Trong cuộc sống, để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập. Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng đảm bảo chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định. Đó là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất hoặc giảm việc làm.v.v. Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người không phải lúc nào cũng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội.v.v.
Trang 1Thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ
ở các khu công nghiệp tỉnh đồng nai hiện nay
CHUYấN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Trang 2An sinh xã hội ASXHBảo hiểm thất nghiệp BHTN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC
HIỆN AN SINH XÃ HỘI CHO CÔNG NHÂN NỮ Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 111.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về an sinh xã hội và thực hiện
an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp
1.2 Thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu
công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay - thực trạng, nguyên
Chương 2 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI CHO CÔNG NHÂN NỮ Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
2.1 Các nhân tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng thực
hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp
2.2 Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng thực hiện an
sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phảilao động sản xuất để có thu nhập Tuy vậy, không phải lúc nào người lao độngcũng đảm bảo chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổnđịnh Đó là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫnđến bị mất hoặc giảm việc làm.v.v Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất củacon người không phải lúc nào cũng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điềukiện tự nhiên, môi trường, xã hội.v.v Vì thế, sự cần thiết phải có các biệnpháp phòng tránh và khắc phục rủi ro đã trở thành một nhu cầu của con người.Đặc biệt trong nền sản xuất công nghiệp, khi mà số lượng người lao động cóthu nhập chính từ tiền lương tăng lên thì sự hẫng hụt về thu nhập trong cáctrường hợp gặp rủi ro hoặc khi không còn khả năng lao động.v.v càng trởthành mối đe dọa đối với cuộc sống của họ
Đất nước ta hiện nay đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Sự pháttriển kinh tế thị trường đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc vềkinh tế - xã hội Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng tiến bộ, thu nhập bình quân của người lao động ngày càng cao, đờisống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt Bên cạnh, nhữngthành công đó, nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn thách thức Đó
là tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm của người lao động còn kháphổ biến, khoảng cách thu nhập giữa người lao động, giữa các vùng vẫn chưađược thu hẹp, tình trạng đói nghèo và tái nghèo vẫn chưa được giải quyết mộtcách bền vững, phân hoá xã hội ngày càng phức tạp Do đó, ASXH đối vớingười công nhân vẫn còn nhiều khó khăn
Tỉnh Đồng Nai có vị trí địa lý, chính trị, kinh tế khá quan trọng, nằm ởcửa ngõ thành phố Hồ Chí Minh, điều kiện tự nhiên thuận lợi, đồng thời tỉnh
Trang 5cũng đã có những chính sách ưu đãi “trải thảm đỏ”, khuyến khích hợp lý nên
đã thu hút được nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư, khiến cho tỉnhĐồng Nai trở một vùng kinh tế trọng điểm, phát triển năng động của phía Namcũng như của đất nước Từ đó, đội ngũ công nhân KCN tỉnh Đồng Nai có sựphát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng; có nhiều đóng góp to lớn vào sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung Thời gian qua, tỉnh Đồng Nai đã thực hiện khá tốt ASXH, tạo điều kiệncho công nhân nói chung và công nhân nữ nói riêng hoàn thành tốt nhiệm vụcủa mình Tuy nhiên hiện nay, đội ngũ công nhân tỉnh Đồng Nai nói chung,công nhân nữ KCN nói riêng đang phải đối mặt với nhiều rủi ro, khó khăn,thách thức Đó là tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm diễn ra thườngxuyên do chưa qua đào tạo nghề hoặc bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nghiệp vụnên chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển sản xuất; tình trạng bị bóc lột quá mức
và thực hiện không nghiêm các chế độ, chính sách của các chủ sở hữu laođộng, do đó công nhân phải đối mặt với các tai nạn rủi ro trong quá trình laođộng; mắc các bệnh nghề nghiệp và các tệ nạn xã hội; tình trạng thiếu nhà ởcho người công nhân lao động, nhà trẻ, trường học cho con em công nhân đangdiễn ra phổ biến… Họ còn bị phân biệt đối xử trong khi tham gia lao động sovới nam giới Chẳng hạn lao động nữ thường bị trả lương thấp hơn so với laođộng nam Ngoài ra, công nhân nữ còn phải nghỉ để sinh con, chăm sóc connhỏ và làm tất cả các công việc gia đình mà không có chế độ hỗ trợ Việc đápứng các nhu cầu cho phụ nữ như: y tế, giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản,dịch vụ pháp lý… còn rất hạn chế Điều này tạo ra khó khăn cho lao động nữKCN tỉnh Đồng Nai trong việc tiếp cận và được hưởng các chế độ ASXH
Trang 6Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm luận văn
tốt nghiệp cao học
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu vềnhững vấn đề có liên quan đến ASXH Có thể nêu lên một số công trình sau:
* Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về an sinh xã hội
Ở nước ta, những năm đầu của quá trình đổi mới, có một số nghiên cứuliên quan đến vấn đề ASXH, trong đó trực tiếp là đề tài cấp nhà nước mang
mã số KX 04-05: “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện cácchính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, do viện Khoa học laođộng và các vấn đề xã hội, thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơquan chủ trì đề tài Kết quả nghiên cứu của Đề tài đã đề cập đến một cách khá
hệ thống vấn đề bảo đảm xã hội như: đã làm rõ khái niệm về bảo đảm xã hội;mối quan hệ giữa bảo đảm xã hội với các chính sách xã hội, vị trí, vai trò và
sự cấn thiết khách quan của bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trường,khẳng định bảo đảm xã hội vừa là nhân tố ổn định, vừa là động lực cho pháttriển kinh tế xã hội Đề tài đã nghiên cứu khá công phu về các bộ phận cấuthành quan trọng của bảo đảm xã hội là bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, ưuđãi xã hội; đã đánh giá thực trạng của các bộ phận cấu thành này, chỉ ranhững thành tựu, hạn chế của nó và chỉ ra quan điểm, phương hướng và giảipháp phát triển trong tương lai của hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta
Ngoài ra còn có các công trình khoa học và sách chuyên khảo của:
GS Bùi Đình Thanh (2000), “Xã hội học và chính sách xã hội” - Nxb
Khoa học xã hội
Trang 7Nguyễn Thị Hằng (2000), “Chính sách lao động và thương binh xã hội trong công cuộc đổi mới” - Nxb Lao động xã hội.
TS Lê Chi Mai (2001), “Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách” - Nxb Đại học Quốc gia TP HCM.
PGS,TS Bùi Thế Cường (2002) “Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90” - Nxb Khoa học xã hội.
Trường Đại học Lao động xã hội (2004), “Các bài giảng ưu đãi xã hội, bảo hiểm xã hội, công tác xã hội” - Nxb Lao động xã hội
Phạm Văn Bích (2005), “An sinh xã hội qua tổng quan một số tài liệu”,
Trịnh Duy Luân (2006) “Góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội
tổng thể ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, ( số1, số 93)
TS Mai Ngọc Cường (chủ biên) (2009) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam của, Nxb CTQG, Hà Nội
TS Nguyễn Hữu Dũng (2012) Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng
và thực hiện hệ thống chính sách an sinh xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội
Trang 8Nguyễn Trọng Đàm, “Vấn đề cấu trúc, mô hình và cách vận hành các trụ
cột của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (số
860 tháng 6/2014, tr.56)
Trong những công trình, bài báo khoa học này, các tác giả đã đề cập đếnlịch sử ra đời quan điểm, chính sách ASXH, vai trò của ASXH, khái niệmASXH, bản chất, nội dung, đối tượng được tiếp cận và chủ thể thực hiệnASXH ở nước ta
* Nhóm các công trình nghiên về thực hiện ASXH và công tác bảo đảm ASXH
Đặng Cảnh Khanh (1994), Vấn đề trợ giúp xã hội trong chính sách bảo đảm xã hội ở Việt Nam, đề tài KX 04- 05
Nguyễn Văn Định (2000), Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, đề tài cấp Bộ năm 2000.
Mai Ngọc Cường (2001), Vấn đề đổi mới bảo hiểm xã hội, Chương VIII.
Sách Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Bùi Văn Hồng (2002), Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia BHXH đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập, đề tài cấp Bộ năm 2002 Nguyễn Tiệp (2002), Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hoá công tác trợ giúp xã hội, đề tài cấp Bộ năm 2002.
Mai Ngọc Cường (2006), Chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm CHLB Đức và thực tiễn Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà nội.
Nguyễn Hải Hữu (2006), Phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chuyên đề 8.
Đánh giá 20 năm đổi mới, Viện khoa học xã hội việt Nam
Đinh Công Tuấn (chủ biên) (2008) “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội.
Trang 9Mai Ngọc Anh (2010), An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội.
Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thuý Hương (2011), Pháp luật An sinh xã hội Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam của, Nxb CTQG, Hà Nội
-TS Nguyễn Văn Nhường và Nguyễn Thành Độ (2011), Bàn về chính
sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các
khu công nghiệp - qua nghiên cứu ở tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Cộng sản, (số 823
tháng 7/2011, tr.46)
TS Lưu Ngọc Khải (chủ nhiệm) (2011), Nội dung, phương thức vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về an sinh xã hội trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học ở Học viện Chính trị hiện nay, Đề tài cấp học viện.
TS Mai Ngọc Cường (2012), An sinh xã hội với dân cư nông thôn - hiện trạng và giải pháp, Nxb CTQG, Hà Nội
Đàm Hữu Đắc (3-2011), “Xây dựng và phát triển nghề công tác xã hội
chuyên nghiệp ở nước ta” của Tạp chí Cộng sản, (Số 821).
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (2010) “Bảo đảm ngày càng tốthơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020”, Báo Nhân dân, (Số 20135), tr3.
PGS,TS Phạm Xuân Hảo “An sinh xã hội - nội dung quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục
lý luận chính trị quân sự, (Số 1), năm 2012.
Tóm lại, các công trình khoa học trên đã đề cập vấn đề ASXH ở nhiều
chiều cạnh khác nhau, trong đó tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau:Khẳng định ASXH là vấn đề xã hội phức tạp, mang tính toàn cầu liênquan đến sự ổn định, phát triển bền vững của tất cả các quốc gia, đòi hỏi phảiphát huy tất cả các nguồn lực trong và ngoài nước, sự hợp tác giữa các quốcgia dân tộc để giải quyết có hiệu quả
Trang 10Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Nhà nước chínhsách ASXH ngày càng được mở rộng và hoàn thiện với nhiều tầng, nấc tiếntới bao phủ toàn xã hội và mọi người dân.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của đất nước,
sự tác động của biến đổi khí hậu và cả một hệ quả nặng nề do chiến tranh để lại,
vì thế đối tượng chính sách ASXH ở nước ta hiện nay còn nhiều, trong đó đángchú ý là người nông dân, thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công vớicách mạng Do vậy, để thực hiện tốt ASXH phải phát huy sức mạnh của cả hệthống chính trị, của các cấp, các ngành và toàn nhân dân tham gia
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chiến lược ASXH ở Việt Nam đến năm2020; phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội và tiến bộ xã hội
Kết quả nghiên cứu các công trình khoa học trên được tác giả kế thừa cóchọn lọc trong quá trình triển khai thực hiện đề tài Đồng thời khẳng định,hiện nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ
thống về “Thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp
ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn không trùng lặp
với các luận văn, luận án và công trình khoa học đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiệnASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai, tác giả đề xuất một sốyêu cầu và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng thực hiện ASXH chocông nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay
*Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về ASXH và thực hiện ASXH chocông nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay
Đánh giá thực trạng thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnhĐồng Nai hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó
Trang 11Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng thựchiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát thực trạng thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở cácKCN tỉnh Đồng Nai hiện nay, trong đó tập trung vào các KCN điển hình như: BiênHòa 1, 2; AMATA; Tam Phước Các số liệu khảo sát tính từ năm 2009 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận: là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử
* Phương pháp nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương phápnghiên cứu khoa học, cụ thể như: lô gíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh,thống kê, điều tra xã hội học… để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài đặt ra
6 Ý nghĩa của đề tài
Với việc làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất một số giảipháp nâng cao chất lượng thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnhĐồng Nai hiện nay, luận văn góp phần vào việc đưa ra những cơ sở khoa học đểcác cấp lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Nai tham khảo, vận dụng trong lãnh đạo,chỉ đạo và đưa ra những quyết sách nhằm thực hiện tốt ASXH cho công nhân
nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai hiện nay
Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạymột số chủ đề của các bộ môn có liên quan
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, kiến nghị, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN
AN SINH XÃ HỘI CHO CÔNG NHÂN NỮ Ở CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về an sinh xã hội và thực hiện an sinh
xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về an sinh xã hội
* Khái quát sự ra đời của an sinh xã hội
Phải lo xa, đề phòng trước những khó khăn trong tương lai nên từ xa xưavới câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” thì con ngườiluôn phải chủ động tích trữ thóc gạo phòng khi đói, tích trữ y phục phòng khirét nên trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắcphục và luôn nhận được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sựtương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khácnhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ýthức và công việc xã hội của các nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau.Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng côngnghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển
Điểm mốc đánh dấu sự hình thành ASXH là cuộc cách mạng công nghiệp ởthế kỷ thứ XIX Cuộc cách mạng này đã khiến cuộc sống của NLĐ phụ thuộc chủyếu vào thu nhập do bán sức lao động đem lại Chính vì vậy sự hẫng hụt về tiềnlương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc do tuổigià sức yếu v.v … đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường củanhững người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương Sự bắt buộcphải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làmcông ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái(lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và nhà nướcphải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ
Trang 13Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau vàyêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnhtật Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp Lúc đầu chỉ có giới thợtham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi
ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này
là BHXH) đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ ngườilao động đóng góp mà giới chủ và nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ củamình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõnét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khoẻ - người yếu
mà tất cả đều phải tham gia đóng góp
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước MỹLatinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sauchiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành đượcđộc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê Ngoài BHXH, các hình thứctruyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡnhững người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàntật, trẻ em mồ côi, người góa bụa và những người không may gặp rủi ro vìthiên tai, hỏa hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dựphòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệtrẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức,chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau Hệ thống ASXHđược hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ởtừng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính.Vào thời điểm đó, tuy Mác - Ăngghen chưa đưa ra một quan niệm hoànchỉnh về ASXH, nhưng trong tư tưởng của Mác - Ăngghen, đặc biệt là lý luậncủa các ông về xã hội, xã hội chủ nghĩa đã thể hiện đậm nét quyền con người,tính nhân đạo, nhân văn, tính công khai, dân chủ và công bằng xã hội trong
Trang 14chế độ xã hội và các ông đã khẳng định: “Những người cộng sản có thể tómtắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa chế độ tư hữu”[46 tr.605] Xóa bỏ chế độ tư hữu ở đây chính là xóa bỏ sự áp bức bóc lột bấtcông của chế độ người bóc lột người; xây dựng một xã hội ấm no, tự do, hạnhphúc, một xã hội mà “nguyên tắc cơ bản là mọi cá nhân đều được phát triểnđầy đủ và tự do“[46 tr.835] Đó chính là cơ sở lý luận cơ bản để nói lên bảnchất của ASXH sau này.
Đến V.I Lênin và Hồ Chí Minh đã là những người bắt tay xây dựng xãhội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa thì trong tư tưởng cũng như quan điểm,đường lối, mô hình xây dựng CNXH của các ông đều đề cập đến bảo đảm xãhội và công bằng xã hội Theo Lê nin: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toànthể nhân loại là công nhân, là người lao động”[44 tr.430] Trong hai quy luật
cơ bản quyết định sự vận động, phát triển của xã hội loài người (quy luật quan
hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quyluật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng), suy cho cùng là do lựclượng sản xuất quyết định Trong đó, yếu tố con người là yếu tố năng độngnhất quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Cho nên, khi phát huyđược nhân tố con người - nhân dân lao động sẽ tác động đến nhân tố cộinguồn của động lực cách mạng thúc đẩy tiến bộ xã hội
Trên nền tảng quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin về ASXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: chính sách an sinh xã hội làchăm lo cho các tầng lớp nhân dân từ nông dân, công nhân, thương nhân,công chức, binh lính đến thanh niên, trẻ em, phụ nữ và những người yếu thếtrong xã hội như người tàn tật, ốm đau, người già, trẻ nhỏ Sau lễ Tuyên bốđộc lập, Người đề xuất “Sáu việc lớn cần làm ngay” như một chương trìnhhành động của Chính phủ lâm thời Trong đó: “Chống giặc đói; Chống giặcdốt;…thuế thân, thuế chợ, thuế đò là một lối bóc lột vô nhân đạo, phải bỏngay ba thứ thuế ấy và tuyệt đối cấm hút thuốc phiện”[48 tr.7-9]
Trang 15-Năm 1946, sau 4 ngày Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phátbiểu: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì
tự do độc lập cũng chẳng làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ Chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làmcho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành” [48 tr.152]Người khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm saocho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Câu nói này đã toát lên triết lý về
an sinh xã hội của Hồ Chủ tịch
Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luậtnăm 1935 ở Mỹ Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ
tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng.Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao độngQuốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế An sinh
xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người.Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hộiđồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết:
“Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH.Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cầncho nhân cách và sự tự do phát triển con người…” Ngày 25/6/1952, Hội nghịtoàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXHtrong đó xác định 9 bộ phận cấu thành của an sinh xã hội gồm: (I) Hệ thống chămsóc y tế; (II) Hệ thống trợ cấp ốm đau; (III) Trợ cấp thất nghiệp; (IV) Hệ thống trợcấp tuổi già; (V) Trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; (VI) Trợ cấpgia đình; (VII) Trợ cấp thai sản; (VIII) Hệ thống trợ cấp cho tình trạng không tựchăm sóc được bản thân (trợ cấp tàn tật); (IX) Trợ cấp tiền tuất
Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm 70thế kỷ XX trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả
Trang 16Sài Gòn Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn Vào đầu nhữngnăm 90 thế kỷ XX trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn.
An sinh xã hội và chính sách xã hội Theo nghĩa chung, thông thường,
chính sách xã hội là sự tác động của Nhà nước vào các tầng lớp xã hội,nhằm điều hoà lợi ích xã hội, quan hệ xã hội để ổn định hoàn cảnh sống củacác cá nhân thuộc các tầng lớp trong xã hội Những bảo trợ xã hội mà xã hộidành cho các thành viên của mình, suy đến cùng cũng nhằm mục đích ổnđịnh hoàn cảnh sống của các cá nhân thuộc các tầng lớp trong xã hội Do đó,
ASXH là một “bộ phận”, “nội dung” của chính sách xã hội
* Quan niệm an sinh xã hội
Cho đến nay, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nên giới nghiên cứu lýluận, cũng như những nhà chỉ đạo thực tiễn hiện có nhiều cách hiểu về ASXH.Theo tiếng Anh, ASXH thường được gọi là Social Security và khi dịch
ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xãhội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩakhông hoàn toàn tương đồng nhau
Theo nghĩa chung nhất, ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền của conngười được sống trong hoà bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phátbiểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trướcpháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập đểthoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi gặp rủi ro, tai nạn, tuổi già Theo nghĩa hẹp ASXH được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điềukiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảmhoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm;cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những ngườinghèo đói và những người bị thiên tai, địch họa
Tiếp cận quan niệm ASXH theo nghĩa hẹp, trong Công ước 102 của Tổ
chức Lao động quốc tế định nghĩa:“An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối
Trang 17với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công nhằm chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong, sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả sự cung cấp các khoản tiền trợ cấp cho các gia đình đông con”.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đã xác định, tác giả tiếp cận nghiên cứuASXH theo nghĩa này
Qua khái niệm trên cho thấy, về mặt bản chất, ASXH là vấn đề mangtính xã hội và tính nhân văn sâu sắc Bởi lẽ, nó tạo ra sự “an sinh” cho mọithành viên, góp phần bảo đảm đời sống và thu nhập cho mọi người trong xãhội với phương thức hoạt động chủ yếu là thông qua các biện pháp công Xét
về mô hình: ASXH bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp
ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất.Đây là mô hình ASXH tương đối phổ biến được hầu hết các quốc gia trên thếgiới trong đó có Việt Nam thừa nhận Tuy nhiên, việc thực hiện đầy đủ cácchế độ an sinh trên còn tùy thuộc vào nhu cầu bức thiết, điều kiện kinh tế - xãhội của mỗi quốc gia, nhưng theo xu hướng chung trên thế giới, ASXH sẽ mởrộng dần về quy mô và chất lượng thực hiện của từng chế độ
Bên cạnh khái niệm trên, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhàkhoa học đưa ra những khái niệm rộng - hẹp khác nhau về ASXH, chẳng hạn:Theo H Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879-1963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảođảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa
Trong cuốn “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam” tập I cũng đã thốngnhất khái niệm về an sinh xã hội (Social Security) là: “Sự bảo vệ của xã hộiđối với công dân thông qua các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phụcnhững khó khăn về kinh tế và xã hội; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợcấp cho các gia đình đông con ”
Trang 18Theo PGS TS Đỗ Minh Cương thì ASXH (bảo đảm xã hội): “ là sựbảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, trước hết là trongnhững trường hợp túng thiếu về kinh tế và xã hội, bị mất hoặc giảm sút thunhập đáng kể do gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, tàn tật, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, nghỉ do thai sản, về già,trong các trường hợp thiệt hại do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn Đồng thời, xãhội cũng ưu đãi những thành viên của mình đã xả thân vì nước, vì dân, cónhững cống hiến đặc biệt cho cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mặtkhác cũng cứu vớt những thành viên lầm lỗi mắc vào tệ nạn xã hội nhằm phốihợp chặt chẽ với các chính sách xã hội khác đạt tới mục đích dân giàu, nướcmạnh, xã hội văn minh”.
Theo PGS Tương Lai thì: “Bảo đảm xã hội (an sinh xã hội) là một lĩnh vựcrộng lớn, không chỉ bao hàm sự bảo vệ của xã hội đối với mọi người khi gặp phảithiếu thốn về kinh tế, mà còn bảo đảm về môi trường thuận lợi để giúp mọi ngườiphát triển về giáo dục, văn hoá nhằm nâng cao trình độ dân trí, học vấn ”
Như vậy, có thể thấy rằng ASXH là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp khó
có thể đưa ra một định nghĩa đáp ứng được tất cả các nội dung trong điều kiệnkinh tế, xã hội, chính trị, truyền thống dân tộc, tôn giáo ở mỗi nước khác nhauhoặc trong các giai đoạn lịch sử ở từng nước Theo cách hiểu phổ biến, ASXH
là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với những người “yếuthế” trong xã hội bằng cách tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất
cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải
những rủi ro khác ASXH tạo ra một “vỏ bọc” hay một “giá đỡ”, một “chiếc ô” che chở… nhằm bảo đảm cho một xã hội và mỗi con người (trong đó con
người được đặt ở vị trí trung tâm) sự bảo đảm về vật chất, tinh thần và cácdịch vụ xã hội… mà nhà nước, cộng đồng dân cư, nhóm người hay một tổchức (gồm các cá nhân, tập thể hay cộng đồng) tạo nên Nó mang đến chonhững đối tượng nghèo đói, yếu thế, gặp rủi ro bất thường về các nhu cầu cơbản khi họ phải đối diện với khó khăn, thách thức
Trang 19Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tác
giả luận văn quan niệm: An sinh xã hội là một bộ phận cơ bản trong chính sách
xã hội của nhà nước và cộng đồng nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong xã hội do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết, để bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội.
An sinh xã hội là những chế độ chính sách của nhà nước và cộng đồng đểgóp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội Phươngthức hoạt động của ASXH là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích củaASXH là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội trong mọi hoàncảnh Vì vậy, ASXH mang tính xã hội, tính nhân văn sâu sắc
* Bản chất của an sinh xã hội
Theo khái niệm an sinh xã hội ở trên, có thể thấy:
An sinh xã hội đó là sự bảo đảm của xã hội với các thành viên; là thể hiện quyền con người, tính nhân văn, nhân đạo và hướng tới tiến bộ, công bằng xã hội Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, những “rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập….
Bản chất của ASXH được thể hiện như sau:
Thứ nhất, ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp quốc và các quốc gia tiến bộ trên thế giới thừa nhận Mọi người sinh ra
đều có quyền sống, quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc… đó là quyền con ngườithiêng liêng, bất khả xâm phạm, nhưng không phải giai đoạn lịch sử nào vàchế độ nào cũng tôn trọng và bảo vệ quyền con người một cách thỏa đáng Vìquyền con người không thể cao hơn trạng thái phát triển kinh tế - văn hóa - xãhội Đồng thời, nó còn phụ thuộc có tính quyết định vào sự phát triển kinh tế
và chế độ chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia
Trang 20Do đó, ASXH là một chính sách hết sức nhân đạo để thực hiện quyềncon người đã được Liên hợp quốc và các quốc gia tiến bộ thừa nhận Để thấy
rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó Mục tiêu của ASXH là tạo
ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viêncủa cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phảităng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khácnhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những
“rủi ro xã hội” Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựatrên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thựchiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau
An sinh xã hội, như đã nêu, có nội dung rất rộng lớn, nhưng tập trungvào ba vấn đề chủ yếu:
- Một là, bảo hiểm xã hội - trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự bảo đảm ("BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH" (Điều 3 Luật BHXH)) Bảo hiểm xã hội là xương sống
của hệ thống ASXH Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt động có hiệu quảthì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH dựa trên sự đóng gópcủa các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhànước trong một số trường hợp Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động
có được một khoản thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập
bị giảm hoặc mất trong những trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng laođộng hoặc mất việc làm
- Hai là, sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và
các thành viên gia đình họ, nhằm bảo đảm cho họ tái tạo được sức lao động,duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời phát triển mọi mặt cuộcsống của con người, kể cả phát triển bản thân con người
Trang 21- Ba là, các loại trợ giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật…) cho những
người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sựgiúp đỡ đặc biệt cho các gánh nặng gia đình… ASXH cũng khuyến khích,thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn,
ở, dịch vụ đi lại…
Hệ thống ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thaythế thu nhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là “nhữngchuyển giao xã hội”, tức là những công cụ, những biện pháp phân phối lại tiềnbạc, của cải và các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm người “yếu thế”hơn (hiểu một cách tương đối, biện chứng nhất) trong cộng đồng xã hội
Như vậy, bản chất của ASXH trước hết là nhằm thực hiện quyền conngười, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi
Thứ hai, ASXH là thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp của con người
và xã hội loài người.
Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khácnhau… là biểu hiện sự khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội Nhưng vượtlên trên tất cả, với tư cách là một công dân, họ phải được bảo đảm mọi mặt đểphát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội,chủng tộc, tôn giáo… An sinh xã hội tạo cho những người bất hạnh, nhữngngười kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điềukiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xãhội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng An sinh xã hội kích thíchtính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và ngườinghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp họ hướng tới những chuẩnmực của Chân - Thiện - Mỹ Nhờ đó, một mặt có thể chống thói ỷ lại vào xã hội;mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấyrạng”… An sinh xã hội là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người không phân biệtchính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp mọi người hướng
Trang 22tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, dân chủ vàtạo cơ hội cho mọi người cùng phát triển Do đó, ASXH là thể hiện chủ nghĩanhân đạo cao cả của con người và xã hội loài người An sinh xã hội còn thể hiệntruyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong nhữngnhân tố để ổn định và phát triển xã hội Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡnhững người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của conngười, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh.
Thứ ba, ASXH là thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội, trên bình diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội.
Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhậpgiữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang vàdọc Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữanhững người khoẻ mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người
đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình.Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóngthế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với cácđiều kiện xác định Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy
ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợpđóng” tương đối)
Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sứcmua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp,cho những nhóm người “yếu thế” Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiệnbằng nhiều kỹ thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thunhập và lợi nhuận…) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặccác dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em…).Việc phân phối lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn (thực hiện cho một
“tập hợp mở” tương đối)
Trang 23Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện phân phối lại theo chiều dọc còngặp nhiều khó khăn do điều kiện tài chính và tổ chức Song cũng có thể cómột số biện pháp để thực hiện một số chế độ cho những người có thu nhậpthấp thông qua hệ thống đóng góp và hệ thống trợ cấp Những người có thunhập thấp thường được miễn giảm chế độ đóng góp, hoặc được người chủ sửdụng lao động (kể cả Nhà nước) đóng cho hoàn toàn Hệ thống trợ cấp cũnglưu ý tới những người có thu nhập thấp (tỷ lệ trợ cấp cao hơn so với nhữngngười có thu nhập cao) Sự phân phối theo chiều ngang và theo chiều dọc đãtạo ra một lưới ASXH (social safety net hoặc social security net) để thực hiệncông bằng xã hội và tiến bộ xã hội không những thế, đến nay người ta đã ýthức được rằng, sự phát triển của xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tốkinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau Sự phát triển củathế giới trong những năm gần đây đặt ra mục tiêu là bảo đảm những cải thiệnnhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại những lợi ích cho mọi người;bảo đảm phân phối công bằng hơn về thu nhập và của cải, tiến tới công bằng xãhội; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cải thiện về thunhập giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường… Đáp ứngnhững nhu cầu tối cần thiết cho những người gặp khó khăn, bất hạnh là vấn đềđược ưu tiên trong chiến lược phát triển của các nước tiến bộ trên thế giới.Những lưới đầu tiên của ASXH đã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho họ Sựphát triển sau này của những lưới khác tạo ra sự đa dạng trong ASXH, giải quyếtđược những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người trong những trường hợp
“rủi ro xã hội” Bản chất của ASXH là tốt đẹp Tuy nhiên, phải thấy rằng ASXHbao giờ cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc Các giai cấp thống trị luôn sử dụngASXH như chiếc “van bảo hiểm” để làm giảm áp lực xã hội, thủ tiêu tinh thầnđấu tranh của giai cấp công nhân và cột chặt họ vào dây chuyền sản xuất côngnghiệp của chủ nghĩa tư bản bằng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT… để bóclột họ được nhiều hơn
Trang 24Tóm lại, dưới CNXH và bản chất tốt đẹp của mình ASXH luôn lấy conngười làm trung tâm, lấy cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao đời sống vậtchất tinh thần của người lao động làm mục đích, lấy nguyên tắc "Tất cả vì conngười, tất cả vì hạnh phúc con người" làm kim chỉ nam cho hành động Do
đó, ASXH dưới CNXH khác về chất so với ASXH của chủ nghĩa tư bản
* Về cấu trúc nội dung của hệ thống an sinh xã hội
Thực tế, khi phân tích về cấu trúc của hệ thống ASXH vẫn còn nhiều
cách tiếp cận và quan điểm khác nhau Theo quan điểm phổ biến của các tổ
chức quốc tế, thì một hệ thống ASXH phải có tối thiểu 3 hợp phần cơ bảntương ứng với 3 chức năng chính của ASXH, gồm:
Thứ nhất: các chính sách, chương trình mang tính chất phòng ngừa rủi ro.
Đây được coi là hợp phần trên cùng của hệ thống ASXH Chức năng của
những chính sách, chương trình này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ
dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, thu nhập, có đượcnăng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro Trụ cột cơ bản nhất
của hợp phần này là các chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng
cao kỹ năng cho người lao động
Thứ hai: các chính sách, chương trình mang tính chất giảm thiểu rủi ro.
Đây là hợp phần thứ hai, có vị trí đặc biệt quan trọng gồm các chiếnlược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống ASXH Nội dung quantrọng nhất trong hợp phần này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyêntắc đóng - hưởng như: BHXH, BHYT, BHTN.v.v Chính sách thuộc hợpphần này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực củangười dân, tiết kiệm nguồn lực nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống Ngượclại, nếu chính sách không phù hợp người dân sẽ không tham gia hoặc chínhsách bị lạm dụng
Thứ ba: các chính sách, chương trình mang tính chất khắc phục rủi ro
Trang 25Bao gồm các chính sách, chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội
(gồm cả trợ giúp xã hội đặc thù) Đây được coi là hợp phần cuối cùng của hệ
thống ASXH với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họgặp phải rủi ro mà bản thân họ không tự khắc phục được như: thất nghiệp,người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em
mồ côi, người nghèo Các chương trình trong hợp phần này thường là cứu trợ
xã hội và trợ giúp xã hội
* Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam hiện nay
Ngay từ năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chínhsách, tuy còn đơn lẻ, chưa thành hệ thống nhưng có ý nghĩa rất quan trọng vềASXH, đưa nước ta thoát khỏi tình thế hiểm nghèo…
Đến năm 1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta chủtrương đổi mới toàn diện đất nước, khơi dậy mọi nguồn lực, tiềm năng, thếmạnh trong nước để phát triển, tạo ra bước ngoặt cho sự phát triển hệ thốngASXH Từ đây, ASXH được quan tâm đầy đủ và có sự chuyển biến cơ bản vềchất Đảng ta xác định, ASXH là một bộ phận quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đảng phân tích sâu sắc mối quan hệbiện chứng giữa ASXH và phát triển kinh tế trong mặt thống nhất của pháttriển xã hội Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, một mặt đem lại sự tăngtrưởng nhanh về kinh tế, nhưng mặt trái của nó cũng đặt ra nhiều rủi ro chocon người trong cuộc sống Vì vậy, đảm bảo ASXH là điều kiện để đảm bảođịnh hướng XHCN cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường Xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN là đảm bảo những điều kiện thực hiệnASXH Do đó, trong mỗi chính sách phát triển kinh tế phải đảm bảo ASXH;các chính sách xã hội phải đặt ngang tầm với các chính sách kinh tế, gắn vớicác chương trình kinh tế - xã hội vì mục tiêu phát triển con người, phát huytối đa nguồn lực con người Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII chỉ rõ: “Mụctiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đềunhằm phát huy nhân tố con người, vì con người Kết hợp hài hòa giữa phát
Trang 26triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến
bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”[26, tr.219]
Từ nhận thức trên, quan điểm của Đảng về ASXH được phát triển mộtcách toàn diện hơn An sinh xã hội không chỉ gắn bó chặt chẽ với sự phát triểnkinh tế mà còn gắn liền với các lĩnh vực văn hóa, môi trường, cải thiện đờisống vật chất, tinh thần của nhân dân: “Tăng trưởng kinh tế đi liền với từngbước phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường… ”[26, tr.62].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và đặc biệt là Đại hội lần thứ
XI, quan điểm của Đảng về ASXH đã được bổ sung, phát triển sâu sắc vàhoàn thiện hơn Đảng xác định giải quyết tốt vấn đề ASXH một cách toàndiện, có hệ thống, trong từng bước, từng chính sách phát triển, ở cả phươngdiện vĩ mô, trên cả nước đến các vấn đề cụ thể, gắn với từng ngành, từng địaphương Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng nêu rõ: “Kết hợp chặt chẽ vàhợp lý các mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ởtừng lĩnh vực, từng địa phương [26, tr.102.] Đặc biệt, tại Đại hội lần thứ XI,Đảng ta xác định “phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòavới phát triển kinh tế” [27, tr.24] là một trong bảy định hướng chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội đất nước và việc cần làm là “hoàn thiện hệ thốngchính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ công cộng thích ứng với kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa” [27, tr.125]; “hoàn thiện hệ thốngchính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mụctiêu chính sách xã hội” [27, tr.124] nhằm “đảm bảo an sinh xã hội trong từngbước và từng chính sách phát triển” [27, tr.227]
Như vậy, ASXH là một trong những vấn đề xã hội quan trọng trong chủtrương, chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bảnchất ưu việt, tính nhân đạo, nhân văn của chế độ XHCN Thực hiện ASXH
Trang 27là một biện pháp quan trọng để bảo vệ và tạo điều kiện để con người pháttriển toàn diện Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nước ta còn tồn tại nhiềuhình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, do đó vẫn còn có sự khác biệt vềlợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Đặc biệt, trước tác động tiêucực từ mặt trái kinh tế thị trường dẫn đến tình trạng phân hoá giàu nghèongày càng tăng, tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng chưa được khắc phục…thìviệc thực hiện ASXH càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết Thực hiệntốt ASXH không chỉ góp phần ổn định xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng
xã hội mà còn tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống ASXH được xây dựng trên nguyên lýquản lý rủi ro, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơbản cho người dân, gồm 4 nhóm chính sách cơ bản sau đây:
Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo:nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia thịtrường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối thiểu và giảm nghèobền vững Nhóm này gồm các chính sách tạo việc làm thông qua các quỹ tíndụng ưu đãi hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm, chương trình việc làm; cácchính sách giảm nghèo
Nhóm chính sách BHXH: nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro khi bị
ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già…thông qua tham gia vào hệ thống BHXH
để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro trên.Nhóm này gồm có BHXH bắt buộc (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp, hưu trí, tử tuất); BHXH tự nguyện (hưu trí, tử tuất); Bảo hiểmthất nghiệp; BHYT bổ sung
Nhóm chính sách trợ giúp xã hội: bao gồm chính sách trợ giúp xã hộithường xuyên (chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội và cộng đồng hỗ trợ tiềnmặt) và trợ giúp xã hội đột xuất nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi
Trang 28ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, đói,nghèo kinh niên)
Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản nhằm tăng cường cho người dântiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục tối thiểu,
y tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch và thông tin truyền thông
1.1.2 Một số vấn đề về thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay
* Đặc điểm, tình hình tỉnh Đồng Nai và công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay
+ Đặc điểm, tình hình tỉnh Đồng Nai
- Về điều kiện tự nhiên:
Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước ta, có diện tích5.903,940 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diệntích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Đồng Nai có phía Đông giáp tỉnh BìnhThuận, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương
và Bình Phước, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây giáp Thành phố
Hồ Chí Minh Tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyếtmạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc
- Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời cóvai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên Dân số toàn tỉnh theo số liệuthống kê đầu năm 2013 là trên 2,7 triệu người, xếp thứ 5 cả nước, trong đó: dân sốkhu vực thành thị 33,23%, khu vực nông thôn 66,73%; mật độ dân số: 456,12người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,34% năm 2003 xuống còn 1,19%năm 2012 [1] Tỉnh có 11 đơn vị hành chính với 171 đơn vị xã, phường, thịtrấn, gồm thành phố Biên Hòa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, thị
xã Long Khánh và 9 huyện là Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu, Trảng Bom,Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc
- Về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội
Trang 29Đồng Nai là tỉnh có nhiều tiềm năng lớn, tốc độ kinh tế tăng trưởng cao,bình quân hàng năm là 13,2%/năm Thu nhập bình quân (GDP) đạt 29,6 triệuđồng/người/năm Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa Đến năm 2014 ngành công nghiệp xây dựng chiếm 58,2%; ngànhdịch vụ chiếm 35,1%; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 6,7% [66]Công tác xây dựng Đảng, kiện toàn hệ thống chính trị cũng đạt được một
số kết quả tích cực Theo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Đồng Nai Hàng năm phát triển
từ 400 - 500 đảng viên mới Phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng từng bướcđược đổi mới Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp của tỉnhngày càng có tiến bộ Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể nhân dân có nhiềuhoạt động phong phú, tạo được phong trào cách mạng thiết thực Quy chế dânchủ ở cơ sở bước đầu được xây dựng và thực hiện
Hoạt động văn hóa - xã hội ở Đồng Nai cũng có những điểm nổi bật Côngtác y tế có nhiều đổi mới tích cực Đảng bộ và chính quyền Đồng Nai đã và đangquan tâm đầy đủ đến việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe về mọi mặt cho nhân dân,tập trung vào các nội dung chủ yếu: chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chốngdịch bệnh, mở rộng mạng lưới y tế cơ sở, tăng cường khả năng điều trị của tuyếntrên đến tận vùng sâu, vùng xa Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển cả vềquy mô và chất lượng Mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đãđược mở rộng đến các địa bàn dân cư Các chính sách xã hội và bảo hiểm xã hộiđược quan tâm Phong trào thi đua “Người tốt việc tốt”, “Xây dựng nếp sốngvăn minh, gia đình văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ởkhu dân cư”… được triển khai có hiệu quả Công tác văn hóa - thông tin, báochí, xuất bản, văn học - nghệ thuật, thể dục thể thao… được quan tâm phát triển,góp phần tích cực vào xây dựng con người mới Đồng Nai
- Tình hình các khu công nghiệp của tỉnh
Đồng Nai là một trong những địa phương quy hoạch phát triển các KCNsớm nhất cả nước Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng
Trang 30Nai, ngay từ đầu những năm 1990, Đồng Nai đã quy hoạch 17 KCN, nhưng quaquy hoạch chi tiết thực tế đã chuẩn bị cho việc hình thành 23 KCN (do KCNNhơn Trạch 2.700 ha chia thành nhiều KCN nhỏ) Trong quá trình phát triển,Đồng Nai đã quy hoạch bổ sung KCN và đã được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt đến năm 2015 phát triển 36 KCN với tổng diện tích khoảng 12.057,77 ha.Trong năm 2014, có 33 dự án đi vào hoạt động; 06 dự án thông báongưng hoạt động; 02 dự án thông báo tiến hành thủ tục giải thể; 03 dự ánthông báo hoạt động trở lại; 09 dự án giải thể, xóa tên.
Tính đến nay, tại 31 KCN Đồng Nai đã có 40 quốc gia và vùng lãnh thổhoạt động đầu tư với tổng số 1.331 dự án và hơn 1.000 doanh nghiệp đi vàohoạt động, trong đó có 969 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu
tư 16.781,71 triệu USD, vốn thực hiện 12.039,99 triệu USD và 362 dự ántrong nước với tổng vốn đầu tư 43.019,09 tỷ đồng
Hiện trên địa bàn tỉnh đã có 16/31 KCN tập trung có tổ chức Đảng, với 82
tổ chức cơ sở Đảng, trên 4 nghìn đảng viên Ngoài ra, còn có 61 tổ chức Đảngtrong doanh nghiệp nằm ngoài KCN với trên 2.700 đảng viên
- Về tình hình đội ngũ công nhân nữ ở các khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai hiện nay
Theo số liệu báo cáo đến cuối năm 2014, tổng số lao động Việt Nam tạicác KCN Đồng Nai là 443.053 người Trung bình hàng năm, các KCN tạohơn 20.000 việc làm mới Trong đó, ngành dệt may và giày da là sử dụng laođộng nhiều nhất chiếm 54,5%
Trong các KCN tập trung, lao động nữ luôn chiếm tỷ lệ cao (61%), trong
đó lao động nữ nhập cư là 97,9%; độ tuổi từ 18 đến 35 chiếm chiếm 97,8% Tỷ
lệ lao động nữ đã kết hôn 73,4%, trong đó lao động nữ nhập cư là 71,7% và phầnlớn trong số đó đã có con (62,9%), lao động nữ nhập cư là 62,1%
Thành phần lao động rất đa dạng với nhiều trình độ khác nhau Lao động
có trình độ văn hóa tiểu học là 0,75%, THCS là 42,22%, THPT 36,23% Tỷ lệ
Trang 31lao động phổ thông và công nhân lao động có tay nghề nhưng chưa có bằngcấp 33,68%; có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 65,12% Lao động trực tiếp(chiếm 88,6%), lao động gián tiếp chỉ chiếm 11,4% Số lao động có thâm niên
từ 5 năm trở lên chiếm 69,2%, từ 11 năm trở lên chiếm 9,4% [13, tr.212].Phần lớn lao động tập trung làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài FDI (chiếm 92%)
Thu nhập bình quân của người lao động khoảng 3.623 triệu đồng/tháng;trong đó mức lương chính chiếm 80-85% thu nhập hàng tháng còn lại là thunhập làm thêm giờ, trợ cấp, tiền thưởng Hàng năm nhu cầu lao động cácKCN khoảng 15.000 đến 20.000 lao động [13, tr.210]
Phần lớn công nhân là lao động nhập cư (chiếm 60,4%) nên nhà ở cho côngnhân lao động và nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo cho con em công nhân lao động
ở các KCN vẫn là yêu cầu lớn Mặc dù tỉnh đã có Nghị quyết 09 - NQ/TU ngày16/6/2008 “Về một số giải pháp khuyền khích các thành phần kinh tế xây dựngnhà ở cho công nhân trên địa bàn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015”,một số ít doanh nghiệp bước đầu đã triển khai thực hiện nhưng vẫn chưa đápứng nhu cầu Phần lớn công nhân lao động (khoảng 95%) vẫn đang phải thuênhà ở trong các khu nhà trọ do tư nhân xây dựng xung quanh các KCN Thực tếtrên đòi hỏi các cấp, các ngành và tổ chức Công đoàn cần tiếp tục nghiên cứu và
có các hoạt động sát hợp với điều kiện sinh hoạt và nhu cầu của nữ CNLĐ, mộttrong những nhu cầu quan trọng chính là sức khỏe sinh sản của công nhân nữbởi đó không chỉ là chăm lo trực tiếp đến chất lượng lao động nữ hiện nay màcòn là bảo vệ nguồn nhân lực trong tương lai
Đồng Nai còn là một tỉnh có nhiều lợi thế về phát triển công nghiệp, dịch
vụ và nông nghiệp, cùng với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đườngsông khá thuận tiện và có nguồn nhân lực phong phú
Từ những lợi thế về điều kiện địa lý, cũng như có cơ sở hạ tầng đảm bảo,nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên khoáng sản phong phú, an ninh xã hội ổnđịnh, tỉnh Đồng Nai đã được Trung ương xác định là tỉnh cùng với thành phố
Trang 32Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu hợp thành tứ giácđộng lực, trọng điểm kinh tế của phía Nam đất nước.
Hiện nay, Đồng Nai là nơi thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài,
có nhiều KCN phát triển Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong nhữngnăm qua đạt ở mức cao, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện vềmọi mặt, tình hình an ninh chính trị ổn định
Một vấn đề đáng chú ý ở đây là: các doanh nghiệp ở KCN đều thuộcthành phần kinh tế ngoài Nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và lựclượng lớn lao động nữ ở đây đa phần đều là trẻ, nhập cư từ khắp mọi miền đấtnước Lao động nữ đang làm việc ở đây là một bộ phận quan trọng trong độingũ công nhân lao động tỉnh Đồng Nai hiện nay Tuy nhiên, họ đã và đangđối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những bất cập trong vấn
đề việc làm, tiền lương, thu nhập và điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, tổ chức cuộcsống gia đình
* Quan niệm về thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay
Thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay là tổng hợp các hoạt động để triển khai một cách đồng bộ, hệ thống các chính sách, chế độ
an sinh xã hội của Nhà nước và các chương trình, dự án của cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội để đảm bảo việc làm, đời sống và thu nhập cho đội ngũ công nhân nữ
ổn định và ngày càng nâng cao.
Mục đích của việc thực hiện ASXH cho công nhân nữ là tạo ra sự ổn địnhviệc làm, đời sống và thu nhập cho mọi công nhân nữ ở các KCN tỉnh ĐồngNai trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trang 33Nội dung thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Naihiện nay bao gồm: các chính sách, chế độ của Nhà nước và chương trình, dự
án của cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân để bảo đảm việc làm, thunhập và giảm nghèo; bảo hiểm xã hội, y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu; trợcấp thất nghiệp; trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động ; các dịch vụ xã hội: nhà ở, bệnh viện, nhàtrẻ, trường học, chợ cho công nhân nữ
Chủ thể tham gia thực hiện ASXH cho công nhân nữ ở các KCN tỉnhĐồng Nai là Nhà nước, chủ doanh nghiệp, công đoàn, các tổ chức chính trị - xãhội, các nhà hảo tâm Trong đó tổ chức công đoàn cơ sở ở các doanh nghiệp làngười trực tiếp thực hiện toàn bộ hoạt động ASXH cho công nhân nữ
Phương thức thực hiện ASXH cho công nhân nữ KCN tỉnh Đồng Naikhá đa dạng như: thông qua thực hiện chính sách, chế độ ASXH của Nhànước, các biện pháp công cộng của xã hội, chính sách của xí nghiệp, công ty
và thông qua xã hội hóa dưới hình thức tương trợ bằng tiền, hiện vật, phươngtiện nhằm mục đích trợ giúp công nhân nữ khi gặp phải những biến cố, rủi ro,khó khăn về kinh tế, về hòa nhập cộng đồng xã hội, góp phần đảm bảo nhữngđiều kiện cần thiết cho cuộc sống của họ và cao hơn là đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2 Thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay - thực trạng, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra
1.2.1 Thực trạng thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay
* Kết quả đạt được trong thực hiện an sinh xã hội cho công nhân nữ
ở các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai hiện nay
Những năm vừa qua, công tác thực hiện ASXH cho công nhân nữ KCNtỉnh Đồng Nai đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Hệ thống ASXH ngàycàng đồng bộ và hoàn thiện hơn Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân
Trang 34nữ KCN không ngừng được cải thiện An sinh xã hội đã trở thành chỗ dựavững chắc cho nhiều gia đình nữ công nhân nghèo và nhiều đối tượng dễ bị tổnthương ở KCN Các chính sách và giải pháp đảm bảo ASXH được triển khaiđồng bộ trên cả 3 phương diện: (1) Giúp người đối tượng thụ hưởng tăng khảnăng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợgiúp pháp lý, nhà ở, nước sinh hoạt; (2) Hỗ trợ phát triển sản xuất thông quacác chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm.v.v.; (3) Phát triển cơ
sở hạ tầng thiết yếu cho các địa phương để phục vụ đội ngũ công nhân nữ KCNcủa tỉnh tốt hơn Cụ thể:
- Thực hiện chính sách việc làm, đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo
Mục tiêu của các chính sách này nhằm chủ động hỗ trợ phụ nữ nâng cao
cơ hội tìm việc làm, tham gia thị trường lao động để có thu nhập, từng bướcbảo đảm thu nhập tối thiểu Các nhóm phụ nữ được hưởng lợi từ chính sáchnày gồm: nữ thanh niên mới bước vào thị trường lao động, thất nghiệp, thiếuviệc làm và cả những người đang có nhu cầu tìm việc làm tốt hơn
Trong những năm qua, với hệ thống chính sách về việc làm khá hoàn
chỉnh như: đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm, tăng cường khảo sát và khai
thác thị trường lao động; nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề; thực hiệncông tác kết nối giữa người lao động và doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả tổchức các phiên giao dịch việc làm định kỳ và lưu động; mở rộng mối quan hệvới các ngành, địa phương, công ty, xí nghiệp trong các KCN, khu chế xuất…,công tác giải quyết việc làm của tỉnh Đồng Nai có nhiều chuyển biến tích cực,
đã giúp cho nhiều lao động nữ tìm được việc làm phù hợp ở các KCN
Theo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai, năm 2013,tỉnh Đồng Nai đã giải quyết việc làm cho trên 92.000 lao động (đạt 102% kếhoạch); các trường trung cấp, cao đẳng đào tạo nghề cho gần 65.000 người(đạt 103% kế hoạch) Năm 2014, tỉnh Đồng Nai sẽ giải quyết việc làm chohơn 90.000 lao động; đào tạo nghề cho khoảng 10.000 lao động nông thôn,
Trang 35nâng tỷ lệ qua đào tạo nghề lên 62% Trong quý I năm 2015 các KCN ĐồngNai đã giải quyết việc làm cho 41.978 người (nữ 26.828 người).
Mức thu nhập bình quân của người lao động nói chung, bao gồm tiềnlương tối thiểu cộng với thu nhập làm thêm giờ, khoán sản phẩm tiền lương
và một số khoản phụ cấp khác như tiền nhà ở, phụ cấp đi lại bình quân từ3,4 - 4,2 triệu đồng/tháng Ngoài thu nhập ổn định, người lao động còn có cơhội học nghề trong môi trường làm việc hiện đại để nâng cao tay nghề, từ đó
có thể nâng cao thu nhập
Tính đến tháng 12/2012, toàn tỉnh có thêm 228 thỏa ước lao động tập thểđược ký kết đem lại nhiều lợi ích cho NLĐ, trong đó 27/27 doanh nghiệp nhànước (đạt chỉ tiêu nghị quyết); 346/601 doanh nghiệp nước ngoài và liêndoanh (đạt 57,57%) và 258/397 doanh nghiệp ngoài nhà nước (đạt 65,99%),chỉ tiêu chung khu vực ngoài quốc doanh là 80% [43, tr.187] Đến nay, cótrên 99% công nhân lao động nữ ở các doanh nghiệp có tổ chức công đoànđược ký hợp đồng lao động, trong đó có gần 90% là hợp đồng lao động khôngxác định thời hạn
- Các chính sách bảo hiểm xã hội
Trong những năm qua, việc thực hiện các chính sách BHXH cho côngnhân nữ ở các KCN tỉnh Đồng Nai được quan tâm, nhằm chia sẻ rủi ro vàtrợ giúp thiết thực cho những người tham gia Ngay khi có Nghị quyết 21của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tácBHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, BHXH tỉnh đã tham mưu Tỉnh ủy, Uỷban nhân dân ban hành các văn bản hướng dẫn và triển khai đồng bộ,nghiêm túc để công nhân các KCN tập trung, nhất là công nhân nữ hiểu rõ
về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tácBHXH, BHYT Đến nay, về cơ bản chính sách BHXH, BHYT đã đạt đượckết quả rất khả quan
Trang 36Theo Ban Quản lý các KCN Đồng Nai, hiện có 953/1.039 doanh nghiệpđang hoạt động tại 31 KCN thực hiện tốt việc đóng BHXH, BHYT, bảo hiểmthất nghiệp cho 262.438 lao động, đạt 86,56% trên tổng số lao động đã ký hợpđồng [4] Nhiều doanh nghiệp đang tích cực hoàn tất hồ sơ đóng BHXH,BHYT cho NLĐ, kể cả lao động ký hợp đồng từ ba tháng Công tác đóngBHXH, BHYT cho NLĐ của Công ty Taekwang Vina được đánh giá là rấttốt Công ty Taekwang Vina là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, chuyênsản xuất các sản phẩm da giày, trang phục thể thao Công ty hiện có trên24.000 lao động, trong đó có đến 80% là lao động nữ Hiện nay, 100% NLĐđược đóng BHXH, BHYT, nâng cao tay nghề và hưởng đầy đủ các chế độ doNhà nước quy định
Việc thực hiện đầy đủ chính sách BHXH, BHYT với NLĐ đã tạo sự gắn
bó với doanh nghiệp, nguồn lực ở công ty cũng ổn định và NLĐ không "nhảycóc" hay "đứng núi này trông núi nọ" đi tìm đơn vị mới có chính sách tốt hơn
- Thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội
Các chính sách trợ giúp xã hội đối với công nhân nữ ở các KCN tỉnhĐồng Nai (cả thường xuyên và đột xuất) trong thời gian qua đã được thựchiện rộng rãi cả về quy mô và đối tượng thụ hưởng Từ đầu năm 2011, các
cơ quan ban ngành của tỉnh và các doanh nghiệp đã có nhiều chính sách vàgiải pháp kịp thời, thiết thực nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực củacuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến sản xuất và đờisống của người công nhân nhất là công nhân nữ
Các cấp công đoàn còn phối hợp với lãnh đạo các doanh nghiệp, đơn vị
tổ chức thăm hỏi, tặng quà và động viên 10.708 lao động có hoàn cảnh khókhăn và bị bệnh hiểm nghèo, mỗi phần quà trị giá từ 200.000 đồng đến1.000.000 đồng với tổng số tiền trên 5 tỷ đồng Nhiều Công đoàn cơ sở còn tổchức quyên góp trong công nhân lao động để giúp đỡ những công nhân nữ cóhoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại doanh nghiệp (như công nhân bị đau ốm,
Trang 37bệnh tật hiểm nghèo; con công nhân lao động bị ốm đau, gia đình bị thiên tai,hỏa hoạn…) với số tiền từ 20 - 50 triệu đồng/người
Hàng năm, vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, từ nguồn ngân sách củacông đoàn và sự hỗ trợ của các cấp ủy, chính quyền địa phương và các doanhnghiệp trên địa bàn tỉnh, các cấp công đoàn trong tỉnh tổ chức các hoạt độngnhư: tặng quà tết, tặng vé xe, tổ chức văn nghệ, bốc thăm trúng thưởng…cho
nữ công nhân lao động nghèo có hoàn cảnh khó khăn, công nhân lao động xaquê, với tổng kinh phí gần 45 tỷ đồng Riêng 2 năm (2010 và 2011), Liên đoànLao động tỉnh thực hiện chương trình tặng vé xe cho công nhân lao động nữ cóhoàn cảnh khó khăn nhiều năm không về quê ăn tết, có trên 500 vé xe được traotặng với số tiền trên 500 triệu đồng Bên cạnh đó, các Công đoàn cơ sở có đôngcông nhân lao động cùng với doanh nghiệp hỗ trợ từ 20% - 40% giá vé cho côngnhân lao động về quê ăn tết, phối hợp với công ty vận tải tổ chức đưa, đón côngnhân về quê đảm bảo an toàn với kinh phí hàng năm từ 5 - 8 tỷ đồng
Bên cạnh đó, các loại Quỹ xã hội do Liên đoàn Lao động tỉnh quản lýnhư Quỹ Mái ấm công đoàn, Quỹ vì nữ công nhân lao động nghèo… được tổchức thường xuyên và thu hút sự hưởng ứng của nhiều lực lượng xã hội Đếnnay số dư 1.502.997.584 đồng Việc tổ chức, quản lư và điều hành Quỹ doBan quản lý quỹ và Quy chế tổ chức hoạt động, quỹ đã được Ban Thường vụLiên đoàn Lao động tỉnh thông qua Đến nay, đã hỗ trợ xây dựng được 76 cănnhà Mái ấm công đoàn cho gia đình công nhân nữ có hoàn cảnh khó khăn, trịgiá trên 2 tỷ đồng; sửa chữa 05 căn trị giá 70 triệu đồng; hỗ trợ cho 159 nữcông nhân viên chức lao động vay không lãi với số tiền 500 triệu đồng
Công tác chăm lo cải thiện đời sống của người lao động luôn được cáccấp công đoàn quan tâm như thông qua nguồn vốn từ quỹ quốc gia giải quyếtviệc làm của trung ương và địa phương, Công đoàn cơ sở đã tín chấp chođoàn viên nữ vay ngân hàng với số tiền trên 450 tỷ đồng; vận động cán bộ,công nhân viên chức lao động đóng góp xây dựng quỹ tương trợ trên 300 tỷ
Trang 38đồng để giúp công nhân làm kinh tế phụ nhằm tăng thu nhập, cải thiện đờisống gia đình
Liên đoàn lao động tỉnh phối hợp với Quỹ hỗ trợ vốn cho lao độngnghèo (CEP) của Liên đoàn lao động thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trợ vốncho người lao động giải quyết việc làm, đến nay có hơn 31.231 lượt ngườivay với tổng số tiền trên 233 tỷ đồng với lãi suất từ 0,9 - 1%/năm, trong đó có2.963 nữ công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn vay với số tiền gần 33 tỷđồng, mức vay cao nhất 15 triệu đồng/người Thông qua hoạt động của Quỹ(CEP), số nữ công nhân lao động nghèo đã giải quyết kịp thời những khókhăn của gia đình, qua đó góp phần đóng góp đáng kể vào việc nâng caoASXH cho mọi người
Đi đầu trong thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội đối với công nhân
nữ là Công ty Taekwang Vina Để giúp NLĐ yên tâm công tác, hằng năm, Côngđoàn còn tổ chức cho công nhân viên vay vốn “Hỗ trợ khó khăn” không lãi suất.Trong 6 tháng đầu năm 2014, đã có hơn 200 lượt người vay với số tiền trên 1 tỉđồng Ngoài ra, công đoàn trích quỹ và vận động các đoàn viên đóng góp để hỗtrợ cho 7 trường hợp có hoàn cảnh khó khăn số tiền 240 triệu đồng Các ngày lễlớn trong năm, công đoàn cùng Ban giám đốc công ty luôn tổ chức các chươngtrình liên hoan văn nghệ, sinh hoạt tập thể và tặng quà cho công nhân viên nhưquà Trung thu, thưởng lễ 30-4 Chương trình “Nhà tình thương”, “Mái ấm Côngđoàn” tặng cho NLĐ chưa có nhà ở cũng được công đoàn chú trọng thực hiện,với kế hoạch mỗi tháng trao tặng 2 căn nhà đã góp phần giúp cho nhiều côngnhân lao động có nhà ở ổn định Công ty còn có nhà ăn tập thể thoáng mát, bảođảm vệ sinh môi trường và điều kiện an toàn thực phẩm Công ty còn hỗ trợ cácbữa ăn giữa ca, bữa ăn sáng 2.000 đồng/phần nhưng bảo đảm chất lượng và vệsinh an toàn thực phẩm, thường xuyên cải thiện bữa ăn theo nguyện vọng củangười lao động Đối với công nhân nữ nuôi con nhỏ, mỗi tháng công ty còn hỗtrợ thêm 100 ngàn đồng/cháu…
Trang 39Nhìn chung, hoạt động xã hội của Công đoàn Đồng Nai trong thời gianqua đã được tổ chức với nhiều nội dung, hình thức đa dạng phong phú, đãgiảm bớt được phần nào những khó khăn mà NLĐ ở các KCN (nhất là nữcông nhân lao động nhập cư) gặp phải Qua đó tạo được niềm tin, sự gắn bócủa đoàn viên, công nhân lao động đối với tổ chức công đoàn; khơi dậy đượctruyền thống đoàn kết tương trợ, nhân ái của dân tộc Việt Nam; giáo dục vànâng cao trách nhiệm của người công nhân lao động với cộng đồng và xã hội.
- Thực hiện chính sách bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản
Đến nay các dịch vụ về nhà ở, bệnh viện, nhà trẻ, trường học, chợ từngbước đáp ứng nhu cầu tối thiểu của nữ công nhân Một số ít các doanh nghiệpxây dựng được ký túc xá dành cho công nhân; chú trọng nâng cao chất lượngdịch vụ về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin, bảo đảm người dân tiếpcận được phổ biến, đầy đủ mức tối thiểu dịch vụ xã hội cơ bản Trên địa bàntỉnh Đồng Nai đã có 72 dự án xây dựng nhà ở công nhân, có khả năng bố trícho khoảng 20.000 chỗ ở Hiện đã có 18 dự án, trong đó tại TP.Biên Hòa (5 dựán), huyện Long Thành (7 dự án), Trảng Bom (3 dự án), Nhơn Trạch (3 dựán) hoàn thành và đưa vào sử dụng Liên đoàn Lao động tỉnh cho biết, hiệntrên địa bàn tỉnh, cũng có một số doanh nghiệp đã xây dựng được nhiều khunhà ở cho công nhân như: Cty Vedan VN, Cty nhựa TPC, Cty sản xuất gỗGreat Veca, Cty Choong Nam Điểm sáng về nhà ở công nhân ở H.NhơnTrạch có một khu nhà ở dành cho công nhân hiện đại, đúng chuẩn, đó là kí túc
xá của Cty Formosa Khu kí túc xá này cao 9 tầng, có sức chứa trên 2.000người Khu kí túc xá được trang bị máy ATM, nhà ăn, tiệm cắt tóc, phòng thểthao Nổi lên trong KCN Sông Mây (xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, ĐồngNai) là 3 blốc nhà 4 tầng và một trường mầm non khang trang nằm trên 4ha.Đây là khu kí túc xá dành cho công nhân của Tập đoàn Phong Thái (chuyênsản xuất, gia công giày cho Hãng Nike) và trường mầm non dành riêng chocon của công nhân làm việc tại các nhà máy thuộc tập đoàn này
Trang 40Với hơn 60% công nhân KCN là nữ, trong đó 90% trong độ tuổi sinh sảnnên việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho công nhân nữ KCN cũng được tỉnh
chú trọng Theo số liệu công bố tại buổi tổng kết dự án Cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản cho công nhân thông qua các hoạt động nâng cao năng lực cho cán bộ y tế giai đoạn 2010 - 2013 và triển khai dự án từ nay đến năm
2015 do Tổ chức Marie Stopes International tại Việt Nam (MSIVN) phối hợpcùng Tập đoàn Pou Chen (Đài Loan, Trung Quốc) tổ chức tại Đồng Nai, tronghơn 80.000 công nhân nữ có trên 74.000 công nhân tham gia các buổi thảoluận nhóm, gần 6.200 công nhân được nhận dịch vụ về sức khỏe sinh sản; gần1.200 công nhân tiếp cận các biện pháp tránh thai trợ giá và hơn 800 thẻ dịch
vụ đã được trao cho công nhân nhằm hỗ trợ chi phí khám và điều trị trongthời kỳ mang thai Trong năm 2015, dự án sẽ tiếp tục được triển khai vớinguồn kinh phí 550.000 USD Dự kiến, ba năm tới, có khoảng 70.000 côngnhân nữ KCN sẽ được tiếp thu kiến thức và tiếp cận dịch vụ sinh sản; phát5.000 phiếu khám bệnh ưu đãi tặng công nhân nghèo Việc chăm sóc sứckhỏe sinh sản cho nữ công nhân sẽ được MSIVN tiến hành ở phòng khám do
dự án thành lập tại thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) Việc đảm bảo quyền tiếpcận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng giúp lao động hài lòng, gắn bóvới doanh nghiệp hơn
Mấy năm gần đây, với sự quan tâm chỉ đạo thực hiện của Chính phủ vàcác cấp các ngành, các KCN đã chú ý nhiều hơn đến đời sống tinh thần chocông nhân, nhất là công nhân nữ Việc xây dựng các cơ sở sinh hoạt văn hóacâu lạc bộ công nhân, nhà văn hóa công nhân ở ký túc xá trong KCN đượccác địa phương có KCN, khu chế xuất quan tâm để hỗ trợ Nhiều hoạt độngvăn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, phiên chợ công nhân… được thực hiện.Các cấp công đoàn tổ chức trên 500 đợt hội thi, hội diễn văn nghệ, hội thaotruyền thống thu hút trên hàng trăm ngàn lượt công nhân nữ tham gia, tạo sânchơi lành mạnh giúp họ có điều kiện giao lưu, thư giãn sau giờ làm việc