Đối với tất cả các quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động KTXH, an ninh, quốc phòng. Trong nông nghiệp, đất đai không những là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH
12
1.1 Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp đối với
sản xuất
12
1.2 Quan niệm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, tiêu
chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sửdụng đất nông nghiệp
2.1 Thành tựu và hạn chế về hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua
35
2.2 Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và những vấn đề
đặt ra
52
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH
62
3.1 Quan điểm cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
62
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
71
Trang 2DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam CHXHCN Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với tất cả các quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quýgiá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là bộ phận hợp thành quan trọng của môitrường sống, là địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động KT-XH, an ninh,quốc phòng Trong nông nghiệp, đất đai không những là đối tượng lao động
mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càngtăng về lương thực, thực phẩm, nhà ở, trường học, bệnh viện, đường sá, cùngcác nhu cầu khác về văn hóa, xã hội, v.v Con người đã tìm mọi cách để khaithác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Đất đai, đặcbiệt là đất nông nghiệp, có hạn về diện tích, nhưng lại có nguy cơ bị suy thoáidưới tác động của thiên nhiên và của con người trong quá trình sản xuất Đó
là chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thịhóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạnchế Do vậy, việc đánh giá HQSD đất sản xuất nông nghiệp, để từ đó lựa chọncách sử dụng đất có hiệu quả, đảm bảo cho sự phát triển bền vững đang trởthành vấn đề mang tính chất toàn cầu
Tỉnh Bắc Ninh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, có vị trírất quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước, là một trongnhững tỉnh có quá trình CNH, HĐH diễn ra mạnh mẽ Điều đó làm cho diệntích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm nhanh chóng, trong khi nhu cầu
về sản phẩm nông nghiệp cho người tiêu dùng về số lượng, chất lượng, cũngnhư sự đa dạng về chủng loại ngày càng lớn, đòi hỏi người được giao quyền
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phải nâng cao tính hiệu quả Mặc dù thờigian qua, chính quyền và người nông dân các địa phương trong tỉnh BắcNinh đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao HQSD đất nôngnghiệp, như: dồn điền đổi thửa, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, thâm
Trang 4canh, chuyên canh cây trồng, vật nuôi… góp phần nâng cao giá trị thu nhậptrên một diện tích đất nông nghiệp (có vùng đạt trên 100 triệuđồng/ha/năm), tạo thêm việc làm cho nhiều lao động nông thôn, nâng caothu nhập cho nông dân Tuy nhiên, HQSD đất nông nghiệp hiện nay trênđịa bàn Tỉnh vẫn còn thấp; giá trị trên một ha, trên một đồng chi phí, cũngnhư trên một công lao động bỏ ra vẫn chưa cao; còn nhiều diện tích đấtnông nghiệp bỏ hoang; tình trạng thiếu việc làm trong lao động nông thônvẫn còn nhiều, đời sống của nông dân còn nhiều khó khăn; việc đầu tư cácnguồn lực vào đất nông nghiệp còn hạn chế, v.v Điều đó gây ra không ít trởngại cho quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ
-chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đất nôngnghiệp, được công bố với mục đích đánh giá HQSD đất nông nghiệp sau khithực hiện việc dồn điền đổi thửa, trong quá trình đô thị hóa, hoặc quá trìnhphát triển nông nghiệp hàng hóa ở nước ta và ở từng địa phương Song, vấn
đề HQSD đất nông nghiệp mà một số bài báo khoa học, hoặc được đề cậptrong một phạm vi hạn chế của một số luận văn, luận án, các đề tài nghiêncứu, hay sách chuyên khảo, đã công bố, chủ yếu được đề cập dưới dạngnhững tác động của chính sách đất đai Dưới đây là một số công trình, sách,báo khoa học có liên quan đến đề tài, được tác giả chia thành ba nhóm:
* Các sách chuyên khảo có liên quan đến đề tài
Trước hết, phải kể đến cuốn sách của Nguyễn Ngọc Bình (2007), Đất và những kiến thức sử dụng đất cho nông dân, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Trong
công trình khoa học này, tác giả Nguyễn Ngọc Bình đã trình bày những kiếnthức cơ bản về đất, như: khái niệm về đất, các thành phần cấu tạo và tính chất
Trang 5của đất Trên cơ sở đó, tác giả đã cung cấp những kiến thức cơ bản để sử dụngđất có hiệu quả và bền vững, như: phải phân loại đất thích hợp với từng loại câytrồng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác Tác giả cũng đã trình bày cácbiện pháp để độ phì nhiêu của đất được bảo toàn và bền vững cả về kinh tế, xãhội, môi trường Cuốn sách này giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đất, làm cơ sở choviệc lựa chọn cây trồng phù hợp với từng loại hình đất, biết cách cải tạo đất đểnâng cao độ phì của đất, thiết thực góp phần nâng cao HQSD đất nông nghiệp.
Thứ hai là cuốn sách Lâm Quang Huyên (2007), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Trong cuốn sách này, tác giả Lâm
Quang Huyên đã trình bày có tính hệ thống các quan điểm của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về ruộng đất và đường lối, quan điểm củaĐảng, chính sách về ruộng đất của Nhà nước ta qua các thời kỳ; trong đó cóbàn và phân tích sâu thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay Tác giả đã hệ thống lạiquá trình thực hiện cách mạng ruộng đất ở Việt Nam, đánh giá những thànhcông, thất bại và nguyên nhân của những thành công, thất bại đó Tác giả cũng
đã nêu một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất ở một số nước trên thếgiới và kinh nghiệm sử dụng ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp ở một số địaphương, như: xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha/năm ở Thái Bình; xây dựng vùngchuyên canh nông sản hàng hóa ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh… làm bài học trongnâng cao HQSD đất, đồng thời bảo vệ và phát triển quỹ ruộng đất của nước ta
Hai cuốn sách nói trên không đề cập đến vấn đề HQSD đất nông nghiệp
ở tỉnh Bắc Ninh, nhưng là những tài liệu quan trọng cung cấp cho học viênnhững kiến thức cơ bản về vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, bao gồm quan niệm
về đất đai, cách phân loại đất đai, cách thức sử dụng đất đai, kinh nghiệm sửdụng có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp ở các địa phương, v.v
* Các luận văn, luận án có liên quan đến đề tài
Vấn đề HQSD đất nông nghiệp cũng được một số tác giả lựa chọn làm
đề tài nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ Tiêu biểu có: Lê Văn
Trang 6Hải (2006), Đánh giá HQSD đất nông nghiệp huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây,
Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp, chuyên ngành Quản lý đất đai, Trường Đạihọc Nông nghiệp I Hà Nội Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Lê VănHải tập trung làm rõ một số vấn đề về HQSD đất và đánh giá HQSD đất nôngnghiệp Trong đó, đáng chú ý là tác giả đã nêu lên những đặc điểm và phươngpháp đánh giá HQSD đất nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng và hệ thống cáctiêu chí đánh giá HQSD đất nông nghiệp Phần đánh giá thực trạng, tác giả đãphân tích khá chi tiết về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường đối với từngloại hình đất, từng vùng sản xuất Trên cơ sở đó, tác giả nêu ra một số quanđiểm, định hướng và giải pháp để nâng cao HQSD đất nông nghiệp Theo tácgiả, quan điểm sử dụng đất nông nghiệp phải theo hướng đa dạng hóa sảnphẩm, phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái Hệ thống giải pháp phảiđược tiến hành đồng bộ, trong đó cần quan tâm giải pháp về nguồn nhân lực,các chính sách tác động đến HQSD đất, giải pháp về vốn, thị trường sảnphẩm, chuyển giao khoa học - công nghệ, đầu tư, hạ tầng cơ sở, v.v
Lê Thanh Minh (2008), Nâng cao HQSD đất nông nghiệp trong quá trình
đô thị hóa huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường
Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên Trong côngtrình nghiên cứu này, tác giả Lê Thanh Minh đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn về mối quan hệ giữa đô thị hóa với HQSD đất nông nghiệp; phântích, đánh giá đặc điểm và HQSD đất nông nghiệp đối với từng hộ gia đình,từng loại cây trồng, vật nuôi trong quá trình đô thị hóa Điều đáng chú ý là tácgiả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao HQSD đất nông nghiệp trong quátrình đô thị hóa, như: thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về chínhsách đất đai; đẩy mạnh hoạt động tín dụng cho nông dân vay vốn, ứng dụngkhoa học - kỹ thuật trong sản xuất, tìm thị trường cho nông dân; chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, v.v
Nguyễn Thị Hiền (2011), Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
Trang 7Ninh, Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã tập trung làm rõ một số vấn đề lýluận và thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam, trình bày các quanđiểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững, các yếu tố chi phối đến HQSD đấtnông nghiệp Tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế, hiệuquả xã hội và hiệu quả môi trường khi sử dụng các loại hình đất nông nghiệpcủa huyện Quế Võ; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quảcác loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Trong đó,đáng chú ý là các giải pháp về thực hiện cơ chế chính sách, tài chính; dồn điềnđổi thửa, cải tạo đất, vốn và thị trường nông sản, v.v
Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong
sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012-2020, Luận án tiến sĩ
nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Trong công trình nghiên cứu này, tác giảBùi Nữ Hoàng Anh đã tập trung trình bày những nội dung về đất nôngnghiệp, như: khái niệm đất nông nghiệp, phân loại và đặc điểm kinh tế của đấtnông nghiệp, nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Điều đáng chú ý là đốitượng nghiên cứu của luận án này tương đối hẹp, chỉ đi vào nghiên cứu hiệuquả kinh tế sử dụng đất, chứ không phải nghiên cứu vấn đề HQSD đất nôngnghiệp nói chung Do đó, tác giả tập trung phân tích cơ sở lý luận về hiệu quảkinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp, đưa ra những nhân tố cơ bản ảnhhưởng đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp; khái quát nhữngvấn đề cơ bản về chính sách đất nông nghiệp của Việt Nam qua các thời kỳ,đánh giá thực trạng và nêu lên những tác động của chính sách đất đai đến hiệuquả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2013), HQSD đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế chính trị,
Học viện Chính trị Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị MỹHạnh đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dồn điền đổi
Trang 8thửa; từ đó giải quyết vấn đề cần quan tâm hàng đầu là nâng cao HQSD đấtnông nghiệp Tác giả đã phân tích thực trạng HQSD đất nông nghiệp sau dồnđiền đổi thửa của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; chỉ ra những vấn đề nảy sinhtrong quá trình sử dụng đất nông nghiệp hiện nay cần quan tâm tập trung giảiquyết; đề xuất phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu để nâng caoHQSD đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa Trong hệ thống các giải pháp,đáng chú ý là giải pháp về thực hiện chủ trương, chính sách sử dụng đất hợp lý;vấn đề nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp,v.v Tác giả coi đây là những biện pháp cần thiết để nâng cao HQSD đất nôngnghiệp sau dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Mặc dù các luận văn, luận án nói trên không trực tiếp nghiên cứu cácvấn đề về HQSD đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh, nhưng đã cung cấp chohọc viên những những kiến thức chung về đất nông nghiệp, về hiệu quả nóichung, hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, và về các giảipháp nâng cao HQSD đất nông nghiệp Vì vậy, đây là các tài liệu tham khảorất có giá trị đối với học viên Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu của học viênkhông trùng lặp với các luận văn, luận án đã công bố
* Các bài báo khoa học có liên quan đến đề tài
Trần Thị Minh Châu (2011), "Chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, số 824; Nguyễn Mạnh Tuân (2011), "Chính sách về đất đai trong nông nghiệp ở Việt Nam : thực trạng và những kiến nghị", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 396 (5/2011); Nguyễn Sinh Cúc (2008), "Ổn định đất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia", Tạp chí Lý luận chính trị, số 9.
Trong những bài viết trên, các tác giả đã trình bày vai trò của đất nôngnghiệp, chính sách đất nông nghiệp, sự hình thành, phát triển chính sách đấtnông nghiệp, phân tích làm rõ những thành công và hạn chế về chính sách đấtnông nghiệp của nước ta qua các thời kỳ; trên cơ sở đó, đề xuất một số giảipháp lớn đối với chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay nhằm nâng
Trang 9cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực,phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Phạm Văn Vân và Nguyễn Thanh Trà (2010), “Đánh giá HQSD đất
nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ - Hà Nội”, Tạp chí Khoa học và Phát triển,
tập 8, số 5, trang 850-856, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Trong bàiviết này, nội dung đáng chú ý là các tác giả đã chỉ ra những tiêu chí đánh giáHQSD đất nông nghiệp; trên cơ sở kết quả khảo sát, điều tra, phân tích kếtquả, tác giả đã đánh giá khá chi tiết hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trườngđối với từng loại hình đất nông nghiệp, từng vùng sản xuất, từng loại câytrồng chính ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Bùi Nữ Hoàng Anh, Trần Chí Thiện (2013), “Phân tích các nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Yên Bái”,
Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, Số 423-8/2013, trang 36 - 45 Bài viết này của hai
tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sử dụngđất nông nghiệp của tỉnh Yên Bái dựa trên số liệu khảo sát 270 hộ nông dântrong 3 huyện đại diện cho 3 vùng sinh thái của Tỉnh Bài viết đã cung cấp 6nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp,
6 nhóm giải pháp tương ứng cho toàn Tỉnh và các giải pháp đặc thù theo từngloại hình đất nông nghiệp Trong các giải pháp đó, hai tác giả của bài báo nhấnmạnh việc đặc biệt chú trọng cải thiện nhân tố xã hội (bao gồm cả trình độ dântrí, chính sách, cách thức tổ chức, v.v) Các nhân tố khác về kỹ thuật - côngnghệ, cơ sở hạ tầng, điều kiện sản xuất của nông hộ, điều kiện tự nhiên và thịtrường cũng được hai tác giả đề nghị cần được quan tâm thỏa đáng
Tóm lại, vấn đề HQSD đất nông nghiệp ở Việt Nam đã được nhiều
người quan tâm nghiên cứu và công bố trên một số sách, bài báo khoa học; hoặcđược một số luận án, luận văn nghiên cứu, nhưng chưa có công trình khoa họcnào trực tiếp nghiên cứu toàn diện, trực tiếp vấn đề HQSD đất nông nghiệp ởtỉnh Bắc Ninh dưới góc độ kinh tế chính trị Vì vậy, đề tài nghiên cứu của học
Trang 10viên không trùng lặp với các công trình đã công bố Tuy nhiên, kết quả nghiêncứu của các công trình liên quan đến đề tài đã nêu ở trên là những tài liệu thamkhảo bổ ích, nhất là những kiến thức có liên quan đến vấn đề HQSD đất nôngnghiệp nói chung, để học viên triển khai nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về HQSD đất nông nghiệp ở tỉnh BắcNinh Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nângcao HQSD đất nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh những năm tiếp theo
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về HQSD đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
- Đánh giá đúng thực trạng HQSD đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninhtrong những năm qua
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQSDđất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu HQSD đất để sản xuất nông nghiệp trênđịa bàn tỉnh Bắc Ninh, với chủ thể sử dụng đất là người được giao quyền sửdụng đất nông nghiệp; có tính đến chủ thể sở hữu là nhà nước khi bàn cácnhân tố chi phối và giải pháp nâng cao HQSD đất nông nghiệp
Việc phân tích thực trạng HQSD đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh đượcgiới hạn trong thời gian từ năm 2009 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Trang 11Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; quanđiểm, đường lối, chính sách về sử dụng đất nông nghiệp của Đảng và Nhànước ta; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh cùng những chủtrương, biện pháp của địa phương trong những năm gần đây về quản lý, sửdụng và nâng cao HQSD đất nông nghiệp.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học của kinh tếchính trị Mác - Lênin để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về HQSD đất nông nghiệp;
sử dụng các phương pháp: kết hợp lô-gíc với lịch sử, so sánh, phân tích, tổnghợp, thống kê, khảo sát trực tiếp tại địa phương, phỏng vấn cán bộ Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn và bà con nông dân tại các địa phương đếnkhảo sát, phương pháp chuyên gia cùng một số phương pháp khác để phântích thực trạng, đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao HQSD đất nôngnghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
6 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc hoạch địnhnhững chính sách, biện pháp nâng cao HQSD đất nông nghiệp của tỉnh BắcNinh và một số địa phương khác có đặc điểm tương đồng với Bắc Ninh Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảophục vụ nghiên cứu giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm: Phần mở đầu; 3 chương (7 tiết), kết luận; Danh mục tài liệutham khảo; Phụ lục
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH 1.1 Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp đối với sản xuất
1.1.1 Đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặngcho con người Con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩmcủa đất Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu đất là gì? Tại sao lại phải giữ gìn,bảo vệ và phát huy nguồn tài nguyên này Theo định nghĩa của nhà thổnhưỡng người Nga Vi-li-am (1935) thì “Đất là một lớp vật thể tơi xốp trên bềmặt của hành tinh chúng ta, mà thực vật có thể sinh trưởng được” [3, tr.5 ]
Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp (năm 1991) “Đất là vật hìnhthành tự nhiên, gồm những tầng lớp liên quan nhau theo phát triển sinh học,được tạo thành do kết quả biến đổi các lớp mặt thạch quyển vỏ Trái đất, dướitác động của nước, không khí, sinh vật”, và “ Đất đai là phần bề mặt của tráiđất có đặc điểm bao gồm tất cả những thuộc tính tương đối ổn định của sinhquyển trên và dưới bề mặt đó, từ khí quyển đến thổ nhưỡng, địa hình, địamạo, thủy văn, quần thể động, thực vật, cho đến những kết quả của hoạt độngcon người trong quá khứ và hiện tại, trong chừng mực những thuộc tính đó cóảnh hưởng, có ý nghĩa đến sử dụng đất của con người trong hiện tại và tươnglai” [27, tr.170] Dưới góc độ kinh tế chính trị, đất đai là một loại tư liệu sảnxuất cơ bản, thiết yếu của quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chấtnuôi sống con người (sẽ làm rõ hơn ở 1.1.2) Loại tư liệu sản xuất này ở nước
ta có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng; trong đó, Nhà nướcvới tư cách là người chủ sở hữu giao quyền sử dụng có thời hạn cho các tổchức, cá nhân sử dụng theo quy định của pháp luật
Như vậy, đất là một vật thể tự nhiên độc lập, có những quy luật phátsinh, phát triển riêng theo không gian và thời gian, như các vật thể tự nhiênkhác Nhưng từ sau khi loài người xuất hiện, thì đất là đối tượng lao động, là
Trang 13tư liệu sản xuất của con người, và còn là sản phẩm lao động của con người.Bởi vậy, qua các hoạt động sản xuất của mình, con người cũng là một yếu tốquan trọng trong quá trình hình thành đất Cho nên, các loại đất xấu hay tốtkhông phải đơn thuần chỉ do các quy luật của tự nhiên, mà con người khi sửdụng đất, dựa vào các đặc tính của nó, có thể làm cho đất xấu trở thành đấttốt, đất tốt ngày càng tốt hơn qua quá trình sử dụng và ngược lại.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng là tổ hợp các ngành gắn liền với các quátrình sinh học, bao gồm cả nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi),lâm nghiệp (trồng và khai thác bảo vệ tài nguyên rừng), ngư nghiệp (đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản), diêm nghiệp (làm muối) Thực tiễn cho thấy, trongmột thời gian dài của lịch sử, nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ yếu củahầu hết các quốc gia Nông nghiệp là khu vực duy nhất sản xuất ra lươngthực, thực phẩm nuôi sống con người
Với cách tiếp cận đó, có thể hiểu đất nông nghiệp là đất được sử dụngchủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, như: trồng trọt, chăn nuôi,nuôi trồng thủy sản, làm muối, hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thínghiệm về nông nghiệp Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp (năm 1991)
“Đất nông nghiệp là các loại đất được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp:trồng trọt các loại cây hằng năm hay lâu năm, trồng cỏ cho chăn nuôi Cácmặt nước để nuôi trồng thủy sản” [27, tr.171] Luật Đất đai năm 1993 quyđịnh về đất nông nghiệp tại Điều 42 như sau: “Đất nông nghiệp là đất đượcxác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chănnuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” [18]
Với quy định của Luật Đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam đượcchia thành sáu loại: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đấtkhu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chưa sử dụng Theo sự phân loại này,đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại Tuy nhiên,
sự phân loại này dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có
sự tách bạch về mặt pháp lý, gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai
Trang 14Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi chongười sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất, LuậtĐất đai năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và gần đây, Luật Đất đai năm
2013 đã chia đất đai thành ba loại, với tiêu chí phân loại duy nhất là căn cứ vàomục đích sử dụng chủ yếu: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp
và nhóm đất chưa sử dụng Theo đó, nhóm đất nông nghiệp là “đất được xácđịnh chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng cây hàng năm,trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đấtnuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối; đất nông nghiệp khác sử dụng để xây dựngnhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, xây dựng chuồngtrại chăn nuôi hoặc nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi, đất ươm tạocây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh” [20, tr.120] Như vậy, nói đếnđất nông nghiệp, hiện nay người ta thường hiểu sẽ bao gồm:
Đất sản xuất nông nghiệp: bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất
trồng cây lâu năm;
Đất lâm nghiệp: bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất
rừng đặc dụng;
Đất nuôi trồng thủy sản: đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi
trồng thủy sản nước lợ, nước mặn và nước ngọt;
Đất làm muối: là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối; Đất nông nghiệp khác: gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các
loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọtkhông trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm vàcác loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi,nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươmtạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh Trong phạm vi nghiêncứu của luận văn này, do vị trí địa lý của Bắc Ninh không có biển, nên đất nôngnghiệp ở Bắc Ninh không có loại hình đất làm muối
Trang 15Đất nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, đất nông nghiệp có vị trí cố định không di chuyển được
Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, nhưng lại có vị trí cố định,không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, gắn liền với điều kiện tựnhiên, điều kiện KT-XH của mỗi vùng Đặc tính này đồng thời quy định tínhgiới hạn về quy mô theo không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu
sự chi phối; gắn liền với nguồn gốc hình thành của đất đai, địa hình, khí hậu,kết cấu đất, độ màu mỡ, vị trí của đất, v.v Vị trí của đất nông nghiệp có ýnghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác sử dụng đất Thông thường,đất nông nghiệp ở gần các khu đô thị, thuận tiện về giao thông thường đượckhai thác sử dụng triệt để hơn đất đai ở các vùng xa xôi, hẻo lánh; do đó, vị tríđịa lý của đất nông nghiệp thường mang lại cho người sở hữu và người sửdụng nhiều lợi ích hơn Đặc điểm này chính là một điều kiện dẫn tới hìnhthành địa tô chênh lệch I mà C Mác đã chỉ ra trong lý luận địa tô TBCN củamình; đồng thời, đây cũng là một yếu tố cần xem xét khi tính tới HQSD đấttrong điều kiện hiện nay
Hai là, diện tích đất nông nghiệp có hạn
Do đặc điểm tự nhiên của đất đai, nên diện tích đất nông nghiệp đưa vàocanh tác luôn bị giới hạn bởi không gian nhất định Diện tích đất có hạn dogiới hạn của từng nông trại, từng hộ nông dân, từng vùng và phạm vi lãnh thổtừng quốc gia Sự giới hạn về diện tích đất nông nghiệp còn thể hiện ở khảnăng hoạt động khai hoang, khả năng tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể.Quỹ đất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầungày càng cao về đất đai của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng nhưđáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày một gia tăng Đặc điểm này ảnh hưởngđến khả năng duy trì và mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp Đây cũng làmột điều kiện dẫn tới hình thành lợi nhuận siêu ngạch trong kinh doanh nôngnghiệp mà C Mác đã chỉ ra trong lý luận địa tô TBCN
Trang 16Tuy nhiên, dù bị giới hạn về mặt không gian, nhưng trên mỗi đơn vị diệntích đất nông nghiệp, nếu không ngừng tăng cường đầu tư vốn, sức lao động,đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, thì số lượng sản phẩm trên mộtđơn vị diện tích và giá trị nông phẩm đem lại trên một đơn vị sản phẩm sẽ ngàycàng nhiều hơn và chất lượng hơn Đây là con đường chủ yếu để nâng caoHQSD đất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầutăng lên về nông phẩm cung cấp cho xã hội
Ba là, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động.
Đất nông nghiệp vốn là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện và tồn tại ngoài ýmuốn của con người Đất nông nghiệp được hình thành do quá trình phong hoá
đá và sự tác động của vi sinh vật, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và do con ngườitiến hành khai phá, đưa vào sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của con người Trongquá trình lịch sử lâu dài đó, lao động của con người qua nhiều thế hệ đã được kếttinh vào đó Do đó, ngày nay đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa
là sản phẩm của lao động Đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng, conngười cần phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng, đồng thời phải khai thác đấtnông nghiệp cho hợp lý để làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn
Bốn là, đất nông nghiệp có chất lượng không đồng đều.
Đất nông nghiệp không đồng nhất về chất lượng do sự khác nhau giữacác yếu tố dinh dưỡng vốn có của nó Trước hết, đó là kết quả của quá trìnhhình thành đất và đây chính là một điều kiện dẫn đến hình thành địa tôchênh lệch I; mặt khác, quan trọng hơn là quá trình canh tác của con người.Nếu trong quá trình sử dụng, khai thác đất nông nghiệp, người sử dụng đấtthường xuyên đầu tư cải tạo và bồi dưỡng cho đất, thì sẽ bảo tồn và nâng cao độmàu mỡ của đất nông nghiệp ở từng cánh đồng, từng khu vực Từ đó sẽ đạtđược năng suất cây trồng cao Đây cũng chính là một điều kiện dẫn đến hìnhthành địa tô chênh lệch II mà C Mác đã chỉ ra trong lý luận địa tô TBCN Vận
Trang 17dụng trong điều kiện hiện nay, đó cũng chính là phương thức nâng cao HQSDđất nông nghiệp Điều đó đòi hỏi người sử dụng đất nông nghiệp phải xác định
tỷ lệ hợp lý về các nguồn lực như: vốn, nhân lực, loại cây trồng, vật nuôi…trong quá trình sản xuất nông nghiệp Có như vậy thì mới có thể đem lại hiệuquả kinh tế cao cho mình
1.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp đối với sản xuất
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, lànguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân; là cơ sở tự nhiên,
là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất, nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngànhsản xuất có tầm quan trọng khác nhau Bàn về vấn đề này, nhà kinh tế học tưsản cổ điển Wiliam Petty (1623-1687) có một luận điểm nổi tiếng: “lao động
là cha, còn đất đai là mẹ của mọi của cải” Trong phần mở đầu, Luật Đất đainăm 1993 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là
tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trườngsống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh và quốc phòng” [8] Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai cóvai trò đặc biệt quan trọng Điều này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp.
Điều đó được quy định bởi đất nông nghiệp vừa là tư liệu lao động vừa
là đối tượng lao động Trong khi đó, đối với các loại đất chuyên dùng khác,thì đất đai chỉ là đối tượng lao động; con người phải sử dụng tư liệu lao động
để tác động vào đất đai để tạo ra sản phẩm Đất đai là đối tượng lao động vìđất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất, như: cày, bừa,xới, lên luống, v.v Quá trình đó làm tăng chất lượng của ruộng đất, tạo điềukiện thuận lợi để tăng năng suất và chất lượng cây trồng Đất đai là tư liệu laođộng, vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sửdụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất
Trang 18nông nghiệp Sự kết hợp của đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làmcho đất nông nghiệp trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai là tư liệu sảnxuất đặc biệt còn là vì, các tư liệu sản xuất khác bị hao mòn dần trong quá trình
sử dụng, nhưng đất nông nghiệp nếu biết khai thác, cải tạo và sử dụng hợp lý, thì
độ phì của đất ngày càng tăng, chất lượng đất ngày càng cao hơn
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, vì nó có vaitrò quyết định trong việc tạo ra các loại nông sản Nếu không có đất thì khôngthể tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp được; và do đó cũng khôngthể có nông sản được Cho đến nay, nơi duy nhất để sản xuất ra lương thực,thực phẩm nuôi sống con người vẫn cơ bản là đất nông nghiệp
Thứ hai, đất nông nghiệp là môi trường sống, môi trường không gian quan trọng để sản xuất nông nghiệp.
Chúng ta đều biết rằng, đất là thành phần quan trọng hàng đầu của môitrường sống C.Mác đã chỉ ra rằng: “ Đất là không gian, yếu tố cần thiết củatất thảy mọi sự sản xuất và mọi hoạt động của loài người” [16, tr.473] Sảnxuất nông nghiệp có đặc thù là hoạt động sản xuất cơ bản diễn ra ở ngoài trời,phải tiếp xúc với tự nhiên Mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra đềucần phải có đất Cây trồng, vật nuôi đều phải dựa vào đất và mặt nước để pháttriển Tất cả những yếu tố đó chính là môi trường sống, là không gian để sảnxuất nông nghiệp Thực tế lịch sử cho thấy: đất là yếu tố không thể thiếutrong hoạt động sản xuất nông nghiệp của các thế hệ con người Hiện nay,khoa học - công nghệ phát triển, con người có thể sản xuất ra một số sảnphẩm nông nghiệp mà không cần sử dụng đất nông nghiệp; song trên thực tế,điều đó chưa phải là phổ biến, vì sản xuất theo phương pháp đó có chi phí quácao, không hiệu quả, không thể tạo khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn Chođến nay, hình thức sản xuất này chưa thể mở rộng một cách phổ biến được Vàsuy cho đến cùng, dù có ứng dụng khoa học - công nghệ bao nhiêu đi chăngnữa, thì sản xuất nông nghiệp vẫn cần phải có không gian đất nông nghiệp nhấtđịnh Vì vậy, đất nông nghiệp vẫn đóng vai trò hàng đầu trong sản xuất nôngnghiệp hiện nay
Trang 19Thứ ba, quyền sử dụng đất nông nghiệp được coi là phương tiện góp vốn để phát triển sản xuất.
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt Sở hữu đất đai là một vấn đề rất phứctạp, phản ánh nhiều mối quan hệ giữa nhà nước với người dân; giữa người vớingười trong quá trình chiếm hữu, sử dụng đất Ở nước ta, theo Luật Đất đai năm
2013 thì: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu vàthống nhất quản lý Nhà nước không tư hữu hóa đất đai, nhưng giao cho ngườidân quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặcbiệt Người sử dụng đất, theo Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013, có nhiềuquyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thếchấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồiđất Trên cơ sở đó, cá nhân hoặc tổ chức sử dụng đất do thiếu vốn sản xuất cóthể thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụngnhân dân để vay vốn sản xuất; hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất sảnxuất nông nghiệp, nhưng do thiếu kinh nghiệm, thiếu lao động thì có thể dùngquyền sử dụng đất được giao để liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tếkhác như một phần vốn góp Chính vì thế, có thể coi đất nông nghiệp (thực chất
là quyền sử dụng đất) có vai trò như là một phương tiện góp vốn, thế chấp, huyđộng vốn, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh Điều đó có đầy đủ cơ
sở pháp lý và được Nhà nước bảo hộ, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các
hộ nông dân khai thác và sử dụng quỹ đất sản xuất nông nghiệp một cách linhhoạt nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân
1.2 Quan niệm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, tiêu chí đánh
giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.Quan niệm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Khái niệm hiệu quả.
Hiệu quả là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xãhội Nói đến hiệu quả, người ta thường hiểu là nói đến kết quả công việc đạt
Trang 20đến mức nào trong so sánh với mục đích đặt ra Đó là kết quả mong muốn, làcái mà con người mong đợi và hướng tới khi thực hiện một công việc so vớimục đích được kỳ vọng
Khái niệm hiệu quả có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khácnhau Trong sản xuất, nói đến hiệu quả có nghĩa là nói đến hiệu suất, năngsuất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ramột đơn vị sản phẩm; hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trongmột đơn vị thời gian Trong kinh doanh, hiệu quả được thể hiện ở lãi suất,lợi nhuận trên một đơn vị vốn đầu tư Trong các hoạt động xã hội phi lợinhuận, thì hiệu quả ở đây là hiệu quả xã hội, được coi là kết quả đạt được
so với mục đích đặt ra của hoạt động xã hội đó
Nhìn chung, hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ sosánh giữa kết quả đạt được và chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó trong
là đối tượng lao động, nên quá trình sử dụng đất nông nghiệp cũng là quátrình tác động của con người vào giới tự nhiên Do vậy, quá trình sử dụng đấtnông nghiệp đòi hỏi người được giao quyền sử dụng đất phải tuân theo nhữngnguyên tắc nhất định Cụ thể là:
Thứ nhất, đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này
có nghĩa là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cần được sử dụng hết vào sảnxuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từngloại đất, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi
Thứ hai, đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Đây là kết
quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai Việc xác định HQSD đất nông
Trang 21nghiệp được tính toán qua nhiều chỉ tiêu, như: năng suất cây trồng, sản lượng,giá trị, lợi nhuận thu được trên một đơn vị diện tích; hệ số sử dụng đất, v.v.
Thứ ba, đất nông nghiệp phải được quản lý và sử dụng một cách bền
vững Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa
là đất nông nghiệp phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế
hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai
* Quan niệm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Từ những phân tích về khái niệm hiệu quả và quan niệm về sử dụng đấtnông nghiệp cùng các nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp, có thể quan niệm
về HQSD đất nông nghiệp như sau: Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là một phạm trù kinh tế, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được về kinh tế, xã hội và môi trường so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trên một diện tích đất nông nghiệp được sử dụng trong một thời kỳ nhất định
Nội dung cơ bản của quan niệm này được hiểu như sau:
Thứ nhất, kết quả đạt được của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là
kết quả hữu ích, được tính trên cả ba phương diện: kinh tế, xã hội và môitrường Theo đó, HQSD đất nông nghiệp sẽ là tương quan giữa kết quả đạt được
về kinh tế, kết quả đạt được về mặt xã hội và kết quả đạt được về mặt môitrường so với chi phí bỏ ra trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp để cónhững kết quả nói trên Trong đó, kết quả về kinh tế có thể đo đếm bằng khốilượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, doanh thu, lợi nhuận trên mộtđơn vị diện tích nhất định Kết quả xem xét về mặt xã hội trong quá trình sửdụng đất nông nghiệp chính là kết quả những tác động của việc sử dụng đấtnông nghiệp đến các vấn đề xã hội, như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập,nâng cao trình độ dân trí của nông dân Kết quả về mặt môi trường của quátrình sử dụng đất là kết quả những tác động ảnh hưởng của việc sử dụng đấtnông nghiệp tới môi trường xung quanh
Thứ hai, chi phí bỏ ra là những chi phí mà người sử dụng đất bỏ ra
trong quá trình sản xuất nông nghiệp, bao gồm: chi phí lao động sống và lao
Trang 22động quá khứ Những chi phí thường được tính đến là: chi phí lao động vàdịch vụ; chi phí: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi,thuốc chữa bệnh cho gia súc, gia cầm, khấu hao nông cụ (máy móc), chuồngtrại, xăng dầu, điện, nước, v.v
Thứ ba, HQSD đất nông nghiệp được xem xét cả về định tính và định lượng Về mặt định lượng, đó là so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra,
người ta chỉ thu được hiệu quả khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra Độchênh lệch, hay tỷ lệ đó càng lớn thì hiệu quả sử dụng đất càng cao và ngượclại Về mặt định tính, mức độ hiệu quả sử dụng đất phản ánh nỗ lực của từngkhâu, của mỗi lực lượng trong cả quá trình sản xuất; phản ánh trình độ quản lý,
sử dụng đất nông nghiệp; sự gắn kết, phối hợp trong việc giải quyết những yêucầu về mục tiêu kinh tế với yêu cầu mục tiêu chính trị, xã hội và môi trường
Thứ tư, việc đánh giá HQSD đất nông nghiệp được xác định trong không gian và thời gian cụ thể (diện tích, mùa vụ hay một năm) Do vậy,
HQSD đất nông nghiệp còn được thể hiện ở việc tận dụng tối đa diện tích đấtnông nghiệp hiện có, không để đất bỏ hoang và ở việc tăng hệ số sử dụng đất,tăng vòng quay sử dụng đất
Để đánh giá HQSD đất nông nghiệp, người ta thường vận dụng 3 tiêuchí về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Trước hết, về hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạtđộng kinh tế Bàn về vấn đề này cũng có nhiều quan điểm và tiếp cận dướinhiều góc độ khác nhau Theo ngành thống kê định nghĩa, thì hiệu quả kinh tế
là một phạm trù kinh tế, biểu hiện của sự tập trung phát triển theo chiều sâu,phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và sự chi phí các nguồn lực trongquá trình sản xuất Còn theo cách hiểu thông thường trong lĩnh vực kinh tế,thì hiệu quả kinh tế là tỷ lệ giữa kết quả về kinh tế thu được so với chi phí bỏ
ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm
Trang 23Như vậy, hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp được hiểu là mối
tương quan so sánh giữa kết quả về mặt kinh tế đạt được so với lượng chi phí
về kinh tế bỏ ra trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp nhất định trong cáchoạt động sản xuất nông nghiệp Kết quả đạt được là phần giá trị thu được củasản phẩm đầu ra; lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào.Mối tương quan đó thường được xem xét dưới các chỉ tiêu: kết quả thu đượctrên một đơn vị diện tích cụ thể (một ha, một sào); kết quả thu được trên mộtđồng chi phí, một lao động đầu tư vào sản xuất Khi đánh giá về hiệu quả kinh
tế sử dụng đất nông nghiệp, người ta thường quan tâm đến một số chỉ tiêu sau:
Một là, số lượng sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích trong
khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này thường được tính là bao nhiêu tạ(tấn)/ha/vụ (năm);
Hai là, thu nhập thuần túy trên một đơn vị diện tích Đây là bộ phận của
giá trị tổng sản lượng trừ đi chi phí sản xuất, phản ánh kết quả cuối cùng củaviệc sử dụng đất;
Ba là, hiệu quả một đồng vốn đầu tư vào một đơn vị diện tích đất nông
nghiệp nhất định Thường được tính là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và lượngvốn đầu tư vào sản xuất trên một ha đất nông nghiệp;
Bốn là, giá trị một lao động nông nghiệp làm ra trong một thời gian
nhất định (một vụ hay một năm); hoặc giá trị (quy ra tiền) của một công laođộng nông nghiệp trong một vụ, hoặc một năm (thường được tính bằng tỷ lệtrung bình giữa tổng thu nhập và tổng số ngày công trực tiếp lao động)
Thứ hai, hiệu quả xã hội của việc sử dụng đất nông nghiệp.
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Việc lượng hoá các chỉtiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nên hiệu quả xã hộichủ yếu thể hiện ở các chỉ tiêu định tính, như: giải quyết việc làm cho ngườilao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng caomức sống của người dân, nâng cao trình độ dân trí của người dân, v.v
Trang 24Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp phản ánh mối tươngquan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà việc sử dụng diện tích đất nôngnghiệp đó mang lại so với các chi phí bỏ ra Khi đánh giá về hiệu quả xã hộicủa việc sử dụng đất nông nghiệp, người ta thường quan tâm đến chỉ tiêu khảnăng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Thứ ba, hiệu quả môi trường của việc sử dụng đất nông nghiệp.
Ngày nay, giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường là vấn đề mang tínhtoàn cầu Vì thế, việc đánh giá tác động môi trường là điều không thể bỏ quatrong những hoạt động của con người tác động đến giới tự nhiên Quá trình sửdụng đất nông nghiệp là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, nênquá trình đó được coi là có hiệu quả, khi nó không gây tổn hại hay có nhữngtác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khícũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học
Hiệu quả môi trường của việc sử dụng đất nông nghiệp là mức độ ảnhhưởng đến môi trường do quá trình sử dụng đất nông nghiệp sản sinh ra dưới cáctác động vật lý, hóa học, sinh học, v.v Tiêu chí này thường được xem xét ở chỉtiêu: mức độ ô nhiễm môi trường (nước, không khí, đất) do quá trình sử dụng đấtnông nghiệp và ở mức độ giảm (tăng) độ phì nhiêu của đất nông nghiệp Cụ thểhơn, người ta thường xem xét tiêu chí này ở việc đảm bảo cho chất lượng đấtkhông bị thoái hóa, bạc màu và nhiễm các chất hóa học trong canh tác; ở mức
độ sử dụng phân bón vô cơ và các loại thuốc BVTV
Tóm lại, đánh giá HQSD đất nông nghiệp phải quan tâm tới cả ba tiêu chí
trên; trong đó, hiệu quả kinh tế là trọng tâm, vì không có hiệu quả kinh tế thì không
có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường Ngược lại, không
có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến HQSD đất nông nghiệp là hếtsức cần thiết, làm cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao HQSDđất Có thể kể đến những nhân tố cơ bản sau:
Trang 25Thứ nhất, là điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố, như: vị trí, địa hình, thổnhưỡng của đất canh tác Đây là điều đã được C Mác nói đến trong lý luậnđịa tô TBCN của mình Do đất nông nghiệp có đặc điểm là không thể di chuyển
được và có hạn, nên vị trí, địa hình, thổ nhưỡng của mảnh đất cụ thể ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất Khi bàn về địa tô chênh lệch I, C.Mác đã chỉ ra rằng: địa tô chênh lệch I là địa tô thu được trên cơ sở ruộng đấtmàu mỡ và trên ruộng đất có vị trí thuận lợi, như gần nơi tiêu thụ hay nơi cóđường giao thông thuận tiện Nếu gần nơi tiêu thụ, như: thành phố, khu côngnghiệp hay đường giao thông vận tải thuận tiện, người sản xuất nông nghiệp sẽtiết kiệm được một phần chi phí lưu thông khi bán nông phẩm cùng một giá.Nhờ đó, những người phải chi phí vận tải ít hơn đương nhiên được hưởng mộtkhoản lợi nhuận siêu ngạch so với những người phải chi phí vận tải nhiều hơn,
do đó đây là một điều kiện hình thành địa tô chênh lệch Như vậy, vị trí, địahình, chất lượng của đất ảnh hưởng không nhỏ đến HQSD đất nông nghiệp
Điều kiện khí hậu cũng là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp
đến HQSD đất nông nghiệp; bởi trước hết, nó là yếu tố quy định đặc điểm thổnhưỡng, chất lượng của đất nông nghiệp, hình thành nên điều kiện cho ngườisản xuất nông nghiệp trên những mảnh đất đó đạt được lợi nhuận siêu ngạch.Thêm nữa, nó chi phối đến quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp sao cho cóhiệu quả Nắm vững yếu tố khí hậu thời tiết để bố trí cây trồng, vật nuôi hợp
lý, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, sẽ tránh được những thiệt hại
do khí hậu gây ra; đồng thời, giảm được tính thời vụ trong sản xuất nôngnghiệp, từ đó có thể nâng cao hệ số (vòng quay) sử dụng đất nông nghiệp
Thứ hai, là phương thức canh tác, bao gồm các biện pháp kỹ thuật canh
tác Đó là những tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằmtạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh
tế cao Điều này thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản
Trang 26xuất, về thời tiết, về môi trường và thị trường Bên cạnh đó, tập quán canh táccũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loạicây trồng, vật nuôi và sử dụng các đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu kinh
tế Mỗi loại cây trồng, vật nuôi đều có một phương thức canh tác khác nhau,đòi hỏi người sử dụng đất nông nghiệp phải nắm vững được yêu cầu các biệnpháp kỹ thuật để canh tác thì mới có hiệu quả; đồng thời, loại bỏ những tậpquán canh tác lạc hậu gây tác hại cho đất, mang lại hiệu quả kinh tế thấp.Những phương thức canh tác được áp dụng khá phổ biến trong sản xuất nôngnghiệp là: thâm canh, chuyên canh, luân canh (liên quan đến hệ số sử dụngđất), tăng số vòng quay sử dụng đất thông qua việc tăng vụ (rút ngắn chu kỳsinh trưởng của cây trồng, vật nuôi) thực hiện xen canh, luân canh cây trồng,vật nuôi Trong đó, thâm canh, gắn với việc đầu tư lao động, tiền vốn để làmtăng độ màu mỡ của đất, để tăng hệ số sử dụng đất, đã được C Mác chỉ ra làmột điều kiện dẫn tới hình thành địa tô chênh lệch II Vì thế, để nâng caoHQSD đất nông nghiệp, rất cần phải tính đến nhân tố này
Sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản, còn cóthể đem lại sản lượng nông phẩm và doanh thu cao cho người sản xuất bằngcách tăng hệ số (số vòng quay) sử dụng đất (giảm thời gian từ khi bắt đầu,đến khi thu hoạch một loại cây trồng, vật nuôi) Tăng hệ số sử dụng đất cũng
có ý nghĩa như tăng diện tích đất canh tác Để tăng hệ số sử dụng đất nôngnghiệp, người ta phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, giống mới,thủy lợi, phân bón, công nghệ sản xuất tiến bộ… nhằm rút ngắn quy trình sinhtrưởng của giống cây trồng, vật nuôi Trên cơ sở đó, đem lại hiệu quả kinh tếcao trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp
Thứ ba, là chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp và việc sử
dụng đất nông nghiệp Nhà nước, với tư cách là người chủ sở hữu ruộng đất,
có quyền ban hành các chính sách về đất đai và phát triển nông nghiệp; nênchính sách của Nhà nước là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến HQSD đất nông
Trang 27nghiệp Những chính sách, quy định của Nhà nước về nông nghiệp và sử dụngđất nông nghiệp đúng đắn, phù hợp sẽ tạo điều kiện quan trọng thúc đẩy sảnxuất nông nghiệp phát triển, nâng cao HQSD đất nông nghiệp Ngược lại,những chính sách, quy định không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của sảnxuất nông nghiệp và HQSD đất, thậm chí gây nên những bức xúc trong ngườidân, ảnh hưởng đến vấn đề chính trị, xã hội Hiện nay, hệ thống chính sách cótác động lớn đến HQSD đất nông nghiệp là: chính sách liên quan đến quyền
sử dụng đất nông nghiệp; chính sách liên quan đến giá sản phẩm mà Nhànước còn chi phối như: xăng dầu, điện ảnh hưởng đến giá đầu vào của sảnxuất nông nghiệp; chính sách phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi,giáo dục, thông tin, khoa học - công nghệ; chính sách liên quan đến vốn tíndụng cho nông dân Trong hệ thống chính sách nêu trên, thì các chính sáchliên quan đến quyền sử dụng đất có tầm quan trọng đặc biệt; bởi nó sẽ quyếtđịnh đến việc người nông dân có chịu đầu tư để làm tăng độ phì nhiêu của đấthay không? Đây là điều mà lý luận địa tô của C Mác đã chỉ ra khi nói đếnthời hạn thuê đất của nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp Bên cạnh đó, côngtác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của chính quyền các cấp cũng tácđộng đến HQSD đất nông nghiệp, nhất là việc quy hoạch sử dụng đất gắn vớiquy hoạch phát triển các loại sản phẩm nông nghiệp cụ thể để hình thành cácvùng chuyên canh có quy mô sản xuất hàng hóa
Thứ tư, là cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp Đây cũng là
nhân tố cơ bản quy định hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp Cơ sở hạtầng bao gồm: giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, các dịch vụ về sảnxuất và khoa học - kỹ thuật Những yếu tố này tác động cả trực tiếp và gián tiếpđến HQSD đất nông nghiệp Trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuấtnông nghiệp thì yếu tố thủy lợi và giao thông vận tải là quan trọng nhất; bởiyếu tố thủy lợi sẽ ảnh hưởng đến độ phì của đất, đến tốc độ sinh trưởng và năngsuất của cây trồng, vật nuôi, đến khả năng thâm canh, luân canh, phục hóa trong quá trình sử dụng đất Còn yếu tố giao thông sẽ tạo thuận lợi cho việc
Trang 28trao đổi, tiêu thụ sản phẩm cũng như phát triển các loại hình dịch vụ nhữngyếu tố đầu vào cho sản xuất; góp phần giảm bớt chi phí đầu vào và chi phí lưuthông Cả hai yếu tố này đều đã được lý luận địa tô TBCN của C Mác chỉ rakhi bàn đến điều kiện hình thành địa tô chênh lệch I và II mà chúng ta có thểvận dụng khi xác định các giải pháp nâng cao HQSD đất nông nghiệp Các yếu
tố khác như điện, thông tin liên lạc, dịch vụ nông nghiệp cũng đều có sự ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HQSD đất nông nghiệp
Thứ năm, thị trường là một nhân tố vô cùng quan trọng của mọi ngành
sản xuất kinh doanh trong KTTT Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn liềnvới thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp Theo đó, thịtrường, nhất là thị trường đầu ra của sản phẩm nông nghiệp chi phối đến việclựa chọn trồng cây gì, nuôi con gì của người nông dân; qua đó, chi phối đếnHQSD đất nông nghiệp Đến lượt mình, thị trường đầu vào của quá trình sảnxuất nông nghiệp lại quyết định đến mức chi phí của sản phẩm nông nghiệpđầu ra; qua đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận của người sử dụng đất, tức là ảnhhưởng đến HQSD đất nông nghiệp
Thứ sáu, chất lượng nguồn nhân lực, mà trực tiếp là trình độ, năng lực
của người sử dụng đất là nhân tố quyết định suy cho cùng trong việc sử dụnghiệu quả đất nông nghiệp Chất lượng người lao động chi phối HQSD đấtnông nghiệp thể hiện tập trung nhất ở trình độ khoa học - kỹ thuật nôngnghiệp, ở kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất nông nghiệp… của bản thân người
sử dụng đất Người có trình độ, có kỹ năng, có bề dày kinh nghiệm, sẽ dễdàng tiếp thu tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nắm bắt chính xác nhu cầu thị trường,yếu tố thời vụ, thời tiết và đặc tính của từng loại cây trồng, vật nuôi… để cóquyết định chính xác lĩnh vực đầu tư, hoạt động thâm canh, chăm sóc chủng loạicây trồng, vật nuôi; qua đó, sẽ làm cho năng suất, chất lượng, giá trị nông sảntăng lên, cũng tức là làm cho HQSD đất nông nghiệp được nâng cao hơn Bêncạnh năng lực, trình độ của người trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp, thì nănglực, trình độ của đội ngũ những người có liên quan, như: cán bộ khuyến nông,
Trang 29cán bộ quản lý đất đai, quản lý nông nghiệp các cấp… cũng có tác động ảnhhưởng lớn đến HQSD đất nông nghiệp Sự tác động của bộ phận nguồn nhân lựcnày thông qua trình độ, khả năng tham mưu ban hành chính sách liên quan đếnviệc sử dụng đất nông nghiệp, cũng như hướng dẫn người nông dân sử dụng đấtnông nghiệp sao có hiệu quả nhất.
Thứ bảy, vốn đầu tư là nhân tố quan trọng không thể thiếu trong sản xuất
nông nghiệp; và đây cũng chính là điều kiện tiên quyết để nâng cao HQSD đấtnông nghiệp Vốn đầu tư vào sản xuất, bồi dưỡng, cải tạo đất đối với ngườinông dân là một yêu cầu cấp thiết; bởi có đủ vốn, người sử dụng đất nôngnghiệp mới đủ nguồn lực tài chính để làm tăng độ màu mỡ của đất, để áp dụng
kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới… qua đó, góp phần làm tăng năng suất, chấtlượng cây trồng, vật nuôi, dẫn đến nâng cao HQSD đất Mặt khác, vốn đầu tưvào sản xuất nông nghiệp không chỉ chi phối đến hiệu quả kinh tế của việc sửdụng đất nông nghiệp, mà còn góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, như: tạoviệc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nâng cao hiệu quả các chínhsách của Nhà nước đối với nông dân và khu vực nông thôn
Thứ tám, tiến bộ khoa học - công nghệ áp dụng vào sản xuất nông
nghiệp có vai trò hết sức quan trọng nâng cao HQSD đất nông nghiệp; bởi nó
là nhân tố làm thay đổi công nghệ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại,bền vững, nhất là hướng vào sản xuất “nông nghiệp sạch”, nông nghiệp chấtlượng cao Điều đó không chỉ giúp nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩmnông nghiệp sản xuất ra (cả về số lượng, chất lượng, giá thành và giá trị sảnphẩm), qua đó nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp;
mà còn cho phép bảo vệ có hiệu quả độ phì nhiêu của đất nông nghiệp, hạnchế những tác hại về môi trường trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp
Tóm lại, HQSD đất nông nghiệp chịu tác động ảnh hưởng của nhiều
nhân tố Mỗi nhân tố đều có vai trò nhất định đến việc nâng cao HQSD đất,thông qua chi phối đến hệ số sử dụng đất; đến số lượng, chất lượng, chủng loại,giá thành, giá trị sản phẩm đầu ra, tức là tác động đến thu nhập, lợi nhuận từ
Trang 30kết quả sử dụng đất nông nghiệp Trong các nhân tố đó, thì suy cho cùng, trình
độ, năng lực của người sử dụng đất bao giờ cũng là nhân tố quyết định; bởi đó
là chủ thể quyết định phương thức canh tác, lựa chọn công nghệ cùng cácnguồn lực đầu vào, phương án sản xuất sản phẩm đầu ra phù hợp với điều kiện
tự nhiên, với nhu cầu của thị trường và số lượng vốn đầu tư, v.v Vấn đề quantrọng đối với mỗi địa phương là trên cơ sở nhận biết rõ các nhân tố ảnh hưởngchủ yếu trên đây, cùng những nhân tố khác ở địa phương, để có những giảipháp khai thác các nhân tố đó một cách hợp lý, nhằm nâng cao HQSD đất nôngnghiệp ở địa phương mình
1.3 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
Nâng cao HQSD đất nông nghiệp là tổng thể các biện pháp của chủthể sử dụng đất, trên cơ sở nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo các nhân
tố chi phối đến HQSD đất, để sử dụng tối ưu diện tích đất nông nghiệp đượcgiao, nhằm sản xuất ra nông phẩm có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội vàhiệu quả môi trường ngày càng cao
Nâng cao HQSD đất nông nghiệp là một đòi hỏi tất yếu của sự pháttriển xã hội Đối với Nhà nước, trên tư cách là người chủ sở hữu, nâng caoHQSD đất nông nghiệp là một mục tiêu quan trọng trong quản lý vĩ mô; bởi
đó là tài sản đặc biệt của quốc gia, là tư liệu sản xuất quan trọng để bảo đảm
an ninh lương thực quốc gia Đối với người được giao quyền sử dụng đất,nâng cao HQSD đất nông nghiệp chính là cơ sở để họ đạt được mục tiêu kinh
tế là nâng cao thu nhập cho chính họ Đối với toàn xã hội, nâng cao HQSDđất nông nghiệp là cơ sở đảm bảo cho mọi người trong xã hội có cơ hội đượcthỏa mãn tốt hơn nhu cầu đa dạng của mình (được sử dụng hàng hóa vớinhiều chủng loại và số lượng nhiều hơn, giá cả thấp hơn và chất lượng tốthơn, v.v.) Xã hội càng phát triển với công nghệ mới, kỹ thuật cao, thì việcnâng cao HQSD đất nông nghiệp càng gặp nhiều thuận lợi Nâng cao HQSDđất nông nghiệp sẽ làm tăng lợi ích của xã hội, bởi nó không chỉ mang lại
Trang 31những giá trị về mặt kinh tế, tạo tiền đề xóa đói giảm nghèo, mà còn thúc đẩytạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, nâng cao trình độdân trí, thay đổi tập quán sinh hoạt, tập quán canh tác theo hướng tích cựchơn; đồng thời, góp phần giảm bớt các nguy cơ suy thoái môi trường (đất,nước và không khí) trong quá trình sản xuất ra nông phẩm.
Muốn nâng cao HQSD đất nông nghiệp, phải tác động vào các nhân tốảnh hưởng đến HQSD đất Tùy theo đặc điểm tình hình, điều kiện tự nhiên,KT-XH ở từng địa phương, mà chủ thể sử dụng đất nông nghiệp ở đó cónhững tác động phù hợp Theo đó, cần phải: tích cực cải tạo điều kiện tựnhiên, như: san đất, cải tạo đất, dồn điền đổi thửa, làm thủy lợi và có các biệnpháp khắc phục điều kiện thời tiết không thuận lợi; tích cực ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới, đổi mới phương thức canh tác để vừa nângcao hệ số sử dụng đất, vừa nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng,vật nuôi, vừa bảo vệ được độ màu mỡ của đất nông nghiệp; tích cực, chủđộng nâng cao trình độ lao động đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nôngnghiệp Bên cạnh đó, với tư cách là người sở hữu, Nhà nước cũng có vai trò
to lớn đối với việc khuyến khích người được giao quyền sử dụng đất nâng caohiệu quả, thông qua việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách (đây là tráchnhiệm riêng có của người chủ sở hữu đất - Nhà nước) đối với nông nghiệp,chăm lo đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại; coi trọng công tácquy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát huy thế mạnh của từng vùngtrong sản xuất; quan tâm hỗ trợ vốn cho nông dân, giúp nông dân mở rộng thịtrường tiêu thụ sản phẩm, v.v
Đối với cả nước nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng, nâng cao HQSD đấtnông nghiệp cần được coi là nhiệm vụ cấp bách Sự cần thiết phải nâng caoHQSD đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh xuất phát từ những lý do chính sau đây:
Một là, xuất phát từ vai trò và đặc điểm của đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp
Như đã trình bày trong tiểu tiết 1.1.2, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất
đặc biệt, chủ yếu và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp.
Trang 32Trong khi đó, diện tích đất nông nghiệp lại có hạn; vị trí lại cố định, không dichuyển được, nhưng nhu cầu đa dạng về số lượng, cao về chất lượng nông sảncủa xã hội lại không ngừng tăng lên Giải quyết mâu thuẫn đó đòi hỏi phảinâng cao HQSD đất nông nghiệp
Hai là, xuất phát từ yêu cầu phát triển nông nghiệp trong điều kiện của nền KTTT và hội nhập quốc tế.
Phát triển nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
là một xu thế tất yếu của nền kinh tế nước ta Tình hình đó đặt ra cả cơ hội vàthách thức cho tất cả các ngành và lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, baogồm cả nông nghiệp Để tranh lấy cơ hội, vượt qua thách thức trong quá trìnhhội nhập quốc tế, sự phát triển nông nghiệp phải được cơ cấu lại theo hướngmột nền “nông nghiệp sạch”, chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; trên cơ sở tậndụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong quá trình sản xuất nông nghiệp Với tưcách là một nguồn lực quan trọng nhất của quá trình sản xuất nông nghiệp,vấn đề nâng cao HQSD đất nông nghiệp trở thành yêu cầu tất yếu
Ba là, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta nói chung và ở Bắc Ninh nói riêng hiện nay.
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Đi cùng với quátrình CNH, HĐH nền kinh tế là quá trình đô thị hoá Điều đó làm cho diện tíchđất nông nghiệp có xu hướng thu hẹp, trong khi nhu cầu đảm bảo an ninhlương thực ngày càng cao do dân số phát triển Đô thị hóa mở rộng đến đâu,đất nông nghiệp, chủ yếu là đất lúa, thu hẹp đến đó Xu hướng này còn tiếp tụcdiễn ra trong những năm tới và kéo theo hàng loạt vấn đề kinh tế, xã hội và anninh lương thực quốc gia Cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển các khucông nghiệp, đất nông nghiệp không chỉ giảm sút về số lượng, mà chất lượngđất, độ phì của đất nông nghiệp cũng có xu hướng giảm do bị ô nhiễm, do hệthống thủy lợi bị xáo trộn, v.v Ngay trong địa bàn tỉnh Bắc Ninh những nămgần đây, do tốc độ đô thị hóa nhanh, mà diện tích đất nông nghiệp thời kỳ 2009
- 2014 trung bình giảm hơn 340 ha/năm Vì thế, chỉ có nâng cao HQSD đất
Trang 33nông nghiệp mới có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thựcphẩm của nhân dân trong điều kiện diễn ra quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa
Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nướcnhằm thúc đẩy KT-XH ở khu vực nông thôn Việt Nam phát triển cùng với sựphát triển chung của cả nước Trên cơ sở chủ trương của Đảng và Nhà nước,các địa phương cụ thể hóa thành chủ trương, kế hoạch xây dựng nông thônmới phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương mình Đối với Bắc Ninh,mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Tỉnh là: KT-XH phát triển, kết cấu hạtầng KT-XH từng bước đồng bộ, hiện đại; cơ cấu kinh tế hợp lý, gắn nôngnghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông nghiệp, nôngthôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, văn minh, giàu bảnsắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dânngày càng được nâng cao Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Bắc Ninh thựchiện nhiều chủ trương, biện pháp khác nhau; trong đó, nâng cao HQSD đấtnông nghiệp, nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao thunhập và đời sống cho nông dân được coi là một biện pháp quan trọng
Thứ năm, xuất phát từ thực trạng HQSD đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc
Ninh hiện nay còn thấp.
Là địa bàn đất chật, người đông, nông nghiệp của Tỉnh Bắc Ninh đangđứng trước áp lực lớn trong quá trình phát triển do quỹ đất sản xuất nông nghiệpngày càng bị thu hẹp Tình hình đó đang đòi hỏi Bắc Ninh phải nâng cao HQSDđất nông nghiệp, đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại nền nông nghiệp theo hướngchuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hàng hoá chấtlượng cao, nhằm nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích đất sản xuất nôngnghiệp Tuy nhiên, HQSD đất nông nghiệp hiện nay trên địa bàn Tỉnh vẫncòn thấp; giá trị trên một ha, trên một đồng chi phí, cũng như trên một công
Trang 34lao động bỏ ra chưa cao; công tác quy hoạch sử dụng đất vẫn còn bất cập,còn nhiều diện tích đất nông nghiệp bỏ hoang trong khi nhiều nông dân lạithiếu đất sản xuất; tình trạng thiếu và không có việc làm trong lao độngnông thôn vẫn còn nhiều, đời sống của nông dân khó khăn, v.v (vấn đề này
sẽ được phân tích cụ thể hơn tại Chương 2 của luận văn) Để giải quyết khókhăn đó, tất yếu phải nâng cao HQSD đất nông nghiệp
*
* *
Tóm lại, đất nông nghiệp là tài nguyên thiên nhiên quý giá, là một loại
tư liệu sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đòihỏi việc sử dụng đất phải luôn quan tâm đến tính hiệu quả Do đặc điểm vàvai trò quan trọng của đất nông nghiệp đối với sản xuất và đời sống xã hội,HQSD đất nông nghiệp được xem xét trên cả ba tiêu chí: hiệu quả kinh tế,hiệu quả xã hội và hiệu quả về môi trường Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
bị chi phối bởi nhiều nhân tố Mỗi nhân tố có vai trò quan trọng nhất định,nhưng năng lực, trình độ của người sử dụng đất là nhân tố suy cho cùng quyếtđịnh HQSD đất; bởi đó là chủ thể quyết định phương thức canh tác, lựa chọncông nghệ cùng các nguồn lực đầu vào, phương án sản xuất sản phẩm đầu raphù hợp với điều kiện tự nhiên, nhu cầu thị trường, v.v
Nâng cao HQSD đất nông nghiệp là yêu cầu khách quan đối với cảnước nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng Để nâng cao HQSD đất nông nghiệptrên địa bàn, trước hết, Bắc Ninh phải có những đánh giá chính xác về thựctrạng sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở địa phương, cắt nghĩa đúng nhữngnguyên nhân khách quan và chủ quan đang cản trở tính hiệu quả của việc sửdụng đất nông nghiệp trên địa bàn, cùng những vấn đề đang đặt ra cần tậptrung giải quyết; để từ đó, có những quan điểm và giải pháp đồng bộ, phù hợpvới đặc điểm tự nhiên, KT-XH của Tỉnh
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH 2.1 Thành tựu và hạn chế về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng nông nghiệp truyền thống Đồng bằng SôngHồng, có diện tích 822,7 km2, dân số 1.114,0 nghìn người (mật độ 1.354người/km2); dân cư nông thôn còn chiếm khoảng 60% dân số, lao động nôngnghiệp chiếm gần 48% lực lượng lao động xã hội
Diện tích đất nông nghiệp của Tỉnh năm 2014 là 47.740 ha; trong đó, đang
sử dụng cho sản xuất nông nghiệp là 41.493 ha, đất lâm nghiệp hơn 631 ha, đấtnuôi trồng thủy sản 5.425 ha và đất nông nghiệp khác 191 ha [Phụ lục 01] Hiệnnay, đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu là để trồng lúa với diện tích khoảng38.752 ha, chiếm 93,4%, đất chuyên trồng rau màu và các loại cây hàng nămkhác là 2.249 ha, chiếm 5,4%, đất trồng cỏ chăn nuôi 53 ha chiếm 1,2% Bìnhquân diện tích đất nông nghiệp tính trên đầu người là 0,067 ha/người
Bắc Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng, nguồn nước dồi dào, chế độkhí hậu thích hợp để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện với các loại sảnphẩm đa dạng, phong phú Tài nguyên đất tương đối màu mỡ, trong đó các loạiđất phù sa thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình chiếm hơn 22 ngàn ha.Mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, có 3 hệ thống sông lớn chảy qua, gồm:sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình Với hệ thống sông này, nếu biết khaithác và điều tiết, chúng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao HQSDđất nông nghiệp của Tỉnh
Bắc Ninh là địa phương có kinh tế tương đối phát triển với tốc độtăng trưởng GDP khá cao: giai đoạn 2006 - 2010 bình quân đạt15,3%/năm và giai đoạn 2011 - 2014 đạt 15,7% /năm Kinh tế phát triển làđiều kiện thuận lợi để Bắc Ninh có thể huy động các nguồn lực đầu tư
Trang 36nâng cao HQSD đất nông nghiệp Đến nay, hệ thống cơ sở hạ tầng phục
vụ nông nghiệp, nông thôn của Bắc Ninh (giao thông, thuỷ lợi, điện,thông tin truyền thông…) đã được đầu tư phát triển tương đối đồng bộ;đồng thời, tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều chủ trương, giải pháp tăng cườngviệc quản lý, nâng cao HQSD đất nông nghiệp và đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng
2.1.1.Thành tựu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trước hết, việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh đã mang lại
hiệu quả kinh tế nhất định, biểu hiện cụ thể qua các chỉ số sau:
Một là, giá trị sản xuất trên một ha đất nông nghiệp của Tỉnh từng bước được nâng cao, góp phần nâng cao mức tăng trưởng của ngành nông nghiệp trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp suy giảm.
Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVIII, Bắc Ninh đã hoànthành việc xây dựng Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sửdụng đất 5 năm (2011 - 2015) cùng Chương trình “Quy hoạch phát triểnnông nghiệp tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020”. Trên cơ sở đó, Tỉnh đã cơ bảnhoàn thành công tác “dồn điền đổi thửa”, tạo điều kiện hình thành các vùngsản xuất tập trung và đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp Nhiều địaphương trong Tỉnh đã tích cực ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển dịch cơcấu cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, làm cho hệ số sửdụng đất tăng lên hàng năm, năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi đều
có sự tăng trưởng Nhiều khâu sản xuất nông nghiệp đã thực hiện cơ giớihóa với những tỷ lệ nhất định; trong đó, khâu làm đất đã đạt 80% diện tíchgieo trồng Việc cơ giới hoá các khâu làm đất, thu hoạch, vận chuyển nôngsản, giúp cho sản xuất được tiến hành nhanh chóng, đúng khung thời vụ, giảiphóng sức lao động của con người Các mô hình sản xuất nông nghiệp theohướng công nghệ cao trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đượcchú trọng đầu tư xây dựng và nhân ra diện rộng, cùng với phương pháp canh
Trang 37tác hữu cơ, đã góp phần nâng cao số lượng và chất lượng nông sản, tạo giátrị hàng hóa cao hơn Đến nay, toàn Tỉnh đã xây dựng 17 mô hình trồng trọtứng dụng công nghệ cao để sản xuất các loại hoa cao cấp, rau an toàn Đểtăng HQSD đất và đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, bà con nông dân
đã áp dụng các công thức luân canh tăng vụ hợp lý: “2 lúa - khoai tây đông”hoặc “2 lúa - dưa chuột xuất khẩu”, hay "lạc xuân - lúa mùa - rau màu vụđông" Ở các vùng trồng rau màu, bà con nông dân đã đưa các loại cây cógiá trị kinh tế cao, như: khoai tây, ớt, su hào, bí, dưa chuột, cà chua vàogieo trồng, tăng được giá trị kinh tế từ 1,9% đến 68% Nhiều hộ nông dân ởcác huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Từ Sơn và thành phố Bắc Ninh đã
mở rộng diện tích thâm canh và hình thành nhiều vùng chuyên canh có quy
mô sản xuất hàng hóa các loại dưa chuột, ớt, khoai tây, rau an toàn, cây cảnhtheo phương pháp công nghiệp Nhờ đó, mặc dù diện tích đất nông nghiệptrong thời gian qua giảm do quá trình đô thị hóa và CNH, HĐH trên địa bànTỉnh được đẩy mạnh, nhưng mức tăng trưởng của ngành nông nghiệp vẫntăng khá, giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng bình quân 1,1%/năm; năngsuất lao động xã hội của lĩnh vực nông - lâm - thủy sản vẫn tăng đều từ năm
2009 đến năm 2013, với giá trị bình quân 11,4 triệu đồng/người (năm 2009)lên 20,8 triệu đồng/người vào năm 2013 [Phụ lục 06] Tổng giá trị sản xuấtnông nghiệp tăng từ 7.188 tỷ đồng (năm 2010) lên 8.350 tỷ đồng vào năm
2014 Có được kết quả đó là do HQSD đất được nâng cao; làm cho thu nhậpbình quân trên một ha đất nông nghiệp của Tỉnh không chỉ vượt chỉ tiêu của
mô hình “cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm” do Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn phát động, mà còn ngày càng tăng lên qua các năm Bảng 2.1dưới đây cho thấy xu hướng tăng thu nhập bình quân trên một ha đất trồngtrọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản của Tỉnh 6 năm qua; trong đó, thu nhậptrên một ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng liên tục từ 104,7 triệu đồngvào năm 2009 lên 228 triệu đồng vào năm 2014, gấp hơn 2 lần
Trang 38Bảng 2.1: Thu nhập bình quân trên một ha đất trồng trọt và mặt nước nuôi
trồng thủy sản của tỉnh Bắc Ninh Đơn vị tính: Triệu đồng n v tính: Tri u ị tính: Triệu đồng ệu đồng đồng ng
Cùng với đó, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi cũng tăng bình quân4,6%/năm trong giai đoạn 2009 - 2013; trong đó, năm 2013 đạt 4.023,4 tỷđồng, tăng 1,7 lần so với năm 2009: 2.319,4 tỷ đồng [Phụ lục 04] Sở dĩ có sựtăng trưởng mạnh mẽ đó là nhờ chăn nuôi của Tỉnh đã chuyển dần từ phântán, quy mô nhỏ sang chăn nuôi trang trại tập trung và tích cực áp dụng cáctiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn, chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng Đến
Trang 39nay, toàn Tỉnh có gần 3.000 trang trại, chiếm 11,4% tổng số trang trại toànvùng Đồng bằng sông Hồng; trong đó có 147 trang trại đạt tiêu chí mới theoquy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Các mô hình chănnuôi trang trại đang được mở rộng, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn lĩnh vựctrồng trọt Trung bình mỗi trang trại (diện tích khoảng 2 ha) cho thu nhập từ
200 triệu đến 300 triệu đồng/năm, tức là mỗi ha chăn nuôi ở các trang trạiđem lại thu nhập từ 100 triệu đến 150 triệu đồng
Hai là, hiệu quả đồng vốn và giá trị ngày công lao động của nông dân
ở một số loại cây trồng, vật nuôi đạt khá cao
Trong những năm qua, chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển nôngnghiệp ở Bắc Ninh đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển một cáchtoàn diện Theo cục Thống kê, vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp củaTỉnh những năm gần đây liên tục tăng, từ 367 tỷ đồng (năm 2011) lên 688
tỷ đồng vào năm 2013, tức là tăng gần 2 lần [Phụ lục 07] Chỉ tính riêngnguồn vốn đầu tư từ ngân sách Tỉnh, thì từ năm 2011 đến năm 2013, Tỉnh
đã hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp là 187,5 tỷ đồng với mức hỗtrợ bình quân 62 tỷ đồng/năm Đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầngnông thôn, ngân sách của Tỉnh đã hỗ trợ trên 1.000 tỷ đồng, tập trung vào:xây dựng kênh mương, đường giao thông nông thôn, xây dựng chợ nôngthôn, xây bể biogas để xử lý nước thải, nhằm khuyến khích nông dân đầu
tư thâm canh, tăng năng suất, nâng cao thu nhập trên một diện tích canhtác Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Tỉnh, các địa phương và nhiều hộ sảnxuất, trang trại chăn nuôi cũng tích cực đầu tư vốn vào sản xuất Sự đầu tư
đó góp phần hình thành một số vùng sản xuất tập trung, chuyên canh; cùngvới đó là sự lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, trong đó có nhữngloại mang lại giá trị kinh tế cao, nên hiệu quả đồng vốn đầu tư trên mộtdiện tích đất canh tác ở một số loại cây trồng đem lại tương đối cao Bảng2.2 dưới đây cho thấy hiệu quả đồng vốn trên một ha ở một số loại câytrồng ở tỉnh Bắc Ninh trong năm 2014
Trang 40Bảng 2.2: Hiệu quả kinh tế trên một ha đất nông nghiệp
một số cây trồng chính tại Bắc Ninh năm 2014
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Cây trồng Năng
suất (tạ/ha)
Giá trị sản xuất
Chi phí trung gian
Thu nhập hỗn hợp
Công lao động
Giá trị (1 công)
Hiệu quả đồng vốn
Nguồn: Báo cáo tình hình KT-XH năm 2014 của UBND Tỉnh [34]
Nhìn vào Bảng 2.2 có thể thấy: giá trị một công lao động của nông dân Bắc Ninh năm 2014 ở các vùng trồng rau màu đạt trên, dưới một triệu đồng, như: vùng trồng dưa chuột (1.505,3 nghìn đồng), bí xanh (1.157,8 nghìn đồng), cà chua (810,8 nghìn đồng) và rau muống (1.767,8 nghìn đồng); trong khi đó, ở các vùng trồng lúa, ngô chưa đến 200 nghìn đồng/công Tương tự như vậy, hiệu quả kinh tế tính trên một đồng vốn
bỏ ra ở các vùng trồng lúa, ngô là thấp nhất, còn ở vùng rau màu cũng khá cao, tiêu biểu là hiệu quả vốn vùng trồng cà chua là 6,6 lần, bắp cải 5,2 lần và rau muống là 9,0 lần.