,7% GDP; tổng nguồn vốn dành cho giáo dục, đào tạo là 603.870 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ trên 20% tổng chi NSNN từ năm 2008
Tuy nhiên, kết quả đạt được còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt các nhu cầu của xã hội do một số nguyên nhân như: Nhận thức của người dân, xã hội về đổi mới hoạt động của đơn vị cung ứng dịch vụ công lập và xã hội hoá còn hạn chế, chưa đầy đủ, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước; Chính sách hai giá vẫn được duy trì trong việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, dẫn đến sự quá tải đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 38b) Tình hình thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP tại một số bệnh viện cụ thể
Kể từ khi được áp dụng cơ chế TCTC theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ, nguồn thu của các bệnh viện tăng mạnh qua các năm, trong đó nguồn thu tăng chủ yếu từ hoạt động thu viện phí và thu bảo hiểm y tế, qua đó góp phần
giảm thiểu gánh nặng cho NSNN
Theo nguồn Báo điện tử của Đài tiếng nói Việt Nam cập nhật ngày 05/4/2015
về hiệu quả từ việc bệnh viện được tự chủ tài chính ở TP HCM:
Trong 94 đơn vị sự nghiệp y tế của TP HCM, có 6 đơn vị tự chủ hoàn toàn, 76 đơn vị tự chủ tài chính một phần và 12 đơn vị ngân sách thành phố đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động Một số bệnh viện được tự chủ tài chính đã khẳng định, sự đi lên
về chất lượng khám chữa bệnh và sự gia tăng thu nhập cho cán bộ y tế
Từ năm 2007, một số bệnh viện tại TP HCM bắt đầu thực hiện tự chủ về tài chính Sự mạnh dạn của một số bệnh viện đã tạo nên những đổi thay mạnh mẽ về cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cũng như đời sống của đội ngũ nhân viên y tế
Năm 2014, được xem là mốc thời gian đánh dấu sự thay đổi lớn trong bộ mặt của Bệnh viện Từ Dũ khi đưa vào hoạt động cùng một lúc hai tòa nhà 10 tầng và 12 tầng Ngoài việc tăng thêm được 500 giường bệnh nội trú thì tại Khu Khám bệnh và Khu Kỹ thuật chăm sóc sức khỏe sinh sản, người bệnh đã không còn cảnh chen chúc chờ đợi trong nắng nóng và chật chội Trong tổng số 357 tỷ đồng đầu tư xây dựng 2 công trình này thì ngân sách của thành phố chỉ cấp khoảng 40% Phần còn lại từ vốn vay theo chương trình kích cầu và từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của bệnh viện Có được những thay đổi lớn về cơ sở vật chất như thế này chính là
do từ năm 2007, Bệnh viện Từ Dũ là một trong 3 bệnh viện đầu tiên của TP HCM thực hiện việc tự chủ tài chính
Cơ chế tự chủ đã tạo cho bệnh viện có nhiều cơ hội như: Được chủ động trong nguồn kinh phí thực hiện hợp tác, phát triển chuyên môn, các dịch vụ đáp ứng nhu cầu người bệnh Giảm gánh nặng kinh phí ngân sách, phát triển khoa kỹ thuật, tạo
sự ổn định về đời sống cho nhân viên, có được nguồn kinh phí để đầu tư phát triển Việc tự chủ tài chính là việc cần thiết
Trang 39Tính đến năm 2014, Bệnh viện Từ Dũ là một trong 6 bệnh viện của TP HCM thực hiện tự chủ tài chính hoàn toàn về kinh phí hoạt động thường xuyên Các đơn
vị này đều là những nơi dẫn đầu về chất lượng khám chữa bệnh và hệ số thu nhập tăng thêm của nhân viên y tế trên 2 lần
Tại những bệnh viện thực hiện tự chủ tài chính, có thể thấy có sự thay đổi lớn
về tư duy và phương thức quản lý theo hướng xem người bệnh là khách hàng cần phải được phục vụ chu đáo nhất Chẳng hạn như tại Bệnh viện Quận Bình Thạnh – bệnh viện mới thực hiện tự chủ tài chính hoàn toàn vào đầu năm 2015 Các bác sĩ quan niệm người bệnh là chủ nhân, là ân nhân của thầy thuốc Sự hài lòng của người bệnh là hạnh phúc của thầy thuốc Trung bình thu nhập bác sĩ từ 25-30 triệu/tháng, điều dưỡng từ 9-10 triệu/tháng Hiện tại, tất cả các phòng khám bệnh và phòng nội trú của bệnh viện Bình Thạnh đều được trang bị máy lạnh Bệnh nhân có thể đến khám trong những ngày nghỉ hoặc ngày lễ, thậm chí có thể yêu cầu bác sĩ chăm sóc tại nhà Đây là một trong những cơ sở y tế có số thẻ bảo hiểm y tế rất cao Quy mô chỉ 100 giường bệnh, nhưng bệnh viện đã thu hút 200.000 thẻ bảo hiểm y
tế, tương đương với một bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối 1.000 giường Hết quý I/2015, bệnh viện đã kết dư được 1,1 tỷ đồng mà không nhận ngân sách nhà nước
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong quản lý tài chính các bệnh viện
1.3.1 Hệ thống bệnh viện công lập thuộc các nước Đông Âu
Tại các nước Đông Âu (OECD), hệ thống bệnh viện công là nhà cung cấp dịch
vụ y tế chiếm ưu thế Hệ thống bệnh viện công do Nhà nước đảm bảo phần lớn nguồn tài chính từ thuế và bảo hiểm y tế thông qua cấp kinh phí ngân sách và lương Các nguồn tài chính của bệnh viện công của OECD gồm:
* NSNN cấp: Là nguồn tài chính chủ yếu cho hoạt động của bệnh viện Các tổ chức Nhà nước quyết định việc đầu tư trong bệnh viện Về cơ bản, tất cả các quyết định đầu tư nằm trong tay Chính phủ, hầu như không có tự đầu tư của các bệnh viện
* Nguồn từ BHXH bắt buộc: Tất cả những người sử dụng lao động và người lao động buộc phải đóng góp BHXH Nhìn chung từ cuối những năm 1990, đây trở thành nguồn chính cho hoạt động của các bệnh viện công ở Đông Âu Tuy nhiên ,
Trang 40ràng buộc ngân sách đối với các quỹ này rất mềm: Nhà nước bù đắp cho thâm hụt ngân sách BHYT, do vậy càng khuyến khích việc chấp nhận lãng phí
* Thanh toán trực tiếp: Tất cả các nước Đông Âu đều đưa ra hệ thống đồng thanh toán BHXH cấp tài chính phần lớn các chi phí nhưng được bổ sung bằng các khoản thanh toán trực tiếp từ bệnh nhân Có một điểm cần nhấn mạnh là việc thực hiện đồng thanh toán ở Đông Âu rất rời rạc và chỉ áp dụng ở một bộ phận nhỏ các dịch vụ Bệnh nhân trả trực tiếp cho các dịch vụ CSSK nhưng đồng thời cũng đưa tiền trả ơn ( bồi dưỡng) nửa hợp pháp hay bất hợp pháp cho các bác sỹ Và điều này xảy ra khá thường xuyên
Về chi: Các định mức chi tiêu của bệnh viện do Nhà nước hoặc BHXH định
ra Các bệnh viện công ở các nước Đông Âu hoạt động trên nguyên tắc bù đắp chi phí bằng thu nhập; họ không có quyền chi tiêu vượt quá ngân sách được phân bổ Song trên thực tế các bệnh viện thường chi vượt thu và phần thâm hụt này thường được NSNN bù đắp Điều đáng nói ở đây là các ràng buộc ngân sách khá mềm- Nhà nước không đòi hỏi kỷ luật tài chính đối với khu vực bệnh viện công Điều này để ngỏ cho con đường lãng phí nguồn lực
Đối với các bác sỹ làm việc trong bệnh viện công ở Đông Âu có tư cách viên chức nhà nước, xếp hạng trong bộ máy thứ bậc quan liêu theo vị trí và thâm niên công tác Lương của họ phụ thuộc vào ngân sách phân bổ cho trả lương nhân viên, phụ thuộc vào tình trạng tài khoá của Nhà nước và đặc biệt vào cấp bậc gắn với từng cá nhân trong cơ cấu lương quan liêu Hình thức trả lương này gây sự phân biệt không ngừng so với thu nhập ở các lĩnh vức khác đồng thời không xứng đáng với công sức mà các bác sỹ bỏ ra Do đó , hiện tượng các bác sỹ có “ thu nhập thứ hai” rất phổ biến: đó là các khoản tiền trả ơn, tiền biếu của bệnh nhân Trong một khảo sát ở Hungary năm 1998: hơn 3/4 dân chúng được hỏi nói rằng có thông lệ biếu tiền bác sỹ khi đến KCB tại bệnh viện và khi hỏi các bác sỹ kết quả cũng tương tự: khoảng 75-85% bác sỹ nhận tiền biếu từ bệnh nhân