1. ĐẶT VẤN ĐỀ Tình hình nhiễm giun truyền qua đất khá phổ biến trong cộng đồng do môi trường sống bị ô nhiễm nặng, điều kiện sinh hoạt, vệ sinh ăn ở của người dân tại một số nơi còn thấp kém, có nhiều hạn chế ... đã làm cho các bệnh có liên quan phát triển và lưu hành rộng rãi, đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học. Năm 2002, được sự hỗ trợ, giúp đỡ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương, Dự án Phòng chống giun đường ruột đã được triển khai thí điểm tại 25 trường tiểu học ở 18 xã, thị trấn huyện Phú Lộc bằng các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ kết hợp với tẩy giun định kỳ hàng loạt cách nhau 6 tháng bằng thuốc Mebendazole 500mg liều duy nhất. Với kết quả đã đạt được, mô hình này được duy trì và mở rộng thêm cho 58,67% số xã, phường, thị trấn toàn tỉnh tại 144 trường tiểu học vào năm 2004-2005. Từ năm 2005, cũng được sự hỗ trợ, giúp đỡ tiếp tục; dự án đã được triển khai cho 237 trường tiểu học ở 152 xã, phường, thị trấn của toàn tỉnh với 3.872 lớp học, 122.221 học sinh và 6.015 giáo viên được can thiệp biện pháp. Sau 4 năm (2005-2008) can thiệp biện pháp bằng các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ phòng chống giun sán kết hợp với chiến dịch tẩy giun định kỳ hàng loạt 6 tháng bằng thuốc Mebendazole 500mg, Albendazole 400mg liều duy nhất tại các trường tiểu học. Để đánh giá hiệu quả công tác, đã tổ chức điều tra lại tình hình nhiễm giun truyền qua đất, chủ yếu là giun đũa, giun tóc và giun móc của học sinh tại các trường tiểu học đại diện nhằm có cơ sở duy trì mô hình trong thời gian tiếp theo bằng nguồn lực huy động đóng góp của cộng đồng, góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ học đường và xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế khi nguồn lực hỗ trợ, giúp đỡ của trung ương không còn được tiếp tục.
Trang 1GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ SAU 04 NĂM CAN THIỆP BIỆN PHÁP
(2005-2008)
Nguyễn Võ Hinh, Hoàng Văn Hội, Bùi Thị Lộc, Hoàng Thị Diệu Hương, Trần Thị Mộng Liên,Tôn Nữ Phương Dung, Hoàng Thị Thu Thương,
Nguyễn Thị Hằng, Võ Thị Hồng Ngân và cộng sự
Trung tâm Phòng chống Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Thừa Thiên Huế
TÓM TẮT
Sau 04 năm (2005-2008) can thiệp biện pháp phòng chống giun truyền qua đất tại 237 trường tiểu học toàn tỉnh Thừa Thiên Huế bằng công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ kết hợp chiến dịch tẩy giun định kỳ hàng loạt cách nhau 6 tháng với thuốc Mebendazoel 500mg, Albendazole 400mg liều duy nhất cho kết quả:
Kiến thức, thái độ, hành vi phòng, chống giun sán của giáo viên, nhân viên nhà trường được cao hơn các em học sinh
Tình hình nhiễm giun truyền qua đất tại trường học đã giảm đáng kể Nhiễm giun chung có tỷ lệ 7,94%; trong đó nhiễm giun đũa 2,55%; giun tóc 2,96% và giun móc 3,24% Nhiễm 1 loại giun chiếm 7,29%; 2 loại giun chiếm 0,53% và 3 loại giun chiếm tỷ lệ thấp 0,12% So sánh với 4 năm trước, tỷ lệ nhiễm giun chung giảm 88,69% (7,94%/70,21%); giun đũa giảm 95,40% (2,55%/44,48%); giun tóc giảm 88,92% (2,96%/26,71%) và giun móc giảm 91,32% (3,24%/ 37,33%)
Riêng tại huyện điểm Phú Lộc can thiệp biện pháp liên tục 7 năm (2002-2008), tỷ lệ nhiễm giun chung giảm thấp còn 2,54%; giun đũa còn 0,72%; giun tóc còn 0,36% và giun móc còn 1,45%
Trang 2Hiệu quả thực hiện công tác phòng chống giun trường tiểu học đã góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ học đường và xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế
A program of control of soil-transmitted helminthiasis (STH) was conducted in 237 primary schools throughtout the province of Thua Thien Hue from 2005 to 2008 IEC education was combined with periodical (every 6 mouth) mass deworming with Mebendazole 500mg, Albendazole 400mg, single dose The program was assessed after four years implementation of the intervention measures.
IEC knowledge on STH was found to have been considerably improved among the teachers and other school staff but still not much in school children The infection rate of STH has been significantly reduced The cumulative rate of STH was 7.94% of which Ascaris was 2.55%, Tricuris 2.69%, and hookworm 3.24% Single infection was 7.29%, double infection 0.53%, and triple infection 0.12% The infection rate was reduced by 88.69% (7,94%/70,21%) as compared
to that before the intervention The reduction of Ascaris was by 95.40% (2.55%/ 44.48%), Tricuris by 88,92% (2.96%/26.71%), and hookworm by 91.32% (3.24%/37.33%)
In the district of Phu Loc where the program was longer lasting of 7 years (2002-2008) a lower infection rate of STH was found as the cumulative rate came down to 2.54% of which Ascaris 0.72% Tricuris 0.36% and hookworm 1.45%
Trang 31 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình nhiễm giun truyền qua đất khá phổ biến trong cộng đồng do môi trường sống bị ô nhiễm nặng, điều kiện sinh hoạt, vệ sinh ăn ở của người dân tại một số nơi còn thấp kém, có nhiều hạn chế đã làm cho các bệnh có liên quan phát triển và lưu hành rộng rãi, đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học Năm 2002, được sự hỗ trợ, giúp đỡ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
và Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương, Dự án Phòng chống giun đường ruột đã được triển khai thí điểm tại 25 trường tiểu học ở 18 xã, thị trấn huyện Phú Lộc bằng các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ kết hợp với tẩy giun định kỳ hàng loạt cách nhau 6 tháng bằng thuốc Mebendazole 500mg liều duy nhất Với kết quả đã đạt được, mô hình này được duy trì và mở rộng thêm cho 58,67% số xã, phường, thị trấn toàn tỉnh tại 144 trường tiểu học vào năm 2004-2005 Từ năm 2005, cũng được sự hỗ trợ, giúp đỡ tiếp tục; dự án đã được triển khai cho 237 trường tiểu học ở 152 xã, phường, thị trấn của toàn tỉnh với 3.872 lớp học, 122.221 học sinh và 6.015 giáo viên được can thiệp biện pháp Sau 4 năm (2005-2008) can thiệp biện pháp bằng các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ phòng chống giun sán kết hợp với chiến dịch tẩy giun định kỳ hàng loạt 6 tháng bằng thuốc Mebendazole 500mg, Albendazole 400mg liều duy nhất tại các trường tiểu học Để đánh giá hiệu quả công tác, đã tổ chức điều tra lại tình hình nhiễm giun truyền qua đất, chủ yếu là giun đũa, giun tóc và giun móc của học sinh tại các trường tiểu học đại diện nhằm có cơ sở duy trì mô hình trong thời gian tiếp theo bằng nguồn lực huy động đóng góp của cộng đồng, góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ học đường và xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế khi nguồn lực hỗ trợ, giúp đỡ của trung ương không còn được tiếp tục
Trang 42 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
-Các trường tiểu học đại diện 9 huyện, thành phố toàn tỉnh Mỗi đơn vị hành chính chọn 3 trường thuộc 3 xã, phường, thị trấn đại diện cho các vùng khác nhau
-Học sinh, giáo viên, nhân viên nhà trường các trường tiểu học đại diện được chọn theo vùng tại các huyện, thành phố: điều tra kiến thức, thái độ, hành
vi về phòng chống giun sán
-Học sinh tiểu học, lớp 4-5 (từ 9-11 tuổi) các trường tiểu học đại diện được chọn theo vùng tại các huyện, thành phố: điều tra kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống giun sán; điều tra tình hình nhiễm giun, chủ yếu là giun truyền qua đất như giun đũa, giun tóc, giun móc
- Thời gian nghiên cứu, khảo sát: tháng 3-4 năm 2009
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Một nghiên cứu can thiệp về giáo dục truyền thông và điều trị tẩy giun hàng loạt 6 tháng 1 lần, liên tục trong 4 năm
2.3 Chọn mẫu nghiên cứu
-Chọn mẫu điều tra kiến thức, thái độ, hành vi (KAP):
+ Đối với giáo viên, nhân viên nhà trường: điều tra 30 giáo viên x 3 trường tiểu học thuộc 3 xã, phường, thị trấn x 9 huyện, thành phố = 810 phiếu giáo viên Trong nghiên cứu này đã thu thập được 798 phiếu
+ Đối với học sinh: điều tra 70 học sinh x 3 trường tiểu học thuộc 3 xã, phường, thị trấn x 9 huyện, thành phố = 1.890 phiếu học sinh Trong nghiên cứu này đã thu thập được 1.852 phiếu
-Chọn mẫu điều tra ký sinh trùng (giun truyền qua đất) ở học sinh
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất, chủ yếu là giun đũa, giun tóc, giun móc Tính cở mẫu theo công thức nghiên cứu cắt ngang:
Trang 5pq
n = Z 2
(1 - α/2)
d2
Trong đó α= 0,05 thì Z(1 - α/2) = 1,96; p là tỷ lệ nhiễm giun đường ruột theo điều tra trước đây (p = 0,75); q = 1 - p = 0,25; d là độ chính xác, là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu (p) và tỷ lệ quần thể (P), chọn d = 0,05 (độ chính xác 95%)
Theo đó, xác định n = 288 tại mỗi đơn vị hành chính được điều tra Trong
9 đơn vị hành chính điều tra sẽ thu thập được 288 x 9 = 2.592 mẫu Trong nghiên cứu này đã thu thập được 2.470 mẫu xét nghiệm do thực hiện lấy mẫu ở thành phố có khó khăn
2.4 Nguyên liệu và phương pháp
-Mebendazole 500mg viên nén của XNDPTW5 Đà Nẵng sản xuất do Sở Y
tế Thừa Thiên Huế và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cung cấp Liều điều trị 1 lần duy nhất uống 1 viên cho giáo viên
-Albendazole 400mg của hãng Ấn Độ do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cung cấp Liều điều trị 1 lần duy nhất uống 1 viên cho học sinh
-Phỏng vấn, điều tra kiến thức, thái độ, hành vi (KAP) bằng mẫu câu hỏi thiết kế sẵn
+ Nhân viên y tế trực tiếp phỏng vấn, điều tra kiến thức, thái độ, hành vi của giáo viên, nhân viên nhà trường
+ Nhân viên y tế, giáo viên trực tiếp phỏng vấn kiến thức, thái độ, hành vi của học sinh
-Xét nghiệm ký sinh trùng, tìm trứng các loại giun truyền qua đất bằng phương pháp Kato-Katz
Trang 63 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Tình hình chung
Tỉnh Thừa Thiên Huế có 9 huyện, thành phố; 152 xã, phường, thị trấn; 1.317 thôn bản, tổ dân cư với dân số 1.146.913 người Năm 2002, được sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương, Dự án Phòng chống giun đường ruột cho học sinh tiểu học đã được triển khai thực hiện thí điểm tại 25 trường của 18 xã, thị trấn toàn huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế bằng các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe kết hợp với chiến dịch tẩy giun định kỳ hàng loạt cách nhau 6 tháng bằng thuốc Mebendazole 500mg liều duy nhất cho đến năm 2004
Trên cơ sở và kết quả đã thực hiện, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương tiếp tục hỗ trợ để giúp Thừa Thiên Huế mở rộng Dự án Phòng chống giun đường ruột cho tất cả các trường tiểu học của toàn tỉnh ở 9 đơn vị huyện, thành phố, 152 xã, phường, thị trấn từ năm 2005
Đã có 3.872 lớp học, 122.221 học sinh và 6.015 giáo viên được can thiệp biện pháp vào thời điểm năm 2005 và tổ chức duy trì hoạt động mô hình này cho những năm tiếp theo để góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khỏe học đường Trong năm học 2008-2009, toàn tỉnh có 237 trường tiểu học với 3.569 lớp, 101.562 học sinh, 6.355 giáo viên, nhân viên nhà trường Số cán bộ y tế chuyên trách ở các trường tiểu học chỉ mới có 30 nhân viên Sau 4 năm (2005-2008) can thiệp biện pháp truyền thông giáo dục sức khoẻ kết hợp với chiến dịch tẩy giun định
kỳ hàng loạt cách nhau 6 tháng bằng thuốc Mebendazole 500mg và Albendazole 400mg liều duy nhất được cấp hoàn toàn miễn phí, việc đánh giá hiệu quả can thiệp là vấn đề cần thiết để tiếp tục duy trì mô hình này; góp phần chăm sóc, bảo
vệ sức khoẻ cho trẻ em và xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế
Trang 7Bảng 1: Tình hình các trường tiểu học Thừa Thiên Huế năm học 2008-2009
Thành phố
Số xã, phường, thị trấn
Số trường tiểu học
Số lớp học
Số học sinh
Số giáo viên, nhân viên
Số cán bộ
y tế
Nhận xét: Trường tiểu học tỉnh Thừa Thiên Huế trong năm học 2008-2009
bình quân mỗi xã, phường, thị trấn có từ 1-3 trường tiểu học; xã có cao nhất 4 trường tiểu học là Hương Phong, huyện Hương Trà; xã không có trường tiểu học
là Hương Phong, huyện A Lưới; mỗi lớp học có từ 28-29 học sinh, 1-2 giáo viên
và nhân viên phục vụ Địa bàn có số học sinh, giáo viên và nhân viên nhà trường cao nhất là Huế, Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà; thấp nhất là A Lưới Số cán bộ
y tế chuyên trách tại các trường học có tỷ lệ thấp, chỉ chiếm 7,9% nên việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe học đường có hạn chế và sự phối hợp trong điều tra, nghiên cứu có khó khăn Thành phố Huế có số cán bộ y tế cao hơn các huyện nhưng vẫn chưa đủ cho tất cả các trường Đa số các trường học, việc chăm lo về công tác y tế và sức khỏe là giáo viên hoặc nhân viên nhà trường kiêm nhiệm
Trang 8Bảng 2: Số các trường tiểu học được điều tra theo vùng dịch tễ
Nhận xét: Trong thiết kế nghiên cứu, đã chọn mỗi huyện, thành phố 3
trường tiểu học ở 3 xã phường, thị trấn đại diện cho các vùng dịch tễ Tổng hợp theo vùng dịch tễ, số trường tiểu học được điều tra ở vùng đồng bằng chiếm 40,74%; tiếp đến là vùng cao, miền núi 22,22%; vùng ven biển 18,52%; vùng thành phố 11,11% và vùng trung du 7,41% Số trường điều tra đại diện phản ánh được tình hình qua kết quả thu thập được của mỗi vùng dịch tễ
3.2 Kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống giun sán
Bảng 3: Kiến thức, thái độ, hành vi của giáo viên, nhân viên và học sinh
TT Nội dung phỏng vấn, điều tra Tỷ lệ % kiến thức, thái độ,
hành vi đúng, tốt Giáo viên,
N.v
N = 789
Học sinh
N = 1.852
1 Biết đầy đủ các nguyên nhân gây bệnh 93 78
Ăn rau, quả sống, chưa rửa sạch
Uống nước lã
Đi chân đất
Để móng tay bẩn
Không rửa tay trước khi ăn
95 88 98 95 93
75 70 79 83 86
2 Biết đầy đủ các tác hại của bệnh 93 60
Đau bụng
Rối loạn tiêu hóa
Thiếu máu
Mất chất dinh dưỡng
95 93 90 95
95 58 20 70
Trang 9Rửa tay trước khi ăn
Cắt móng tay sạch sẽ
Không đi chân đất
95 95 93
92 91 89
4 Có hành vi phòng, chống bệnh đầy đủ 91 83
Đại tiện vào hố xí của trường
Nhà có hố xí để đi đại tiện
Luôn rửa tay trước khi ăn
Luôn rửa tay sau khi đại tiện
Có tẩy giun 2 đợt mỗi năm
Kiểm tra có bàn tay sạch
Kiểm tra có cắt móng tay
96 100 98 94 70 98 86
88 92 70 88 98 72 76
Nhận xét:
-Phỏng vấn, điều tra 789 giáo viên, nhân viên trường tiểu học; số đối tượng
nam chiếm 27% (213), số đối tượng nữ chiếm 0,73% (576), khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,05) Do đặc thù của trẻ em lứa tuổi tiểu học, số giáo viên, nhân viên nhà trường thuộc đối tượng nữ chiếm ưu thế ở các trường học được khảo sát Vấn đề này phù hợp với đặc điểm xã hội và công tác giáo dục trẻ em tiểu học Kết quả ghi nhận biết đầy đủ các nguyên nhân gây bệnh và biết đầy đủ các tác hại của bệnh giun sán chiếm 93%; có thái độ phòng bệnh đầy đủ chiếm 95%
và có hành vi phòng, chống bệnh đầy đủ chiếm 91% Mặc dù thuốc tẩy giun được cấp miễn phí nhưng chỉ có 70% số giáo viên, nhân viên trường học tẩy giun đủ 2 đợt trong mỗi năm, số còn lại chỉ tẩy giun 1 đợt; không có trường hợp nào không tẩy giun Có 14% giáo viên, nhân viên trường học được kiểm tra không cắt móng tay, chủ yếu là đối tượng nữ
-Phỏng vấn, điều tra 1.852 học sinh tiểu học gồm 52% nam (963) và 48%
nữ (889), không có sự khác biệt lớn giữa đối tượng học sinh nam và nữ (p>0,05)
nhưng nam có xu hướng cao hơn nữ Khảo sát ghi nhận có 78% biết đầy đủ các nguyên nhân gây bệnh; 60% biết đầy đủ các tác hại của bệnh giun sán; 90% có thái độ phòng bệnh đầy đủ và 83% có hành vi phòng, chống bệnh đầy đủ Kết quả phỏng vấn, điều tra đối tượng học sinh thu thập được thấy tỷ lệ hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh, tác tại của bệnh giun sán chưa cao như ăn rau, quả sống
Trang 10chưa rửa sạch; uống nước lã, đi chân đất; thiếu máu, rối loạn tiêu hóa, mất chất dinh dưỡng Mặc dù thái độ phòng, chống bệnh đầy đủ đạt tỷ lệ tương đối tốt (90%) nhưng hành vi phòng chống bệnh đầy đủ chưa tương xứng (83%), một số hành vi như luôn rửa tay trước khi ăn, giữ bàn tay sạch, cắt móng tay còn chiếm
tỷ lệ chưa cao Một số học sinh đến trường không đi đại tiện hoặc đại tiện ra ngoài đất ở các trường nông thôn, vùng cao, miền núi (12%) Tỷ lệ rửa tay sau đại tiện chỉ chiếm 88% Có 98% học sinh được tẩy giun 2 đợt trong mỗi năm tại trường học, bảo đảm được yêu cầu kế hoạch hoạt động của công tác phòng chống giun trường tiểu học
Với các mặt tồn tại, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng, chống bệnh giun sán cần tiếp tục thực hiện và duy trì thường xuyên tại các trường tiểu học Bổ sung vào chương trình giảng dạy ngoại khóa ở nhà trường Tăng cường các tài liệu tuyên truyền phòng, chống giun sán; vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường tại trường học Y tế địa phương định kỳ nên kiểm tra các công trình vệ sinh cần thiết phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của học sinh, giáo viên, nhân viên nhà trường để đốn đốc việc giữ gìn và phát triển thêm các công trình vệ sinh đáp ứng đầy đủ, đạt tiêu chuẩn Trên thực tế, kiến thức, thái độ thường không đi đôi với hành vi thực hành; biết nhưng không làm là vấn đề hay gặp phải Vì vậy các trường học cần quan tâm đến vấn đề giáo dục sức khỏe để việc nâng cao nhận thức đến gần với việc chuyển đổi hành vi
Trang 113.3 Tình hình nhiễm giun truyền qua đất của học sinh tiểu học
3.3.1 Tình hình nhiễm giun truyền qua đất của học sinh theo huyện, thành phố
Mỗi huyện, thành phố điều tra 3 trường tiểu học thuộc 3 xã, phường, thị trấn đại diện ở các khu vực khác nhau Xét nghiệm giun truyền qua đất chủ yếu bằng phương pháp phát hiện trứng các loại giun đũa, giun tóc, giun móc trong mẫu phân thu thập
Bảng 4: Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất của học sinh tiểu học ở huyện, thành phố
thành phố
Số mẫu XN
Số mẫu (+)
Tỷ lệ
% (+)
Kết quả xét nghiệm loại trứng giun Giun đũa Giun tóc Giun móc
4 Hương
Thủy
6 Phong Điền 273 28 10,26 9 3,30 6 2,20 14 5,13
8 Phú Vang 334 40 11,98 13 3,89 24 7,19 12 3,59
Cộng 2.470 196 7,94 63 2,55 73 2,96 80 3,24
Nhận xét: Nhiễm giun chung của học sinh đại diện ở 27 trường tiểu học
toàn tỉnh chiếm tỷ lệ 7,94%; trong đó nhiễm giun đũa 2,55%; giun tóc 2,96%; giun móc 3,24% Tỷ lệ nhiễm giun chung cao nhất ở Nam Đông 13,31%; tiếp đến là Phú Vang 11,98%; Hương Thủy 10,77%; Phong Điền 10,26%; thấp nhất
ở Hương Trà 3,61%; Phú Lộc 2,54% Nhiễm giun đũa cao nhất ở A Lưới 5,17%; thấp nhất ở Phú Lộc 0,71%; Nam Đông 0,31% Nhiễm giun tóc cao nhất ở Hương Thủy 8,75%; thấp nhất ở A Lưới 0,43% Nhiễm giun móc cao nhất ở Nam Đông 13%; A Lưới và Hương Thủy không có mẫu phân nhiễm giun móc Phân tích kết quả ghi nhận phần lớn các trường hợp nhiễm đơn thuần 1 loại giun với tỷ lệ 7,29%; nhiễm phối hợp 2 đến 3 loại giun chiếm tỷ lệ thấp 0,53% và 0,12% Có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giun (p<0,05)