1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC SĨ - PHÁT TRIỂN KINH tế TRANG TRẠI THEO HƯỚNG bền VỮNG ở TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

105 554 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 797,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy sức sản xuất của mọi lực lượng, mọi tổ chức, mọi loại hình kinh tế tham gia công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước. Trong bối cảnh đó, kinh tế trang trại đã vươn lên mạnh mẽ và có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển KT XH của cả nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng.

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH

Trang 2

Môc lôc

Tran g

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở

1.1 Kinh tế trang trại, phát triển bền vững, phát triển theo

hướng bền vững

12

1.2 Quan niệm, tiêu chí và những nhân tố ảnh hưởng đến sự

phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG

TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH PHÚ

2.1 Thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế trang trại

2.2 Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra

trong phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở

KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN

3.1 Quan điểm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền

vững ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới 603.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển

kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy sức sản xuất của mọilực lượng, mọi tổ chức, mọi loại hình kinh tế tham gia công cuộc xây dựng, kiếnthiết đất nước Trong bối cảnh đó, kinh tế trang trại đã vươn lên mạnh mẽ và cónhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển KT - XH của cả nước nói chung

và tỉnh Phú Thọ nói riêng

Sự phát triển của KTTT đã góp phần khai thác, sử dụng tốt hơn các tiềmnăng, thế mạnh về tự nhiên và xã hội của Tỉnh; tạo ra nhiều việc làm, nâng caokhối lượng hàng hoá nông sản, giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo vươn lên làmgiàu từ chính nông nghiệp Thực tế đó càng khẳng định tính ưu việt vượt trội củakinh tế trang trại - một hình thức tổ chức SXKD chủ yếu của nền nông nghiệphàng hoá nước ta trong tương lai đang nhận được sự quan tâm, khuyến khích pháttriển của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Phú Thọ hiện nay

Sự phát triển của KTTT nói riêng và phát triển kinh tế nói chung luôn phảigắn với phát triển bền vững Nghĩa là, quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ,hợp lý, hài hòa giữa ba mặt: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trưởng, không nhữngcho thế hệ hiện tại mà còn cho cả các thế hệ mai sau Phát triển bền vững đã trởthành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước

Phú Thọ là tỉnh có nhiều ưu thế trong phát triển KTTT, nhất là ở khu vựcnông thôn, miền núi với diện tích đất đai rộng lớn, hệ thống sông suối, ao hồnhiều, nguồn lao động dồi dào và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nôngnghiệp, Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Phú Thọ đang đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với chương trình xâydựng nông thôn mới; lãnh đạo và chính quyền địa phương đã có nhiều chủ trương,chính sách thiết thực tạo môi trường cho KTTT phát triển Trong đó, việc gắn

Trang 4

phát triển KTTT với các chương trình kinh tế trọng điểm trong quy hoạch pháttriển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh là điều kiện thuận lợi cho KTTT cóbước phát triển mới.

Tuy nhiên, thực trạng phát triển KTTT ở Phú Thọ thời gian qua còn chưatương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh Bên cạnh những kết quả đã đạt được,quá trình phát triển loại hình kinh tế này còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế như:hiệu quả kinh tế của các trang trại chưa cao, chưa ổn định; nhiều trang trại ở PhúThọ hình thành và phát triển mang tính tự phát, chưa theo quy hoạch; ít chú trọngđến việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Do đó,chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTTT theo hướng bền vững

Do vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống tình hình phát triểnKTTT ở tỉnh Phú Thọ; làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, kịp thời đưa

ra những giải pháp phù hợp thúc đẩy KTTT phát triển theo hướng bền vững ở tỉnhPhú Thọ hiện nay là vấn đề quan trọng, cấp thiết, góp phần thực hiện mục tiêutăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói - giảm nghèo, bảo vệ môi trườngsinh thái ở tỉnh Phú Thọ trong những năm tới

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc

sỹ tốt nghiệp Cao học kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trong thời gian gần đây phạm trù KTTT và phát triển KTTT theo hướngbền vững đã có nhiều đề tài, công trình khoa học, các hội thảo, tài liệu và các bàiviết nghiên cứu, luận giải dưới các góc độ khác nhau; hướng tiếp cận cũng rấtphong phú và đa dạng Tác giả phân theo các nhóm nội dung sau:

* Nhóm các công trình nghiên cứu về khái niệm, đặc trưng, tiêu chí của kinh tế trang trại

Công trình “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của GS.TS Nguyễn Đình

Trang 5

Hương chủ biên đã nghiên cứu luận giải sâu sắc những vấn đề lý luận và thực tiễncủa phát triển KTTT Sau khi phân biệt trang trại, KTTT, công trình đưa ra kháiniệm về KTTT “Là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngựnghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên

cơ sở quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cáchthức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn

với thị trường” [30, tr.19] Khái niệm đã đề cập những đặc trưng cơ bản của

KTTT so với kinh tế hộ nông dân và các loại hình SXKD khác trong nông

nghiệp Trong đó, theo tác giả có một số đặc trưng rất quan trọng để phân biệt với kinh tế hộ như: sản xuất của KTTT là sản xuất hàng hóa; chủ trang trại là người

có ý chí, có năng lực và kinh nghiệm trong SXKD, Công trình cũng đưa ra batiêu chí cơ bản để xác định kinh tế trang trại gồm: giá trị sản lượng hàng hóa tạo ratrong một năm; quy mô diện tích đất đai hoặc số lượng gia súc, gia cầm tùy theophương hướng SXKD của trang trại và quy mô vốn đầu tư cho SXKD [30, tr.44]

Trong công trình nghiên cứu của TS.Trương Thị Minh Sâm về “Kinh

tế trang trại ở khu vực Nam Bộ, thực trạng và giải pháp” lại đưa ra khái niệm về KTTT dưới góc độ quản lý kinh tế, coi “KTTT là một hình thức tổ chức SXKD

trong nông nghiệp - được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đìnhnông dân, có mức độ tích tụ và tập trung cao hơn về đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật,

… nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớn hơn, với lợi nhuận cao hơn theoyêu cầu của kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng

Trang 6

Về nhận dạng KTTT, trong công trình “Tư liệu về kinh tế trang trại” do

Ban Vật giá Chính phủ chù trì biên soạn, các nhà khoa học đã đưa ra bốn đặctrưng của KTTT so với kinh tế hộ gia đình nông dân Trong đó, nhấn mạnh haiđặc trưng cơ bản là có sự tập trung cao hơn về các điều kiện sản xuất và trình độsản xuất hàng hóa Đồng thời công trình nghiên cứu cũng bàn luận về hệ thốngtiêu chí để phân biệt trang trại và kinh tế hộ nông dân Theo đó, tiêu chí để xem

xét một hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp có phải là trang trại hay không căn cứ

vào: quy mô sử dụng đất đai, lao động và tiền vốn Về định lượng, quy mô cụ thểcủa các yếu tố này phải xem xét phù hợp với từng loại hình kinh doanh, nhưng nóichung phải đủ để phân biệt một cách rõ rệt (lớn hơn hẳn) so với mức bình quâncủa kinh tế hộ trong vùng; có sự khác nhau theo vùng và thay đổi theo thời gian(trình độ phát triển kinh tế) [1, tr.131]

Phân tích, so sánh các khái niệm mặc dù vẫn còn một số khía cạnh khácnhau, nhất là cách diễn đạt song nhận thức về KTTT đã có nhiều điểm dần xích lạigần nhau, các khái niệm đều cho thấy KTTT là loại hình tổ chức SXKD chỉ cótrong nông, lâm, ngư nghiệp; tính chất sản xuất của KTTT là sản xuất hàng hóanên luôn gắn với thị trường

* Nhóm các công trình nghiên cứu về tính tất yếu khách quan và vai trò của kinh tế trang trại

Công trình nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp phát triển KTTT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, sau khi phân tích lịch sử phát

triển KTTT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, đã nêu rõ những nét cơ bản

về phát triển KTTT ở Việt Nam vào những năm cuối của chế độ phong kiến, thời

kỳ Pháp thuộc, miền Nam Việt Nam trước giải phóng Đồng thời chỉ ra một sốtiền đề cơ bản thúc đẩy phát triển KTTT khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổimới nông nghiệp từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX Phát triển KTTT khôngmang tính tự phát, nó là kết quả, là sản phẩm của công cuộc đổi mới Đất nước, là

sự vận dụng sáng tạo những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước của

Trang 7

các cấp lãnh đạo địa phương, là sự hưởng ứng tích cực của các hộ nông dân có ýchí và khát vọng vươn lên làm giàu Đấy là “một quá trình tất yếu, phù hợp vớiquy luật khách quan, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và do yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH đấtnước mà nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” [1, tr.151].

Theo công trình “Tư liệu về kinh tế trang trại” với bài viết: “Vai trò của kinh tế trang trại trong phát triển nông nghiệp và nông thôn” của Trần Trác đã

phân tích rõ về bốn vai trò của KTTT, đó là: sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai;vai trò khai thác vốn trong dân; vai trò giải quyết lao động xã hội và vai trò chuyểndịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nôngthôn Tác giả cũng khẳng định: “KTTT tuy mới xuất hiện và còn là một lực lượngsản xuất nhỏ bẻ, nhưng đang đóng góp đáng kể vào phát huy nội lực, khơi dậy tiêmnăng lao động, đất đai, tiền vốn trong dân vào sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,

nông thôn” [1, tr.213-216]

Cùng nghiên cứu về vai trò của KTTT, tác giả Đào Hữu Hòa với công trình

“Phát triển KTTT trên địa bàn duyên hải Nam trung bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã phân tích và chỉ rõ sáu vai trò của KTTT Tác giả kết

luận: KTTT không chỉ có tác động đến CNH, HĐH mà còn hướng đến sự phát triển

bền vững Trong Luận án Tiến sĩ của Phạm Bằng Luân về “Phát triển kinh tế trang trại và vai trò của nó đối với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn

của việc phát triển KTTT, đồng thời phân tích sâu sắc bốn vai trò của phát triểnKTTT đối với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở nước ta [35]

* Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại

Trong những năm qua có nhiều đề tài cấp bộ, cấp Nhà Nước nghiên cứu, khảo sát thực trạng phát triển KTTT và đề xuất các giải pháp, tiêu biểu

có các công trình như: “Thực trạng và giải pháp phát triển KTTT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” do GS.TS Nguyễn Đình Hương chủ

Trang 8

trì; “Phát triển kinh tế trang trại ở Tây nguyên” - chủ nhiệm đề tài: TS.Phạm Khánh Thiết; “Thực trạng kinh tế trang trại vùng vùng Tây Bắc - những vấn đề đặt

ra và các giải pháp thúc đẩy phát triển” của PGS.TS.Trần Văn Chử; “Giải pháp tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam” của tác giả

Tạ Thị Yên; “Các giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm phát triển KTTT trên địa bàn Tây Nguyên” của tác giả Nguyễn Thị Tằm; …

Nói chung, các công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích cả lý luận vàthực trạng KTTT ở nước ta, trên cơ sở khảo sát, tổng kết ở nhiều địa phương đạidiện cho các vùng nông nghiệp Tiến hành phân tích một cách công phu, cụ thểtình hình phát triển KTTT trên tất cả các mặt, từ yếu tố sản xuất, kết quả SXKD

và nhất là các phân tích đã có sự so sánh với kinh tế hộ nông dân trên địa bàn Từ

đó, các nghiên cứu đã chỉ ra hàng loạt các vấn đề phát sinh cần phải giải quyết từnhận thức, thái độ đối với KTTT, tiêu chí nhận dạng đến những bất cập của Nhànước trong hỗ trợ về mặt cơ chế và điều kiện vật chất, trình độ chủ trang trại, chấtlượng, hiệu quả và khả năng của KTTT, … Trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm

và giải pháp nhằm thúc đẩy KTTT phát triển

* Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững

Vấn đề phát triển KTTT theo hướng bền vững, đã có một số nhà khoa học đề cậptrong các hội thảo khoa học, những bài viết đăng trên các tạp chí khoa học về

“Bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững tại Việt Nam” của Trung tâm Tài nguyên - Môi trường và Công nghệ sinh học [54];

“Phát triển bền vững Kinh tế trang trại - thực trạng và giải pháp” của tác giả Trịnh Xuân Báu [2]; “Phát triển bền vững kinh tế trang trại ở Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Văn Vang [62].

Đề tài cấp bộ trọng điểm về “Nghiên cứu các mô hình phát triển bền vững trang trại ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang” do PGS.TS Phạm Văn Khôi làm chủ

nhiệm [32], với mục tiêu nghiên cứu là xác định rõ mô hình trang trại có hiệu quảtrong số các mô hình trang trại ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang; đề tài đã đưa ra

Trang 9

khái niệm: “mô hình phát triển trang trại bền vững là những mô hình cụ thể của các trang trại có sự phát triển bền vững” Từ đó đưa ra hai nhóm nhân tố ảnh

hưởng đến sự phát triển bền vững của vùng cây ăn quả và xây dựng các chỉ tiêuđánh giá tính bền vững của mô hình trang trại Trên cơ sở khảo sát, đánh giá tínhbền vững của các mô hình trang trại ở vùng cây ăn quả, cùng với những phân tích,

dự báo, đánh giá những tác động, đề tài đưa ra 5 quan điểm, 2 nhóm giải pháp(nhóm giải pháp chung và nhóm giải pháp đối với trang trại) cũng như đề xuất lựachọn một số mô hình phát triển bền vững các trang trại ở vùng cây ăn quả

Công trình “Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với mục tiêu bền vững ở khu vực duyên hải Nam Trung bộ” của Đào Đình Hòa cũng đã lý giải sự cần thiết

phải phát triển KTTT theo hướng triển bền vững, mối quan hệ giữa phát triểnKTTT với môi trường, những nguyên tắc quy hoạch trang trại, những bất cập trongphát triển KTTT hiện nay và đưa ra một số vấn đề cần phải giải quyết để phát triểnKTTT theo hướng bền vững Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cho rằngphát triển KTTT bao gồm ba nội dung: phát triển về mặt số lượng; phát triển về mặtchất lượng và cuối cùng là phát triển về mặt cơ cấu Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra

hệ thống các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của KTTT, bao gồm 7 chỉ tiêu,bước đầu có kết hợp được 3 nội dung cơ bản của phát triển bền vững Nổi bật là tácgiả đưa ra 7 vấn đề yêu cầu phát triển bền vững KTTT cần phải giải quyết Đó là:chống đói nghèo; sử dụng đất lâu bền; bảo vệ và phát triển vốn rừng; cuộc chiếnchống sa mạc hóa và hạn hán; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội miền núi; pháttriển bền vững nông nghiệp, nông thôn; bảo vệ và phát triển đa dạng sinh thái

Ngoài các công trình đã được tìm hiểu và đề cập ở trên, tác giả cũng tìmđọc nhiều bài viết về phạm trù nghiên cứu có liên quan trên các trang mạng, báo,tạp chí điện tử uy tín của Trung ương và tỉnh Phú Thọ Tác giả nhận thấy, tất cảcác công trình nghiên cứu, các bài viết tuy còn phân tán, chưa mang tính toàn diện

và hệ thống, tính thời sự chưa sát hợp với vấn đề mà tác giả đang nghiên cứu,nhưng đó chính là cơ sở cung cấp các luận cứ khoa học và là tư liệu quý báu để

tác giả kế thừa trong việc lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế trang trại theo

Trang 10

hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên

ngành Kinh tế chính trị của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển KTTT theo hướng bền vững

ở tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở đó đưa ra quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm thúcđẩy loại hình kinh tế này phát triển trong thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnhPhú Thọ

Đánh giá thực trạng phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ;xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

Đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTTT theohướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển KTTT theo hướng bền vững ởtỉnh Phú Thọ dưới góc độ kinh tế chính trị

* Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: nghiên cứu phát triển kinh tế trang trai theo hướngbền vững về kinh tế, xã hội và môi trường

Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Phạm vi về thời gian: nghiên cứu từ năm 2009 đến nay.

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vềPhát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ, từ đó xây

Trang 11

dựng hệ thống quan điểm và giải pháp phù hợp để đẩy mạnh phát triển loạihình kinh tế này theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm:phương pháp nghiên cứu đặc thù của Kinh tế chính trị Mác - Lênin (phươngpháp trừu tượng hóa khoa học), cùng các phương pháp phân tích, thống kê, sosánh, hệ thống hoá, khái quát hoá và phương pháp quan sát thực tiễn

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn vềphát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

Góp phần cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chínhquyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTTT theo hướng bền vững

ở tỉnh Phú Thọ thời gian tới

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, học tập

và giảng dạy môn Kinh tế chính trị ở các nhà trường trong và ngoài Quân đội

7 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm: phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liêutham khảo và phụ lục

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH PHÚ THỌ 1.1 Kinh tế trang trại, phát triển bền vững, phát triển theo hướng bền vững

1.1.1 Quan niệm kinh tế trang trại và phát triển kinh tế trang trại

* Quan niệm kinh tế trang trại

Trước thực tiễn phát triển mạnh mẽ của mô hình KTTT ở nước ta trongnhững năm gần đây đã thu hút nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan chức năngnghiên cứu về mô hình kinh tế này Tuy nhiên, do nghiên cứu dưới các góc độkhác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau nên các ý kiến đưa ra chưa có sựthống nhất, thậm chí trái ngược nhau Trong văn phong, khẩu ngữ tiếng Việt các

thuật ngữ “trang trại” và “kinh tế trang trại” trong nhiều trường hợp được sử

dụng thay thế cho nhau như những cụm từ đồng nghĩa Vì vậy, cần phải phânđịnh rạch ròi để làm rõ và hiểu đúng bản chất của phạm trù KTTT

Khi nói đến “trang trại” cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau nhưng

quan điểm chung nhất coi trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trongnông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuấtthuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của chủ thể độc lập Hoạt động sản xuất đượctiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đốilớn; có cách thức tổ chức quản lý tiến bộ; áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và côngnghệ vào sản xuất; hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường

Khi bàn đến phạm trù “Kinh tế trang trại”, theo Nghị quyết số

03/2000/NQ-CP của Chính phủ chỉ rõ: “KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hànghóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộngquy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôitrồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷsản” [8] Dưới góc độ quản lý kinh tế, đây được xem là khái niệm chung nhất vềKTTT ở nước ta hiện nay, nó chỉ ra những nội dung cốt lõi của KTTT là sản xuất

Trang 13

hàng hóa; nguồn gốc chủ yếu từ kinh tế hộ phát triển lên; mục tiêu là mở rộng,nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp; sản xuất gắn liền với thị trường.

Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, cần đảm bảo được nhữngnội dung cơ bản, đó là: 1- KTTT là phạm trù kinh tế chỉ một loại hình sản xuấthàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp; phản ánh tổng hợp các mối quan hệ giữacon người với tự nhiên, giữa người với người trong quá trình sản xuất nôngnghiệp Đó là quá trình tổ chức lại sản xuất và phân công lại lao động chủ yếu ởnhững hộ gia đình nông dân từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phân tán chuyển sangsản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn Đó là quá trình không ngừng đổi mới,nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các yếu tố sản xuất Trong quá trình này mọihoạt động SXKD phải tuân theo các quy luật kinh tế khách quan 2- Hiệu quả củaKTTT là tạo ra nhiều nông phẩm hàng hóa có giá trị cho thị trường 3- mục tiêu

là không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân

Từ những nội dung ở trên có thể rút ra: Kinh tế trang trại là một phạm trù kinh tế, chỉ một loại hình kinh tế hàng hoá trong nông, lâm, ngư nghiệp; phản ánh tổng hợp các mối quan hệ trong quá trình tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động chủ yếu của những hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn; đó là quá trình khai thác, sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống người nông dân.

Trong nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta hiện nay có nhiều hình thức tổchức sản xuất cùng tham gia sản xuất hàng hoá: kinh tế hợp tác, các doanh nghiệpnông nghiệp của các thành phần kinh tế, kinh tế hộ gia đình đều có tham gia sảnxuất hàng hoá trong đó KTTT là một loại hình

Kinh tế trang trại phản ánh tổng hợp các mối quan hệ, ở đây bao hàm hainhóm mối quan hệ cơ bản đó là: quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệgiữa con người với con người trong quá trình SXKD

Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thể hiện mặt kinh tế - kỹ thuật củasản xuất Đây là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tác độngvào đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm Tuy nhiên, sản phẩm của KTTT là

Trang 14

hàng hoá, nên đòi hỏi người sản xuất phải luôn có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng

từ lựa chọn phương án đầu tư đến việc kết hợp kỹ thuật, công nghệ sao cho phùhợp; đồng thời phải tuân thủ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp - một quá trình:kinh tế - kỹ thuật - sinh học rất phức tạp

Mối quan hệ giữa con người với con người thể hiện mặt KT - XH của sảnxuất, đó là quan hệ của những người sản xuất hàng hoá, được biểu hiện ra bởi hàngloạt mối quan hệ như: huy động các nguồn lực (tích tụ ruộng đất, huy động vốn, tậptrung các tư liệu sản xuất, khi sản phẩm làm ra phải được tiêu thụ trên thị trường; bêncạnh đó còn nảy sinh các mối quan hệ giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trạivới các tổ chức kinh tế khác, giữa KTTT với kinh tế nhà nước, v.v… Trong các mốiquan hệ đó thì đầu tư và thị trường là hai mối quan hệ quan trọng nhất, bởi vì nóquyết định đến kết quả của hoạt động SXKD Nếu hai mối quan hệ này giải quyếtkhông tốt sẽ dẫn đến hiệu quả KT - XH không cao, KTTT khó tồn tại và phát triển

Tổ chức lại sản xuất trong KTTT, thực chất đó là quá trình tích tụ ruộng

đất và tập trung các yếu tố sản xuất khác đến một mức độ nhất định, đủ điều

kiện để sản xuất hàng hoá lớn; đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất từnhỏ lẻ, manh mún, phân tán, chuyển sang sản xuất hàng hóa tập trung, quy môlớn, hướng tới những loại cây trồng, vật nuôi cho giá trị kinh tế cao, sản xuấtluôn gắn liền với thị trường

Phân công lại lao động trong KTTT gồm phân công ngay trong nội bộ từngtrang trại và giữa các trang trại với nhau Sự phân công đó vừa mang tính chuyênmôn hóa vừa kết hợp với kinh doanh tổng hợp nhằm khai thác tối đa các nguồn tựnhiên, lao động, vật tư kỹ thuật và các cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có để mang lại hiệuquả cao, đồng thời cũng nhằm khắc phục tính thời vụ trong sản xuất

Trong quá trình SXKD, các yếu tố sản xuất luôn được khai thác sửdụng có hiệu quả và không ngừng được đổi mới nâng cao để tăng năng suấtlao động, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, hạ giá thành sản phẩm

Mục tiêu phát triển KTTT là nhằm thoát nghèo, vươn lên làm giàu củanhững hộ gia đình nông dân, đồng thời KTTT cũng phải vươn tới mục tiêu xãhội để phát triển bền vững

Trang 15

* Quan niệm phát triển kinh tế trang trại

Từ quan niệm về phát triển kinh tế được hiểu một cách chung nhất là “quá trình thăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế, xã hội Đó là sự tiến bộ thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn”[34, tr.15].

Khái niệm về phát triển kinh tế hàm chứa các nội dung, đó là: sự ra tăng vềsản lượng (tức là nền kinh tế phải đạt được sự tăng trưởng); sự biến đổi cơ cấukinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ; gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế (lợinhuận, tích lũy, chất lượng nguồn lực, trình độ khoa học công nghệ, tỉ lệ tăng thutrong nước của ngân sách, …)

Theo đó, quan niệm về phát triển KTTT cũng đã được hình thành Tuynhiên, nó không chỉ đơn thuần là sự tăng thêm về số lượng, chất lượng trang trại;khối lượng giá trị nông phẩm … mà nó bao hàm cả quá trình phát sinh, phát triển

và xu hướng vận động trong nội tại của loại hình kinh tế này Nghiên cứu dưới góc

độ kinh tế chính trị, tác giả cho rằng: Phát triển kinh tế trang trại là phát triển hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh trong nông nghiệp, mở rộng quy mô và gia tăng năng lực sản xuất, nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh,

sự thích nghi của kinh tế trang trai trong nền kinh tế thị trường.

Quan niệm trên bao hàm những nội dung cơ bản đó là:

Phát triển KTTT là phát triển một hình thức SXKD cụ thể trong nôngnghiệp gắn với thị trường Hình thức tổ chức sản xuất này cũng gắn với những địabàn có tính đặc thù về tiềm năng, lợi thế trong phát triển ngành nông nghiệp (gồm

cả trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, … ) trên cơ sở đó chophép KTTT có thể tổ chức SXKD đơn ngành hoặc đa ngành trong nông nghiệp

Phát triển KTTT là phát triển một hình thức tổ chức sản xuất gắn trực tiếpvới người nông dân Hộ nông dân chính là chủ thể của hình thức tổ chức SXKDtrang trại Trong đó hình thành các mối quan hệ kinh tế - xã hội; quan hệ hợp tác

và phân phối lao động cụ thể; phát sinh mối quan hệ hợp tác giữa chủ trang trạivới người lao động; mối quan hệ giữa người lao động với người lao động, …

Trang 16

Phát triển KTTT nhằm hướng tới mục tiêu là gia tăng năng lực sản xuất,nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả SXKD nông nghiệp, đóng góp tích cựcvào tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

Như vậy, phát triển KTTT là phát triển hình thức tổ chức SXKD trongnông nghiệp, hướng tới mục tiêu gia tăng năng xuất, chất lượng, hiệu quả SXKDnông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân

1.1.2 Phát triển bền vững và phát triển theo hướng bền vững

* Phát triển bền vững

Ngày nay, PTBV là xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển của nhânloại, là vấn đề có tính toàn cầu tác động đến việc xây dựng chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của mọi quốc gia, dân tộc Xét về nguồn gốc, triết lý “phát triển bềnvững” được biết đến rất sớm Học thuyết Mác - Lênin đã coi con người là một bộphận không thể tách rời của giới tự nhiên C.Mác khẳng định: “Chừng nào loàingười còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” [5, tr.25]

Ph.Ăng - ghen cũng đã cảnh báo về “sự trả thù của giới tự nhiên” khi chúng bịtổn thương Đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, thuật ngữ “phát triển bền vững”

đã xuất hiện trong các phong trào bảo vệ môi trường Tuy vậy, phải đến Hội nghị củaLiên hợp quốc về Môi trường con người (năm 1972 tại Stockholm) tầm quan trọngcủa vấn đề môi trường và PTBV mới chính thức được thừa nhận Đến năm 1987,

trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Chủ tịch Hội đồng Thế giới về Môi

trường và Phát triển (WCED - Liên hợp quốc) đã chỉ rõ: “Phát triển bền vững là sựphát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại, nhưng không làm tổn hại đếnkhả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [7, tr.64]

Tiếp đó, năm 1992 các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triểncủa Liên hiệp quốc Rio de Janeiro đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới chính phủ củatất cả các nước về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xãhội cùng với bảo vệ môi trường và xác nhận lại khái niệm này: “Phát triển bền vữngtheo phương thức bảo đảm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảmnghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên và bền vững môi trường, coi conngười là trung tâm của những mối quan hệ về sự phát triển lâu dài” [62]

Trang 17

Đến năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV được tổ chức ở

Cộng Hòa Nam Phi tiếp tục khẳng định con đường phát triển bền vững, “Đó là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [50].

Mục đích của phát triển bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững vềmặt sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu củacon người mà không làm hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường; conngười tồn tại và sử dụng những nguồn năng lượng không độc hại, tiết kiệm và táisinh năng lượng; sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà khônglàm phá hoại những nguồn tài nguyên đó

Nhận thức rõ tầm quan trọng về PTBV, Đảng, Nhà nước ta đã cam kếtthực hiện, coi PTBV là con đường tất yếu của Việt Nam Chiến lược PTBV Đấtnước, cùng nhiều chủ trương, chính sách cụ thể về phát triển bền vững gắn vớitừng ngành, từng lĩnh vực đã ra đời tạo cơ sở pháp lý cho quá trình phát triển Đấtnước Theo đó, phạm trù PTBV đã được nhiều nhà khoa học trong nước quantâm nghiên cứu, được bàn luận trên nhiều diễn đàn, nhiều cuộc hội thảo khoahọc Tuy còn nhiều ý kiến trái ngược và cách diễn đạt khác nhau, nhưng về cơbản các nghiên cứu đều đi đến thống nhất PTBV cần đảm bảo được các nộidung: bảo tồn đất, nguồn nước và đa dạng sinh học; không làm thoái hóa môitrường; kỹ thuật phải hợp lý; có giá trị kinh tế; chấp nhận được về mặt xã hội.Đây là hướng nhận thức phù hợp trong bối cảnh ở Nước ta hiện nay

* Phát triển theo hướng bền vững

Cùng với khái niệm về PTBV, các quan niệm về phát triển theo hướng bềnvững cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và từng bước hoàn thiện.Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đềuthống nhất cần đạt được một số điểm chính đó là: đạt được sự hòa hợp của cácchu trình sinh học tự nhiên và dần kiểm soát được chúng; bảo vệ và khôi phục độphì của đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phải dần tối ưu hóa việc quản lý

và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; giảm thiểu việc sử dụng các nguồn

Trang 18

không tái sinh được và nguồn đầu vào của sản xuất phải mua từ bên ngoài; đảmbảo đầy đủ và đáng tin cậy nguồn thu nhập của người lao động; khuyến khíchđược gia đình và cộng đồng cùng tham gia; giảm thiểu được tác động xấu lên sứckhỏe con người, sự an toàn các loài hoang dã, chất lượng nước và môi trường.

Như vậy, phát triển theo hướng bền vững là sự phát triển từ trạng thái chưabền vững sang trạng thái phát triển bền vững (hay phát triển đến ngưỡng cho phép

- bảo đảm ổn định, an toàn, an ninh) về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

1.2 Quan niệm, tiêu chí và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

1.2.1 Quan niệm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

Trên cơ sở những nội dung phân tích ở trên, tiếp cận phạm trù phát triểnKTTT theo hướng bền vững nói chung dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả chorằng:

Phát triển KTTT theo hướng bền vững là phát triển KTTT một cách hiệu quả trong hiện tại nhưng không làm cản trở hay tổn hại đến sự phát triển KTTT trong tương lai ở các vùng miền, địa phương và cả nước - sự phát triển từ trạng thái chưa bền vững sang trạng thái phát triển bền vững về kinh

tế, xã hội và môi trường sinh thái

Quan niệm trên bao hàm những nội dung cơ bản đó là:

Thứ nhất, phát triển KTTT theo hướng bền vững về kinh tế: trước hết các

trang trại phải đảm bảo tái sản xuất mở rộng: hoạt động sản xuất phải đạt hiệuquả kinh tế và được duy trì thường xuyên với mức độ ngày càng cao, đó là sựphát triển liên tục, không ngừng của hệ thống trang trại Trong đó, các yếu tốsản xuất và hiệu quả sử dụng các yếu tố đó liên tục tăng, gắn với quá trìnhchuyên dịch cơ cấu sản xuất của trang trại theo hướng tích cực, góp phần vàoquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Như vậy, bềnvững về kinh tế trước hết KTTT phải phát triển cả về số lượng và quy mô: sốlượng trang trại tăng lên theo thời gian trên cơ sở phát triển các loại hình kinh

tế khác trong nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là chuyển hóa - nâng kinh tế

Trang 19

hộ gia đình thành các trang trại Quy mô của KTTT được thể hiện ở sự tậptrung ngày càng cao của các yếu tố sản xuất, bao gồm: quy mô vốn đầu tư, sốlượng lao động làm việc, diện tích đất đai sử dụng cho sản xuất, máy móc,thiết bị kỹ thuật tiên tiến và ứng dụng ngày càng phổ biến thành tựu củaKHCN hiện đại vào hoạt động sản xuất hàng hóa quy mô lớn

Cơ cấu KTTT chuyển dịch theo hướng tích cực cũng là một nội dung trongphát triển bền vững về kinh tế, đồng thời góp phần vào quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp hướng CNH, HĐH Cụ thể, chuyển dịch cơ cấu sản xuấtcủa trang trại từ trồng trọt sang chăn nuôi; từ quảng canh sang thâm canh; từ sảnxuất chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên sang sản xuất chủ động, Phát triển KTTTtheo hướng bền vững về kinh tế cũng bao hàm sự phát triển bền vững của cácngành trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng và nuôi trồng thủy - hải sản trong các loạihình trang trại; hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn, gắn với công nghiệpchế biến; gắn với thị trường trong nước và nước ngoài

Kết quả và hiệu quả SXKD là nội dung trực tiếp phản ánh tính bền vững

về mặt kinh tế trong quá trình phát triển KTTT Nội dung này cũng thể hiện khảnăng thích nghi, ứng phó với những biến động của môi trường kinh tế đến hoạtđộng sản xuất trong KTTT ngày càng tốt hơn; năng lực cạnh tranh và năng lựcliên kết hoạt động SXKD của trang trại không ngừng tăng lên

Thứ hai, phát triển KTTT theo hướng bền vững về mặt xã hội: phát triển

KTTT theo hướng bền vững xét theo nghĩa rộng là việc thúc đẩy, phát triển vàgiải quyết tốt các mặt của quan hệ sản xuất, trực tiếp là quan hệ sở hữu; quan hệlợi ích giữa chủ trạng trại với người lao động; quan hệ giữa chủ trang trại với Nhànước; quan hệ giữa những người lao động với nhau trong hình thức SXKD trangtrại theo đúng quy định của pháp luật

Trước hết, phát triển KTTT phải gắn liền với việc giải quyết việc làm, nâng caothu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống chonhân dân tạo tính bền vững về xã hội trên địa bàn nông thôn, miền núi Cùng với đó,phát triển KTTT theo hướng bền vững về xã hội phải góp phần tích cực vào quá

Trang 20

trình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực kinh tế nôngnghiệp, nông thôn Phát triển KTTT phải góp phần thu hẹp khoảng cách giàunghèo giữa các hộ dân cư trên từng địa bàn cụ thể; thu hẹp khoảng cách pháttriển giữa các vùng, giảm chênh lệch về trình độ phát triển giữa khu vực nôngthôn, miền núi với thành thị

Phát triển KTTT theo hướng bền vững cần chú ý giải quyết hài hòa các mốiquan hệ lợỉ ích (lợi ích của chủ trang trại với lợi ích người lao động làm thuê, lợiích của các hộ gia đình xung quanh, lợi ích của các doanh nghiệp chế biến, tiêuthụ hàng nông sản,v.v…); không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sống xungquanh, góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hồi trên từng địa phương Đây

là nội dung rất quan trọng, bởi nó là vấn đề phức tạp trong tổ chức, quản lý hoạtđộng của bất kỳ loại hình kinh tế nào Trong đó, cần chú ý giải quyết hài hòa mốiquan hệ lợi ích giữa chủ trang trại và người lao động làm thuê Bởi đây là mốiquan hệ có tác động tới thái độ, trách nhiệm của những người lao động trực tiếpquyết định hiệu quả SXKD và tính bền vững của KTTT

Thứ ba, phát triển KTTT theo hướng bền vững về môi trường sinh thái:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của người

và sinh vật” [26] Phát triển theo hướng bền vững về môi trường là khai thác

hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thànhphần môi trường; bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống Nông nghiệpnói chung, KTTT nói riêng trong quá trình sản xuất, tái sản xuất luôn đòi hỏiphải giải quyết hài hòa, tương thích quan hệ giữa cây trồng, vật nuôi với đất đai,nguồn nước, khí hậu thời tiết Theo đó, phát triển KTTT theo hướng bền vững

về môi trường sinh thái cần đảm bảo tốt các nội dung:

1- Bồi bổ, cải tạo, và nâng cao chất lượng đất Sử dụng đất trong sản xuấtcủa KTTT hợp lý sẽ kéo dài độ mầu mỡ của đất, làm tăng độ hài hòa của hệ sinhthái và ngược lại nếu sử dụng không hợp lý sẽ làm cho đất đai, môi trường sinh thái

Trang 21

bị hủy hoại Sử dụng đất trong hoạt động sản xuất của KTTT phải đạt đồng thời cả

2 mục tiêu: tăng hiệu quả sử dụng đất và tăng độ bền vững của đất

2- Bảo vệ, duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nước Hệ thống sản xuấtcủa các trang trại phải đảm bảo sử dụng tiết kiệm nguồn nước bằng việc đầu tưcác thiết bị, quy trình tưới tiêu hiệu quả; tái sử dụng nước, chống làm ô nhiễm cácnguồn nước sản xuất; tránh khai thác, sử dụng bừa bãi nguồn nước ngầm

3- Việc quản lý chất thải là nội dung rất quan trọng, vì nó tác động trực tiếpđến việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái, nhất là các trang trại chăn nuôi

4- Bảo vệ sự đa dạng sinh học, tạo ra cấu trúc các hệ sinh thái và nơi cư trú,nuôi dưỡng những nguồn tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống Đa dạng sinh họcbao gồm các hệ sinh thái duy trì ôxy trong không khí, làm giàu đất, lọc sạch nước,tránh được những tác hại do lũ lụt, bão và điều hòa khí hậu Phát triển KTTT theohướng bền vững về môi trường còn là bảo vệ, gìn giữ, khái thác hiệu quả nguồngen quý hiếm của động, thực vật cũng như năng lực phòng chống và giảm nhẹthiên tai, dịch bệnh của trang trại

5- Phát triển KTTT theo hướng bền vững về môi trường sinh thái phảiđảm bảo các trang trại chủ động ứng phó trước những biến đổi của thời tiết, khíhậu, dịch bệnh để vừa giảm được mức độ thiệt hại do thiên tai, địch họa gây ravừa cải thiện môi trường sinh thái

Phát triển KTTT theo hướng bền vững là công việc khó khăn và phức tạp,không dễ dàng để giải quyết một cách tối ưu và toàn diện trong một sớm, mộtchiều Vì vậy, việc xây dựng nội dung phát triển KTTT theo hướng bền vững có ýnghĩa đặc biệt quan trọng và cần phải căn cứ vào nội dung CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX; căn cứ vào Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 của Đại hội X, Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đại hội XI, Phương hướng, nhiệm vụ phát triểnkinh tế - xã hội 2016 -2020 của Đại hội Đảng lần thứ XII và căn cứ vào Địnhhướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 củaViệt Nam), cũng như đặc điểm riêng của từng địa phương

Trang 22

Từ quan niệm và nội dung phát triển kinh tế trang trại theo hướng bềnvững ở trên, tác giả đưa ra quan niệm về phát triển KTTT theo hướng bền vững

ở tỉnh Phú Thọ như sau:

Phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ là hoạt động tích cực và chủ động của các chủ thể tỉnh Phú Thọ, cùng các chủ trương, biện pháp, cơ chế chính sách nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi để hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại có hiệu quả, bảo đảm ổn định, an toàn, an ninh về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái trên địa bàn của Tỉnh cả trong hiện tại và tương lai

Nội hàm quan niệm trên được hiểu ở những khía cạnh cơ bản sau:

Một là, chủ thể của phát triển KTTT theo hướng bền vững là hệ thống tổ

chức Đảng, chính quyền, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, các chủ trang trại

và chính bản thân người lao động ở các trang trại Mỗi lực lượng trên có vai tròkhác nhau trong quá trình tổ chức thực hiện phát triển KTTT theo hướng bềnvững Trong đó tổ chức Đảng và chính quyền các cấp của tỉnh là chủ thể quantrọng nhất, là người lãnh đạo, chỉ đạo và ban hành các cơ chế, chính sách nhằmthực hiện đầy đủ mọi đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triểnKTTT Các cơ quan, ban ngành liên quan là lực lượng trực tiếp tham mưu choĐảng bộ, chính quyền về công tác quy hoạch phát triển KTTT và các kế hoạchliên quan đến phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

Chủ các trang trại có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp quyết định đến sựphát triển của KTTT, do đó chủ trang trại cần có kế hoạch sử dụng lao độnghợp lý, chế độ thù lao thỏa đáng để người lao động gắn bó ổn định, lâu dài vớitrang trại, đồng thời có kế hoạch trong việc nâng cao trình độ cho người laođộng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KTTT theo hướng bền vững

Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị xã hội, nhất là Hội nông dân

và các hiệp hội ngành hàng trong nông nghiệp, nông thôn giúp đỡ và tạo điềukiện phát triển KTTT theo hướng bền vững

Trang 23

Hai là, mục tiêu của phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

nhằm khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực góp phần phần phát triểnnông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu chonông dân Phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hoá, chú trọngnâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh trên thịtrường Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững nhằm thực hiện Đề án

“tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triểnbền vững” gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh

Ba là, phương thức tiến hành phát triển KTTT theo hướng bền vững Phát triển

kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ được thực hiện thông qua cáchoạt động chủ yếu sau: thông qua sự lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đồng bộ và tạođiều kiện để các chính sách đất đai, thuế, tín dụng, đầu tư KHCN và đào tạolao động đến với các hộ làm trang trại; thông qua những chính sách thị trường

và tiêu thụ sản phẩm phù hợp nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tếtrang trại; thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông,điện, thuỷ lợi,… ở các vùng quy hoạch phát triển kinh tế trang trại, đồng thời

hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý SXKD, khoa học kỹthuật, tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm cho các chủ trang trại, lao độngtrang trại để quản lý, hoạt động SXKD đạt hiệu quả; thông qua phát huy sứcmạnh của quần chúng nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội ở các địaphương; thông qua các doanh nghiệp đầu tư, liên kết sản xuất, chế biến, tiêuthụ sản phẩm cho khu vực trang trại, thông qua đẩy mạnh hoạt động thu hútđầu tư từ các nguồn khác nhau cho phát triển kinh tế trang trại: thu hút vốnđầu tư nước ngoài, thu hút vốn đầu tư từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, …

1.2.2 Tiêu chí đánh giáphát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

Căn cứ vào nội dung phát triển KTTT theo hướng bền vững ở trên, tác giả đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường như sau:

* Nhóm các tiêu chí đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững về kinh tế:

Trang 24

Một là, tiêu chí đánh giá số lượng trang trại gia tăng được xác định bằng

cách so sánh số lượng trang trại năm sau với số lượng trang trại năm trước, sốlượng trang trại cuối kỳ so với đầu kỳ (tiêu chí này được tính cho từng loại hìnhtrang trại và tổng số trang trại)

Hai là, tiêu chí đánh giá sự phát triển về quy mô của KTTT được xác định

bằng tổng giá trị thực tế của năm sau so với năm trước của từng nguồn lực cụ thể,bao gồm: quy mô vốn SXKD, quy mô lao động, quy mô diện tích đất sử dụng củatrang trại Đối với tiêu chí đánh giá khả năng trang bị và ứng dụng KHCN vào sảnxuất của KTTT cần dựa vào giá trị vốn đầu tư vào máy móc thiết bị và công nghệ,trình độ cán bộ kỹ thuật, … giữa các năm của trang trại

Ba là, tiêu chí đánh giá về sự biến đổi cơ cấu KTTT theo hướng tích cực

được xác định trên cơ sở so sánh tỉ lệ % của mỗi loại hình trang trại trong tổng sốtrang trại năm này so với năm trước

Bốn là, tiêu chí đánh giá mức độ gia tăng kết quả và hiệu quả SXKD của KTTT được xác định bằng cách so sánh giá trị sản lượng hàng hóa nông sản gia tăng năm sau với năm trước qua những số liệu cụ thể hoặc theo tỉ lệ %

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của KTTT phải dựa trên cơ sở so sánhcác số liệu đã được biến đổi, tính toán của năm sau với năm trước, gồm: hiệu quả

sử dụng vốn SXKD, hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng đất trongKTTT Cần dựa vào các công thức sau:

Tiêu chí Công thức tính Giải thích ký hiệu

Hiệu quả sử dụng

Ttn Tv

- Ttn: tổng thu nhập của KTTT

- Tv: tổng vốn SXKD của các trang trại.-Tl: tổng số lượng lao động sửdụng trong các trang trại

- Ts: tổng diện tích đất đai sử dụngcủa các trang trại

Hiệu quả sử dụng

Ttn Tl

Trang 25

yếu phải dựa vào sự gia tăng của tiêu chí về quy mô các nguồn lực của trang trại

và tiêu chí về hiệu quả SXKD để đánh giá Bởi đó là những tiêu chí cơ bản, phảnánh rõ nét mức độ đạt được của phát triển KTTT theo hướng bền vững về kinh tế

Trang 26

* Nhóm các tiêu chí đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững về xã hội:

Nội dung phát triển KTTT theo hướng bền vững về xã hội thể hiện nhữngđóng góp thiết thực của loại hình kinh tế này đối với sự phát triển về mặt xã hộicủa địa phương và được phản ánh ở những tiêu chí cụ thể sau:

Thứ nhất, tiêu chí đánh giá kết quả tạo việc làm cho người lao động của trang trại được xác định bằng cách so sánh tổng số lao động làm việc trong kinh

tế trang trại của năm sau so với năm trước (gồm cả lao động làm việc thườngxuyên và lao động thời vụ)

Thứ hai, tiêu chí đánh giá mức độ gia tăng thu nhập của người lao động trong KTTT cần dựa trên sự so sánh năm sau với năm trước về mức thu nhập bình

quân/tháng/năm của người lao động thường xuyên trong các trang trại và số tiềncông trung bình/ngày của người lao động được các trang chủ thuê theo thời vụ

Thứ ba, tiêu chí đánh giá trình độ người lao động làm việc trong KTTT.

Đây là tiêu chí phức tạp, đòi hỏi sự tổng hợp và liên quan đến nhiều yếu tố khácnhau, như: bằng cấp, kỹ năng làm việc, mức độ thành thạo công việc và cuối cùng

là năng suất lao động và hiệu quả SXKD của người lao động, … Trong phạm vinghiên cứu, tác giả xác định tiêu chí này chỉ dựa trên cơ sở so sánh tỉ lệ lao độngqua đào tạo của năm sau so với năm trước

Thứ tư, tiêu chí đánh giá về mức độ đóng góp của KTTT vào các hoạt động phúc lợi xã hội và trong thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng nông thôn miền núi với thành thị trên địa bàn tỉnh Đây là tiêu chí định tính, được xác định

trên cơ sở tổng hợp của nhiều yếu tố, là hệ quả tác động trong phát triển KTTT

theo hướng bền vững cả về kinh tế và xã hội

* Nhóm các tiêu chí đánh giá phát triển KTTT theo hướng bền vững

về môi trường: tỉ lệ đất trang trại được tưới tiêu chủ động, tỉ lệ đất bị suy

thoái, đất được cải tạo hàng năm, tỉ lệ đất sử dụng phân bón hữu cơ; số trangtrại sử dụng hệ thống thiết bị tưới tiêu hiện đại; số trang trại sử dụng hệthống xử lý và tái chế chất thải, nước thải; mức độ ô nhiễm môi trường, tài

Trang 27

nguyên nước, mức độ sử dụng các loại hóa chất độc hại; diện tích đất được

sử dụng trồng rừng của các trang trại lâm tăng lên qua các năm, …

Đánh giá sự phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ hiện naycần được dựa trên những nội dung và hệ thống tiêu chí trên Tuy nhiên, chỉ khi nào

sự phát triển của KTTT đạt được đồng thời trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môitrường thì mới khẳng định phát triển KTTT đạt được sự phát triển theo hướng bềnvững và khi đó các tiêu chí đánh giá tất yếu sẽ biến động tích cực theo thời gian.Song đây là nội dung không phải thực hiện được ngay trong một sớm, một chiều màcần phải thực hiện từng bước, nhất là trong điều kiện nguồn lực của địa phương vàcủa từng trang trại còn khiêm tốn, môi trường kinh tế có nhiều biến động, môi trườngcạnh tranh chưa hoàn thiện, thiên tai, dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, …

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

Phát triển KTTT theo hướng bền vững chịu ảnh hưởng của nhiều nhân

tố, bao gồm các những nhân tố tác động trực tiếp và các nhân tố tác động gián tiếp Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị có thể chia các nhân tố theo hai nhóm cơ bản sau:

* Nhóm các nhân tố thuộc về lực lượng sản xuất

Một là, điều kiện tự nhiên: điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, đất

đai, nguồn nước, khí hậu đều có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình phát triểnKTTT theo hướng bền vững ở các mức độ khác nhau

Trong đó, tài nguyên đất có vai trò đặc biệt quan trọng, là tư liệu sản

xuất không thể thay thế trong hoạt động sản xuất của KTTT Sự thuận lợi haykhó khăn của tài nguyên đất (vị trí đất, diện tích đất, cơ cấu các loại đất, độphì của đất …) đều tác động đến hoạt động của KTTT: cơ cấu các loại hìnhtrang trại, quy mô của trang trại; cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong các từngtrang trại Phú Thọ là địa phương có diện tích đất tự nhiên không nhiều, chỉ với353.330,47 ha, trong đó: diện tích đất nông nghiệp chiếm 282.178,49 ha (79,86%),đất phi nông nghiệp chỉ chiếm 55.588,94 ha (15,73%), đất chưa sử dụng còn

Trang 28

15.563,04 ha (4,40%) [Phụ lục 1] Nhưng cơ cấu đất khá đa dạng, bao gồm: đấtphù sa ngọt, phù sa cổ phân bố dọc các sông lớn và phụ lưu; đất feralit đỏ vàng,feralit đá vôi, feralit mùn với diện tích lớn, phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi.Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình trang trại, với

cơ cấu cây trồng, vật nuôi phong phú

Bên cạnh những thuận lợi thì quá trình khai thác, sử dụng nguồn tài nguyênnày cho phát triển KTTT cũng có những khó khăn nhất định, do diện tích đấthoang hóa còn lớn; nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc, đất cằn cỗi, bạc màu cầnlượng vốn đầu tư lớn, thời gian để cải tạo lâu dài, Đây là thách thức không nhỏtrong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cũng như việc mở rộng quy mô và sốlượng trang trại trên địa bàn tỉnh hiện nay

Khí hậu thời tiết, có ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ và hiệu quả sản xuất của KTTT theo hướng bền vững Do

nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao, độ ẩm lớn, cộng vớinhững tác động mạnh mẽ của hiện tượng gió mùa đông bắc nên Phú Thọ là địaphương có điều kiện thời tiết, khí hậu phù hợp cho các loại cây trồng, vật nuôi cónguồn gốc cận nhiệt và ôn đới sinh trưởng, phát triển tốt Điều này cho phépngành nồng nghiệp nói chung và KTTT nói riêng phát triển sản xuất với cơ cấucây trồng, vật nuôi đa dạng, phong phú; lai ghép, nhân rộng những cây, con giốngbản địa có sức thích nghi tốt, giá trị kinh tế cao, chỉ có ở địa phương, như: BưởiĐoan Hùng, Hồng Hạc Trì …

Bên cạnh những tác động tích cực thì những tác động tiêu cực của thời tiết, khí hậu như: lũ lụt, hạn hán, sương muối, các dịch bệnh do thời tiết gây

ra, cùng sự biến động nhanh và thất thường của chu kỳ thời tiết, khí hậu cũng tác động trực tiếp đến chu trình sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi Điều này

đã tác động trực tiếp đến hiệu quả SXKD, tính ổn định và sự bền vững của

KTTT trên địa bàn tỉnh hiện nay

Tài nguyên nước, có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cũng như hoạt động sản xuất của KTTT Nguồn nước phong phú, dồi dào là

Trang 29

điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và phân bố cây trồng, vật nuôi và góp phần

hạ thấp chi phí sản xuất của KTTT Do nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, nơi hợp lưu

của 3 con sông lớn là Sông Hồng, sông Đà và sông Lô cùng rất nhiều phụ lưu,kết hợp hàng nghìn ao hồ, khe, suối lớn nhỏ phân bố đều khắp làm cho nguồn tàinguyên nước của địa phương rất dồi dào, bao gồm cả nguồn nước mặt và nguồnnước ngầm Đây là một lợi thế rất lớn so với nhiều địa phương khác ở khu vựcTrung du, miền núi phía Bắc trong phát triển KTTT, đặc biệt là loại hình trangtrạng nuôi trồng thủy sản nước ngọt

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nước của tỉnh hiện nay cũng đang đặt trongtình trạng báo động bị ô nhiễm do công tác quản lý, sử dụng bị buông lỏng trong mộtthời gian dài Đó là một thách thức không nhỏ trong thực hiện chiến lược phát triểnbền vững mà trước hết là sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp trong đó cóhoạt động SXKD của KTTT

Bên cạnh đó, vị trí địa lý cũng là nhân tố có ý nghĩa quan trọng, tác độnggián tiếp tới việc phát huy các nguồn lực khác cho sự phát triển KT - XH nói chung

và KTTT nói riêng Phú Thọ nằm ở vị trí trung tâm của tiểu vùng Tây - Bắc vớinhiều tuyến đường quan trọng, là cửa ngõ và cầu nối vùng Tây Bắc với Thủ đô HàNội và các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ - những thị trường tiêu thụ nông sản đầy tiềmnăng cho sự phát triển KTTT theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn

Hai là, nguồn nhân lực Đây là yếu tố tác động trực tiếp và quyết định hiệu quả sản xuất của KTTT nói riêng và sự phát triển KT - XH của tỉnh nói chung.

Trong hoạt động sản xuất của KTTT cũng như trong sản xuất nông nghiệp có đốitượng tác động là những “cơ thể sống” - những cây trồng, vật nuôi nên vai trò củangười lao động trực tiếp càng trở quan trọng, đặc biệt là người lao động có trình độcao Ngày nay, khi KHCN và kỹ thuật càng phát triển thì vai trò nguồn nhân lực

ngày càng được khẳng định Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao thì thái độ ứng xử với tự nhiên sẽ tốt hơn, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Phú Thọ là tỉnh đang trong giai đoạn có “cơ cấu dân số vàng”, số ngườitrong độ tuổi lao động chiếm gần 65% tổng dân số Trong đó, số lao động

Trang 30

đang làm việc trong ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản là 429,9 nghìnngười, chiếm 57,07% tổng số lao động của tỉnh; cùng với đó, số người bướcvào tuổi lao động hàng năm khoảng từ 15 - 17 nghìn người [16] Với lựclượng lao động đông đảo và trẻ như hiện nay, chất lượng ngày càng đượcnâng cao là lợi thế lớn để tỉnh Phú Thọ hiện thực hóa các chủ chương, kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực dồi dào, có khát vọng làmgiàu, trình độ cao là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho KTTT phát triển theohướng bền vững, cũng như đảm bảo cho sự phát triển kinh tế nông nghiệptheo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn của địa phương

Tuy nhiên, thực trạng trình độ người lao động của tỉnh còn thấp, số laođộng thực tế qua đào tạo mới đạt 23% năm 2014 [Phụ lục 2], đặc biệt là số laođộng nông thôn chưa qua đào tạo còn nhiều; cùng với đó là văn hóa, thói quensản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tư duy tiểu nông vẫn còn cố hữu gây cản trởkhông nhỏ tới tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn mà trước hết làmchậm công tác “dồn điền, đổi thửa” mở rộng quy mô SX của KTTT

Ba là, vốn và trình độ khoa học kỹ thuật đảm bảo cho sản xuất của KTTT.

Phát triển KTTT theo hướng bền vững nhất thiết phải ứng dụng rộng rãi cácthành tựu của khoa học kỹ thuật và có nguồn vốn sản xuất lớn hơn nhiều so với

kinh tế hộ nông dân Vốn cho KTTT là nguồn lực ban đầu để tiếp cận với các nguồn lực khác Tuy nhiên, nguồn vồn cho phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh hiện nay rất khan hiếm, việc huy động nguồn vốn của các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế, xã hội cho phát triển KTTT đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước còn rất hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có của các trang chủ Song, do mặt bằng thu nhập bình quân đầu người của tỉnh còn thấp, giai đoạn 2011 - 2015 mới đạt 29,5 triệu đồng (chỉ bằng 64,1%

so với bình quân chung cả nước), nên khả năng tích lũy nguồn vốn trong dân là không đáng kể [22, tr 57].

Năng lực KHCN và kỹ thuật là yếu tố tác động trực tiếp góp phần nâng cao

hiệu quả sản xuất, chất lượng nông phẩm của KTTT, là yếu tố không thể thiếu đảm

bảo cho KTTT phát triển theo hướng bền vững Hiện nay, KTTT của tỉnh đang là

Trang 31

loại hình kinh tế đi đầu trong việc cơ giới hóa và sử dụng công nghệ sinh học, ứngdụng ngày càng nhiều các tiến bộ khoa học kĩ thuật cả trong sản xuất và bảo quảngóp phần nâng cao giá trị nông phẩm Tuy nhiên, do trình độ của chủ trang trại vàngười lao động còn thấp, sự eo hẹp về nguồn vốn đang là dào cản để KTTT tiếp cận

và ứng dụng nhanh với những tiến bộ KHCN hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả SX

- KD Cùng với đó, năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN của các

cơ sở, các trung tâm nghiên cứu về ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn hạnchế và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu sản xuất của nền nông nghiêp hàng hóa và sựphát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ hiện nay

Bốn là, cơ sở hạ tầng, có vị trí là “cốt vật chất” - nhân tố quan

trọng, tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và KTTT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm: mạng lưới giao thông, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện, thông tin liên lạc (đặc biệt là mạng internet), hệ thống chợ … Nếu hệ thống kết cấu

hạ tầng càng đồng bộ và hiện đại sẽ góp phần phát huy tốt các nguồn lực

thúc đẩy KTTT, cùng các loại hình kinh tế khác trên địa bàn nông thôn

phát triển: hoạt động sản xuất sẽ giảm được rất nhiều chi phí phụ, tăng nguồn vốn đầu tư, tiết kiệm thời gian, tăng khả năng cạnh tranh và làm tăng cơ hội tiếp cận của nông sản trên thị trường trong nước, quốc tế, thúc đẩy sự phát triển bền vững và ngược lại nó sẽ cản trở, kình hãm sự phát triển Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này, tỉnh Phú Thọ đã xác định: đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng là một

trong ba khâu đột phá của kế hoạch phát triển KT - XH giai đoạn 2011 - 2015, qua

đó, mạng lưới cơ sở hạ tầng - kỹ thuật của tỉnh đã được xây dựng tương đối cơ bản

và từng bước hoàn thiện

Mạng lưới giao thông được phân bố tương đối hợp lý trên địa bàn tỉnh,gồm có 3 phương thức vận tải là đường bộ, đường thuỷ nội địa và đường sắt, rấtthuận tiện cho việc lưu thông hành khách, hàng hoá trong và ngoài tỉnh Mạnglưới đường bộ hiện tại bao gồm quốc lộ, đường tỉnh, đường đô thị, đường huyện,đường xã, đường thôn xóm; tổng cộng chiều dài hiện có khoảng hơn 10.000 km,trong đó: nhựa hóa 89% đường tỉnh, cứng hóa 33% đường giao thông nông thôn

Trang 32

[58] Trong đó có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua như Quốc lộ 2,QL70, đường Hồ Chí Minh, đặc biệt là tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lao Cai(đoạn từ km 48 đến km 109+800 với 5 nút giao khác nhau) có ý nghĩa rất quantrọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Cùng với đó, tuyếnđường sắt dài hơn 100 km nối liền Hà Nội, Hải Phòng, Yên Bái, Lào Cai và CônMinh, Vân Nam (Trung Quốc); Mạng lưới vận tải đường thủy phát triển mạnh,tổng chiều dài đã phân cấp ở Phú Thọ là 248 km, với các cảng lớn như: cảng ViệtTrì, cảng Yến Mao, cảng Bãi Bằng

Mạng lưới điện, trên địa bàn tỉnh hiện nay đã được nâng cấp ngày càng tốt hơn,đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Tính đến năm

2002 hệ thống điện lưới quốc gia đã được đưa tới 100% xã trong toàn tỉnh Chươngtrình điện khí hóa nông nghiệp, nông thôn được triển khai tích cực và hiệu quả

Hệ thống thủy lợi luôn được địa phương quan tâm đầu tư và đáp ứng ngàycàng tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp, góp phấn nâng cao năng suất, sản lượngcây trồng, vật nuôi của ngành nông nghiệp Đây cũng chính là cơ sở quan trọng đểKTTT trên địa bàn tỉnh phát triển theo hướng bền vững

Hệ thống thông tin liên lạc: hiện nay tỉnh Phú Thọ đã đầu tư cơ bản hệ thống

hạ tầng về công nghệ thông tin, viễn thông bảo đảm 100% số xã có điểm thu - phátsóng và có các điểm bưu điện văn hóa xã; 100% các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện vàcác trường trong hệ thống giáo dục được kết nối Internet … tạo điều kiện thuận lợicho người dân rút ngắn thời gian, khoảng cách tiếp thu KHCN và tiếp cận thịtrường phục vụ cho hoạt động SX - KD đạt hiệu quả cao

Năm là, thị trường được coi là “bàn tay vô hình” - nhân tố tác động trực

tiếp đến sự phát triển KTTT theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh hiện nay.Theo cách hiểu thông thường, thị trường là một địa điểm cụ thể (một trụ sở,một cái chợ, một trung tâm thương mại…), nơi gặp gỡ giữa người bán (ngườisản xuất) và người mua, diễn ra việc mua bán, trao đổi hàng hóa hàng hoátrên cơ sở thỏa thuận về giá cả Hoạt động cơ bản của thị trường được thểhiện qua ba nhân tố: cung - cầu - giá cả (và sự cạnh tranh) Hệ thống chợ, cửahàng, trung tâm thương mại và dịch vụ phân phối nông sản càng phát triển sẽ

Trang 33

thúc đẩy thị trường phát triển, trên cơ sở đó các mặt hàng nông sản của KTTT

sẽ đến với người tiêu dùng ngày càng nhanh và nhiều hơn Trong xu thế hộinhập hiện nay, yêu cầu của thị trường ngày càng khắt khe, người tiêu dùngngày càng trở nên thông thái, họ luôn lựa chọn những nông phẩm tốt, chínhđiều này đã tác động tới việc lựa chọn cây, con giống và quy trình sản xuấtcủa các trang trại Muốn tồn tại và phát triển KTTT phải tích cực áp dụngKHCN, đưa những cây, con giống có năng suất cao, chất lượng tốt, đồng thờiphải lựa chọn những quy trình sản xuất mới, hiện đại nhằm tạo ra những nôngphẩm sạch, có giá trị cao, hợp nhu cầu thị trường Điều này không chỉ là yêucầu nhằm nâng cao năng lực SXKD của KTTT đảm bảo mục tiêu lợi nhuận

mà còn thể hiện đạo đức, chữ tín của người sản xuất - một yếu tố quan trọng

và không thể xem nhẹ trong phát triển bền vững

* Nhóm các nhân tố thuộc về quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng

Thứ nhất, vai trò, chức năng quản lý về mặt Nhà nước của các cơ quan chính quyền ở địa phương Đây là nhân tố quan trọng, tạo ra môi trường thuận

lợi hoặc không thuận lợi (cả môi trường pháp lý và môi trường kinh tế) đối với

sự phát triển của KTTT Trên cơ sở chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTT, địa phương cần cụ thể hóa thành những cơ chế, chính sách cụ thể để định hướng, quản lý và hỗ trợ KTTT trên địa bàn tỉnh phát triển theo hướng bền vững Cơ chế, chính sách của địa phương càng đúng đắn, thống nhất, phù hợp thì hiệu lực quản lý càng cao; đồng thời sẽ giúp cho các chủ trang trại và chủ hộ yên tâm, mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra khối lượng nông phẩm có giá trị ngày càng lớn Ngược lại cơ chế, chính sách không phù hợp, không đồng bộ sẽ thủ tiêu động lực, kìm hãm sự phát triển của KTTT

Trong những năm qua, tỉnh Phú Thọ đã có rất nhiều cố gắng, bước đầu đãtạo ra được những điều kiện căn bản cho KTTT phát triển, như: cụ thể hóa chínhsách về đất đai theo Luật đất đai của Nhà nước mới ban hành, hỗ trợ nguồn vốn từngân sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, có nhiều chính sách cụ thểtrong đào tạo lao động nông thôn - gián tiếp nâng cao chất lượng nguồn lao động

Trang 34

cho KTTT,… Tuy nhiên, để đảm bảo cho KTTT phát triển bền vững thì cần sự nỗlực hơn nữa của chính quyền địa phương cùng các cơ quan chức năng trong việchoạch định cơ chế, chính sách; nâng cao năng lực quản lý của các lực lượng đối vớiloại hình kinh tế này nhằm đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và bảo vệmôi trường trong hoạt động SXKD của KTTT Song, cần phải có nhận thức đúngđắn rằng, việc thực hiện và nâng cao công tác quản lý là nhằm tạo ra môi trường

ngày càng thuận lợi đảm bảo cho KTTT phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, văn hóa, phong tục tập quản Đây là một trong những nhân tố chi phối rất lớn tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và phát triển KTTT theo hướng bền vững của địa phương nói riêng theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Phú Thọ là địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, gắn liền với cội nguồn của dân tộc, có kết cấu làng - xã nông thôn vô cùng bền chặt tạo nên mối liên hệ, đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất và phòng chống thiên tai, địch họa Tuy nhiên, tập quán canh tác lạc hậu; tư tưởng bảo thủ, ngại thay đổi và hội nhập; cung cách làm ăn manh mún, nhỏ lẻ; tính bừa bãi … vẫn còn tồn tại, cùng với đó là văn hóa mới chưa thâm nhập sâu trong ý thức người lao động đang là vấn đề cản trở sự phát triển nền nông nghiệp của tỉnh, từ manh mún, nhỏ

lẻ tiến lên SX hàng hóa lớn và KTTT cũng không nằm ngoài những tác động tiêu cực ấy.

Thứ ba, thể chế phát triển bển vững Thể chế có thể được hiểu là các

quy định, quy tắc theo đó các cá nhân, tổ chức và nhà nước tác động lẫn nhau;bảo đảm hài hòa các quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân, mọi tổ chứctrong một trật tự xã hội, hướng tới sự tổng hòa các lợi ích của cộng đồng Thểchế đóng vai trò quan trọng trong điều tiết kinh tế - xã hội, một thể chế tốt sẽgóp phần không nhỏ vào sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội

Trong báo cáo quốc gia thực hiện phát triển bền vững của Việt Nam tạiHội nghị cấp cao của Liên Hiệp Quốc về Phát triển bền vững (RIO+20) năm

2012 khẳng định: “Thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thànhcông các mục tiêu phát triển bền vững ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu.Các chính sách muốn được thực thi một cách hiệu quả cần được hỗ trợ bởi thể

Trang 35

chế phù hợp nhằm đạt được sự phát triển bền vững” [17, tr.60].

Thể chế dân chủ, vững vàng; chính sách hợp lý, đáp ứng nhu cầu của ngườidân là nền móng cho phát triển KTTT theo hướng bền vững, xóa đói giảm nghèo,tạo công ăn việc làm Chính phủ tạo ra môi trường hòa bình và an ninh ổn định,tôn trọng quyền con người là mục tiêu mỗi người dân đều mong muốn

Mặt khác, thể chế còn biểu hiện ở hương ước tự nguyện Đối với khu vực nông thôn, các quy định trong hương ước làng xã có vai trò to lớn, đôi khi mạnh hơn cả pháp luật “phép vua, thua lệ làng”, điều chỉnh cách ứng xử hài hòa của con người với giới tự nhiên, làm cho môi trường sống ngày càng tốt đẹp hơn

Quá trình nhận thức và đánh giá khái quát những tác động của các nhân tốtrên có ý nghĩa rất quan trọng Đó là cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu và phântích một cách khách quan thực trạng phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnhPhú Thọ trong thời gian vừa qua

*

* *

Kinh tế trang trại đã phát triển mạnh ở nước ta trong những năm gầnđây, đang không ngừng vươn lên để trở loại hình SX - KD ưu việt, đóng góptích cực vào quá trình phát triển KT - XH của mỗi địa phương và cả nước.Trong bối cảnh nền nông nghiệp nước ta đang hội nhập ngày càng sâu vàonền kinh tế thế giới, phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọhiện nay không chỉ là sự phù hợp với xu hướng phát triển chung đó mà còn làđòi hỏi tất yếu khách quan trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh

Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các công trìnhnghiên cứu có liên quan Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã phân tích,làm rõ quan niệm về kinh tế trang trại, phát triển kinh tế trang trại; phát triểnbền vững và phát triển theo hướng bền vững ; quan niệm về phát triển kinh tếtrang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ; xây dựng hệ thống các tiêuchí đánh giá và chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển KTTT theohướng bền vững ở địa phương Đây chính là cơ sở lý luận có ý nghĩa rất quan

Trang 36

trọng để đánh giá thực trạng phát triển KTTT theo hướng bền vững, từ đó đưa

ra những quan điểm, giải pháp kịp thời, thúc đẩy loại hình kinh tế này tiếp tục

phát triển đúng hướng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH PHÚ THỌ THỜI GIAN QUA 2.1 Thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ

2.1.1 Thành tựu phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ thời gian qua

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ

về kinh tế trang trại, Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/08/2008 của Hội nghịTrung ương 7, khóa IX về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; đồng thời triểnkhai thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trịgia tăng và phát triển bền vững” Trong những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đãchỉ đạo các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành, thị thực hiện các cơ chế, chínhsách, ưu tiên nguồn lực đầu tư nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại theohướng bền vững và đạt được những kết quả tích cực, cụ thể trên các mặt như sau:

* Thành tựu phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững về mặt kinh tế:

Số lượng trang trại phát triển theo hướng bền vững tăng liên tục qua các năm, theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trangtrại, toàn tỉnh hiện có 212 trang trại đang hoạt động đạt tiêu chí, trong đó có

101 trang trại đã được cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận kinh tế trangtrại Các trang trại hình thành và phát triển tập trung chủ yếu trên những địabàn có điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội

Trong giai đoạn 2011 - 2015 số lượng trang trại của tỉnh đã tăng vượt bậc

so với thời kỳ trước (thể hiện qua Bảng 2.1), trong suốt giai đoạn 2001 - 2010 toàntỉnh chỉ có 72 trang trại Đây là kết quả rất tích cực, phản ánh sự nỗ lực, cố gắng

Trang 37

của các cấp chính quyền cùng nhân dân trong việc tháo gỡ những khó khăn,vướng mắc và huy động tối đa các nguồn lực đẩy mạnh phát triển KTTT Qua đógóp phần tích cực thúc đẩy ngành nông nghiệp của tỉnh phát triển bền vững vàtiến lên sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn.

Bảng 2.1 Số lượng trang trại tỉnh Phú Thọ (giai đoạn 2011 - 2015)

(đơn vị tính: trang trại)

Trang trại nuôi trồng thủy sản 8 17 25

(Nguồn: [44] và sự tổng hợp của tác giả)

Cơ cấu kinh tế trang trại có sự biến đổi tích cực, thích nghi với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trước những biến động thường xuyên của thị trường

với sự tăng giá liên tục của các yếu tố đầu vào và sự bấp bênh về giá cả đầu ra củanhiều loại nông phẩm; cùng với đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại dịchbệnh: một mặt, đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất của KTTT; mặtkhác, nó lại làm tăng khả năng thích nghi, ứng phó của KTTT trước những biếnđộng đó Đây cũng chính là một trong những tác nhân khách quan làm cho cơ cấuKTTT trên địa bàn tỉnh có những biến đổi nhất định

Trong giai đoạn 2011 - 2015, tỉ lệ loại hình trang trại chăn nuôi và trang trạitổng hợp có giảm về tỉ lệ tương đối, nhưng tăng mạnh về số lượng cụ thể và chiếm

ưu thế tuyệt đối trong cơ cấu KTTT của tỉnh Năm 2011, hai loại hình trang trạinày chiếm 87,5%, đến 2015 có giảm nhưng vẫn chiếm 79,7% tổng số trang trạicủa địa phương Đây là những loại hình trang trại cần lượng vốn đầu tư lớn, chiphí ban đầu cao, nhưng có khả năng thu hồi vốn nhanh, giá trị nông phẩm rất lớn;trong khi đó loại hình trang trại tổng hợp lại có khả năng thích ứng tốt trướcnhững biến động KT - XH, có cơ cấu sản phẩm đa dạng (gồm cả sản phẩm trồng

Trang 38

trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm sản) nên có khả năng cân đối, chuyển đổi cơ cấu câytrồng, vật nuôi và bảo toàn nguồn vốn trước những tác động xấu của dịch bệnh,thiên tai Loại hình trang trại chăn nuôi và trang trại tổng hợp trên địa bàn tỉnhhiện nay tập trung chủ yếu vào nuôi thả các loại gia súc, gia cầm như: lợn thịt nuôitheo mô hình công nghiệp; lợn rừng, lợn mán, hươu, nai, nhím, trâu, bò, dê, gà đồi được nuôi - thả kết hợp theo mô hình vườn - ao - chuồng (VAC) hoặc vườn - ao

- chuồng - rừng (VACR)

Cũng trong giai đoạn này, cơ cấu trang trại trồng trọt, trang trại nuôi trồngthủy sản, trang trại lâm nghiệp có tăng cả về tỉ lệ tương đối và số lượng tuyệt đốinhưng tốc độ tăng rất chậm vì nhiều lý do khác nhau Với trang trại trồng trọt, dùlượng vốn đầu tư thấp nhưng khả năng thu hồi vốn và quoay vòng vốn lâu; sảnphẩm thu hoạch phải theo mùa vụ và đòi hỏi công tác bảo quản, phơi sấy, chế biếnkhá chặt chẽ; đồng thời phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thổ nhưỡng và thời tiết -khí hậu Các trang trại trồng trọt trên địa bàn tỉnh chủ yếu là trồng Chè, cây ăn quả(Bưởi Đoan Hùng, Hồng Gia Thanh, Hồng Hạc Trì), trồng Sơn, Quế đó là nhữngcây trồng có khả năng thích nghi cao, yêu cầu bảo quản nông phẩm đơn giản Trongkhi đó trang trại nuôi trồng thủy sản phụ thuộc nhiều vào môi sinh - nguồn nước, dễ

bị tác động bởi dịch bệnh, thiên tai; vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu do chutrình sinh trưởng, phát triển của các loại thủy cầm thường kéo dài từ 6 - 12 tháng

Từ chủ trương phát triển mạnh diện tích rừng trồng của tỉnh, với nhiềuchính sách hỗ trợ về giống, vốn, đất đai nên loại hình trang trại lâm nghiệp cũngtăng lên đáng kể, góp phần thiết thực nâng cao độ che phủ rừng của địa phương.Đây là loại hình trang trại phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên đất với quy mô lớn,mặc dù vốn đầu tư ít, thu lợi nhuận cao và ổn định, song thời gian quoay vòng vốnrất lâu nên các chủ hộ ít lựa chọn phát triển lên loại hình trang trại này

Quy mô của kinh tế trang trại tăng nhanh và ổn định qua các năm Đây là

một trong những nội dung phản ánh rõ nét mức độ phát triển KTTT theo hướng bềnvững về kinh tế ở Phú Thọ hiện nay Được thể hiện ở quy mô sử dụng các nguồn lựccho hoạt động SXKD trong KTTT: đó là quy mô vốn đầu tư, quy mô sử dụng đất

Trang 39

của trang trại, quy mô sử dụng lao động, tỉ lệ máy móc, phương tiện kỹ thuật được sửdụng và khả năng ứng dụng thành tựu KHCN hiện đại vào sản xuất ngày càng tăng.

Bảng 2.2 Quy mô sử dụng các nguồn lực trong kinh tế trang trại

Quy mô sử dụng lao động

(đơn vị tính: người lao động)

Quy mô sử dụng đất

(đơn vị tính: ha)

(Nguồn: [44] và sự tổng hợp của tác giả)

Trước hết, quy mô vốn đầu tư cho KTTT đã tăng lên liên tục qua các năm Qua bảng số liệu trên ta thấy, tính đến hết năm 2015 tổng số vốn đầu tư cho KTTT đạt 414672 triệu đồng, tăng gần 3,5 lần so với năm 2011; theo đó

số vốn trung bình/1 trang trại năm 2015 đạt 1956 triệu đồng, tăng gần 1,6 lần năm 2011 Quy mô vốn tăng, một phần do các trang trại đầu tư mở rộng s nản

xu tất , mặt khác là do số lượng trang trại mới tăng nhanh

Quy mô vốn đầu tư giữa các loại hình trang trại cũng có sự chênh lệch nhau rất lớn, các trang trại lâm nghiệp cần lượng vốn đầu tư thấp còn các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản luôn cần lượng vốn rất lớn Hiện nay, chi phí cho 1 ha rừng trồng Keo lai của trang trại lâm nghiệp hết khoảng từ 12 - 17 triệu đồng/3 năm đầu và sau 7 năm được thu hoạch, [42] Như vậy tổng chi phí cho 1 trang trại lâm nghiệp trồng cây Keo lai có diện tích 31 ha chỉ hết khoảng

372 - 527 triệu đồng/3 năm đầu (chưa bao gồm các chi phí khác: tiền vay lãi ngân hàng, phí, thuế …); trong khi đó, vốn đầu tư của các trang trại chăn nuôi

là rất lớn: theo tính toán, một trang trại nuôi lợn thịt theo mô hình công nghiệp thì tổng chi phí/1 lứa/1000 con (từ con giống 10Kg, đến xuất chuồng đạt 100kg) hết khoảng 3,8 tỷ đồng (gồm các chi phí mua con giống, thức ăn, thuốc thú y; chưa

tính tới khấu hao chuồng trại, rủi ro trong chăn nuôi, lãi ngân hàng khi huy động vốn

và nhiều khoản thu - chi phát sinh khác)

Cùng với sự phát triển mạnh về số lượng trang trai và sự gia tăng lượng vốn

Trang 40

đầu tư đã làm cho quy mô đất đai sử dụng trong hoạt động sản xuất của KTTT

không ngừng tăng lên Năm 2011 diện tích đất các trang trại sử dụng là 691,2 ha,

trung bình đạt gần 7,2 ha/1trang trại Đến hết năm 2015, tổng diện tích đất trang trại

sử dụng tăng lên 1823,2 ha Trong đó tổng diện tích của trang trại chăn nuôi là655,7 ha, chiếm 35,96%; trang trại tổng hợp là 756,8 ha, chiếm 41,51%; trang trạilâm nghiệp 215,8 ha, chiếm 11,83%; trang trại nuôi trồng thủy sản bằng 162,5 ha,chiếm 8,91%; trang trại trồng trọt là 32,4 ha, chiếm 1,78% Diện tích đất bình quânđạt 8,6 ha/ 1trang trại vào năm 2015 Tuy nhiên, diện tích đất đai sử dụng trongKTTT có sự khác nhau rất lớn giữa các địa phương: diện tích bình quân của trangtrại các huyện miền núi (như Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa, Đoan Hùng) cao hơn1,6 lần mức bình quân chung của các trang trại trong toàn tỉnh; trong đó các trangtrại huyện Yên Lập có diện tích trung bình cao nhất, với 16,3 ha/1trang trại

Toàn tỉnh đã có 150 trang trại được chính quyền địa phương giao đất hoặccho thuê đất lâu dài với tổng diện tích hơn 1200 ha [52] Đây là nhân tố quan trọng đểcác chủ trang trại ổn định về mặt tâm lý, mạnh dạn đầu tư, ứng dụng KHCN vào sảnxuất đem lại hiệu quả kinh tế cao; đó cũng là tiền đề để các trang chủ có cơ sở tiếpcận nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng được thuận lợi, dễ dàng hơn

Quy mô lao động của trang trại đã liên tục tăng lên, đến hết năm 2015 sốlượng lao động làm việc trong KTTT là 2900 người, tăng 2,5 lần so với năm 2011

và chiếm gần 0,7% tổng số lao động trong toàn ngành nông, lâm nghiệp và thủy sảncủa tỉnh Năm 2015, trung bình có gần 14 lao động/1 trang trại, trong đó số laođộng thường xuyên 5 - 7 người, lao động không thường xuyên khoảng 7 - 9 người;lao động trong gia đình chủ trang trại chỉ đáp ứng được khoảng 30%, còn lại cáctrang trại phải thuê lao động bên ngoài

Kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh đã và đang thu hút ngày càng nhiều lao độngtrẻ, đặc biệt là số chủ trang trại trẻ tăng nhanh Năm 2011 chỉ có hơn 3% chủ trang trạitrẻ với tuổi đời từ 25 - 35 thì đến năm 2015 đã tăng lên hơn 32% Đây là kết quả đángmừng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn nóichung và phục vụ cho phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững nói riêng

Trong hoạt động sản xuất, các chủ trang trại tích cực ứng dụng những tiến

Ngày đăng: 01/10/2016, 22:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban vật giá Chính phủ (2000), Tư liệu về kinh tế trang trại, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu về kinh tế trang trại
Tác giả: Ban vật giá Chính phủ
Nhà XB: Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
23. Nguyễn Điền (2000), Nhận diện kinh tế trang trại trong nông nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa - khái niệm, đặc trưng, tiêu chí, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, tháng 6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Nguyễn Điền
Năm: 2000
24. Phạm Công Đoàn (2009), Để nông dân Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu, Tạp chí cộng sản, chuyên đề cơ sở, số 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí cộng sản, chuyên đề cơ sở
Tác giả: Phạm Công Đoàn
Năm: 2009
25. Đào Hữu Hòa (2009), Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Duyên hải Nam trung Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Duyên hải Nam trung Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đào Hữu Hòa
Năm: 2009
26. Đào Đình Hòa (2012), Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với mục tiêu bền vững ở khu vực Duyên hải Nam trung Bộ, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với mục tiêu bền vững ở khu vực Duyên hải Nam trung Bộ
Tác giả: Đào Đình Hòa
Năm: 2012
30. Nguyễn Đình Hương (2000), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
31. Nguyễn Minh Khải - Bùi Ngọc Quỵnh (2013), Tìm hiểu tác phẩm tư bản của C.Mác, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tác phẩm tư bản của C.Mác
Tác giả: Nguyễn Minh Khải - Bùi Ngọc Quỵnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
32. Phạm Văn Khôi (2010), Nghiên cứu các mô hình phát triển bền vững ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ trọng điểm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các mô hình phát triển bền vững ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Phạm Văn Khôi
Năm: 2010
33. Trần Kiên (chủ biên) - Phúc Kỳ (2007), Làm giàu bằng kinh tế trang trại, mô hình kinh tế trang trại trẻ, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm giàu bằng kinh tế trang trại, mô hình kinh tế trang trại trẻ
Tác giả: Trần Kiên (chủ biên) - Phúc Kỳ
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2007
34. Ngô Thắng Lợi (2012), Giáo trình kinh tế phát triển, Nxb Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Ngô Thắng Lợi
Nhà XB: Nxb Kinh tế quốc dân
Năm: 2012
35. Phạm Bằng Luân (2007), Phát triển kinh tế trang trại và vai trò của nó đối với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế trang trại và vai trò của nó đối với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Bằng Luân
Năm: 2007
36. Vũ Văn Nậm (2009), Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Nậm
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2009
37. Nguyễn Thế Nhã (2001), “Bàn về tiêu chí để xác định kinh tế trang trại”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiêu chí để xác định kinh tế trang trại”, "Tạp chí Kinh tế và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã
Năm: 2001
38. V.I.Lênin toàn tập, Chủ nghĩa tư bản và nông nghiệp ở Hợp chủng quốc Hoa kỳ, tập 27, Nxb Tiến bộ Mat - xít - cơ - va - 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản và nông nghiệp "ở Hợp chủng quốc Hoa kỳ
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Mat - xít - cơ - va - 1980
39. Quốc hội (2013), Luật đất đai năm 2013, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 2013
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
40. Quốc hội (2005), Luật bảo vệ môi trường sửa đổi, bổ sung năm 2014, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ môi trường sửa đổi, bổ sung năm 2014
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
41. Quốc Hội (2010), Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/10/2010 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/10/2010 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w