1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ CHUYÊN NGHÀNH xây DỰNG NGUỒN NHÂN lực CHẤT LƯỢNG CAO ở TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY

103 395 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 803,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người, phát triển toàn diện con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cơ bản quyết định thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm xây dựng, phát triển con người, nguồn lực con người.

Trang 1

X¢Y DùNG NGUåN NH¢N LùC CHÊT L¦îNG CAO

ë TØNH QU¶NG NINH HIÖN NAY

CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

MÃ SỐ: 60 22 03 08

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ

XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở TỈNH QUẢNG NINH HIỆN

1.1 Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực chất lượng

cao và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh

1.2 Thực trạng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở

Chương 2: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở

2.1 Yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở

2.2 Giải pháp cơ bản xây dựng nguồn nhân lực chất lượng

cao ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay 62

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người, phát triển toàn diện con người vừa là mục tiêu, vừa là độnglực cơ bản quyết định thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bởithế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm xâydựng, phát triển con người, nguồn lực con người

Quảng Ninh là tỉnh có vị trí địa lý đặc thù, với các tiềm năng thế mạnhcần được khai thác phát triển mạnh trong bối cảnh quốc tế hội nhập ngày càngcao Để phát triển kinh tế theo mô hình mở, tạo điều kiện cho việc giao lưu,hội nhập và tự do hóa các hoạt động kinh tế, Quảng Ninh phải tạo được sự antoàn đầu tư để thu hút các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất công nghiệp,xuất nhập khẩu, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, vận tải biển, kinh tế biên mậuvà du lịch Quảng Ninh cũng cần hình thành và phát triển các khu hành chính

- kinh tế đặc biệt, KKT thương mại tự do về dịch vụ hiện đại, kinh tế biênmậu, kinh tế biển kết hợp với công nghiệp giải trí, tạo sức thu hút cao đầu tưnước ngoài Với các khu đó, Quảng Ninh sẽ nhanh chóng phát huy được tiềmnăng của mình và trở thành cực tăng trưởng mạnh tương xứng với TrungQuốc trong hợp tác hình thành hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam -Trung Quốc; cầu nối ASEAN - Trung Quốc; trung chuyển Đông Bắc Á vàĐông Nam Á

Việc thành lập cộng đồng Kinh tế ASEAN vào 2015 để tạo lập một môitrường tự do kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, nhân lực, FDI, vốn đã tạo ra nhiều

cơ hội thương mại giữa ASEAN và EU, Mỹ nhưng cũng tạo ra nhiều tháchthức đối với người dân Quảng Ninh ngay trên mảnh đất của mình QuảngNinh cần tạo điều kiện tốt về cơ chế, chính sách đặc thù, kết cấu hạ tầng thuậnlợi, đất đai và nguồn nhân lực phù hợp, có các đặc KKT với cơ chế đặc biệt

để thu hút đầu tư nước ngoài thì cơ hội hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoàivào Quảng Ninh mới có cơ hội tăng lên và Quảng Ninh sẽ giải quyết đượcvấn đề thiếu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bằng con đường thu hút vốn từ

Trang 5

bên ngoài Các đặc KKT với cơ chế, chính sách đặc thù sẽ trở thành động lựccho phát triển KT-XH của Quảng Ninh trong thời ký tới.

Để đáp ứng sự phát triển KT-XH đó, trong những năm qua, quán triệtquan điểm của Đảng về chiến lược xây dựng con người trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước, việc xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh cónhiều tiến bộ, "ngày càng được cải thiện cả về thể chất và tinh thần Trình độhọc vấn, chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động tiếp tục được nâng cao

Đa số cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo cả về chuyên môn, lý luận,quản lý nhà nước, quản lý kinh tế; có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,từng bước trưởng thành, tiến bộ về trình độ, nhận thức, năng lực thực tiễn,phương pháp, tác phong, lề lối làm viêc."[42, tr.1,2] Tuy nhiên, nguồn nhânlực CLC ở tỉnh Quảng Ninh vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, "chưa đáp ứngyêu cầu phát triển trong giai đoạn mới Thiếu nhân lực CLC: chuyên gia, nghệnhân, công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật Còn có khoảng cách lớn vềtrình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật giữa miền núi, nông thôn, hải đảo vớithành thị ; công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhânlực CLC…còn thụ động Cơ cấu ngành, nghề đào tạo lao động chưa đáp ứngyêu cầu của nền kinh tế"[42, tr.2] Việc đào tạo, bồi dưỡng, khai thác, sử dụngvà phát triển nguồn nhân lực đó sao cho có hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầucủa quá trình phát triển KT-XH đang là những vấn đề bức xúc cả về lý luậnvà thực tiễn hiện nay cần phải được nhận thức và giải quyết tốt

Những năm qua, việc nghiên cứu nguồn nhân lực, xây dựng nguồnnhân lực CLC đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước và hội nhập quốc tế đã được quan tâm đáng kể Song, hiện nay cả trongpham vi cả nước và ở Quảng Ninh vẫn còn không ít vấn đề mới và phức tạpcần thiết có những nghiên cứu xác đáng

Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: Xây dựng nguồn nguồn nhân

lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

* Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu nguồn nhân lực Marquardt M và Engl D trong sách Global Human Resourse Development, Prentice Hall, Englewood Cliff, 1993 đã nghiên cứu về sự phát

triển nguồn nhân lực toàn cầu, phân tích tác động của toàn cầu hoá đến sựphát triển nguồn lực con người, đề ra yêu cầu mới về tổ chức, quản lý và sửdụng nguồn lực con người trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dântộc Tuy nhiên ông mới chỉ dừng lại ở cách tiếp cận dưới góc độ khoa học tổchức, quản lý, và cho rằng phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển nănglực kỹ thuật, năng lực thực hiện công việc, năng lực trí tuệ

Các tác giả: Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith trong

sách Human resourses in the 21 st century đã nhận định vai trò trung tâm của

nguồn lực con người trong sự phát triển KT-XH của thế kỷ XXI Nội dungcuốn sách tập trung trình bày những đóng góp tư tưởng của các nhà lãnh đạo:David Ulrich, Rosabelth Moss Kanter… về chiến lược phát triển nguồn lựccon người, về khoa học quản lý và sử dụng nguồn lực con người đạt hiệu quảcao trong hoạt động sản xuất vật chất Các tác giả cho rằng: ngày nay, mọiquốc gia trên thế giới đều nhận thức rõ nguồn lực con người là quan trọng,quyết định sự phát triển KT-XH của quốc gia

Đề cập đến vấn đề nguồn lực con người còn có nhiều công trình khoa

học khác như: Bernardin H.John, Russell Joyce E.A, (1998), Human

Resource Management: An Experriental Approach, Singapore, Mc Graw

-Hill; Human Development Report, (1996), New York United Nations Development Programme, (1996); Human Development at work, (1992), UNDP Annual Report, New York.UNDP; Werther William B (1993), Human

resourses and personel management Các công trình khoa học này đã bàn đến

việc đào tạo nguồn nhân lực, luận giải mối quan hệ giữa sự phát triển nguồnlực con người với phát triển kinh tế, cho rằng đầu tư vào nguồn lực con ngườilà đầu tư cho phát triển, tuy nhiên, chủ yếu tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ gócđộng kinh tế học, khoa học quản lý

Trang 7

* Ở Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lực con người, xây dựng nguồn lực con người Trong công trình Phát triển nguồn nhân lực ở một số nước, kinh nghiệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay, PGS,TS Nghiêm Đình Vì đã khảo cứu đào tạo nguồn

nhân lực ở các các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản, Liên minhChâu Âu và các nền công nghiệp mới Châu Á Ở góc độ giáo dục đào tạo, cácnước này tập trung phát triển nguồn nhân lực trên các phương diện: Tăngcường đầu tư cho giáo dục; gắn kết chặt chẽ có hiệu quả các cơ sở nghiên cứukhoa học, các trường học với doanh nghiệp; tăng cường đầu tư, tạo mọi điềukiện thuận lợi để mọi người dân, mọi tổ chức xã hội, mọi doanh nghiệp đượctiếp cận, khai thác cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại

Trong cuốn sách Con người và nguồn lực con người trong sự phát

triển, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, H.1995 đã tập hợp

các bài viết, công trình khoa học của nhiều tác giả trên thế giới bàn về vấn đềcon người theo các góc độ khác nhau nhằm luận giải mô hình phổ quát về conngười, về động cơ hoạt động của con người; mô hình mới sử dụng nguồn lựccon người; trí tuệ hóa lao động và đào tạo chuyên môn; tiếp cận mới đối vớichính sách việc làm, con người và môi trường

Cuốn sách: Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước,

do Phạm Minh Hạc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, đã đưa ra cơ sở

lý luận và thực tiễn để thực hiện chiến lược con người với tư tưởng coi nhân

tố con người, sự phát triển nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đối vớiviệc sáng tạo vật chất và tinh thần, coi con người là trung tâm sự phát triển.Cuốn sách cũng bước đầu khái quát và đưa ra khái niệm nguồn lực con ngườiđược hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinhthần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất; đồng thời đã trình bày khá rõquan niệm phát triển nguồn lực con người, mối quan hệ đào tạo, sử dụng vàviệc làm với sự phát triển nguồn nhân lực; từ đó xác định trách nhiệm quản lýcủa Nhà nước, ngành giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển nguồn nhân lựctrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Trang 8

Cuốn sách: Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát

triển nguồn nhân lực, của Viện Phát triển giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia,

H.2002, đã tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các nhà quản

lý ở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau với mục tiêu thống nhất quan điểm vàchính sách về phát triển nguồn nhân lực; đồng thời đề xuất một khung chínhsách phát triển nguồn nhân lực nhằm triển khai thành công các mục tiêu đề ratrong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng chủ biên cuốn sách Sử dụng hiệu quả nguồn

lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - xã hội, H.2003 Tác giả đã trình

bày có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến pháttriển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN ở nước ta; đồng thời đề xuất các chính sách và giảipháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực conngười trong phát triển KT-XH ở nước ta

Tiến sĩ Đoàn Văn Khái có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề nguồn

lực con người cả về mặt lý luận và thực tiễn, như: Nguồn lực con người trong

quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị,

H.2005; Nguồn lực con người – yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước, Tạp chí Triết học, số 4-1995, tr.20-23; Nguồn lực con người dưới tác động của việc giải quyết các mối quan hệ lợi ích, Tạp chí Sinh

hoạt lý luận, số 5-1997, tr.35-37; Bàn thêm về khái niệm nguồn lực con

người, Tạp chí Triết học, số 3-2000, tr.32-34 Trong các công trình đó, tác giả

đã tiếp cận và nghiên cứu vấn đề nguồn lực con người với tính cách là nguồnlực quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thể hiện trên cảphương diện chủ thể lẫn phương diện khách thể, coi con người là nguồn lựccủa mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên, giữ vị trí trung tâm củatoàn bộ quá trình này Từ đó tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm khaithác và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiệnđại hoá ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, H.2006,

của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong chương XII: Vấn đề nguồn lực con người

trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trình bày tương đối hệ thống , khái

quát quan niệm về nguồn lực con người, vai trò của nó đối với sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; khái niệm nguồn lực con người và chấtlượng nguồn lực con người; thực trạng, định hướng và giải pháp phát huynguồn lực con người

Phó giáo sư, TS Vũ Văn Phúc và TS Nguyễn Duy Hùng đồng chủ biên

cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện

đại hoá và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, H.2012 Trong đó các

tác giả tập trung: làm sáng tỏ những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực; giới thiệu những kinh nghiệmphát triển nguồn nhân lực của một số ngành trong nước và một số nước, vùnglãnh thổ trên thế giới; phân tích thực trạng, những bất cập, thách thức và đềxuất các giải pháp… phát triển nguồn nhân lực nói chung của nước ta hiệnnay, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng trong các doanh nghiệp nhànước, vấn đề đào tạo theo nhu cầu, chất lượng giáo dục đại học, đổi mới cơchế tài chính, đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn…

Phó tiến sĩ Mai Quốc Chánh chủ biên cuốn sách: Nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nxb.Chính trị quốc

gia, H.1999; TS Vũ Bá Thể viết cuốn sách: Phát huy nguồn lực con người để

công nghiệp hoá, hiện đại hoá - kinh nghiệp quốc tế và thực tiễn Việt Nam,

Nxb Lao động - xã hội, H.2005 Hai cuốn sách này đều phân tích vai trò, chấtlượng của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồnnhân lực; đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước

ta đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tiến sĩ Bùi Ngọc Lan viết cuốn sách: Nguồn lực trí tuệ trong sự

nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, đã tập trung vào

những vấn đề như: Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ, vai trò của nguồn lực trí tuệ và

Trang 10

những điều kiện chủ yếu để phát triển nguồn lực trí tuệ trong sự phát triển của

xã hội nói chung; đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển củanguồn lực trí tuệ Việt Nam trong thời gian qua; đề xuất phương hướng và giảipháp chủ yếu của việc phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộcđổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN

Một số công trình khoa học được công bố dưới dạng đề tài luận án, tạp

chí nghiên cứu có các tác giả Hoàng Chí Bảo: Ảnh hưởng của văn hoá đối với

việc phát huy nguồn lực con người, Tạp chí Triết học, số 1-1993; Nguyễn

Trọng Chuẩn: Nguồn nhân lực và phát triển, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 1995; Nguyễn Thị Tú Oanh: Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp

4-công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học,

H.1999; Nguyễn Thị Thuỷ: Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người

trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, H.2000;

Nguyễn Văn Sơn: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức, Tạp chí

Triết học, số 3-2002; Hồ Trọng Viện; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

đáp ứng yêu cẩu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Tạp chí

Lý luận chính trị, số 1-2003; Vũ Minh Mão, Hoàng Xuân Hoà: Dân số và

chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, Tạp

chí Cộng sản, số 10-5/2004; Nguyễn Đình Hoà: Mối quan hệ giữa phát triển

nguồn nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Triết

học, số 1-2004; Nguyễn Thế Kiệt: Xây dựng và phát triển con người, nâng

cao chất lượng nguồn lực con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 6-2008 GS,VS Phạm Minh Hạc: Phát triển con người, nguồn nhân lực - quan niệm và chính sách… Các công trình này

cã đi sâu nghiên cứu về nhận thức, năng lực trí tuệ, các yếu tố ảnh hưởng đếnnguồn nhân lực, phát triển con người, vai trò của nhân tố con người đối với sựphát triển trong điều kiện mới và vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 11

* Trong quân đội đã có nhiều công trình khoa học công bố liên quan đến nguồn lực con người: Nguyễn Đức Khang: Phát huy nhân tố con người của bộ đội Pháo binh Việt Nam trong tình hình bảo vệ Tổ quốc hiện nay,

Luận án tiến sĩ triết học, H.2002; Nguyễn Đình Minh: Phát huy vai trò nguồn

lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội nhân dân Việt Nam,

Luận án tiến sĩ triết học, H.2003; Nguyễn Đình Hùng: Phát huy nhân tố con

người đội ngũ cán bộ Bộ đội Biên phòng trong bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, H.2006; Nguyễn Minh

Thắng: Phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây

dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học,

H.2006; Hoàng Đình Tỉnh: Nâng cao chất lượng nguồn lực sĩ quan trẻ trong

xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Luận án tiến sĩ triết học, H.2012 Các

tác giả từ cách tiếp cận nguồn lực con người nói chung để đưa ra quan niệm củamình về thực chất, tính quy luật, xu hướng vận động của nguồn lực con người ởcác đối tượng cụ thể trong quân đội; trên cơ sở khảo cứu thực trạng, đề xuất giảipháp phát huy vai trò, nâng cao chất lượng của các nguồn lực này

Tóm lại, cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vềnguồn lực con người dưới nhiều góc độ khác nhau, song chưa có công trìnhnào nghiên cứu xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Vì thế đề

tài luận văn: Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

hiện nay là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả, không trùng với các

công trình khoa học, đề tài luận án đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng nguồn nhân lựcCLC, đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản xây dựng nguồn nhân lực CLC ởtỉnh Quảng Ninh hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Luận giải làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về xây dựngnguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

- Đánh giá thực trạng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnhQuảng Ninh thời gian qua và chỉ ra nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó.

- Xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp cơ bản xây dựng nguồn nhânlực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Xây dựng nguồn nhân lực chất

lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Xây dựng nguồn nhân lực chất

lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh từ năm 2006 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn

* Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

là phương pháp luận của đề tài

*Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng sử dụng tổng hợp các

phương pháp nghiên cứu: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, hệ thốngcấu trúc, nghiên cứu tư liệu, thu thập thông tin, điều tra xã hội học, so sánh vàphương pháp chuyên gia

6 Ýnghĩa của luận văn

Góp phần cung cấp cơ sở khoa học để cấp uỷ đảng, chính quyền, tổ chứcchính trị - xã hội các cấp tham khảo trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và thựchiện xây dựng nguồn nhân lực CLC hiện nay ở tỉnh Quảng Ninh Luận văn cóthể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề cóliên quan ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm phần mở đầu, hai chương (4tiết), kết luận,danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 13

1.1.1 Quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

* Quan niệm về nguồn lực

Theo quan niệm chung nhất nguồn lực là hệ thống các yếu tố cả vậtchất và tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trongnhững điều kiện thích hợp sẽ thúc đẩy quá trình cải biến tự nhiên, xã hội củamột quốc gia, dân tộc Tuỳ vào các tiêu chí và các quan hệ xác định để người

ta phân loại nguồn lực, như nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần; nguồnlực chủ quan và nguồn lực khách quan; nguồn lực bên trong và nguồn lực bênngoài; nguồn lực con người, ; nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, ; nguồn lựcvị trí địa lý, nguồn lực khoa học kỹ thuật, công nghệ

* Con người và nguồn nhân lực

Trong lịch sử nhân loại, đã có nhiều quan niệm khác nhau về conngười, trong đó quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người mới thực

sự khoa học, cách mạng Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội, là chủthể cải tạo hoàn cảnh và là sản phẩm tiến hóa lâu dài của tự nhiên Trong tínhhiện thực, bản chất của con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội Conngười không thể tồn tại khi tách ra khỏi xã hội Thông qua xã hội, con người

có những hoạt động trao đổi, lao động và thoả mãn những nhu cầu của cuộcsống Thông qua xã hội, con người có quan hệ qua lại với nhau Từ đó, conngười nhận thức đầy đủ hơn về bản thân mình, để trên cơ sở đó rèn luyện,phấn đấu hoàn thiện về nhân cách Xã hội càng phát triển thì quan hệ giữangười với người càng sâu sắc và bền chặt, mối quan hệ được mở rộng và vaitrò của con người trong xã hội ngày càng tăng; tạo điều kiện tăng năng suấtlao động, tạo ra của cải vật chất dồi dào Đây là cơ sở để phát triển con người

Trang 14

toàn diện Ngược lại, con người phát triển sẽ hoạt động thưc tiễn hiệu quả hơntrong cải tạo tự nhiên, xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển không ngững Vì thế,

để xây dựng CNXH thành công, cần phải có những con người mới XHCN

Hiện nay có nhiều thuật ngữ chỉ nguồn nhân lực như: nguồn lực conngười, tài nguyên con người, nguồn nhân lực

Khái niệm “nguồn lực con người” được sử dụng từ những năm 60 củathế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á; ở Việt Nam,khái niệm này được sử dụng rộng rãi từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX.Hiện nay, từ cách tiếp cận khác nhau đã có nhiều quan niệm khác nhau vềnguồn lực con người Từ lý luận về lực lượng sản xuất, con người được xácđịnh là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sựvận động và phát triển của lực lượng sản xuất và quyết định quá trình sảnxuất, tăng trưởng kinh tế, là một loại vốn (vốn người) - thành tố cơ bản củaquá trình sản xuất, kinh doanh

Theo GS, TSKH Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được hiểu là sốdân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trítuệ, năng lực và phẩm chất [18, tr.328]

Nguồn nhân lực còn được hiểu theo nghĩa rộng là nguồn lực con người,

con nghĩa hẹp là nguồn lao động, thậm chí là lực lượng lao động; tài nguyêncon người, coi con người như là một loại tài nguyên, nhưng là loại tài nguyênquý giá nhất, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ

Từ các vấn đề trên, tác giả quan niệm: Nguồn nhân lực là tổng hòa các

yếu tố về số lượng, cơ cấu,chất lượng con người đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự tiến bộ và phát triển xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định

Theo đó, nguồn nhân lực được thể hiện trên một số mặt cơ bản sau:

Một là, nguồn nhân lực phản ánh ở lượng người hay lượng dân số, biểu

hiện tập trung là người lao động, lực lượng lao động và nguồn lao động; mặtkhác nó cũng phản ánh về qui mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độtăng dân số của một nước, trong một thời gian nhất định

Trang 15

Hai là, nguồn nhân lực phản ánh ở cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động

trong các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo, cơ cấu trình độ laođộng, cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động, cơ cấu nguồn lao động dự trữ

Ba là, nguồn nhân lực được phản ánh ở chất lượng con người hay chất

lượng dân số, chất lượng người lao động, lực lượng lao động và nguồn laođộng trong hiện tại và tương lai gần, bao gồm các yếu tố: trí lực, thể lực vàphẩm chất đạo đức, tinh thần của con người

Bốn là, nguồn nhân lực còn phản ánh kết quả của sự tác động qua lại

nội tại các yếu tố trong cấu trúc của bản thân, sự tương tác với các yếu tốtrong hệ thống các nguồn nhân lực và sự kết nối giữa truyền thống, phong tục,tập quán… với mục đích hướng tới

* Nguồn nhân lực chất lượng cao

Quan niệm: Nguồn nhân lực CLC là một bộ phận quan trọng của

nguồn nhân lực được đào tạo bồi dưỡng có trình độ học vấn, chuyên mônnghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, khả năng làm chủ, giải quyếtsáng tạo những vấn đề thuộc lĩnh vực, ngành, nghề nghiệp được phân côngđảm nhiệm; có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có tinh thần và ý thức tráchnhiệm cao đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong nước và hộinhập quốc tế

* Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực là vốn quý nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, giữvai trò quan trọng nhất, quyết định sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc, cácnguồn lực khác muốn phát huy tác dụng của nó phải thông qua nguồn lực conngười Con người tồn tại và phát triển với tính cách là một nguồn lực đặc biệt,khác căn bản với các nguồn lực khác, nhưng không biệt lập với các nguồn lực

đó Trong hệ thống các nguồn lực, con người bao giờ cũng là nguồn lực quýnhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, giữ vai trò quyết định trong sự pháttriển xã hội Có thể xem xét vai trò của nguồn nhân lực CLC ở các phươngdiện sau đây:

Trang 16

Nguồn nhân lực CLC là nhân tố nòng cốt trong liên kết, tích hợp, tổng hợp các nguồn lực thành động lực thúc đẩy phát triển KT-XH, nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần , giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Để

phát triển KT-XH ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH Chúng ta cần rấtnhiều nguồn lực: Nguồn lực khoa học công nghệ; nguồn lực tài chính; nguồn lựctài nguyên thiên nhiên; nguồn lực lao động (nguồn nhân lực) Trong các nguồnlực ấy, nguồn nhân lực CLC có vai trò quyết định Trong thời đại của khoa họcvà công nghệ, tin học, con người nhận thức, cải tạo tự nhiên, xã hội không chỉbằng sức mạnh của cơ bắp mà bằng trí tuệ của mình là chủ yếu Người lao động

có tri thức nghề nghiệp, kỹ năng lao động, có lương tâm, trách nhiệm nghềnghiệp, có ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách, chiến thắng nghèonàn lạc hậu, có tinh thần yêu nước, có năng lực thích ứng với sự phát triển củakhoa học công nghệ và sự biến đổi liên tục của kinh tế thị trường thì mới đem lạithành công cho quá trình CNH, HĐH đất nước, mới bảo đảm cho đất nước pháttriển nhanh và bền vững

Nguồn nhân lực CLC là nhân tố quyết định thành công trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc XHCN Quốc

phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân mang tính chất của dân, do dân,

vì dân Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnhthổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân,trong đó quân đội nhân dân và công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.Nguồn nhân lực CLC chính là lực lượng quan trọng, quyết định thành côngtrong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng, an ninh nhân dân; kết hợp chặt chẽkinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trongcác chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH ở tỉnh Quảng Ninh.Nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh còn là nhân tố bổ sung lực lượngcho các lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân và Công

an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Trang 17

Nguồn nhân lực CLC là nhân tố quyết định thành công trong quá trình hội nhập quốc tế Để hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, cần phải có nguồn

nhân lực đạt chất lượng nhất định Nguồn lực lao động tham gia hợp tác quốctế là những lực lượng không chỉ làm tăng nguồn thu nhập cho đất nước và cánhân mà còn là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu, tiếp thu kỹ thuật,công nghệ, kỹ năng tổ chức, điều hành sản xuất kinh doanh, tinh hoa văn hóanhân loại để phục vụ cho sự phát triển KT-XH, góp phần thực hiện mục tiêudân giàu, nước mạnh, dân chủ dông bằng, văn minh Đồng thời nguồn nhânlực tham gia hội nhập quốc tế là lực lượng quan trọng trong việc tuyên truyền,quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực CLC là một trong những yếu tốquyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”[14, tr.41]; nâng cao dântrí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân

tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam “Con người là trung tâm củachiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”[14, tr.76] Con ngườithực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, lànguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xâydựng nước ta hiện nay

* Nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

Nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh là một bộ phận quan trọng củanguồn nhân lực Tỉnh nhà, được đào tạo bồi dưỡng có trình độ học vấn, chuyênmôn nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, khả năng làm chủ, giải quyếtsáng tạo những vấn đề thuộc lĩnh vực, ngành, nghề nghiệp được phân công đảmnhiệm; có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có tinh thần và ý thức trách nhiệm caotrực tiếp đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ninh, góp phần pháttriển KT-XH đất nước và hội nhập quốc tế Nguồn nhân lực CLC là một bộphận trọng yếu của nguồn nhân lực (nguồn lực lao động), là lực lượng laođộng đã qua đào tạo, có kỹ năng, kinh nghiệm, thạo nghề

Trang 18

Tiêu chuẩn của nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh có nội dungtoàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, sức khỏe như: có bản lĩnh,

lý tưởng, niềm tin và quyết tâm thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH, phát triểnđất nước theo con đường XHCN; có bản chất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, cósức khỏe, lao động sáng tạo, có kỷ luật Có thể nhận biết nguồn nhân lựcCLC ở tỉnh Quảng Ninh theo các dấu hiệu đặc trưng sau đây:

Về trình độ học vấn: Có trình độ học vấn thường từ đại học, sau đại học.

Họ là những nhà nghiên cứu, đổi mới công nghệ, các nhà kỹ thuật và công nghệ,những nghệ nhân, những công nhân bậc cao, các nhà quản lý, kinh doanh ở cáckhu vực, các ngành kinh tế của tỉnh Quảng Ninh

Về kỹ năng nghề nghiệp: Được đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực hoạt

động, có tính chuyên nghiệp, lành nghề, thạo nghề Lực lượng này bao gồmnhững người lao động, trí thức, viên chức, công nhân hoạt động trong mọilĩnh vực, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, văn học nghệ thuật, các lĩnh vực KT-

XH, các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, ở các khu vực kinh tế,dịch vụ công lập và ngoài công lập; có tính sáng tạo, hiệu quả cao

Về năng lực: Kỹ năng lao động hành nghề sáng tạo, hiệu quả cho bản

thân và cho xã hội; khả năng đề xuất về chính sách, chủ trương, kỹ thuật,nghiệp vụ chuyên môn, thực hiện có hiệu quả công việc đảm nhiệm

Như vậy có thể thấy dấu hiệu đặc trưng nhất của nguồn nhân lực CLClà trình độ đào tạo và năng lực nghề nghiệp; hiệu quả hoạt động nghiên cứu,sản xuất kinh doanh Đây là điểm khác biệt giữa nguồn nhân lực CLC với laođộng giản đơn và công nhân không lành nghề

1.1.2 Vài nét đặc điểm tỉnh Quảng Ninh và quan niệm, tiêu chí đánh giá xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

* Vài nét đặc điểm tỉnh Quảng Ninh

Một là, Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu vùng Đông Bắc Việt Nam, có

vị trí địa chính trị và địa kinh tế đặc biệt: ở vị trí then chốt, điểm đầu trong 2hàng lang, một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc và là cầu nối giữa

Trang 19

các nước ASEAN và các nước Đông Bắc Á; có biên giới quốc gia và hải phậngiáp với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Tỉnh có 120 km đường biêngiới trên đất liền, 191 km đường phân định Vịnh Bắc Bộ, với 250 km bờ biển;

3 cửa khẩu trên đất liền: Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh và 4 cửakhẩu trên biển: Cẩm Phả, Cái Lân, Hòn Gai, Vạn Gia

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, thuận lợi chophát triển đa ngành, nhất là ngành khai khoáng, nhiệt điện, vật liệu xây dựng,danh lam thắng cảnh Đất nông nghiệp chiếm 75,4%, đất có rừng chiếm51,9%, diện tích chưa sử dụng chiếm 10,9% tập trung ở vùng miền núi và venbiển Tài nguyên nước khá phong phú và đặc sắc, nước mặt ước tính 8.776 tỷm3 (2.500 đến 3000 ha mặt nước ao, hồ, đầm có điều kiện nuôi trồng thuỷsản) Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phonghoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống cáctriền sông và bờ biển là những vùng dân cư trù phú và còn nhiều tiềm năngphát triển

Tài nguyên rừng có 316.578 ha rừng, 388.000 ha đất rừng với độ che

phủ đạt 51,0%, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 80% Rừng trồng, rừng

đặc sản khoảng 100 ngàn ha, đất chưa thành rừng khoảng 230 ngàn ha Rừngngập mặn với hệ sinh thái phong phú ở vùng Vân Đồn có thể khai thác phục

vụ du lịch sinh thái Tổng trữ lượng rừng các loại khoảng 6-7 triệu m3 gỗ vàgần 30-35 triệu cây tre nứa các loại, trong đó rừng tự nhiên có tổng trữ lượngkhoảng 4-5 ngàn m3 gỗ và 2-2,5 triệu cây tre nứa, còn lại là rừng trồng

Quảng Ninh có 6,1 ngàn km2 ngư trường khai thác hải sản Hầu hết cácbãi cá chính có sản lượng cao phân bố gần bờ và quanh các đảo 20.000 ha eovịnh, nhiều khu vực nước sâu, kín gió thuận lợi cho việc xây dựng, phát triểncảng biển: Hạ Long, Cẩm Phả, Tiên Yên, Móng Cái, Hải Hà

Quảng Ninh có tài nguyên khoáng sản phong phú, trữ lượng lớn, than

đá ở mức 3,2 tỷ tấn (hơn 90% trữ lượng cả nước); khoáng sản ven bờ biển(cát, ti tan…); các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh… trữ lượng tương đối lớn,

Trang 20

phân bố khắp các địa phương trong Tỉnh Nhiều mỏ nước khoáng có thể sửdụng vào nghỉ dưỡng, chữa bệnh Tài nguyên cảnh quan thiên nhiên có VịnhHạ Long 2 lần được UNESCO công nhận Di sản thiên nhiên của thế giới;vịnh Bái Tử Long, vừa có đảo đất, đảo đá tạo nguồn tài nguyên du lịch nổitrội; trên đất liền và dưới biển có hệ động thực vật đa dạng có tới 415 loài(vùng Yên Tử, Vân Đồn, Cô Tô,…), và các bãi biển đẹp như Trà Cổ và hoang

sơ như Quan Lạn,

Quảng Ninh có 2077 hòn đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km,

có hai huyện đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô Vịnh Hạ Long và Bái TửLong có hàng nghìn hang động kỳ thú, những cảnh quan địa mạo đẹp vào bậcnhất thế giới là một trong 7 kỳ quan thế giới, tạo điều kiện phát triển du lịch Đây cũng là hải cảng kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên mộttiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất thuận lợi Tuy nhiên, QuảngNinh cũng là nơi thường xuyên diễn ra những tai biến thiên nhiên như lũ lụt, lũquét, xói lở bờ sông, trượt lở đất và lũ bùn đá, biến động địa hình bãi triều vàbồi lắng; ô nhiễm nước, không khí, tiếng ồn do khai thác than, vật liệu xâydựng, nhiệt điện khá nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến phát triển du lịch

Quảng Ninh có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua như: Quốc

lộ 18, Quốc lộ 10, Quốc lộ 4B, Quốc lộ 18C, Quốc lộ 279, đường sắt Kép Hạ Long Mạng lưới giao thông được phân bố tương đối hợp lý trên địa bàntỉnh Mạng lưới đường bộ có khoảng 3.694,4 km Quảng Ninh là nơi tậptrung nhiều cảng biển quan trọng của khu vực phía Bắc và cả nước nhưcảng Cẩm Phả, cảng Hòn Gai và nhiều cảng biển khác đã và đang sử dụng

-để phục vụ nhu cầu địa phương như cảng Vạn Hoa, Hải Hà, Vạn Gia…Mạng lưới vận tải thuỷ có 25 luồng dài trên 400 km do Trung ương quản lývà 10 tuyến dài 167 km do địa phương quản lý Mạng lưới đường sắt cótuyến đường sắt quốc gia Kép - Hạ Long và các tuyến đường sắt chuyêndùng của ngành than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh chưa có cảng hàngkhông dân dụng quốc gia, hiện chỉ có hoạt động bay tắc xi thăm quan du

Trang 21

lịch và phục vụ quốc phòng thực hiện tại các sân bay trực thăng nhỏ tại BãiCháy - Tuần Châu Hạ Long, Hải Xuân - thành phố Móng Cái Tổng chiềudài đường giao thông nông thôn Quảng Ninh là 2.346,4 km trong đó đườnghuyện chiếm 45,1%, đường xã chiếm 54,9% Tỷ lệ đường giao thông nôngthôn đã rải mặt chiếm trên 67% còn lại là mặt cấp phối và đất

Hai là, Quảng Ninh có cư dân của 22 dân tộc sinh sống, có ngôn

ngữ, có bản sắc dân tộc độc đáo Quảng Ninh có truyền thống lịch sử vănhóa lâu đời - một trong những cái nôi của người Việt cổ với ba nền văn hóatiền sử kế tiếp nhau, cách ngày nay từ 18.000 đến 3.500 năm là: văn hóaSoi Nhụ, văn hóa Cái Bèo và văn hóa Hạ Long với những tôn giáo, tínngưỡng cũng rất đa dạng và phong phú Quảng Ninh là vùng đất có nhiều

di tích lịch sử có giá trị, nhiều công trình văn hoá đặc sắc, nhiều lễ hộiphong tục tập quán hấp dẫn du lịch Tỉnh có những di tích nổi tiếng nhưchùa Yên Tử, đền Cửa Ông, đình Trà Cổ, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùaLong Tiên, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu - Thiền viện Trúc Lâm GiácTâm, di tích thương cảng Vân Đồn và có nhiều lễ hội truyền thống nhưYên Tử, Bạch Đằng, đền Cửa Ông, Trà Cổ, khu di tích nhà Trần ở ĐôngTriều Với những đặc điểm về văn hóa như trên, Quảng Ninh có một tàinguyên văn hóa rất đặc sắc cho phát triển du lịch, nhưng phải được pháttriển có tổ chức, có khoa học, tạo được các sản phẩm du lịch hấp dẫn cómột không hai

Ba là, nguồn nhân lực ở tỉnh Quảng Ninh đa dạng, có chất lượng,

nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần giải quyết Theo Niên giám thông kê tỉnhQuảng Ninh 2011, dân số của tỉnh năm 2011 là 1.172,5 ngàn người, trong đódân thành thị chiếm khoảng 52%, dân nông thôn chiếm khoảng 48%; mật độdân số là 190 người/km2, có 4 thành phố trực thuộc Tỉnh và 10 huyện Năm

2011 số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 633,3 ngànngười, trong đó hoạt động KH&CN là 1,8 ngàn người Số lao động đang làmviệc trong khu vực nhà nước năm 2010 là 156,7 ngàn người, trong đó 106,3

Trang 22

ngàn người làm việc của cấp Trung ương và 50,4 ngàn người làm việc trongkhu vực nhà nước địa phương [3, tr.15].

Tất cả những đặc điểm đó trực tiếp ảnh hưởng đến xây dựng nguồnnhân lực, nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh

* Quan niệm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

Theo nghĩa chung nhất, xây dựng là hoạt động có mục đích, có kế hoạchcủa chủ thể tác động vào đối tượng làm hình thành, phát triển ở đối tượngnhững phẩm chất cần thiết để hoàn thành vai trò, chức trách, nhiệm vụ của đối

tượng xây dựng Theo đó, xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh

là tổng thể các hoạt động tích cực, tự giác của các chủ thể sử dụng tổng hợp các giải pháp nhằm hình thành, phát triển toàn diện nguồn nhân lực CLC, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tinh Quảng Ninh

Thực chất của xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh là

hoạt động có mục đích có kế hoạch của chủ thể trong việc xác định các giảipháp tác động vào những nhân tố cấu thành, nhằm tạo ta sự phát triển về sốlượng, cơ cấu, chất lượng không ngừng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu pháttriển KT-XH của tỉnh

Mục đích xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh nhằm phát

triển đội ngũ những người lao động có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống,khả năng làm chủ khoa học, công nghệ, nghề nghiệp, có thể lực tốt, có tinhthần và ý thức trách nhiệm cao phục vụ công cuộc CNH, HĐH, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc ở tỉnh Quảng Ninh Như vậy đây vừa là mục tiêu của CNXH,vừa là động lực của sự nghiệp ấy

Chủ thể xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh bao gồm

các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội Mỗi chủ thể ở tỉnh QuảngNinh có chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng nguồn nhân lực CLC ởtỉnh Quảng Ninh

Trang 23

Tỉnh ủy xác định quan điểm, chủ trương xây dựng nguồn nhân lựcCLC Sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thể hiện ở việc đề ra cácchủ trương lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng chương trình, kế hoạch; tuyêntruyền phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chiến lượcxây dựng con người, xây dựng nguồn nhân lực CLC; đôn đốc kiểm tra các tổchức trong hệ thống chính trị thực hiện các nhiệm vụ xây dựng nguồn nhânlực CLC ở tỉnh Quảng Ninh

Cơ quan chính quyền các cấp ban hành và tổ chức thực hiện các chínhsách đề hình thành, phát triển thị trường lao động, công nghệ, quản lý, sửdụng mọi tiềm năng lao động; nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thốnggiáo dục, đào tạo Xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện luậtpháp về giáo dục - đào tạo, dân số, lao động, việc làm, chăm sóc sức khỏenhân dân; tăng cường đầu tư ngân sách cho xây dựng nguồn nhân lực CLC ởtỉnh Quảng Ninh

Mọi lực lượng xã hội, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các

tổ chức xã hội, nghề nghiệp sử dụng lao động trên địa bàn có trách nhiệm thựchiện các nghị quyết của Đảng, các chính sách, luật pháp của Nhà nước, quyếtđịnh của địa phương về xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh

Đối tượng của xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh bao

gồm những người ở độ tuổi lao động, người sẵn sàng tham gia lao động (họcsinh, sinh viên), đang được sử dụng vào lao động (trí thức, công nhân, nôngdân, thợ thủ công…)

Nội dung xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh mang tính

toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu Số lượng nguồn nhân lực CLC phải

hợp lý trong tổng số nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh Cơ cấu nguồn

nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh phải phù hợp với cơ cấu ngành nghề, độtuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ học vấn đáp ứngmục tiêu phát triển KT-XH Chất lượng nguồn nhân lực CLC phải toàn diện:

Trang 24

Có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ học vấn, năng lực chuyênmôn, nghề nghiệp, phong cách làm việc; có bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghềnghiệp, say mê nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm cao, có kỷ luật, trung thực,khiêm tốn giản dị, gần gũi, tôn trọng con người Có kiến thức sâu sắc, có trình

độ học vấn từ đại học và tương đương trở lên; có khả năng làm chủ chuyênmôn mình phụ trách

Tóm lại, nguồn nhân lực CLC phải hội đủ phẩm chất, năng lực nghềnghiệp, có khả năng nghiên cứu, đổi mới kỹ thuật, công nghệ, quản lý ở cáckhu vực, các ngành kinh tế của tỉnh trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; cókhả năng lao động sáng tạo, có tình yêu nghề nghiệp, có khả năng tự hoànthiện, tự phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh nhà

Phương thức xây dựng nguồn nhân lực CLC là tổng hợp các cách thức,

con đường, biện pháp mà chủ thể và đối tượng sử dụng nhằm hình thành, pháttriển nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh cả về số lượng, chất lượng, cơcấu Đó là các biện pháp phát triển kinh tế văn hóa – xã hội, hệ thống luật pháp,chính sách, sự lãnh đạo, chỉ đạo quản lý của cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp,các tổ chức quần chúng…; thông qua hệ thống thông tin truyền thông, giáo dụcđào tạo, an sinh xã hội…; quá trình tự học tập, nghiên cứu thực tiễn, trao đổikinh nghiệm trong lao động sản xuất của chính nguồn nhân lực …

Phát triển KT-XH tạo nền tảng vật chất, tinh thần cho xây dựng nguồnnhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Kinh tế phát triển, đại bộ phận đời sốngnhân dân được cải thiện, sẽ giúp cho việc giải quyết các vấn đề xây dựngnguồn nhân lực CLC được tốt hơn như: Đầu tư cho giáo dục đào tạo; chămsóc sức khỏe nhân dân; tăng thu nhập; giải quyết việc làm, các chính sách ansinh xã hội cho nguồn nhân lực nói chung và xây dựng nguồn nhân lực CLC ởtình Quảng Ninh nói riêng

Công tác đào, tạo bồi dưỡng là một trong những biện pháp có tầm quantrọng nhất của xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh nhằm đàotạo, bồi dưỡng, trang bị, bổ sung về tri thức, kỹ năng, phẩm chất chính trị, đạo

Trang 25

đức cho nguồn nhân lực CLC Thông thường, có các loại hình đào tạo, bồidưỡng: Đào tạo, bồi dưỡng ở các trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng, đạihọc trong hệ thống và quốc gia; đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở sản xuất, tổchức KT-XH; tự đào tạo, bồi dưỡng của mỗi cá nhân; hợp tác quốc tế về đàotạo, bồi dưỡng.

Kết hợp và phát huy vai trò của chủ thể và đối tượng trong xây dựngnguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Cùng phát huy vai trò của chủ thểquản lý là phát huy nội lực của mỗi người trong việc tự học tập, tự tu dưỡngtrèn luyện theo tiêu chuẩn Bởi lẽ chỉ có tự giác tiếp nhận sự giúp đỡ của tổchức, của tập thể với đề cao ý thức tự rèn, tự học tập, tự đánh giá thì các tiêuchuẩn về phẩm chất, năng lực, phong cách làm việc vốn là yêu cầu kháchquan mới trở thành phẩm chất bền vững của nguồn nhân lực CLC ở tỉnhQuảng Ninh

Xây dựng và thực hiện tốt hệ thống chính sách tạo động lực để xâydựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Đó là những chính sách vềgiáo dục, đào tạo, an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, dân số việc làm, sửdụng lao động, y tế, chăm sóc sức khỏe, thi đua, khen thưởng Thực tiễncho thấy quan tâm chăm lo thực hiện tốt chính sách xã hội thì việc xây

dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh sẽ đạt kết quả mong muốn

* Tiêu chí đánh giá xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao

Một là, mức độ nhận thức, trách nhiệm, năng lực của các chủ thể trong xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Các chủ thể lãnh đạo, chỉ

đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện nhận thức về xây dựng nguồn nhân lựcCLC ở tỉnh Quảng Ninh có sâu sắc không; Cấp uỷ, chính quyền, các ban,ngành, đoàn thể, đơn vị hành chính, sự nghiệp, tổ chức kinh tế Nhà nước…mỗi tổ chức, lực lượng có coi xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh QuảngNinh là một nhiệm vụ của mình hay chưa Ý thức, trách nhiệm đối với thựchiện nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh ở mức độnào? Những tri thức chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan và kinh nghiệm xây

Trang 26

dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh của mỗi chủ thể Mức độ, chấtlượng thực hiện xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh theo chứcnăng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, lực lượng ra sao? Đó là những nội dung đểđánh giá chính xác nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựngnguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Đối với cấp uỷ, tổ chức đảng cầnxem xét sự đúng đắn của các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo xâydựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Đối với chính quyền cần xemxét hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành các hoạt động xây dựng nguồn nhânlực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Đối với các cấp, các ngành cần xem xét nănglực tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnhQuảng Ninh theo chức năng, nhiệm vụ…Đối với mỗi công dân, người laođộng cần xem xét mức độ nhiệt tình cách mạng, ý thức trách nhiệm, sự thốngnhất giữa nhận thức và hành động trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện theo tiêuchuẩn nguồn nhân lực CLC…

Hai là, mức độ phù hợp, hiệu quả của nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Tiêu chí này đòi hỏi xem

xét ở mức độ chính xác, khoa học, toàn diện của nội dung xây dựng nguồnnhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh trên cả ba mặt: số lượng, chất lượng, cơcấu; tính thiết thực, hiệu quả phương thức xây dựng nguồn nhân lực CLC ởtỉnh Quảng Ninh như: việc xây dựng và phát huy có hiệu quả thành tựu pháttriển KT-XH, văn hóa, hệ thống luật pháp, chính sách, sự lãnh đạo, chỉ đạoquản lý của cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức quần chúng…; hệthống thông tin truyền thông, giáo dục đào tạo, an sinh xã hội…; quá trình tựhọc tập, nghiên cứu thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm trong lao động sản xuấtcủa chính nguồn nhân lực …

Ba là, kết quả đạt được trong xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Vấn đề này xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và

thực tiễn, ý nghĩ và hành vi, nhận thức và hành động, lời nói với việc làm.Không thể đánh giá chính xác xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng

Trang 27

Ninh nếu không xem xét kết quả so với mục đích xây dựng đã xác định Đốivới mỗi người là phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách, năng lực.Phẩm chất chính trị được thể hiện ở lập trường chính trị, tinh thần yêu nước và

tự cường dân tộc; quyết tâm phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, coi đó làvinh dự, trách nhiệm của mỗi người Yêu lao động, tích cực, tự giác tham giamọi hoạt động xây dựng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương; ra sức học tậplàm chủ khoa học kỹ thuật, công nghệ Năng lực được đánh giá thông qua khảnăng nắm vững và sự thành thạo chuyên môn nghiệp vụ; biết vận dụng trí tuệcủa mình vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ chuyên môn; khả năng vận dụngđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực hiện nhiệm vụ công tác

ở địa phương, cơ sở; khả năng tham gia và tổ chức thực hiện có hiệu quả cácquyết định của tập thể, của tổ chức ở địa phương, cơ sở mà họ là thành viên; ởtrình độ hiểu biết, năng lực phát huy sáng kiến đề xuất về chính sách, chủtrương, kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn theo ngành, lĩnh vực hoạt động củamỗi người Đánh giá cả đội ngũ là xem xét tỷ lệ nguồn nhân lực CLC so vớitổng số nguồn lao động; cơ cấu nguồn nhân lực CLC trong các ngành, lĩnh vực,khu vực kinh tế, xã hội

Ngoài ra, mức độ, tốc độ phát triển KT-XH của tỉnh Quảng Ninh cũng

là một tiêu chí quan trọng, qua đó đánh giá được chất lượng, hiệu quả xâydựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Bởi lẽ nguồn nhân lực là nhân

tố xét đến cùng quyết định mức tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quânđầu người hàng năm của tỉnh Quảng Ninh Đương nhiên mức tăng trưởngkinh tế và thu nhập bình quân đầu người hàng năm của tỉnh Quảng Ninh cònphụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa

Việc đánh giá xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh phảiđược xem xét khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể phù hợp với từng chuyênmôn khác nhau, trong mối quan hệ với các yếu tố tạo thành chất lượng tổnghợp có khác nhau

Trang 28

1.1.3 Những nhân tố quy định xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh

Một là, xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh và của đất nước Sự

nghiệp CNH, HĐH và xây dựng con người là hai nhiệm vụ trung tâm có tầmchiến lược trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Hai nhiệm vụ đó cómối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, vừa là điều kiện, vừa làtiền đề của nhau, trong đó xây dựng con người vừa mục tiêu vừa là động lực

để thực hiện CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh Ngược phát triển KT-XH, đẩy mạnh CNH,HĐH tạo ra những điều kiện vật chất, kỹ thuật và văn hóa phục vụ cho chiếnlược xây dựng con người Vì vậy, xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnhQuảng Ninh không thể không phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị xãhội của Tỉnh

Vấn đề có tính quy luật này chỉ rõ, việc xây dựng nguồn nhân lực CLCphải đặt trong mối quan hệ với xây dựng môi trường chính trị, kinh tế, xã hội.Con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của lịch sử Con người không thể tồntại khi tách ra khỏi xã hội Thông qua xã hội, con người có những hoạt động traođổi, lao động và thoả mãn những nhu cầu của cuộc sống; con người có quan hệqua lại với nhau Từ đó, con người nhận thức đầy đủ hơn về bản thân mình, đểtrên cơ sở đó rèn luyện, phấn đấu hoàn thiện về nhân cách Xã hội càng pháttriển thì quan hệ giữa người với người càng sâu sắc và bền chặt, mối quan hệđược mở rộng và vai trò của con người trong xã hội ngày càng tăng Quan hệgiữa cá nhân và xã hội là quan hệ thống nhất biện chứng: Con người muốn pháttriển toàn diện, phải phát triển KT-XH, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Xãhội phát triển tạo điều kiện tăng năng suất lao động, tạo ra của cải vật chất dồidào Đây là cơ sở để phát triển toàn diện con người Ngược lại, con người pháttriển toàn diện sẽ cống hiến cho xã hội ngày càng nhiều

Trang 29

Theo đó, để xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh phảinhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích vật chất, tinh thần; lợiích chung, riêng… trong mối quan hệ giữa người dân với môi trường kinh tế

- xã hội, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước Về chính trị, phải giữ vững

ổn định chính trị của tỉnh Xây dựng, phát huy dân chủ ở cơ sở, thực hiện

"dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát và hưởng lợi" là độnglực thúc đẩy mạnh mẽ nhất huy động sức mạnh của người dân vào "khó vạnlần dân liệu cũng xong", và cũng chỉ có trong môi trường dân chủ thực sựmới phát triển được đầy đủ và nâng cao nguồn lực con người Tỉnh ủy, chínhquyền tỉnh phải hoạch định các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH,lao động, việc làm, tiền công, tiền lương, đào tạo nghề, các chính sách vềthuế, tài chính, phát triển công nghệ mới, vùng nghề, làng nghề, chính sáchphát triển các thành phần kinh tế Hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển trong lĩnhvực lao động, việc làm, giáo dục - đào tạo, các trung tâm đào tạo và giớithiệu việc làm, các trung tâm nghiên cứu môi trường lao động, thị trường laođộng, xuất khẩu lao động đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường vàhội nhập quốc tế

Hai là, xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh phụ thuộc

vào chất lượng hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ, tinh thần nhân dân; chất lượng giáo dục, đào tạo và việc phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong Tỉnh Con người vừa là mục tiêu, là trung tâm

của mọi sự phát triển xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chấtvà tinh thần cho xã hội Hệ thống an sinh xã hội về thực chất là xây dựng vàthực hiện những chính sách xã hội nhằm giải quyết các mâu thuẫn, xung đột,giảm bớt các bất công, căng thẳng xã hội, góp phần cân đối thu nhập, giảiquyết việc làm, phân phối lại lợi ích, tạo sự công bằng, hợp lý giữa cốnghiến và hưởng thụ, khuyến khích người có tài năng, nhiệt tình, giúp đỡngười nghèo khó, rủi ro không may trong cuộc sống ; bảo đảm an ninh, antoàn xã hội cũng như quyền công dân, đảm bảo sức khỏe, hạnh phúc con

Trang 30

người Chất lượng hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ, tinh thầnnhân dân; chất lượng giáo dục, đào tạo nghề và việc phát huy các giá trịtruyền thống tốt đẹp của dân tộc chính là nền tảng vật chất và tinh thần củaxây dựng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực CLC ở tỉnh QuảngNinh nói riêng.

Vấn đề có tính quy luật này chỉ rõ, để xây dựng nguồn nhân lực CLC ởtỉnh Quảng Ninh phải xây dựng và thực hiện tốt hệ thống chính sách xã hộitác động vào quá trình sản xuất, hướng vào các mục tiêu như an toàn, an ninh,sức khỏa cho người lao động, giảm bớt những rủi ro, tai nạn hay những đổ vỡkhông tránh khỏi của một số doanh nghiệp do kinh tế thị trường gây ra Xâydựng và thực hiện nhóm chính sách xã hội tác động vào quá trình tái sản xuất

ra con người Hệ thống chính này nhằm bảo đảm có quy mô dân số, cơ cấudân số, phân bố dân số hợp lý cũng như mức tăng dân số phù hợp với nhu cầuphát triển KT-XH

Sức khỏe là vốn quý của con người, là động lực quan trọng của pháttriển KT-XH Vì vậy, chăm sóc sức khoẻ, đời sống vật chất, tinh thần củangười dân là khâu then chốt nâng cao thể lực, tầm vóc của con người; gópphần trực tiếp nâng cao khả năng lao động của con người Để xây dựngnguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh cần nâng cao thể lực; tăng tuổithọ; phấn đấu thực hiện giảm tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân, làm cho giốngnòi phát triển ngày càng tốt hơn

Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình phân phối và phânphối lại thu nhập, tạo những điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất cho xây dựngnguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Đó là các chính sách khuyếnkhích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho những người có tài năng, các nhà khoahọc, các nhà quản lý, kinh doanh để họ có thể phát huy tối đa khả năngsáng tạo và khả năng cống hiến của mình cho Tỉnh; những chính sáchhướng vào lĩnh vực bảo hiểm lao động, bảo hiểm y tế, nghề nghiệp, bảohiểm kinh doanh, bảo hiểm tài sản, phương tiện vật chất nhằm đáp ứng nhucầu của cuộc sống và xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 31

Hệ thống chính sách tác động vào lĩnh vực văn hóa tinh thần, giáodục đào tạo để xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Nhómchính sách này bao gồm những chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng,sử dụng nguồn nhân lực CLC Hệ thống chính sách giáo dục, đào tạo, bồidưỡng, sử dụng nguồn nhân lực CLC có ý nghĩa quyết định trong việc nângcao chất lượng nguồn nhân lực CLC Nâng cao trí lực là nhiệm vụ cơ bảnvà xuyên suốt quả quá trình xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trong nền kinh tế tri thức, trí lực là yếu tốquan trọng nhất, quyết định chất lượng của người lao động trong điều kiệnhiện nay, khi mà chiến lược phát triển đi vào chiều sâu, nghĩa là phải coitrọng hàm lực trí tuệ trong các sản phẩm C ác chính sách nhằm tạo ranhững điều kiện thuận lợi về hoạt động văn hóa, văn nghệ, hưởng thụthông tin, những nhu cầu về sinh hoạt, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí Nhữngchính sách về cư trú, nhà ở nhằm giải quyết hợp lý và khoa học vấn đề cưtrú, nhà ở cho nhân dân nói chung và nguồn nhân lực CLC ở tỉnh QuảngNinh nói riêng

Trong bối cảnh xây dựng con người hiện nay, việc giữ gìn và phát huynhững giá trị tốt đẹp của bản sắc văn hoá dân tộc càng trở nên cấp thiết, gópphần xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh

Ba là, xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh phụ thuộc vào

sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của cộng đồng và mỗi người dân Xây dựng

nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh là nhiệm vụ của cả hệ thống chínhtrị, các tổ chức xã hội, các cấp, các ngành và của toàn dân, do Tỉnh ủy lãnhđạo, chính quyền quản lý Vấn đề có tính quy luật này xuất phát từ vai trò củanhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựngnguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng

Vấn đề có tính quy luật này đòi hỏi mỗi cộng đồng, mỗi người dân phảinhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm, quyền lợi của mình trong xây dựngnguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Người dân phải thực sự nhận thức

Trang 32

được vai trò chủ thể của mình và chuyển hoá sự nhận thức đó vào trong hànhđộng cụ thể Chỉ có thông qua việc tham gia tích cực vào quá trình sản xuấtphải đi vào chiều sâu, vươn ra thị trường lớn, phát triển các sản phẩm, cácngành nghề ưu thế tạo việc làm và thu nhập ổn định, gìn giữ và phát huy cácgiá trị văn hoá truyền thống… thì mới có thể nâng cao đời sống vật chất vàgtinh thần, nâng cao trình độ sản xuất, phẩm chất tốt đẹp của con người ViệtNam Ở đây gia đình có vai trò cực kỳ quan trọng Đối với mỗi gia đình, sựduy trì và phát triển nòi giống là thiết thực chuẩn bị nguồn nhân lực, bổ sungliên tục nguồn lực lao động mới có phẩm chất, năng lực, trình độ và thể lựcngày càng cao đáp ứng cho công cuộc xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnhQuảng Ninh Nhà trường, đoàn thể, các ngành, các cấp, cấp ủy đảng, chínhquyền, tổ dân phố theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức có trách nhiệmchăm lo xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh

1.2 Thực trạng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay

1.2.1 Những thành tựu và nguyên nhân

* Những thành tựu

Một là, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã quan tâm lãnh đạo xây dựng nguồn nhân lực CLC với những chủ trương giải pháp phù hợp với lợi thế, đặc điểm phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo,

quản lý tốt các kế hoạch phát triển KT-XH, góp phần tích cực xây dựngnguồn nhân lực CLC Kết quả trưng cầu ý kiến cho thấy có tới 89% số ngườiđược hỏi đánh giá cho rằng xây dựng nguồn nhân lực CLC có vai trò rất quantrọng đối với phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng- an ninh ở tỉnh QuảngNinh hiện nay[Phụ lục 1(1)] Vấn đề này thể hiện ở Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đãtriển khai thực hiện Quyết định số 269/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính

phủ về "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh

Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020" UBND tỉnh Quảng

Ninh đã ban hành Quyết định số 4179/2006/QĐ–UBND về "Quy hoạch phát

Trang 33

triển KH&CN tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020" Đến năm 2010, đã có 123/134 nhiệm vụ được triển khai thực hiện đạt

trên 90% nội dung quy hoạch đề ra [3, tr.43] Nhiều kết quả đạt được đã đónggóp thực sự cho phát triển KT-XH của tỉnh Tỉnh ủy, chính quyền Tỉnh đã tậptrung lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào những lĩnhvực trọng yếu, bức thiết và lâu dài, như công nghệ khai thác mỏ, cơ khí chếtạo, vật liệu xây dựng, bảo vệ môi trường; quản lý địa chính, cải cách hànhchính, dịch vụ công…; đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong côngtác quản lý, điều hành của nhà nước và thúc đẩy áp dụng công nghệ thông tinthâm nhập vào hầu hết các hoạt động KT - XH, quốc phòng, an ninh, giáo dụcđào tạo của Tỉnh

Tỉnh đã xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu;điều tra, khảo sát xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước Do hạ tầng đôthị không đáp ứng kịp cho sự phát triển, cung cấp nước sạch đạt dưới 90%,thu gom rác thải đô thị đạt 60–70% Toàn tỉnh mới có 2/14 địa phương có bãirác hợp vệ sinh (Hạ Long, Cẩm Phả); 4/14 địa phương có công ty môi trường

đô thị; ô nhiễm rác thải đến mức báo động, nông thôn ước đạt 40–50% rácđược thu gom [3, tr.28] Chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu là chôn lấp

Ủy ban nhân dân Tỉnh đã ban hành các văn bản về cơ chế chính sáchtạo hành lang pháp lý cho hoạt động xây dựng nguồn nhân lực CLC Trong đó

có các văn bản quan trọng như: Phê duyệt hình thức quản lý, sử dụng kinh phíđầu tư phát triển trên địa bàn Tỉnh; Phê duyệt Quy hoạch phát triển KH&CNtỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020; Kế hoạch xâydựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2000 trongcác cơ quan hành chính công; Quy định một số chính sách khuyến khích, hỗtrợ các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động trong việc đào tạo, bồi dưỡng ngườilao động; Quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Quy chế quản

lý hoạt động sở hữu trí tuệ Công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh,khoa học công nghệ đã có nhiều đổi mới Năm 2012, tỉnh đã tiến hành 21 dự

Trang 34

án xây dựng và phát triển thương hiệu của tỉnh (32 tỷ đồng), đã làm thủ tụcđăng ký 03 sản phẩm nông sản của tỉnh được bình chọn vào TOP 50 đặc sảncủa Việt Nam (Chả mực Hạ Long, Gà Tiên Yên, Sá sùng Vân Đồn) [3, tr.35].

Ủy ban nhân dân Tỉnh đã coi trọng công tác quản lý công nghệ Đãtriển khai đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp làm cơ sở cho xâydựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ Tỉnh đã tích cựctriển khai việc hướng dẫn các doanh nghiệp đăng ký hỗ trợ đổi mới công nghệtheo chương trình của Bộ KH&CN Năm 2012, Tỉnh đã tổ chức 08 đơn vị vàdoanh nghiệp của tỉnh tham gia Chợ công nghệ và thiết bị quốc tế Việt Nam2012; tổ chức 01 lớp tập huấn về quản lý công nghệ và chuyển giao côngnghệ cho 70 doanh nghiệp; đã phê duyệt danh mục 13 dự án ứng dụng,chuyển giao tiến bộ KH&CN về các vấn đề như: Hội chẩn, tư vấn, khám,chữa bệnh; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; phát triển vùng trồng hoa CLC;quy hoạch trồng cây thuốc; phát triển giống hoa Mai vàng; ứng dụng côngnghệ quản lý khách du lịch Hoạt động hợp tác quốc tế về lao động đã thườngxuyên tổ chức đoàn cán bộ đi trao đổi kinh nghiệm, tổ chức ký kết hợp tácquốc tế về lao động việc làm nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, doanhnghiệp của mỗi bên có nhiều cơ hội hợp tác Nổi bật là hợp tác về KH&CNgiữa Quảng Ninh và Quảng Tây (Trung Quốc), theo đó, hai bên sẽ triển khaihợp tác trên một số nội dung về đào tạo nguồn nhân lực, thông tin, thành tựuKH&CN, các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến thông qua việc phối hợp thựchiện các chương trình, đề tài, dự án [3, tr.36]

Hai là, nội dung, phương thức xây dựng nguồn nhân lực CLC cơ bản phù hợp với đặc điểm và yêu cầu nhiệm vụ phát triển KT-XH của Tỉnh Nội

dung xây dựng nguồn nhân lực CLC trên cơ sở tính toàn diện đã xác định đúngtrọng tâm, tập trung ưu tiên hàng đầu vào những lĩnh vực quan trọng, có tínhđột phá Tỉnh ủy, UBND Tỉnh luôn đặt vấn đề chăm lo giáo dục đào tạo, mởmang dân trí, tạo việc làm; chăm lo phát triển nguồn nhân lực CLC về sốlượng, cơ cấu, chất lượng là vấn dề hàng đầu của mọi chương trình, kế hoạch

Trang 35

phát triển kinh tế xã hội Coi chăm lo cho con người là tạo động lực để pháttriển Xây dựng nguồn nhân lực CLC đã hướng vào xây dựng bản lĩnh chínhtrị, bản lĩnh nghề nghiệp; khả năng làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiệnđại; tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành; tác phong công nghiệp; ý thức tổ chức

kỷ luật; sức khỏe

Ủy ban nhân dân Tỉnh đã đa dạng hóa, xã hội hóa việc xây dựng nguồn

nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh Trên cơ sở phát triển KT-XH, văn hóa, hệ

thống luật pháp, chính sách, đã tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo quản lý của cấp

uỷ đảng, chính quyền các cấp, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, hệthống thông tin truyền thông, nghiên cứu thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm tronglao động sản xuất của chính nguồn nhân lực, đã tập trung vào phát triển giáodục đào tạo, thực hiện an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân cóbước đổi mới, bước đầu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lựcCLC Có tới 26% số người được hỏi cho rằng, giáo dục đại học ở tỉnh Quảng

Ninh có chất lượng tốt [Phụ lục 1(4)] Tỉnh hiện có 03 trường Đại học (Đại

học Công nghiệp Quảng Ninh; Đại học Ngoại thương Hà Nội cơ sở II, Đại học Mỏ địa chất phân hiệu Quảng Ninh), 09 trường Cao đẳng và một số các

trường Trung cấp, dạy nghề với số giáo viên khoảng gần 1.000 người; và 02

Dự án xây dựng Đại học đang triển khai (Đại học Hạ Long) Bình quân sốgiáo viên Đại học, Cao đẳng/1vạn dân là khoảng 0,8, cao hơn bình quân cảnước Tỉnh đã mở rộng và đẩy mạnh hợp tác với các trường trong nước như:Đại học Thái Nguyên, Đại học Hà Nội, Đại học Quốc gia, Đại học Kinh tếQuốc dân,… Quảng Ninh có hơn 21.000 giáo viên và cán bộ quản lý tronglĩnh vực giáo dục và đào tạo, trong đó trình độ tiến sĩ đạt 0,13% và thạc sĩ2,8% Khoảng 94,5% số cán bộ giáo viên đạt chuẩn, trong đó 39,4% vượtchuẩn Tổng lao động qua đào tạo năm 2010 chiếm 48%, năm 2011 đạt 51%.Các trường đã tích cực tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh; một sốtrường đã có nhiều cố gắng và tham gia hiệu quả vào hoạt động NC&PT [3,

Trang 36

tr.37] Đội ngũ trí thức được đào tạo dưới nhiều loại hình khác nhau, baogồm: chính quy, tại chức, chuyên tu, mở rộng, từ xa và một số hình thức khác,trong đó chính quy chiếm 53,2% (chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo),tại chức chiếm 40,6%, hình thức khác 6,2% Đối với trí thức cấp xã, đào tạođại học hệ tại chức là chủ yếu chiếm 89,7% (đại học chính quy có 156 người,chiếm 10,3% trên tổng số 1.512 trí thức cấp xã) [6, tr.2]

Quảng Ninh có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông đạt trên 98% Có tới63% số người được hỏi cho rằng, giáo dục phổ thông ở tỉnh Quảng Ninh cóchất lượng tốt [Phụ lục 1(5)] Trong năm 2011–2012, Quảng Ninh có 282.231học sinh và sinh viên; một số lĩnh vực tăng trưởng cao như cao đẳng và đạihọc 182%, giáo dục nghề nghiệp tăng 55% và mẫu giáo tăng 59% [3, tr.27]

Công tác y tế được tỉnh quan tâm phát triển, đã tập trung đầu tư về cơ

sở vật chất, thiết bị, bác sỹ cho các cơ sở khám chữa bệnh, y tế xã Tỉnh có

218 cơ sở chữa bệnh (22 bệnh viện, 10 phòng khám đa khoa,…) và 437 cơ sởchữa bệnh tư nhân Năm 2011 số giường bệnh/1vạn dân đạt 41,5 giường(trung bình toàn quốc là 21,1 giường/1vạn dân) và đạt 8,5 bác sỹ/1vạn dân(trung bình toàn quốc là 7,2 bác sỹ/1vạn dân) Tuổi thọ bình quân đạt trên73,1 tuổi [3, tr.28] Công tác quy hoạch nuôi trồng, khai thác, chế biến, bảotồn và phát triển một số loại dược liệu có thế mạnh của tỉnh đã được xúc tiến,theo hướng đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới trongchẩn đoán, điều trị và phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; phát triển yhọc cổ truyền: khám chữa bệnh tại cơ sở công lập, tư nhân, đào tạo nguồnnhân lực, nghiên cứu khoa học; y tế dự phòng

Kinh phí đầu tư, chủ yếu là ngân sách tỉnh cho xây dựng nguồn nhânlực CLC của tỉnh Quảng Ninh có xu hướng tăng Hằng năm, Tỉnh đã dànhkhoảng 32% kinh phí cho xây dựng nguồn nhân lực CLC [3, tr.38] Công tácthông tin, phổ biến kiến thức xây dựng nguồn nhân lực CLC được các cấpquan tâm Đã xuất bản các ấn phẩm, bản tin, trang tin trên báo, đài của Tỉnh,định kỳ hàng năm tổ chức các cuộc thi, hội thi nhằm khuyến khích tài năng và

Trang 37

tạo phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; tổ chức nhiều đoàn doanhnghiệp của tỉnh tham dự Hội chợ công nghệ và thiết bị của Trung ương và địa

phương tổ chức Tỉnh đã triển khai thành công dự án "Đưa thông tin KH&CN

phục vụ phát triển KT-XH ở khu vực nông thôn" bước đầu đã mang lại hiệu

quả tích cực về kinh tế và xã hội, dự án cơ bản đã hình thành được “kho” cơ

sở dữ liệu về KH&CN của tỉnh, tạo lập được mạng lưới trao đổi thông tin,cung cấp thông tin trực tiếp đến người dân một cách nhanh chóng, hiệu quả,giúp người dân nắm bắt kịp thời các tiến bộ khoa học và kỹ thuật để áp dụngvào sản xuất và đời sống [3, tr.34] Đã tổ chức 03 Hội thi Sáng tạo kỹ thuậttỉnh Các giải pháp tham gia Hội thi là các kết quả nghiên cứu khoa học vàphát triển công nghệ cấp tỉnh và kết quả nghiên cứu, ứng dụng của các tổchức, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tại 3 Hội thi đã có 241 giải pháp dự thi,trong đó 81 giải pháp đạt giải và đã xét chọn 76 giải pháp kỹ thuật của tỉnh đi

dự thi Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật toàn quốc và có 5 giải pháp đạt giải; 4 tác giảtrẻ của giải pháp này còn được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới -WIPO tặnggiải thưởng WIPO cho nhóm tác giả trẻ xuất sắc nhất, 01 giải pháp đạt Huychương Bạc giải thưởng quốc tế tại ITEX 2010 Malaysia Quảng Ninh cũng

đã gửi 49 công trình tham dự Giải thưởng Sáng tạo Khoa học và Công nghệViệt Nam, trong đó 06 công trình đã đạt giải [3, tr.32]

Việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực CLC đã được các doanhnghiệp trên địa bàn tỉnh quan tâm Ngành đóng tàu đã áp dụng các côngnghệ tiên tiến trong sản xuất như dây chuyền tự động chế tạo phân đoạnphẳng; dây chuyền làm sạch, sơn tổng đoạn trong đóng vỏ tàu; dây chuyềnlắp ráp tự động thân tàu chở hàng; ứng dụng các thiết bị trắc đạc Laser trongchế tạo, lắp ráp và kiểm tra vỏ tàu hệ trục chân vịt, trục lái,… đáp ứng yêucầu cho việc đóng tàu tải trọng lớn Ngành vật liệu xây dựng đã nghiên cứu,

áp dụng công nghệ mới như dây chuyền nghiền thô, đùn dẻo, sấy nungnhanh bằng nhiên liệu khí hoá than nguội; công nghệ khí hoá than nungnóng sản phẩm trong lò Tuynel; đầu tư máy móc, thiết bị cơ giới hoá trong

Trang 38

bốc, xếp hàng hóa.

Các doanh nghiệp lớn thuộc các tập đoàn, tổng công ty hàng năm đều

tổ chức cho cán bộ đi đào tạo, học tập ở nước ngoài nhằm nâng cao trình độ,tiếp cận sớm các tiến bộ kỹ thuật mới, tiên tiến của các nước phát triển Côngtác đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý của các Sở, Ngành, các doanh nghiệptrên địa bàn Tỉnh được chú trọng Hàng năm, Sở KH&CN đã phối hợp vớicác cơ quan chuyên môn, trường nghiệp vụ của Trung ương tổ chức trên 10lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và các hội thảo, hội nghị phổ biến kiến thức,phổ biến các văn bản pháp quy về KH&CN cho khoảng trên 1.000 lượt cán

bộ về các lĩnh vực: quản lý công nghệ, chuyển giao công nghệ [3, tr.38].Những thành thành tựu phát triển KT-XH của Tỉnh có sự đóng góp đáng kểcủa xây dựng nguồn nhân lực CLC Xây dựng nguồn nhân lực CLC trong các

cơ quan, tổ chức KH&CN được đẩy mạnh Tỉnh có 07 đơn vị sự nghiệpKH&CN và một số đơn vị quản lý nhà nước có hoạt động nghiên cứu khoahọc, hầu hết đều ở quy mô nhỏ, trực thuộc một số ngành chuyên môn [3, tr.37]

Ba là, nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh đã được hình thành, phát triển, bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của Tỉnh Năm 2010, tỷ lệ

lao động được đào tạo là 48% (trong đó lao động được đào tạo nghề chiếm

38%), số người có trình độ đại học là 42.358 người; trên đại học 706 người,

trong đó 39 người là Tiến sĩ Trong ngành nông lâm thuỷ sản có 820 người cótrình độ đại học, ngành công nghiệp và xây dựng có 84 người là Thạc sĩ,16.639 tốt nghiệp đại học và trong lĩnh vực dịch vụ có 35 Tiến sĩ, 577 Thạc sĩvà 25.115 người có trình độ đại học làm việc [3, tr 38]

Độ tuổi trí thức của Quảng Ninh những năm gần đây đã được trẻ hoá

Số trí thức có độ tuổi dưới 35 tuổi chiếm 37,3%, từ 35 đến 45 tuổi, chiếm34,5%; 45 tuổi trở lên chiếm 28,2% Số người có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ vàtương đương phần lớn ở độ tuổi từ 40-50 tuổi Tỷ lệ chênh lệch giữa nam và

nữ không lớn (nam chiếm 58,2% trong tổng số 21.871 trí thức) [6, tr.2] Năm

2010, tổng số lao động của Quảng Ninh là gần 352.489 người Trong đó, sơ

Trang 39

cấp 57.079 người; công nhân kỹ thuật không có bằng trên 153.228; công nhân

kỹ thuật có bằng 56.620; trung cấp, cao đẳng chuyên nghiệp 42.498; đại học42.538; trên đại học 706 người, trong đó Tiến sĩ là 39 người (0,11%), Thạc sĩ

543 người và sau đại học khác là 163 người Năm 2011, lao động có trình độđại học chiếm 4,75%, trên đại học 0,04%, cao đẳng 2,58%, trung cấp chuyênnghiệp 6,02%, công nhân kỹ thuật có bằng hoặc chứng chỉ chiếm 55,5%.Hàng năm đào tạo mới trên 30.000 sinh viên đại học, cao đẳng, trung họcchuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật Hiện tại ngành than có số lượng đạt trình

độ cao đẳng, đại học khoảng 19.500 người (chiếm hơn 15% lực lượng laođộng của ngành), đạt trình độ trên đại học là 135 người, trong đó có hàngchục người có trình độ tiến sĩ [3, tr 40]

Bốn là, xây dựng nguồn nhân lực CLC đã có những đóng góp quan trọng cho phát triển KT-XH của tỉnh Quảng Ninh Xây dựng nguồn nhân lực,

nguồn nhân lực CLC đã góp phần quan trọng phát triển KT-XH tỉnh QuảngNinh Đến nay, Quảng Ninh có 11 KCN được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Trong đó có 3 khu đang hoạt động được lấp đầy với mức độ khác nhau(KCN Cái Lân 100%; KCN Việt Hưng khoảng 6%), 3 khu đang trong quátrình xây dựng cơ sở hạ tầng, 5 khu chưa lập quy hoạch [3, tr.30] QuảngNinh có 4 KKT Trong đó: KKT biển Vân Đồn có kế hoạch trở thành trungtâm du lịch, sinh thái cao cấp, nghỉ dưỡng cao cấp, có casino, giải trí gia đình,

có kế hoạch xây dựng sân bay Vân Đồn, sản xuất nông lâm, ngư nghiệp, côngnghệ sạch, vận tải; KKT cửa khẩu Móng Cái có kế hoạch trở thành trung tâmkinh tế, thương mại, du lịch và dịch vụ phục vụ vùng trung du phía Bắc, vànhđai kinh tế vịnh Bắc Bộ, làm cơ sở trung chuyển hàng hóa giữa ASEAN -Trung Quốc và Việt Nam - Đông Bắc Á; KKT Móng Cái có thể kết hợp vớiKCN Hải Hà để tiến hành sản xuất và xuất khẩu hàng hóa; KKT cửa khẩuBắc Phong Sinh tập trung phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch KKT cửakhẩu Hoành Mô - Đồng Văn có kế hoạch trở thành KKT khu vực cho các

Trang 40

hoạt động văn hóa, thương mại và du lịch, sản xuất phụ trợ như chế biến nôngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

Nguồn nhân lực CLC đã góp phần phát triển cơ sở hạ tầng viễn thôngvà Internet theo hướng hiện đại; nâng cấp mạng thông tin, truyền hình, cápquang, đổi mới hệ thống chuyển mạch; công nghệ đa dịch vụ…Các ngànhđiện, cơ khí chế biến, chế tạo cũng đã có nhiều đổi mới về công nghệ, tạo ranhiều sản phẩm có giá trị phục vụ nội địa và xuất khẩu Một số doanh nghiệp

đã xây dựng, phát triển và tiếp tục bảo vệ được các thương hiệu mạnh trên thịtrường như: Công ty Cổ phần VIGLACERA Hạ Long, Công ty Xi măng LamThạch, Công ty Cổ phần chế tạo máy VINACOMIN, Công ty TNHH mộtthành viên Thương mại Dịch vụ và Nước giải khát Quảng Ninh, Công tyNước khoáng Quang Hanh, Công ty Gốm sứ Quang Vinh… Tỉnh đã xây dựngChương trình phát triển thương hiệu cho các nông sản phục vụ hội nhập kinhtế quốc tế Hiện đã có 02 sản phẩm là Ba Kích - Ba Chẽ, Hoa - Hoành Bồ

được đăng ký “nhãn hiệu” nông sản; đang tiếp tục hướng dẫn nhiều đơn vị

trên địa bàn Tỉnh đăng ký thương hiệu sản phẩm như: Chè Hải Hà, Sá sùngVân Đồn, Gà Tiên Yên,… Năm 2010-2011, Tỉnh đã hỗ trợ xây dựng xác lậpquyền sở hữu công nghiệp cho 34 đối tượng sở hữu công nghiệp với tổng kinhphí hỗ trợ là 728 triệu đồng [3, tr.33]

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân giai đoạn 2005–2010 là14,5%/năm, năm 2011 tăng 10,2% và năm 2012 tăng 3,1% Đã hình thànhmột số trung tâm công nghiệp: nhiệt điện với 5 nhà máy, tổng công suất 5.380MW; trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng với 4 nhà máy xi măng công suấtlên 8,5 triệu tấn/năm, các nhà máy sản xuất gạch, ngói CLC; trung tâm côngnghiệp đóng tàu Năm 2011, công nghiệp của Tỉnh chiếm gần 19,8% giá trịsản xuất công nghiệp, doanh nghiệp FDI chiếm 15,3%, doanh nghiệp Trungương chiến 64,8% [3, tr.33]

Các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn Tỉnh đã chủ động triểnkhai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành, tạo chuyển

Ngày đăng: 01/10/2016, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (1993): Ảnh hưởng của văn hoá đối với việc phát huy nguồn lực con người, Tạp chí Triết học, số 1-1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hoá đối với việc phát huynguồn lực con người
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dùng trong các trường đại học và cao đẳng), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
3. Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quảng Ninh, tháng 10 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnhQuảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
4. Báo cáo Tình hình KT-XH và công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh năm 2014; kế hoạch phát triển KT-XH năm 2015 (tài liệu UBND tỉnh báo cáo tại kỳ họp thứ 18 - HĐND tỉnh khóa XII), số: 189/BC - UBND, Quảng Ninh, ngày 28/11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình KT-XH và công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnhnăm 2014; kế hoạch phát triển KT-XH năm 2015
5. Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quảng Ninh, tháng 10/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ninhđến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
6. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Đội ngũ trí thức tỉnh Quảng Ninh - Thực trạng và giải pháp, Quảng Ninh, tháng 11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ trí thức tỉnh Quảng Ninh - Thực trạngvà giải pháp
7. Trần Xuân Cầu (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Xuân Cầu
Nhà XB: Nxb Đại họcKinh tế quốc dân
Năm: 2008
8. Chính phủ (2008), Nghị quyết ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết ban hành Chương trình hành động củaChính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
9. Mai Quốc Chánh (chủ biên, 1999): Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nxb.CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhânlực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
Nhà XB: Nxb.CTQG
10. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), "Nguồn nhân lực và phát triển", Tạp chí Giáo dục lý luận, số 4-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực và phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1995
11. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2003
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấphành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2008
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
15. Phạm Văn Đồng (2008), Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu tương lai của dân tộc, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu tương laicủa dân tộc
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2008
16. Nguyễn Văn Hạ (1996), Nâng cao tính tích cực xã hội của người lao động Việt Nam trong quá trình đổi mới, Tóm tắt luận án PTS triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tính tích cực xã hội của người lao độngViệt Nam trong quá trình đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Hạ
Năm: 1996
17. Phạm Minh Hạc (chủ biên, 1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệpCNH, HĐH đất nước
Nhà XB: Nxb CTQG
18. Phạm Minh Hạc (2008), “Phát triển con người, nguồn nhân lực- quan niệm và chính sách”, Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, tập 1, (Lưu hành nội bộ), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người, nguồn nhân lực- quan niệmvà chính sách”," Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tìnhhình hiện nay, tập 1, (Lưu hành nội bộ)
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2008
19. Đinh Sơn Hùng, Trần Gia Trung Đỉnh (2011), “Tổng quan lý luận về nguồn nhân lực CLC”, Hội thảo khoa học, “Phát triển nguồn nhân lực CLC – Nhu cầu cấp bách”, Thành phố Hồ Chí Minh tháng 9/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan lý luận vềnguồn nhân lực CLC”, Hội thảo khoa học, “"Phát triển nguồn nhânlực CLC – Nhu cầu cấp bách
Tác giả: Đinh Sơn Hùng, Trần Gia Trung Đỉnh
Năm: 2011
20. Lê Quang Hùng (2011), “Phát triển nhân lực CLC ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Chiến lược phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực CLC ở vùng kinh tế trọngđiểm miền Trung”, "Luận án tiến sĩ kinh tế
Tác giả: Lê Quang Hùng
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Bảng: Lực lượng lao động theo trình độ đào tạo giai đoạn 2001-2013 - LUẬN văn THẠC sĩ CHUYÊN NGHÀNH   xây DỰNG NGUỒN NHÂN lực CHẤT LƯỢNG CAO ở TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY
4. Bảng: Lực lượng lao động theo trình độ đào tạo giai đoạn 2001-2013 (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w